Tuesday, July 14, 2026

Cuộc Vượt Ngục Trại Tù A30

Thật ra lúc đầu tôi chưa định vượt ngục, tôi đang suy tính kế hoạch thủ tiêu một tên ăng-ten thứ dữ để răn đe những tên phản bội, đâm sau lưng chiến sĩ, và để củng cố tinh thần của một số tù binh đang bị dao động bởi đủ mọi hình thức đe dọa, ám ảnh họ từng ngày, từng đêm. Nhưng cuộc đào thoát của bảy tù binh có tổ chức, cướp súng bộ đội để đi trốn đã bị thất bại nặng nề, làm sự theo dõi của trại càng chặt chẽ hơn. Cướp được súng nhưng không cướp được đạn, bảy người đã bỏ chạy tán loạn, thất lạc nhau, cuối cùng năm người bị bắt lại. Chỉ hai người trước kia là biệt kích nên thoát được. Ra tòa, một người bị tử hình, hai người chung thân khổ sai, hai người 15 năm cấm cố.

Tình hình chưa lắng dịu đã có toán năm người khác đào tẩu. Rút kinh nghiệm, họ chọn thêm người biết nói tiếng Miên, Lào để xuyên rừng vượt biên giới. Nhiều tin đồn miệng họ đã đến Thái Lan sau hai tháng nhưng thực tế toán năm người đã đi lạc vào rừng hoang, vừa vắng bóng người, vừa thiếu thực phẩm thiên nhiên và nước uống để mưu sinh. Gian khổ, đói khát, sốt rét đã đồng lõa với Việt Cộng tấn công những con người khao khát tự do. Một buổi sáng thức giấc, một người đã nằm chết từ lúc nào trên võng; buổi sáng kế tiếp, một người khác vừa trút hơi thở cuối cùng. Ba người còn lại thay đổi ý định, rời rừng núi đi về hướng buôn làng. Họ kiệt sức nằm bất tỉnh trên đường mòn heo hút. May được một người Thượng đi rừng gặp, cứu sống và đưa họ về buôn, du kích buôn giao trả trại tù. Họ may mắn không bị các tên trật tự, cán bộ phụ trách nhà cùm thẳng tay trừng trị, tra khảo như toán trước, bởi vì tình trạng suy kiệt sắp chết. Đặc biệt Nguyễn Bảy, Đại úy Phi công PĐ548, bị sưng gan nặng vì sốt rét kinh niên, bụng càng ngày càng phình trướng trong khi thân thể càng ngày càng teo tóp. Biết Nguyễn Bảy sắp chết, trại thả khỏi nhà cùm để tránh tai tiếng. Không ngờ gặp hên, tôi bắt được một ổ cóc vàng gần 50 con khi dọn chuồng heo. Cóc vàng và số thuốc gia đình đem đến đã kịp thời cứu sống Nguyễn Bảy.

Vì những biến cố trốn trại trầm trọng, trại được lệnh tăng cường kiểm soát và thẳng tay trấn áp những thành phần ngoan cố và Đội 3 là đối tượng chính. Nhà tù Cộng sản, nói chung, là nơi đày đọa con người tàn nhẫn nhất. Nhưng nói một cách công bằng, không phải nhà tù nào cũng tàn bạo và độc ác giống nhau. Chính sách nhà tù thay đổi theo từng địa phương, tùy theo tâm tính của từng tên trại trưởng, và đặc biệt, tùy theo từng tên cán bộ quản giáo và quản chế. Thay đổi một tên trại trưởng là hình thức sinh hoạt của trại đã có chiều hướng khác. Một tên trại trưởng có chút lòng nhân từ, dễ dãi, chế độ ăn uống và làm việc của tù binh tương đối được nới rộng. Gặp tên trại trưởng tàn ác, đầy hận thù, tù binh sẽ bị đặt trong tình trạng kinh hoàng đe dọa thường xuyên. Nhưng ngay chính trong cùng một trại tù, mỗi đội, mỗi nhà, cũng có hình thái sinh hoạt không đồng đều. Nói cho cùng, số phận của tù binh chịu ảnh hưởng trực tiếp của tên cán bộ quản giáo của mình. Có những tên quản giáo chịu chơi, làm lơ cho tù trong đội mình được “cải thiện” dễ dãi, không gay gắt với công việc lao động hằng ngày. Nhưng trái lại, tên quản giáo của đội khác lại khắc nghiệt, dữ dằn, lúc nào cũng rình rập từng hành động của tù binh để kiểm điểm và trừng phạt.

Ngoài ảnh hưởng của quản giáo, tù binh còn buồn vui từng ngày tùy theo từng tên quản chế, đó là hai tên gác được biệt phái theo đội và luân phiên thay đổi từ đội này qua đội khác. Gặp quản giáo dễ, tên quản chế dữ dằn cũng phải nương tay nhưng quản giáo dữ lại gặp thêm quản chế dữ, ngày lao động trở thành một ngày kinh hoàng khủng khiếp. Ngoài ra nhà trưởng, thư ký, tổ trưởng, những người có nơi do tù chọn trong đội của mình bầu ra, hay do trại chỉ định, cũng ảnh hưởng đến số phận của người tù. Những tên nhà trưởng, tổ trưởng thiếu lương tâm, thường báo cáo để lấy điểm với trại, cũng trực tiếp tạo thêm khó khăn, đau khổ cho bạn tù của mình.

Đội 3 là đội đặc biệt, tập hợp những tay bất trị của các đội khác để dễ dàng kiểm soát. Cậu Lăng, Trung úy Phi công, được chọn làm vật thí nghiệm đầu tiên. Với thân hình gân guốc, vạm vỡ (nhờ trước làm nhà bếp ăn uống đầy đủ và có thì giờ rảnh để tập thể dục), vừa được chuyển đội, là một trong vài người hiếm hoi còn giữ được bắp thịt. Sau một hồi “tẩm quất” của sáu tên vệ binh với báng súng và đòn cây, cậu Lăng được dìu ra, lê bước khập khễnh nặng nhọc. Uống nước tiểu là món thần dược trị bệnh duy nhất để giải máu bầm của các trận tra khảo trong tù.

Rồi Nhánh, một thanh niên trẻ bạo miệng trong các lời phát ngôn chống đối, và cũng bạo tay trong mục “cải thiện” mưu sinh. Sau một trận đòn, Nhánh nằm liệt giường mấy ngày, nói không ra tiếng. Rồi Cường, sĩ quan biệt kích trẻ, với ý đồ tổ chức phản loạn trong trại. Một trận đòn hội đồng đã làm con người vốn vui nhộn, hay đùa giỡn trở thành trầm lặng câm nín.

Và tiếp tục tới Điềm, và…
Cứ mỗi lần đánh xong một người, trên đường về bọn vệ binh lại vồ vập hỏi nhau:
— Đánh đến đứa nào rồi? Tới phiên tên giặc lái Lý Tống chưa?

Bạn bè ai cũng lo lắng cho tôi. Tôi biết đã đến thời điểm chúng phải hạ bệ mình. Chúng đang chơi đòn thần kinh căng thẳng, sẽ đánh tôi để hạ nhục, để bắt tôi khuất phục, cương quyết hạ thành lũy cuối cùng. Tôi là cái gai gãy nằm trong da thịt chúng; khi da thịt còn lành lặn, chúng chưa dám mạnh tay nhổ ra, sợ đau da thịt. Bây giờ vết thương mưng mủ đã chín, chúng có thể nhịn đau, dùng tay nặn gai ra. Cá tính của mỗi người Cộng sản đều có thể dị biệt, mỗi thành phần Cộng sản đều có thể khác nhau, tuy nhiên cái chính sách chung chẳng bao giờ thay đổi. Đối với Cộng sản, “thối lui một bước chỉ để chuẩn bị tiến tới hai bước, đình chiến là cơ hội tiến công mà tránh được giao tranh, và các hiệp định là hình thức hợp thức hóa những tình trạng, những hoạt động bất hợp pháp.”

Đám áo xanh quân đội còn ảnh hưởng chút tinh thần mã thượng của người lính, đám áo vàng công an sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để đạt mục đích. Đã từ lâu chúng chưa dứt khoát, còn ngại vì tôi “nổi tiếng”, mọi người đều biết và yêu mến. Chúng định dùng tù ngục, gông cùm, tra tấn, đói khát và thời gian bỏ tù vô hạn định để làm tôi mòn mỏi, kiệt lực. Chúng muốn tôi đầu hàng, khuất phục, chỉ cần tôi quỳ một lần để phá vỡ huyền thoại, để hạ bệ thần tượng, để tiêu diệt niềm tin, niềm hãnh diện của tù binh. Thay vì ngang nhiên mạng đổi mạng để giữ danh dự, tôi quyết định vượt ngục như lời tôi đã tuyên bố khi tên cán bộ cộng sản bảo tôi:— Anh đừng hy vọng được thả về, bởi vì anh được xếp vào hạng cực kỳ ngoan cố, cực kỳ phản động.

Tôi trả lời:— Các người có quyền bắt tôi, có quyền bỏ tù tôi. Nhưng ngày nào ra khỏi nhà tù là quyền của tôi.

Tôi chuẩn bị vượt ngục với một ý đồ táo bạo: đột nhập phi trường địch đánh cướp máy bay, thả bom gây bạo động và nổi dậy. Tôi chấp nhận hy sinh, bởi vì nếu một con én không tạo được mùa xuân, thì ít nhất cũng báo hiệu hay gợi được cảm giác mùa xuân.

Trường hợp may mắn không bị bắn rơi, tôi sẽ bay ra biển. Tôi đã nghiên cứu cờ của các nước Cộng sản. Nếu tìm được tàu của các nước tự do, tôi sẽ nhảy dù, nếu phi cơ có sẵn dù. Nếu không có dù, tôi sẽ đưa phi cơ vào vị thế triệt nâng stall, tức tốc độ tối thiểu phi cơ có thể đạt được trước khi rơi, để nhảy ra không cần dù. Nhưng liệu cơ thể tôi có chịu đựng nổi lực va chạm khi tôi nhảy ở tốc độ 90 dặm một giờ (đối với phi cơ A37), ở cao độ khoảng 100 feet? Tốt nhất là đáp bụng phi cơ xuống mặt biển, và tìm cách thoát ra phi cơ kịp thời, trước lúc bị lực xoáy hút của nước khi phi cơ chìm, nhận tôi chết ngộp, hoặc sức nóng của nước sôi bởi đầu máy của phi cơ đang ở nhiệt độ cao sau một thời gian bay. Còn phải tính toán hướng chạy của tàu, tốc độ, khoảng cách, để khi tôi vừa ngoi lên khỏi mặt nước, thủy thủ đoàn kịp thời đến nơi cứu mình.

Theo dự tính, tôi sẽ đột nhập phi trường lúc xẩm tối, bò lại gần chỗ phi cơ thử máy lần chót để chuẩn bị cất cánh. Không biết đám cỏ ở phi trường có đủ cao để tôi ẩn nấp mà không bị những tên ngồi trên đài kiểm soát (control tower) phát giác không, vì thông thường như thời trước, cỏ cạnh phi đạo thường xuyên được cắt ngắn. Nếu phi vụ chỉ có một phi cơ, tương đối dễ dàng đánh cướp; nếu hai hoặc ba phi cơ cùng đội, tôi sẽ tấn công cách nào?

Chắc chắn cần có vũ khí để làm áp lực đe dọa phi công địch. Trong thời gian nằm nhà tính toán, đứa cháu trai một hôm đi bắt cá bất ngờ vớt được một khẩu súng Colt .45. Khẩu súng nằm dưới nước khá lâu nên bị sét và cò lửa bị hư, khi bóp cò, lò xo yếu không đủ sức đập cho ngòi nổ của đạn phát nổ mà chỉ tạo nên một vết lõm nhẹ trên đít đạn mà thôi. Tôi ráng chùi rửa, sửa chữa nhưng vẫn không kết quả. Mang một khẩu súng thật, cồng kềnh nặng nề mà không bắn được, cũng chỉ phiền phức. Có lẽ tôi sẽ mua một khẩu súng nhựa của trẻ con chơi, lựa khẩu nào thật nhỏ, nhẹ, và có hình thức giống súng thật. Trong lúc bất ngờ và nguy hiểm, có lẽ phi công địch không đủ bình tĩnh để nhận ra, tôi sẽ uy hiếp địch để cướp máy bay, cất cánh và dội bom nếu có sẵn sàng bom đạn. Nếu ý định này không thể thực hiện được vì hoàn cảnh, tôi sẽ bò vào bãi đậu phi cơ lúc nửa đêm, chọn phi cơ rồi mở máy vào lúc kiểng đánh thức, lợi dụng tiếng kiểng ồn ào che lấp tiếng động cơ nổ và vừa đủ sáng để bay ngoại quan (VFR, Visual Flight Rules).

Và việc cần thiết nhất là gặp Đại úy Nguyễn Bảy, Trưởng phòng Huấn luyện ôn tập lại các động tác mở máy, chỉ số kính ngắm của từng loại bom theo cao độ, góc độ, tốc độ. Nguyễn Bảy nghe hỏi sinh nghi bèn càm ràm:— Trời ơi! Ông lại định làm chuyện động trời gì nữa đây?

Nhà tù A30 gồm có hai trại chính: Trại A và Trại B, cách nhau hơn một cây số, ngoài ra còn có những bộ phận làm việc và ở ngoài hàng rào của trại như bộ phận mộc, bộ phận xe be, bộ phận đan, nhà tù nữ và các nhà chòi canh gác các khu sản xuất.

Trại B quy mô hơn, tường bằng bê tông và cửa sổ song sắt, Trại A tường xây bằng đất sét, bên trong lót mầm trĩ kiên cố và cửa sổ gỗ. Cả hai đều lợp ngói, chung quanh Trại tù A được rào hai lớp kẽm gai, và ở giữa trồng xương rồng để tăng cường cho kẽm gai. Khu A được bố trí theo hình vẽ trang bên.

Riêng kế hoạch vượt ngục, Quý đã chỉ giúp đường đi nước bước ở Tuy Hòa và bồi dưỡng cho tôi ăn uống trong các ngày cuối để lấy sức dự trữ. Quý đòi đi theo nhưng tôi từ chối vì Quý thiếu kinh nghiệm trong các mission impossible. Nhà vách bằng đất nhưng mầm trĩ rất kiên cố, chắc chắn, cửa sổ bằng thanh gỗ lớn, dày, chỉ có thể dùng cưa để cắt nhưng không có cưa, hoặc không thể cưa vì sẽ bị lộ tẩy. Tôi dùng đinh lớn, lợi dụng những lúc ồn ào nhất, đóng theo kẽ nứt của các đinh nẹp, để ban đêm nạy và rút ra.

Tôi chuẩn bị kế hoạch chi tiết tỉ mỉ. Từ thời điểm: ngày chủ nhật nghỉ, điểm danh muộn, đến các sinh hoạt nhỏ hằng ngày: đổi phiên trực cơm và đặc biệt tập thói quen mỗi chủ nhật đều cho Lê Ngoạn phần cơm với lý do đi ăn cơm khách (nhưng nhiều lúc phải nhịn đói) để bạn tù không lưu ý sự vắng mặt của mình vào ngày chủ nhật.

Đúng giờ N+1 tôi không rút thanh gỗ ra được vì một trục trặc kỹ thuật nhỏ. “Quý bầm” giả vờ mớ để thúc giục tôi “nhanh lên, nhanh lên” (Quý nằm xa tôi và có tật hay mớ). Cái trục trặc kỹ thuật đó là một miếng dăm gỗ do đinh bị đóng lệch nên thay vì tét rộng kẽ nứt để rút ra lại ép nhỏ cái kẽ nứt, kẹp thanh gỗ cửa sổ cứng ngắt. Hơn nữa lại bất ngờ trùng ngày có số tù binh sắp được phóng thích ngủ riêng bên ngoài. Buổi tối họ mang đèn đóm đi lại nhộn nhịp ở khu nhà cầu gần hàng rào tôi định chui qua.

Tôi đành hoãn lại kế hoạch. Bất ngờ có lệnh đổi chỗ nằm. Đổi chỗ nằm tù nhân thường xuyên là một biện pháp an ninh của nhà tù Cộng sản. Chỗ nằm mới không có cửa sổ, tôi đành phải phá cửa sổ phòng để dụng cụ nấu ăn cùng gian với phòng vệ sinh. Tôi ít khi bị bệnh nghỉ việc, nên khi giả bệnh yêu cầu ở nhà làm việc nhẹ vài hôm, Nhà trưởng nể nang phải chấp thuận. Tù binh trực Nhà hết chùi nhà cầu, lại rửa xoong nồi gần kề cửa sổ. Đợi khi anh ta đi gánh nước, tôi đi vòng ra sau hè, nghiên cứu từng thanh gỗ.

Cửa sổ phòng cầu đặc biệt được đóng hai đinh nẹp (B) thay vì một đinh như phòng ngủ (A). Chỉ có duy nhất thanh gỗ (C), phần dưới đóng một đinh, tôi phải đóng đinh lớn vào ba điểm 1, 2, 3 theo kẽ nứt sẵn để nới rộng khe hở. Sau đó chờ đêm, sẽ dùng đinh nạy khe 3 rộng ra kéo thanh gỗ xuống theo hướng mũi tên để lấy ra rồi thay thanh gỗ giả thế vào. Tên trật tự đi đại tiện nhà cầu bên ngoài vừa xong đứng dậy, cũng may y không lưu ý theo dõi.

— Làm gì thế Lý Tống? Y hỏi lấy lệ.

— Đóng đinh treo áo mưa. Tôi cười xuề xòa.

Tôi chuẩn bị một thanh gỗ giả y hệt cắt ngắn bớt lấy từ một ngôi nhà vừa bị phá bỏ. Điều trở ngại nhất là nhu cầu bài tiết của 150 người trong phòng. Phòng chứa đồ và phòng nhà cầu có chung một cửa ra vào, người ra người vào tấp nập. Công việc cứ bị gián đoạn từng chập. Có lần người đi tiểu vừa ra xong, tôi vội vã bắt tay tiếp tục, một lát sau lại có một người nữa từ trong nhà cầu lù lù đi ra làm tôi hết hồn tưởng đã bị lộ. Thì ra khi đi vào, người đi cầu đi nhờ ánh sáng hộp quẹt của một người đi tiểu, bởi vì phòng ban đêm rất tối, mỗi người thường di chuyển nhờ một hộp quẹt riêng bật sáng trên tay. Cái thanh gỗ, nếu dùng một cái đòn bẩy bẻ thật mạnh cũng có thể gãy, lại phải tốn đến ba đêm mất ngủ, cẩn thận xeo, nạy, kéo từng chút mới rút ra được. Bởi chỉ cần một tiếng động mạnh, hoặc một tù binh khác trông thấy được, chưa kể toán tuần tiễu bên ngoài phát hiện, kế hoạch sẽ bị bại lộ và phòng kỷ luật sẽ mở cửa chờ tôi.

Vượt ngục nhà tù Cộng sản khó hơn vượt ngục nhà tù các nước tự do. Ở nhà tù tự do, trong mỗi người bạn tù còn tàng ẩn một kẻ đồng lõa, một bạn đồng minh, họ cùng liên kết, góp tay để cùng nhau vượt ngục. Tại các nhà tù Cộng sản, trong mỗi người bạn tù còn rình rập một kẻ thù, một tên phản bội, một tên chỉ điểm, nên người tù cùng phòng còn đáng ngại hơn cả những tên gác tù. Họ có thể báo cáo, tố giác để lấy lòng tin, để tìm một ân huệ nào đó có lợi cho họ.

“Nhà tù Cộng sản là cái máy sàng lọc tinh vi nhất. Những thứ cặn bã, hư hỏng, mục nát lần lượt tranh nhau luồn lọt rơi xuống đáy sâu nhục nhã đê tiện. Chỉ còn lại những viên kim cương quý, rắn rỏi, lóng lánh sáng ngời trên bề mặt.”

Khuya ngày 11 rạng sáng 12 tháng 7 năm 1980, chờ lúc tù binh ngủ say, tôi cởi áo quần, gỡ thanh cửa sổ giả chun ra ngoài, bình tĩnh ngồi lại gắn vào như cũ, rồi bò chậm rãi về phía hàng rào kẽm gai. Với cái kềm nhỏ xíu, tôi bẻ kẽm gai chui lọt vào giữa hai hàng rào kẽm. Đang sửa sang hàng rào lại như cũ, bỗng ánh đèn pin lóe sáng. Một tên tuần tiễu bỗng xuất hiện. Tôi lập tức nằm đè người trên bụi xương rồng thấp lẩn tránh ánh đèn quét qua lại trên đầu, trên thân mình.

Gai xương rồng nhọn đâm xuyên suốt lớp da thịt trần truồng đau buốt. Y cẩn thận kiểm soát dãy nhà cầu, các góc tối, kín chung quanh rồi bỏ đi. Tôi bẻ loạt hàng rào kẽm gai thứ nhì, kẽm gai cũ, sét, nhưng cây kìm quá nhỏ làm tay tôi ê ẩm. Sau khi chun được ra ngoài, tôi ngồi nán lại gài lại kẽm gai gãy như cũ, tránh không để lại một dấu vết lạ. Nếu biết hướng tôi trốn, họ sẽ chận bắt dễ dàng.

Trời ban đêm dày đặc sương mù, những trạm gác cao thường ngày nổi bật giữa trời, nay chìm khuất trong làn sữa trắng đục. Tôi tiếp tục ở truồng bơi qua suối. Vừa leo lên bờ lại gặp một ánh đèn pin khác. Tôi men theo bờ suối và băng ngang qua ngã ba suối lớn, cây gãy mục, bùn cỏ... làm vướng víu bước chân. Nước suối ban đêm lạnh tê buốt thân thể.

Bỗng có ánh đèn bão lập lòe của một tên bộ đội khác đang đi soi cá. Tôi quành phía phải, băng qua nhiều cánh đồng mía, sắn bạt ngàn. Đỉnh núi làm chuẩn mờ nhạt từ xa, đến gần đã biến thể. Trời không trăng sao. Tôi nhìn lên dãy Ngân Hà lờ mờ trên trời để định hướng, nhiều đoạn đường phải đi vòng tránh trạm gác, có lúc phải bò qua dưới chân các chòi canh. Trời mù tối chỉ thấy ánh đèn mà không thấy được người cầm đèn đi kiểm soát. Quá nửa đêm, chó của toán du kích đánh hơi được tôi buộc tôi phải chạy thoát thân. Đường tối, nhiều bờ bụi, tôi té chui té nhủi, phần túi xách đựng đồ vướng víu nhiều lúc muốn vuột khỏi vai. May là chó và toán du kích lười biếng chỉ rượt theo một đoạn.

Tờ mờ sáng, tôi băng qua khỏi dãy núi với địa hình rối rắm mà có lúc lạc lối, không còn điểm chuẩn nào để dẫn đường ngoài lời cầu nguyện và niềm tin ở Thượng Đế. Tôi ra tỉnh lộ sau khi kiểm soát áo quần, mặt mũi tươm tất, hòa lẫn vào đám dân quê dậy sớm ra đồng. Vừa leo lên xe Lam chở khách trờ tới, tôi chợt thấy chiếc xe Honda chở nữ cán bộ phụ trách quân bưu chạy tới. Nếu tôi ra đường sớm hoặc xe trễ vài phút, chắc họ nhận diện được cái bản mặt quá quen thuộc của tôi. Ngã ba Phú Lâm với trạm kiểm soát lớn nghiêm ngặt chỉ là điều bịa đặt. Ngày chủ nhật, công an Việt Cộng tại Tuy Hòa nghỉ việc, không có một bóng áo vàng lai vãng ở các ngã tư.

Tôi đi vào phố chính, kẻ tôi ngại nhất không phải là công an, mà chính là những tù binh của Trại A30, hoặc đã được thả về, hoặc đang đi phép. Tên cán bộ Thu đã không thường lặp đi lặp lại: “Tuy Hòa là cái nôi của cách mạng” đó sao? Với sự kích động về địa phương tính, cùng sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền sở tại, Việt Cộng đã quy tụ được một số tù nhân tận tụy phục vụ cho họ, dù đó chỉ là hành động “nín thở qua sông.” Tôi ghé vào một nhà quen biết, người bạn vừa mừng vừa sợ, giúp tôi một số quần áo, tiền bạc và dặn dò:— Lỡ có ai hỏi thì cứ bảo đi phép.

Tôi có tạm đủ tiền nhờ bán cuốn từ điển, bán mấy bộ áo quần tù sọc đỏ rất hiếm chỉ được phát trong thời gian mấy năm đầu và giờ đây một số người vượt biên lại muốn mua vì họ cho rằng, bộ đồ đặc biệt này có thể giúp họ mạo nhận tù binh khi đến được các trại tị nạn. Xe cộ khan hiếm, tôi phải đổi từng chặng xe Lam, cuối cùng một xe đò chịu dừng lại đón.

Tôi lưu ý những dấu hiệu chớp đèn của các xe chạy ngược chiều. Lơ xe đò cho tôi biết “Trạm Đại Lãnh đang bị kiểm soát.” Chạy xe cho nhà nước lương bổng ít nên một số tài xế phải chở thêm khách lậu ngoài tiêu chuẩn, họ phải cho khách xuống trước trạm và đón khách đi tiếp bên kia trạm.— Tôi quên đem theo giấy, chắc phải xuống. — Tôi nói nhỏ với lơ xe.

Anh ta nhìn tôi, rồi kề sát tai bảo:— Anh vượt ngục Trại A30 ra phải không?

Tôi ngớ người trước câu hỏi bạo bất ngờ.— Anh rất bình tĩnh, rất khéo léo. Nhưng những người ở tù lâu ngày vẫn có cái dáng dấp đặc biệt, tôi biết. — Anh ta rỉ tai nói tiếp: — Tôi đã từng chở giúp tù vượt ngục một vài lần trước đây. Anh đừng ngại.

Ôi! Những người đồng bào của tôi ơi, các anh, các chị vẫn biết tội đồng lõa, giúp đỡ tù vượt ngục là một trọng tội, thế mà vẫn liều lĩnh dù chẳng nhận được một chút lợi lộc nào. Các anh chị đã mang lại niềm hy vọng cho tôi, đồng bào vẫn thương chúng tôi, vẫn còn kỳ vọng ở chúng tôi, những chiến sĩ sa cơ thất thế trong bàn tay Cộng sản. Vậy chúng tôi vẫn còn có trọng trách đánh đuổi kẻ thù vì hạnh phúc và tự do của đồng bào.

Trích Hồi Ký Ó ĐEN của Lý Tống 1989 - Lê Tùng Châu thực hiện PDF Book 2019

No comments:

Blog Archive