Thursday, March 31, 2022

Cái Muỗng 

Tôi không nhớ rõ năm đó là năm thứ mấy chúng tôi “học tập cải tạo”, chỉ biết rằng khi ấy trong chúng tôi đã có những người “quen” với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam được “xây dựng” bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u miền Bắc. Ở Sơn La thì “trại” được làm trên những nhà tù từ thời xa xưa, trên những cái nền nhà lỗ chỗ, người ta dựng vách đất trộn rơm, mái lợp bằng các kiểu lá rừng, miễn sao che kín được khung trời.

Nơi này xưa kia, Pháp dùng để giam giữ tù chính trị, rồi một thời gian sau, VN giam những người tù Thái Lan và trong chiến tranh đã có khi người ta dùng làm “công binh xưởng” chế tạo lựu đạn. Vì thế nên thỉnh thoảng chúng tôi nhặt được vài cái vỏ lựu đạn ở đâu đó quanh khu vực này. Ở Vĩnh Phú thì nhà tranh vách đất, ngoại trừ một khu người ta gọi là khu “biệt kích” gồm vài căn nhà “xây dựng kiên cố” bằng gạch lợp tôn xi măng. Chúng tôi “được học tập cải tạo” trong dãy nhà này. Cũng nghe người ta nói lại là khu này trước kia dùng để giam giữ những người lính biệt kích đã từng nhảy dù ra Bắc rồi bị bắt giam ở những khu đặc biệt đó. Muốn vào khu này phải qua hai lần cổng có tường gạch bao quanh. Nhưng có lẽ khi giam giữ biệt kích thì khác, còn khi chúng tôi “được giam” ở đây có vẻ như “cởi mở” hơn vì những cánh cổng thường không đóng bao giờ. Họ để cho chúng tôi đi lao động hàng ngày cho khỏi phải mở ra đóng vào.

Cuộc sống dù cực khổ đến đâu, sống mãi rồi người ta cũng phải quen. Nhịp sống hàng ngày cứ thế trôi đi dù là trong đói rét, thiếu thốn và trong những cấm đoán vô cùng khe khắt. Nhà tù nào chẳng thế, nó có những quy luật và quy định riêng. Những ngày đầu người ta cấm luôn cả trà, cà phê, thậm chí cấm cả người tù đeo kính cận. Nhưng sau này nới dần, những thứ như thế không bị cấm nữa. Chỉ còn những thứ đã thành “luật” thì luôn bị cấm và cấm ở bất cứ đâu. Cấm “mua bán đổi chác linh tinh”, cấm dùng thức ăn lâu ngày bằng bột, cấm tỏi và cấm tất cả những dụng cụ sinh hoạt bằng sắt như dao, kéo, muỗng nĩa… Tuy vậy có anh tù nào lại ngây thơ ngoan ngoãn đến nỗi tuân theo hoàn toàn những quy định ấy. Mua bán đổi chác linh tinh vẫn cứ diễn ra, dao kéo vẫn cứ được lén lút xử dụng hàng ngày nhưng đó là những thứ đã được “cải biên” thành dao kéo mini nhỏ síu cho dễ cất giấu. Nó là những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày, dù có bị bắt thì cũng chỉ bị tịch thu chứ không đến nỗi bị cùm một hoặc hai chân –tùy theo tội– hay bị đưa vào “thiên lao” tức là thứ phòng giam đặc biệt trong trại tù.

Ngày qua ngày, cái “không khí êm ả” của trại giam trở nên phẳng lặng nhưng dĩ nhiên là không thể nào nói rằng đó là thứ “an tâm, hồ hởi phấn khởi” mà bất kỳ anh “trại viên” nào cũng cứ phải viết khi phải làm những “bản kiểm điểm”, mặc dù kể cả người viết và người đọc đều chẳng ai tin.

Nhưng cái không khí ấy đôi khi bỗng nhiên bị xáo trộn. Vào một buổi sáng tinh mơ, khi chúng tôi đang ngồi ở cái sân đất giữa trại, chờ gọi tên từng đội đi lao động để “một ngày lại vinh quang như mọi ngày” thì bỗng đâu toán lính gác trại tù sồng sộc chạy vào. Họ chạy rầm rập như ra trận, súng ống chĩa về phía “quân thù”, mặt mũi “khẩn trương” rõ rệt. Họ sộc thẳng vào những phòng giam trống hốc cứ làm như có địch ẩn nấp đâu trong đó.

Chúng tôi ngẩn ngơ đứng nhìn, không hiểu họ giở trò gì. Có những khuôn mặt lo lắng, một nỗi lo bâng quơ. Chuyển trại hay có ai đó trốn trại? Chưa biết. Toán lính lục tung hết mọi thứ đồ đạc ít ỏi mà mỗi người tù có được trong gói hành trang của riêng mình. Sau đó chừng nửa giờ, một vài gói đồ bị tịch thu được vác lên “phòng thi đua”. Lúc đó thì chúng tôi mới hiểu rằng đó chỉ là một kiểu khám phòng để tìm ra những thứ đồ “quốc cấm” mà trại đã quy định tù không được dùng.

Thật ra, đó cũng là cái cung cách mà ở những “trại cải tạo” thường dùng để khuấy động cái không khí trầm lặng dễ phát sinh ra những “tiêu cực”. Bởi trong cái sự yên bình của một trại giam, người tù có thể liên kết với nhau làm một chuyện gì đó như tổ chức trốn trại hoặc có thể có những vụ xúi giục “tuyệt thực”, bàn bạc chống đối… Và nếu nói đến sự chống đối thì có hàng trăm thứ để có thể chống đối được. Thí dụ sự ăn đói, sự đối xử bất công, sự oan ức vô lý, sự trù dập của một vài anh “quản giáo”, sự thô bạo của mấy anh lính võ trang. Chuyện gì cũng có thể chống đối được. Vì thế thỉnh thoảng họ phải làm cho cái không khí đó mất hẳn cái vẻ trầm lặng để chứng tỏ lúc nào họ cũng đề phòng, lúc nào họ cũng “đề cao cảnh giác”, lúc nào họ cũng sẵn sàng đối phó với mọi “mưu đồ”.

Các anh tù đừng có tưởng bở, chẳng bao giờ yên đâu. Cứ sau mỗi lần như thế, chắc chắn thế nào họ chẳng vớ được vài anh tù nào đó giấu những thứ vớ vẩn như dao kéo, thư từ, sách vở tiếng nước ngoài, tiền bạc, đồ dùng ngoài quy định. Tất nhiên sẽ có những cuộc “kiểm điểm, phê bình” mà chúng tôi gọi là những “buổi tối ngồi đồng” để từ đó lòi ra một vài cái “tội”. Ðội nào khôn ngoan thì cứ ngồi im, ai “phê” thì cứ mặc, còn cãi là còn “ngồi đồng”. Ði làm suốt ngày mệt mỏi đến thở không ra, tối về còn ngồi đồng, còn “phê bình” còn “kiểm thảo” thì chịu sao nổi. Nay “làm chưa xong” thì mai lại ngồi tiếp, ngồi cho đến khi nào tìm ra tội mới thôi. Tội nặng, tội nhẹ tùy theo tình hình của từng thời điểm.

Thời điểm “căng” thì vào tù phạm tội vào nhà kỷ luật đặc biệt nằm “treo một chân”, thời điểm nhẹ nhàng thì cảnh cáo, ghi tội vào biên bản. Và họ sẽ có những biện pháp an toàn như chuyển đổi năm bẩy anh từ đội này sang đội khác để phòng tránh những vụ tù kết hợp thành tổ chức, những phe nhóm có thể gây nguy hại đến an ninh của trại tù.

Chung quy đó chỉ là một cách đào xới tung cái tinh thần “tưởng rằng yên ổn” của mấy anh “trại viên” còn tỏ ra cứng đầu, còn có mưu toan lôi kéo người này người kia vào trong phe mình để từ đó có những yêu sách hoặc toan tính bất lợi cho trại tù. Quả là mỗi lần như thế trại tù cũng rối tung lên và làm cho những anh yếu bóng vía thường phải sống dựa vào tinh thần bè bạn càng thêm rụt rè, chẳng biết tin vào ai được nữa. Nhưng riết rồi trò gì cũng thành quen và đối với một số người tù “chẳng còn có gì để mất” thì họ trơ như đá, muốn làm gì thì làm, chỉ có cái thân tù đói này thôi, sống cũng được mà chết cũng chẳng sao.

Có lẽ tôi cũng đã học tập được cái tinh thần ấy của những anh bạn trẻ, bởi tôi cũng chẳng còn có gì để mất. Vợ con nhà cửa đều đã mất tất cả rồi, chẳng có gì phải lo. Ðôi khi tôi sống tưng tưng, ông anh rể ở Sàigòn gửi cho cái gì thì nhận cái nấy. Và một sự thật không thể quên là nếu không có ông anh rể tốt bụng đó thì tôi cũng đã trở thành một thứ “Tù Caritas” như một số anh em ở trong trại tù rồi. Tức là những người tù chẳng có ai thăm nuôi.

Những bà vợ đau khổ với những gia đình đói rách lầm than, họ lo cho chính họ còn không xong thì lấy gì đi “thăm nuôi” người ở trong tù mà lại tù ở tuốt tận miền Bắc xa tít mù tắp. Thậm chí có người tù còn vui mừng khi thấy vợ mình bước đi bước nữa với một anh nào đó và đưa các con ra được nước ngoài. Tôi nói thế để chứng minh rằng không nên trách cứ bất kỳ một ai trong hoàn cảnh cay nghiệt này. Theo tôi thì những anh “mồ côi” không ai thăm nuôi trong trại tù mới chính là những anh hưởng trọn vẹn được cái “thú đau thương”.

Trở lại chuyện buổi sáng tinh mơ, khi toán lính chạy sồng sộc vào trại. Ðó là một buổi sáng cuối mùa đông, trước Tết âm lịch chừng vài ngày. Ðây cũng là biện pháp an ninh thông thường của các trại tù trước những ngày lễ Tết lớn. Tôi thảnh thơi theo đội đi làm ở ngoài đồng. Tôi vẫn cứ yên trí rằng tôi chẳng có gì để mất, hay cái vật tôi mất chẳng có gì quan trọng.

Vào mùa đông cái thứ quan trọng nhất với người tù chỉ là rau. Mùa này thiếu rau đến… khô quắt cả dạ dày, rau muống bầu bí không trồng được, chỉ còn rau cải và trồng cải thì lâu mới được ăn và năng suất không cao, cho nên có được tí rau là hạnh phúc nhất. Tôi ngồi lê la trước mấy luống su hào, đó là thứ “thực phẩm cao cấp” nhất trong khu vườn rau của toàn đội. Những củ su hào bắt đầu to hơn nắm tay nằm tròn trĩnh dưới những tàu lá xanh mượt mà, tôi trông coi chúng vì cái công sức tôi bỏ ra hơn một tháng trời. Tôi coi chúng cũng như một tác phẩm nào đó mà tôi đã từng viết ra, ở đây không có gì để coi như tác phẩm thì coi nó là tác phẩm vậy, để có cái mà thú vị và để có cái mà quên đi những thứ quanh mình.

Cứ như thế tôi tha hồ đặt tên từng luống su hào, có khi là một cái tên nghe có vẻ “lả lướt” như tên người tôi đã gặp ở tiệm khiêu vũ, có khi là một cái tên rất dung tục. Âu cũng là một trò “nghịch ngầm” giữa vùng rừng núi âm u, hầu như không có mặt trời mùa đông này. Nhưng tôi biết rằng trò chơi của tôi sẽ phải chấm dứt trong một hai ngày nữa. Bởi Tết đã đến, dù 12 luống su hào còn non chưa đến ngày “thu hoạch” nhưng cần thức ăn trong ba ngày Tết nên họ sẽ nhổ. Nếu tù không ăn thì cai tù ăn, chứ không đời nào họ chịu để đến mùa xuân. Nhưng vui chơi được giờ nào hay giờ ấy trong cuộc sống phù du này.



Buổi trưa về đến trại, trong khi bạn bè xung quanh đang xôn xao, kẻ bị tịch thu cái này, người bị mất cái kia thì tôi vẫn nhởn nhơ vì tôi chẳng có gì để mất. Tôi xách tô đi lấy cơm, gọi là phần cơm, nhưng thật ra chỉ có đúng một bát bo bo tương đối khá đầy đặn. Tôi ăn thì tạm lưng lửng, nhưng những người bạn tôi thì không bao giờ đủ. Họ thường nói “Vừa ăn xong mà vẫn cứ tưởng như mình chưa ăn”. Cái đói cứ lửng lơ mãi ngày này qua ngày khác, thế mới là khó chịu. Có những ông bạn tôi ăn theo cái kiểu câu dầm, tức là lấy cái muỗng tre nhỏ xíu, hoặc một cái gì đó lớn hơn cái đầu đũa, múc từng muỗng bo bo ăn rả rích suốt ngày để có cảm tưởng lúc nào cũng được ăn, nó làm lu mờ cái cảm giác đói, đó là cách tự đánh lừa mình.

Tôi cũng “ăn dè hà tiện” nhưng tôi ăn bằng muỗng. Cái muỗng rất đặc biệt bằng inox hẳn hoi, có chạm trổ tinh vi và luôn được chùi rửa sáng bóng. Nhưng sáng nay, được chia hai củ khoai lang ăn sáng nên tôi để cái muỗng ở nhà. Tôi thường cất nó vào trong chiếc lon Guigoz – một loại vỏ hộp sữa được chế biến thành đồ dùng rất thông dụng và nhiều lợi ích của hầu hết những anh tù, nó có thể dùng “trăm công ngàn việc” từ đựng các loại thức ăn, thức uống đến đun nấu, câu móc, đựng mắm muối, chứa đồ để dành, múc nước tắm rửa đánh răng, rửa mặt. Nhưng hôm nay thì cái muỗng biến mất, tất nhiên là nó đã bị tịch thu trong buổi khám xét trại sáng nay.

Ðây là thứ “gia bảo” tôi đã cất giấu nó suốt mấy năm nay chưa hề lơi lỏng. Nó luôn nằm sát bên tôi, lúc đi lao động cũng như khi nằm ngủ. Có thể ví như cái nạng của một anh què, cái gậy của ông lão chín mươi, một thứ đã thành thói quen bám vào cuộc sống.

Sau một buổi trưa mưu toan tính kế, chiều hôm đó tôi quyết định đến gặp Dực, anh chàng trưởng ban thi đua của trại. Dực cũng chỉ là một “trại viên”, nhưng trước đây anh ta là cán bộ, anh “thoái hóa tiêu cực” sao đó nên bị đi tù. Những anh cán bộ và quân nhân trong trại tù thường được gọi là “phạm binh, phạm cán” tức là tội phạm thuộc binh sĩ hoặc cán bộ cũ. Họ có một chế độ đãi ngộ riêng và thường được dùng vào trong các công việc cần đến sự tin cậy của giám thị.

Bữa khai lý lịch, thấy tôi khai là dân huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, Dực liền hỏi quê quán và nhận là người cùng quê. Một lần Dực dẫn chúng tôi đi lấy quần áo ngoài trại chính, qua khoảng đồi núi quanh co, anh ta chỉ tay lên mảng cây cối thưa thớt, nói với tôi rằng “Cậu Huyện Nhụ nằm ở đó”.

Tôi hỏi anh có họ hàng thế nào với ông Huyện Nhụ, anh ta nói anh là cháu gọi ông Nhụ bằng cậu, nhưng gia đình cụ Nhụ vào Nam còn gia đình anh vốn là nông dân nên ở lại miền Bắc.

Cụ Nguyễn Mạnh Nhụ trước năm 75 làm chánh án ở Tòa án Sài Gòn và tôi nghe nói là cũng có họ hàng với gia đình tôi, nhưng là họ xa. Cụ làm tri huyện từ khi còn rất trẻ. Sau này tôi có gặp cụ vài lần. Tôi kể cho Dực nghe đôi ba chuyện về cuộc sống của cụ Huyện Nhụ khi còn ở Sài Gòn. Sau này đi “cải tạo” cụ Huyện Nhụ mất ở trại này. Dực nói là trước khi cụ chết, cụ chỉ thèm được ăn một cái bánh dò. Dực nhắn người nhà ở Thái Bình khi đi thăm nuôi thì ghé qua Hà Nội mua lên vài cái, nhưng khi bánh dò mang lên thì cụ mất rồi.

Từ đó, đối với tôi, Dực có phần dễ dãi hơn. Nhưng dĩ nhiên cái khoảng cách giữa một bên là “ngụy” một bên là “cán” thì khó mà san lấp được…



Nhưng hôm nay thì tôi cần đến hắn. Suốt buổi trưa tôi không gặp được Dực. Cho đến hai hôm sau, khi trại đã xôn xao chuẩn bị cho những ngày Tết tôi mới gặp được Dực. Trong khi đó tôi dò hỏi mấy tay làm văn hóa xem những thứ bị tịch thu còn để trong phòng thi đua không. Họ nói còn để trong kho lẫn lộn với những thứ đồ dùng khác. Tôi mang cho Dực một ít thuốc đau dạ dày của ông anh tôi mới gửi vào. Rất may cho tôi là hắn cũng bị đau dạ dày. Mà cái thứ thuốc trị bệnh dạ dày ở miền Bắc hồi đó chỉ là tí mật ong trộn với nghệ nên không công hiệu. Tôi có thứ thuốc “cao cấp” hơn là Maalox, uống vào là cơn đau dịu xuống ngay. Thuốc Mỹ đàng hoàng, người ta ghét Mỹ nhưng thuốc của nó tốt thì cứ thích, có sao đâu.

Tôi gạ chuyện để xin lại cái muỗng. Dực trợn mắt:

“Anh làm cái gì mà cần cái muỗng đến thế? Bây giờ để trong kho, chui vào đấy mà trực trại nó biết thì tôi vào nhà đá.”

Tôi nằn nì:
“Ðấy là đồ gia bảo của tôi đấy. Anh biết không, tôi mất nhiều thứ lắm, một cái bằng lái xe ba dấu, một cuốn tự điển. Nhưng tôi không cần, tôi chỉ cần cái muỗng thôi.”

Dực nhìn tôi nghi ngại:
“Mày giấu cái gì trong đó?”

Dực hơn tôi hai tuổi nên hắn có gọi tôi bằng mày tôi cũng không tự ái, mà dù hắn có kém tôi vài ba tuổi mà lúc đó hắn gọi tôi bằng mày tôi cũng cho qua luôn.

“Cái muỗng đặc và nhỏ như thế làm sao giấu cái gì trong nó được?”

Dực nửa đùa nửa thật:
“Bọn mày thì lắm trò lắm, cái gì chúng mày chẳng làm được. Chưa biết chừng mày giấu cả cái máy quay phim trong đó cũng nên. Tao nghe nói mày có sách làm phim phải không?”

“Ðúng, nhưng là tôi viết truyện rồi người ta lấy làm phim chứ tôi biết cái cóc khô gì.”

“Vậy sao mày chỉ đòi lấy lại cái muỗng, mày mua chuộc tao bằng hai vỉ thuốc đau dạ dầy, không bõ. Khéo không chết cả đám. Tao không chơi.”

Tôi thất bại, nhưng vẫn không chịu bỏ cuộc. Chiều hôm đó, Dực lại được lệnh phải làm một cái phòng đọc sách vào dịp Tết. Tôi đang loay hoay dán mấy cành hoa đào lên tấm phông trên hội trường thì Dực kéo tôi xuống. Nó bảo tôi đi khuân sách trên thư viện về hội trường, kê bàn ghế, trang trí thành khu đọc sách báo trong ba ngày Tết cho ra vẻ “có văn hóa”. Nhưng nếu coi thư viện thì không được ăn Tết ở phòng mà phải ngồi trực ở hội trường. Tôi nhận lời ngay dù biết rằng tôi sẽ mất cái thú dự những ngày Tết với anh em trong phòng giam và mất cái thú ngồi đánh mạt chược bằng những con bài gỗ do chúng tôi tự làm lấy.

Thế là tôi lại có dịp lân la nói chuyện với Dực về cái muỗng của tôi. Dực vẫn nghi ngờ rằng tôi có cái gì giấu trong đó, hay tôi cần cái muỗng để làm việc gì đó. Tôi đành kể cho Dực nghe:

“Buổi sáng hôm tôi phải đi “học tập cải tạo”, vợ tôi chuẩn bị một số đồ dùng cho vào túi xách để tôi mang đi. Ðứa con gái của tôi, khi đó mới hơn ba tuổi, thấy mẹ nó bỏ vào túi xách nào là quần áo, khăn mặt, thuốc… nó đang ăn sáng, cũng bỏ vào xách tay của tôi cái muỗng nó đang ăn và dặn: “Con cho bố mượn, khi nào bố về, phải trả lại cho con đấy”.

Tôi ôm con gái gật đầu hứa khi về bố sẽ trả con. Nhưng quả thật tôi vẫn nghĩ chẳng bao giờ tôi trả lại được cho nó. Lần chia tay này có thể là vĩnh viễn… Chúng tôi ngậm ngùi chia tay, không thể hẹn được ngày về vì có biết ngày nào về đâu mà hẹn!

Thế là từ đó, cái muỗng theo tôi suốt trong những bữa ăn, suốt trong những giấc ngủ. Hình ảnh con gái và gia đình tôi hiện lên qua cái muỗng đó. Tôi vẫn đánh lừa tôi rằng tôi đang được ăn bên con gái tôi, bên những người thân yêu của tôi. Dù tôi biết rất rõ sự lừa dối ấy là một niềm ước vọng không bao giờ thành hiện thực, nhưng vậy mà đôi lúc tôi cũng thấy ấm lòng.

Nghe câu chuyện ấy, Dực tỏ ra chần chừ, nhưng hắn vỗ vai tôi:

“Thôi được, nếu là như thế thì tôi giúp cậu. Tối nay, khi cậu ngồi coi phòng đọc sách, tôi sẽ giữ phần bánh chưng lại cho cậu, tôi sẽ gọi cậu xuống phòng thi đua cho cậu ngồi ăn ở đó, trong khi tôi gọi ban thi đua lên phòng hội thì tôi giả vờ để quên chìa khóa kho. Cậu mở cửa kho vào mà tìm, nhưng có gì thì cậu chịu trách nhiệm. Nó mà vớ được thì ‘kỷ luật’ suốt cái Tết này đấy, chưa biết chừng suốt mùa xuân.”

Chẳng còn cách nào khác, tôi đành làm theo cách “ăn trộm” này. Tối đó tôi mở khóa mò vào gian nhà kho. Ánh điện từ nhà ngoài hắt vào, vừa đủ soi sáng cái đống hầm bà làng đủ thứ đồ dùng lặt vặt vừa bị thu mấy hôm trước. Tôi sục ngay vào cái đống linh tinh đó, quả là những anh bạn tù của tôi có lắm trò chơi thật.
Thôi thì đủ thứ, cái điếu cày được làm bằng những ống hỏa châu hoặc những cáng băng ca được cắt ngắn, chạm trổ rồng phượng, khắc gọt rất tinh vi. Những cái trâm cài đầu, những cái lược cho con gái hay cho người yêu, làm bằng nhôm được khắc những cái tên “Hồng Hoa, Bích Phượng, Thúy Hường…” nghe nao cả lòng. Những con dao nhỏ xíu, những cái muỗng gò bằng tôn cũng có hoa lá cành . Tất cả những cái gì bằng sắt đều nằm gọn ở đó.

Sách vở tiếng Anh tiếng Pháp và đủ thứ giấy tờ lộn xộn. Cái mà tôi kiếm được trước tiên lại là cái bằng lái xe của tôi. Tôi không dại gì mà không đút vào túi, dù chẳng biết để làm gì. Tôi lại hì hục lục tiếp, vừa hồi hộp vừa phải làm thật nhanh tay, tôi đâm ra lính quýnh. Dù chỉ một tiếng động nhỏ cũng khiến tôi giật mình. Cái muỗng của tôi vẫn chưa tìm thấy. Ruột nóng như lửa đốt, tôi bới tung hết cả cái đống ấy và đâm hốt hoảng nếu cái muỗng không còn ở đó nữa. Nhưng may quá, cái muỗng kia rồi, nó nằm dưới cuốn sách dày cộm của “thằng chết tiệt” nào đó. Nó chỉ thò ra có mỗi cái đuôi, tôi cũng nhận ra nó ngay. Lúc đó tôi có cảm tưởng như “Con có ở xa bố hàng cây số thì bố cũng cứ nhận ra con như thường”.

Tôi vồ lấy nó như sợ bị người ta giật mất. Tôi nhìn cái hoa văn chạy dọc theo cán muỗng mà tôi đã quá thân thuộc như chính cái nét mặt con gái tôi khi nó “nhí nhảnh” đưa cái muỗng vào trong túi xách. Nó vẫn cứ tưởng là một chuyện vui, bố đi chơi vài ngày rồi bố về. Ừ thì vui. Tôi cười trong nụ cười mếu máo của mẹ nó và trong nụ cười hồn nhiên của nó. Không hiểu sao trong lúc gay cấn như thế mà hình ảnh xưa lại hiện lên rất nhanh như một ánh chớp. Tôi vọt ra khỏi phòng, khóa cửa lại, biến nhanh vào bóng tối trên con đường về “khu biệt kích”. Thoát nạn!

Cái Tết ấy tôi lại được vui chơi với cái muỗng của tôi, dù tôi đã phải hy sinh suốt ba ngày, trong khi mọi người được nghỉ ngơi thì tôi cứ phải quanh quẩn trong cái “phòng đọc sách” chẳng có ma nào thèm ngó đến ấy.

Những dịp nghỉ ngơi như thế cũng hiếm hoi như chuyện được ăn một bữa cơm đúng là cơm chứ không phải khoai sắn hay bo bo. Nhưng quả là tôi thấy hạnh phúc dù ngồi thui thủi một mình. Tôi có cái muỗng rồi, còn cần gì vui chơi nữa. Ðó chính là mùa xuân của tôi.

Nhưng không phải đó là một lần duy nhất tôi phải “cứu lấy” cái vật gia bảo của mình. Hai lần sau cũng tương tự, cũng bị tịch thu rồi cứu lại được cứ như sắp ra pháp trường rồi lại được cứu. Chỉ tiếc rằng người cứu tôi không phải là người bạn đồng minh đã từng chiến đấu với các đồng ngũ của tôi trong những năm qua, người đồng minh đó đã “gan dạ” cuốn cờ chạy nhanh và chạy xa quá rồi. Thôi thì tôi tự cứu lấy cái muỗng của tôi vậy.

Một lần khác, tôi lội qua con suối sau cơn mưa lớn. Chỗ chúng tôi làm phải đi qua một con suối, gọi là suối lạnh. Bình thường nó cạn, dòng nước trong vắt dịu dàng trôi lờ lững trên những tảng đá xanh. Chúng tôi thường dùng nơi này làm bến tắm. Nhưng cứ có một cơn mưa lớn là nước từ những triền đồi vây quanh bốn hướng ào ạt đổ xuống, chỉ cần nửa giờ sau là con suối trở nên hung hãn, nước chảy cuồn cuộn và mang theo những cành cây, những khúc gỗ lao băng băng. Chúng tôi phải gấp rút lội qua con suối trở về trước khi con suối trở thành hung dữ. Sang gần tới bờ bên kia, tôi loạng chọang làm đổ cái túi đồ đựng những thứ lặt vặt trong đó có cái muỗng. Ở đây tôi thuộc từng khe đá nên tôi không ngần ngại nhoài người xuống mò.

Anh bạn nhảy dù, la lên:
“Bộ ông điên sao?”

Tôi điên thật, tôi muốn mò tìm cái muỗng của tôi. Nhưng nước chảy xiết quá tôi lại thua. Anh bạn nhảy dù trẻ, què một tay vì bị thương ngoài chiến trường, rất hiểu tôi nên anh đi xa hơn một chút, anh khom người xuống, thò một tay vào cái khe hòn đá là tìm được lại cho tôi cái muỗng. Ðôi mắt anh rất tinh, anh mỉm cười:

“Tôi biết ông mất cái gì rồi. Tôi tìm được nó cho ông nè.”

Chuyện trớ trêu là hơn 12 năm sau, tôi trở về, nhưng tôi chưa trả lại cái muỗng cho con gái tôi được vì mẹ con nó đã vượt biên, đã định cư ở nước ngoài. Hơn hai mươi năm, tôi chưa một lần được gặp lại con gái tôi. Tính đến năm nay là 27 năm, con gái tôi đã 30 tuổi. Ngày 29 tháng 9-2002 vừa qua, cháu lập gia đình ở Miami, Florida.

Nhận được thiệp báo tin, tôi không biết mình vui hay buồn. Hình như không phải là vui hay buồn mà là một thứ cảm giác kỳ lạ cứ lơ lơ lửng lửng lẫn lộn. Chú thím nó và các anh chị nó ở Mỹ đều hẹn nhau đi dự đám cưới nó. Tôi thì không, chẳng hẹn hò được gì cả và chẳng làm được cái gì cả. Tôi có cảm giác như mình thừa. Rất may là trước ngày đám cưới, cô chú nó về Sài Gòn, chính tay tôi gửi được tấm thiệp mừng con gái tôi. Tôi gửi theo cái muỗng trả lại cho con gái tôi như lời hứa 27 năm về trước. Vật đó có thể thay cho sự có mặt của tôi không? Tôi không biết. Nhưng tôi chỉ nghĩ rằng gửi cho cháu để cháu hiểu rằng lúc nào tôi cũng coi như cháu còn nhỏ lắm, như mới hôm qua hai bố con còn ở bên nhau. Tôi đi chơi đâu đó và hôm nay trở về. Nhưng cháu đã đi xa và tôi còn ở lại Sài Gòn, nơi nó đã sinh ra. Cháu sẽ nghĩ gì, tôi không biết.

Nhưng vài hôm sau thì có một điều tôi biết rất rõ là từ khi cái muỗng được gửi đi, tôi cảm thấy trống trải như mất mát một cái gì, xa vắng một cái gì thân thiết hàng ngày ở bên mình. Tôi cho rằng nó cũng giống như cái cảm giác của những ông bố bà mẹ khi cho con gái mình đi lấy chồng xa. Nỗi buồn lâng lâng bay chập chờn khắp nơi. Nhưng đó chính là sợi dây vô hình nối liền mãi mãi tình thương yêu dù ở bất kỳ nơi nào trên hành tinh này. Cuối cùng người ta chỉ còn lại cái Tình. Cái Tình ấy dù gửi đi tới đâu cũng vẫn còn lại, đôi khi mạnh và sâu hơn, chỉ khi nào người ta tự đánh mất nó thì nó mới mất mãi mãi. Tôi chắc chẳng ai dại gì làm mất cái thứ báu vật trên đời không gì có thể so sánh được.



Lẽ ra chuyện này tôi đã viết ngay từ tháng 9/2002 khi tôi được tin cháu lập gia đình. Nhưng nhiều lần muốn viết tôi cứ ngồi mãi trước computer, không gõ được chữ nào, đầu óc lung tung. Dường như khi cảm xúc quá đầy, người ta không thể làm gì được ngoài việc cứ để cho nó tuôn trào lênh láng như ngồi dưới cơn mưa. Không nghĩ ngợi gì cả, không làm gì cả, cứ ngửa mặt lên cho mưa đầy mặt, thế thôi! Ðúng là chuyện của người thì làm xong nhanh mà chuyện của mình thì nghẹn. Mãi đến hôm nay tôi mới ghi lại được những dòng chữ này, nhưng tôi cho rằng chẳng bao giờ muộn vì nó là thứ chuyện của cả một đời hay là của muôn đời.

Văn Quang
Alain Delon lựa chọn 'cái chết êm ái' ở tuổi 86⁩

Nam tài tử điển trai và đa tình người Pháp - Alain Delon quyết định lựa chọn 'cái chết bình yên', khiến nhiều người không khỏi ngỡ ngàng.

Mới đây, truyền thông phương Tây đưa tin nam diễn viên 86 tuổi người Pháp Alain Delon, từng được mệnh danh là một trong những sao nam đẹp trai nhất thế giới, đã quyết định tự kết liễu cuộc đời theo nguyện vọng của mình. Con trai của ông, Anthony tiết lộ trong một cuộc phỏng vấn gần đây rằng cha của ông thực sự đã quyết định thực hiện chế độ an tử ở Thụy Sĩ, một quyết định được các con của ông ủng hộ.

Con trai của Alain Delon, Anthony Delon, đã nói về cha của mình trong chương trình cách đây vài ngày. Anh tiết lộ rằng một trong những mong muốn của cha anh là có Anthony ở bên khi ông qua đời.
Tài tử một thời được coi là "một trong những người điển trai nhất thế giới" Alain Delon quyết định lựa chọn an tử ở tuổi 86

Có thông tin cho rằng trong những năm tháng cuối đời của Alain Delon, cuộc sống không hề hạnh phúc. Thêm vào đó là việc một số người thân và bạn bè lần lượt qua đời khiến ông bị tổn thương nặng nề, sức khỏe của ông cũng ngày càng giảm sút. 

Năm 2012, Alain Delon tiến hành phẫu thuật tim, đến năm 2013, ông lại phải nhập viện vì rối loạn nhịp tim. Năm 2014, Alain Delon bất ngờ cảm thấy đau lưng dữ dội tại nhà và được xe cấp cứu đưa đến bệnh viện và tiến hành phẫu thuật khẩn cấp.
Alain Delon và con trai

Sau khi Alain Delon bị hai lần đột quỵ khi ở Thụy Sĩ vào năm 2019, ông đã dành phần lớn thời gian để hồi phục tại một bệnh viện Thụy Sĩ. Mới tháng 10 năm ngoái, con gái lớn 31 tuổi của Alain Delon, Anouchka Delon, cũng đã chia sẻ một bộ ảnh của bố mình. Bức ảnh cho thấy Alain Delon đang đeo kính râm, ôm cháu trai trên tay, tận hưởng khoảng thời gian đầm ấm bên gia đình và có vẻ rất phong độ.
Trong một bức ảnh khác, Alain Delon không quên nhìn vào máy ảnh khi ngồi vào bàn ăn thưởng thức trà chiều. Trên đôi chân của mình, dựa vào một đôi nạng được chế tạo đặc biệt, có thể thấy rằng những năm cuối đời, Alain Delon đã phải đi lại với sự hỗ trợ của nạng. So với bức ảnh trước, ông trông rất già nua khi bỏ kính râm.
Trong một cuộc phỏng vấn rằng vào tháng 9 năm 2020, Alain Delon cho biết cái chết của một người bạn cũ đã gây ra một đòn giáng mạnh vào ông: "Điều này thật khủng khiếp, tôi hoàn toàn bị hủy hoại. Tôi chỉ nghĩ rằng, hai chúng tôi ra đi cùng nhau cũng là một lựa chọn tốt. Tôi chán ghét việc này, tôi sẽ rời khỏi thế giới này mà không có bất kỳ hối tiếc. Mọi thứ đã sẵn sàng, tang lễ của tôi, nấm mồ của tôi".
Alain Delon thời trẻ

Bên cạnh đó, việc vợ cũ của Alain Delon, Nathalie Delon đã qua đời vì bệnh ung thư tuyến tụy vào tháng 1 năm 2021 cũng là một trong những nguyên nhân khiến Alain đưa ra quyết định này.
Alain và vợ Nathalie Delon

Dù không muốn trở thành gánh nặng cho con cái nhưng Alain Delon lại rất phụ thuộc vào gia đình, đặc biệt là cậu con trai cả Anthony.

Anthony tiết lộ trong một chương trình được phát sóng gần đây rằng anh ấy đã thảo luận nghiêm túc về chủ đề "an tử" với cha mình, và anh ấy tôn trọng quyết định của cha mình. “Đó là sự thật, chúng tôi đã nói về nó. Ông ấy muốn tôi đi bên ông trong chuyến đi cuối cùng của cuộc đời" - Anthony chia sẻ.
Anthony cũng kể về mẹ của anh, Nathalie Delon, người đã qua đời vì ung thư tuyến tụy năm ngoái, anh nói rằng vì những ngày cuối cùng của mẹ rất đau đớn, anh cũng đã tính đến chuyện an tử và thậm chí đã làm tất cả các thủ tục. 

"Thật may là cuối cùng chúng tôi không làm vậy, khó khăn lắm chúng tôi mới có thể nắm tay bà ấy nhìn bà ấy ra đi. May mắn là mẹ tôi cũng ra đi trong bình yên, đó là một sự nhẹ nhõm đối với tôi".
Alain Delon và diễn viên - đạo diễn Nathalie Delon kết hôn ngay sau khi sinh con trai Anthony vào năm 1964 và chính thức ly hôn vào năm 1969.
Anthony cho biết cha của anh, Alain Delon, đã quyết tâm cai nghiện. 

Từ khi phải chống nạng vì tai biến vào năm 2019, bố anh thường thở dài: "Già rồi, lại hay va vào người, cổ chân lúc nào cũng đau, chuyện này chẳng vui chút nào". 

Alain Delon cũng tiết lộ rằng ông ấy đã sắp xếp tài sản thừa kế của mình: "Tôi không muốn sau khi tôi ra đi, gia đình lại trở nên rối loạn".
Tháng ba khai cần…

Phan

Dallas mới qua một đợt lạnh khủng hoảng sau lễ tình yêu, nghỉ học nghỉ làm tuyết đá đầy đường. Hy vọng là đợt lạnh cuối mùa vì thời tiết Texas khó đoán bởi đôi khi sang tháng tư còn tuyết. Tội nghiệp những người thích trồng, họ thường gieo hạt giống trong garage từ cuối tháng hai để sang tháng ba là đậu bắp đã cao được gang tay, cà chua non nhìn mắc ham, những cây ớt xanh mát mắt... Đợi tháng ba cho ra vườn là sớm có ăn, nhưng đầu tháng tư trời lại đổ cho trận tuyết làm cây con chết ráo. Những người mê trồng tính khôn ăn sớm nên gieo hạt trong garage từ cuối tháng hai lại hoá ra ăn muộn vì phải gieo hạt lại lần nữa.

Nhưng với mấy người bạn mê câu lại có chuyện dở khóc dở cười không thua kém những người mê trồng. Trồng được mấy cây ớt để ăn, vài gốc rau mùi, bụi sả chỉ đáng tiền đồng thì tiền nước tưới tới bạc chục. Mấy người mê câu thì sắm đồ nghề bạc trăm, có người lên tới bạc ngàn, nhưng câu được cá lại đem cho gần hết, chỉ giữ lại một hai con để ăn. Nhiều khi đi câu về mệt nên ghé nhà bạn bè tiện đường, cho luôn cả thùng cá câu được để cần thủ về nghỉ ngơi vì còn sức đâu mà làm cá, ăn cá.

Năm nay cứ thập thò mấy ông bạn câu, hẹn nhau í ới qua điện thoại, “mùa xuân tới rồi anh em ơi! Năm nay anh em mình khai cần cho xôm tụ một bữa để trả thù hai năm đại dịch trói chân.” Nhưng suốt tháng hai thời tiết như qủy tha ma bắt, nóng lạnh bất thường từng ngày, thậm chí trong ngày thì sáng lạnh tới đóng đá nhưng trưa lại nắng rồ rồi chiều mưa thưa, gió buốt tới ở nhà còn teo thì nói gì ra hồ.

Nhưng chờ hết nổi nên chiều thứ sáu đi làm ra, mạnh ai nấy đi bầu thống đốc và nhiều quan chức chính phủ của tiểu bang cho xong nghĩa vụ công dân, rồi hẹn nhau ngoài hồ.

Tôi làm đúng theo lời dặn của ông trưởng nhóm câu ghiền. “Anh em mình đi câu lấy ngày cho mùa câu mới nên mỗi người chỉ đem theo một cần thôi, câu một con thôi, chủ yếu là đợi bà xã đi tắm thì mở tủ lạnh, thấy có gì nhậu được thì quơ hết ra hồ. Bia bọt tôi bao hết, anh em không phải lo.”

Tôi coi trọng ông trưởng nhóm vì ông nhớ chính xác từng người thích uống loại bia gì, ông sẽ mua chính xác cho từng người và chính xác nhất là mỗi người chỉ được hai lon thôi. Và tôi cũng nhớ rất chính xác là ra hồ ăn cái qủy gì cũng ngon, không như ở nhà ngày cuối tuần. Sáng ra làm ly cà phê, vài ly trà nên độ chín giờ thấy đói bụng, chính xác hơn là cồn cào trong bụng do cà phê với trà, nhưng biếng ăn nên thôi để ăn trưa luôn. Rồi trưa tới lại mê đọc, mê xem cái gì đó, cơn cồn cào trong bụng do cà phê với trà cũng đã êm êm nên lười ăn trưa. Ngồi mê một lát đã chiều, làm ly sake cho bớt uể oải. Đúng là một ly, không lấy thêm ly nhưng cứ châm thêm, châm thêm để xem cho hết phim đang hay, hoặc truyện đang ly kỳ phải coi chừng tác giả lừa bạn đọc. Theo tình tiết thì phải kết thúc như thế mới đúng, nhưng tác giả giăng ra ma trận tình tiết thì kết thúc khó đoán như ông bạn tôi làm thơ, “qua cầu Tràng tiền rồi mới tới cầu Gia hội/ Em đi đâu vội… (tự nhiên bỏ ba chấm rồi xuồng hàng). Ai mà đoán được vế kết phũ phàng tới độ, “anh kệ mụ nội em luôn.”

Cứ thế mà tỉ tê sake với cái bụng không ăn từ sáng nên ngủm cù đèo hồi nào không hay trên sofa. Nửa đêm thức giấc vì lạnh và đói như bò bắt nợ, khát như chưa uống nước ba ngày. Mà đã nửa đêm thì ăn gì nổi nữa nên uống hết chai nước lọc rồi đi ngủ. Nhưng liệu có ngủ được không sau khi đã nhắm mắt dưỡng thần ngoài sofa, lại thêm chai nước lọc uống cạn thì chả bao lâu nó đánh thức giấc chập chờn, mả đã tới tuồi đi tiểu đêm thì từ đó là thao láo tới sáng.

Cứ sau những ngày cuồi tuần như thế nên tôi rất sợ về hưu vì ngày nào cũng là ngày cuồi tuần. Có lẽ khi về hưu thật thì ngày nào tôi cũng đi câu đúng giờ, về đúng giờ như đi làm vì cứ ra tới hồ là thấy đói bụng và ăn qủy gì cũng ngon.

Hôm nay đi khai cần đầu mùa với mấy ông bạn ghiền câu. Tôi trộn cho một hũ muối, đường, tiêu, bột tỏi, chút bột ngọt, cầm theo cuộn giấy nhôm. Thay vì kéo thùng đồ câu ra hồ thì tôi kéo cái lò nướng than, ghé chợ Mỹ mua bao than và ít trái cây, vài trái chanh vàng.

Tôi ra tới hồ trong tiếng reo hò của mấy ông bạn, “thiệt là cái thằng biết thiên thời địa lợi nhân hoà. Trên bãi cỏ đã có mấy con cá white bass mập ú, bụng nong nóc trứng vì tới mùa cá đẻ. Tôi còn câu gì nữa mà ra cần nên ra dao kéo làm cá bên bờ hồ, nhờ ông bạn thương tôi nhất vì mấy ông kia chỉ mê câu, ông này chịu gác cần một lát để đi nhóm lửa giùm tôi.

Ôi các bạn ta ơi! Con white bass mập ú chừng hơn một cân, hai buồng trứng bằng ba ngón tay chụm lại. Tôi rắc muối tiêu tỏi trong ngoài con cá, xắt táo (apple) ra từng lát mỏng, kẹp mỗi bên con cá ba bốn lát táo, rồi cuộc giấy bạc, kẹp hai đầu giấy bạc lại cho kín vì nước cá tươm ra quyện với nước táo trong giấy bạc là nước thánh, mùi tiêu tỏi thơm lừng là hương vị cố nhân xa rồi. Con thứ hai tôi kẹp mấy lát cam, coi bộ nó bắt bia hơn táo. 

Tội nghiệp mấy ông bạn già buông cần vì ra hồ là tự nhiên đói, gió hồ làm cho đói chứ ở nhà thì toàn là những ông cụ kén ăn. Giờ các cụ đứng câu sao nổi với mùi cá nướng cam cho dù hà bá có khoả thân ngoài hồ thì mấy ông già cũng buông cần, đi bẻ đũa từ những bụi cây dại ven hồ. Những đôi đũa ngộ nghĩnh chọc phá con cá nướng như đám trẻ trâu ngày nào dùng que ghẹo con rắn nước tiến thoái lưỡng nan khi đã sa vào tay bọn trẻ quê luôn thiếu những trò chơi. Giờ bọn trẻ đã bạc đầu nên hồn nhiên tìm lại, quên phắt mấy mươi năm đường trần vô nghĩa.

Tôi không làm sao kịp cho sự háu đói của thực khách không phải trả tiền ăn. Thương nhất là anh H, bệnh rề rề từ đầu mùa dịch. Tới thăm anh tại tư gia thì vợ con anh chỉ nhờ chú khuyên ông nhà tôi, khuyên ba con ráng ăn chứ không chịu ăn gì hết thì sao sống nổi. Bây giờ anh cũng ngồi yên với đôi đũa không ai diễn tả được hình thù, nhưng nó còn mới nguyên, chưa hề gắp. Anh nhường bạn bè nhưng tôi vui vì anh không vứt đôi đũa kỳ dị của anh đi nghĩa là anh chờ. Tôi xin phép mọi người vì lý do sức khoẻ của anh H, xin mọi người ưu tiên cho mình anh một con vì ông ấy ăn được nghĩa là chưa bỏ anh em đi chơi riêng… một góc trời.

Ai cũng đồng ý nên tôi ướp con cá cho anh với bốn trái dâu tươi, hy vọng mùi thơm của dâu và vị chua át mùi tanh của cá thì anh ăn được. Và đúng nên mừng, anh ăn hết con cá. . Anh em mừng quá vì chưa phải hùn tiền đi đặt vòng hoa vô cùng thương tiếc anh Hùng còi…

Cá quá chừng cá đầu mùa, không có thời gian làm để đủ ăn cho mọi người nên anh bạn thương tôi nhất ra kế dễ như nướng xù, cứ bẻ cảnh dại xỏ cá nướng xù trên lò than đã vừa lửa nhất để nướng cá, sau đó vắt chanh lưa thưa lên mình cá, chấm muối tiêu tỏi, ăn kèm với táo, dâu chua chua, ai thích ngọt thì ăn với cam, sợ tanh thì vắt vỏ cam lên cá, dầu vỏ cam trị tanh dã ngoại thật hay.

Hết bia mà chưa ai muốn về, phải cầu cứ ông bạn nhà hàng, “Nè, anh giàu thì không bằng anh em vì hai ba cái nhà hàng thì xá gì nên anh về sớm một bữa cho anh em nhờ. Bây giờ chúng tôi ngoài hồ, đang nướng cá nhưng quên thùng bia ở nhà. Nhờ anh giúp được không?”

Tiếng cười sang sảng của anh bạn nhà hàng rồi trách ngược, vui quá mà sao không cho tôi hay sớm. Tôi ra hồ liền để phạt các anh…”

Than tàn bên bờ hồ gió lặng, sóng lăn tăn hồng do đống lửa than đã nhạt màu. Anh nhà hàng còn trẻ nên săn tay áo đi lượm củi khô về đốt lửa trại. Xăng ba đồng ba mươi chín xu một gallon ở Texas chỉ có trong thời đại của Biden, nhưng nhằm nhò gì với nhiệm kỳ tồng thống Mỹ chỉ có bốn năm nên bốn năm chiếc xe nổ máy, bật đèn pha xuống hồ để câu cá, ai lạnh thì vô xe ngồi cho ấm… một lát lại chui ra vì tiếc cuộc vui lửa trại bên hồ.

Bữa tiệc khai cần năm nay vui chưa từng có vì anh em bị nhốt trong nhà đã hai năm đại dịch. Mọi người có già đi và yếu hơn trước dịch. Không biết được sau hôm nay vui có ai ngày mai là ngày buồn, nhưng trước ngày buồn được một hôm vui đã là cuộc đời có kết thúc vui. Tôi đang ngối đối diện với tô mì gói vì đói quá thì nấu, nhưng nấu rồi lại không muốn ăn vì đã no khi thấy anh em là những đứa trẻ đầu bạc không tranh nhau ăn cá nướng ngoài hồ mà nhường nhịn nhau đến cảm động… “Ông còn răng cỏ gì đâu mà đòi ăn cái đầu, để đó cho tui. Nè, cho ông thịt lưng không xương, không tanh…” ; “Nhưng không ngon nên nó mới cho tui, nhưng tui cũng cảm ơn đời đã cho tui mấy người bạn ghiền câu quá đã…”

Rồi bãi câu mỗi năm sẽ vắng đi đôi người đồng hương cùng sở thích. Tôi mân mê ly rượu trong tay khi ngoài trời đang gào lên những lọn gió rét. Tạ ơn trời đã cho những người bạn đam mê được buồi chiều về tối cuộc hội ngộ ai mất ai còn sau đại dịch. Tạ ơn trên cho những đứa trẻ đã bạc đầu được hồn nhiên như chưa từng xa quê, cả cuộc đời bể dâu xin gởi lại, chút lửa than bên hồ hong đời mãi lênh đênh cũng có hồi lăn tăn sóng bập bùng quên lãng…
Thuốc hết hạn

Tôi từng bị viêm loét dạ dày rất nặng, hai lần cận kề sinh tử với biến chứng chảy máu. Nhiều năm trước, tôi phải nằm điều trị trong khoa hồi sức cấp cứu hàng tháng trời, nơi rất gần với nhà xác bệnh viện, hàng ngày nghe rõ tiếng kèn đám ma phát ra từ nhà tang lễ.

Thời điểm đó, gần 30 năm trước, các thầy của tôi ở trường Y là những bác sĩ siêu giỏi, nhưng việc bệnh nhân chết cứ diễn ra liên tục vì không có những loại thuốc đắt tiền để điều trị. Tính mạng của tôi từng bị đe dọa như thế.

Trở về bệnh xá nhà trường, mặc dù tôi được cứu sống nhưng ổ loét dạ dày gây thủng mạch máu vẫn còn, nguy cơ chảy máu tái phát bất cứ lúc nào. Bác sĩ nói với tôi có một cơ số thuốc đã hết hạn gần hai năm, được các chuyên gia quốc tế mang từ nước ngoài sang cho, nếu tôi đồng ý thì có thể dùng.

Theo các chuyên gia, thuốc đã hết hạn nhưng vẫn an toàn.

Sức khỏe bị đe dọa, tôi không còn lựa chọn nào khác là gật đầu đồng ý. Nhưng tôi cũng tin bác sĩ ở bệnh xá nhà trường đang cố gắng giúp tôi, tin các chuyên gia quốc tế đang tìm cách hỗ trợ cho hệ thống y tế. Và thật kỳ diệu, nhờ những viên thuốc hết hạn ấy, bệnh viêm loét dạ dày của tôi đã khỏi hẳn.

Nhiều năm làm bác sĩ, tôi cứ băn khoăn với suy nghĩ, mỗi ngày trên thế giới có quá nhiều loại thuốc phải mang đi tiêu hủy vì hết hạn, hầu hết là thuốc đắt tiền, trong khi ở châu Phi và châu Á còn hàng triệu người gặp vấn đề lớn về khả năng chi trả tiền thuốc.

Vậy thuốc hết hạn liệu có thể sử dụng an toàn?

Tìm hiểu, tôi được biết, vào năm 1985, kho dự trữ thuốc của quân đội Mỹ lên tới hơn một tỷ USD sắp hết hạn, sẽ phải tiêu hủy để thay thế thuốc mới. Điều đó quá lãng phí. Chẳng ai muốn vất bỏ những loại thuốc đắt tiền nếu như nó vẫn còn hiệu quả, vì vậy, quân đội đã yêu cầu Cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) thực hiện chương trình thử nghiệm về khả năng kéo dài thời gian sử dụng các loại thuốc sau khi đã hết hạn ghi trên bao bì.

Thật bất ngờ, FDA công bố 88% trong tổng số hơn 3.000 lô của 122 sản phẩm thuốc hoàn toàn có thể sử dụng sau khi hết hạn tới hơn 15 năm. Ngay sau đó, FDA đã thực hiện chương trình gia hạn sử dụng cho 2.652 lô thuốc dự trữ trong kho của Bộ Quốc phòng Mỹ. Thời gian gia hạn trung bình là 66 tháng, dao động từ 12 đến 184 tháng, tối đa 278 tháng, tức hơn 23 năm.

Có 12% thuốc không được FDA gia hạn, đó là những kháng sinh đường tiêm, aspirin, nitroglycerin, insulin, kháng sinh mefloquine điều trị bệnh sốt rét và thuốc chống dị ứng epi-pens và sinh phẩm y tế. Mỗi thuốc không được phê duyệt có lý do khác nhau. Ví dụ tetracycline, kháng sinh này rất phổ biến ở thế hệ chúng tôi khi bé, đến nỗi tất cả "con cơ quan" bố mẹ tôi đều có "bộ răng tetracycline". FDA không phê duyệt gia hạn sử dụng, vì tetracycline bị thoái hóa sẽ gây tổn thương ống thận, gọi là hội chứng Fanconi.

Hạn sử dụng ghi trên bao bì có nghĩa gì? 
Kể từ năm 1979, FDA yêu cầu các nhà sản xuất thuốc phải ghi hạn sử dụng lên bao bì thuốc, dựa trên cơ sở một số thử nghiệm về tính ổn định của thuốc. Cụ thể là ghi tháng và năm, kèm theo một trong số các từ "expiry, expiry date, expires, exp, exp date, use by, use before, best before".

Để xác định ngày hết hạn của một loại thuốc, nhà sản xuất tiến hành nghiên cứu sự phá hủy của thuốc ở các ngưỡng nhiệt độ và độ ẩm khác nhau, đồng thời đánh giá sự xuống cấp của thuốc theo thời gian. Dựa vào nghiên cứu đó, công ty dược đề xuất ngày hết hạn. Hầu hết các thuốc hết hạn sau hai đến ba năm.

Vì lý do trách nhiệm pháp lý, các nhà sản xuất chỉ đưa ra khuyến nghị tính ổn định của thuốc cho đến đúng ngày hết hạn. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của FDA từ năm 1985 đến năm 2017, ngày hết hạn ghi trên bao bì thuốc chỉ có ý nghĩa nhà sản xuất đảm bảo tính ổn định của thuốc trong khoảng thời gian đó.

Cantrell Lee, giáo sư dược lý học lâm sàng tại Đại học California, giám đốc phân khu San Diego của Hệ thống Kiểm soát ngộ độc California cho biết, bản thân chưa thấy tài liệu khoa học nào nói về thuốc hết hạn gây ra bất kỳ vấn đề nào ở người.

Năm 2012, Cantrell cùng với Roy Gerona công bố một nghiên cứu trên tạp chí JAMA về các thuốc kháng histamine, thuốc giảm đau và thuốc giảm cân được tìm thấy ở phía sau quầy thuốc. Kết quả phân tích những thuốc này vẫn giữ nguyên giá trị sau 40 năm.

Roy Gerona cũng là nhà nghiên cứu của Đại học California, chuyên gia phân tích hóa chất. Lớn lên ở Philippines, Gerona đã chứng kiến những người khỏi bệnh bằng cách uống thuốc hết hạn mà không có tác dụng phụ rõ ràng.

Gerona là một dược sĩ và Cantrell là một nhà độc học, cả hai đều cho rằng, thuật ngữ "ngày hết hạn – expiration date" là một cách gọi chưa hoàn toàn chính xác, đã gây ra sự lãng phí vô cùng lớn. Bệnh viện Newton-Wellesley thuộc thành phố Boston, nơi có 240 giường bệnh điều trị nội trú, riêng năm 2016 phải tiêu hủy số thuốc quá hạn với số tiền 200 ngàn USD. Trung tâm y tế Tufts gần đó, mỗi năm tiêu hủy số lượng thuốc gấp bốn lần, lên tới 800 ngàn USD.

Năm 2016, kho dự trữ thuốc của quân đội Hoa Kỳ lên tới 13,6 tỷ USD, FDA chi phí số tiền 2,1 triệu USD để thực hiện chương trình gia hạn sử dụng thuốc để tránh bị tiêu hủy. Kết quả thu được tiết kiệm cho chính phủ Mỹ 2,1 tỷ USD. Có thể hình dung việc làm của FDA đã mang lại lợi nhuận rất lớn: chi ra một USD để tiết kiệm 677 USD.

Năm 2000, Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đứng trước cuộc khủng hoảng thuốc, đã thông qua một nghị quyết thúc giục hành động. Hiệp hội này cho rằng, thời hạn sử dụng thuốc "dài hơn đáng kể" so với ngày hết hạn ghi trên bao bì, nếu không gia hạn sẽ gây "lãng phí không cần thiết, chi phí dược phẩm cao và giảm khả năng tiếp cận với các loại thuốc cần thiết cho một số bệnh nhân". AMA đã gửi thư phối hợp với FDA, Công ước Dược điển Mỹ đưa ra các tiêu chuẩn để gia hạn thuốc và sinh phẩm y tế.

Nhưng AMA đã thất bại, các nhà sản xuất thuốc không đồng ý, vì nhiều lý do. Một trong những lý do, như bài bình luận của Đại học Harvard, rằng có lẽ các công ty dược phẩm thiết lập ngày hết hạn từ hai đến ba năm, thay vì nhiều năm, là nhằm mục đích thương mại bán được nhiều thuốc. Mayo Clinic đưa ra ý tưởng các công ty dược nên ghi ngày hết hạn sơ bộ (preliminary expiration date), sau đó cập nhật hạn sử dụng dựa trên cơ sở những thử nghiệm dài hạn, nhưng các hãng dược vẫn không đồng ý với lý do chi phí quá tốn kém.

Với thời hạn sử dụng không quá ba năm, các thuốc nhập vào Việt Nam hiện phải vượt qua con đường khá dài, đặc biệt là biệt dược hay thuốc điều trị ung thư đắt tiền, để hoàn thành mọi thủ tục đã mất hơn một năm. Đó là lý do khiến rất nhiều loại thuốc nhanh chóng hết hạn, chưa tính tới môi trường bảo quản và phân phối trong một số điều kiện cũng có thể ảnh hưởng đến thuốc.

Nhiều năm nay, từ nhà phân phối đến dược sĩ trong các bệnh viện luôn đau đầu với thuốc cận "đát". Có những lô thuốc chữa ung thư phải tiêu huỷ lên tới hàng chục tỷ đồng trong khi hàng triệu bệnh nhân của chúng ta, vừa tốn kém rất nhiều tiền cho thuốc, vừa mất đi cơ hội chữa trị.

Lãng phí cũng là một tội. Trong lúc các nhà sản xuất chưa chấp nhận gia hạn sử dụng thuốc, để bớt lãng phí, cần tổ chức đánh giá tác động của thuốc cận "đát" bởi các nhà khoa học, chuyên môn. Bên cạnh đó, Việt Nam cải tiến luật lệ, quy định và các khâu trong thủ tục nhập cảnh, quản lý và phân phối dược phẩm để thuốc không bị "ngâm" ở đâu đó trước khi đến tay bệnh nhân.

Dù còn nhiều tranh cãi quanh vấn đề thuốc hết hạn không chỉ tại Việt Nam mà trên toàn cầu, y, bác sĩ không nên khuyến khích sử dụng thuốc hết hạn. Trong những hoàn cảnh đặc biệt, không có lựa chọn nào tốt hơn, chúng ta phải công khai thông tin và chỉ cho người bệnh sử dụng nếu họ đã được giải thích đầy đủ và đồng ý.
Tình người 

Trung uý Charlie Brown 21 tuổi, phi công của chiếc B17F Flying Fortress tên phi cơ (Ye Olde Pub) thuộc phi đoàn 527th United States Army Air Force (USAA) đồn trú tại Kimbolton England.

Ngày 20 tháng 12 năm 1943. Trung uý Charlie Brown cất cánh từ Kimbolton cùng phi hành đoàn 10 người, trong một phi vụ đánh bom khu kỹ nghệ gần thành phố Bremen Đức Quốc, thành phố được bảo vệ dầy đặc phòng không và 250 chiến đấu cơ gồm Bf 109, Fw 190 và GJ 11.

Trên vòm trời Bremen chiếc B17 của Charlie Brown bį phòng không của Đức bắn gần gãy lìa đuôi, mũi phi cơ bị hư hại nặng, phi cụ không còn hoạt động, điện, thủy điều hoàn toàn hư hỏng. Ba trong bốn động cơ không còn hoạt động được. Sau đó chiếc B17 bị các chiến đấu cơ Đức vây quanh, bắn nát như tổ ong, chiếc phi cơ B17 mất cao độ chúi xuống, trong lúc hỗn loạn không còn phi cụ, phi cơ lạc hướng bay sâu vào nội địa nước Đức. Trung uý Charlie Brown hồi tưởng: phi cơ trong tình trạng tuyệt vọng nhưng anh không thể ra lệnh cho phi hành đoàn nhảy dù được, vì trên tàu còn 4 phi hành đoàn bị thương, một rất nặng, nên anh quyết định bay tiếp cho đến khi nào không còn bay được, anh sẽ ép buộc đáp, và tất cả phải chịu chung số phận với con tàu.

Anh Franz Stigler, người phi công lái chiếc Bf 109. Một anh hùng không chiến của không lực Luftwaffe (Đức Quốc) từng hạ 27 phi cơ của đồng minh, đang tiếp tế nhiên liệu, nạp đạn cho phi cơ dưới đất, được lệnh cất cánh khẩn cấp, bắn hạ chiếc B17, đang lảo đảo bay trong không gian vô định.

Trung uý Charlie hồi tưởng: tôi phải vất vả lắm mới kéo được con tàu trở lại bình phi, thì lù lù bên trái của tôi một chiếc Bf 109 của Đức kèm sát cánh

Trong giây phút kinh hoàng, tôi nhắm mắt lại, hy vọng đây chỉ là giấc mơ. Khi mở mắt ra chiếc Bf 109 vẫn còn đó, và người phi công ra lệnh cho tôi phải đáp xuống phi trường Đức, hay phi trường nước trung lập Sweden, tôi không đồng ý. Cuối cùng tôi thấy người phi công lái chiếc Bf 109 bay nhanh phía trước, lắc cánh ra hiệu cho tôi theo, không còn lựa chọn tôi bay theo, độ hơn một giờ sau tôi nhìn thấy biển Bắc. Chiếc phi cơ Bf 109 bay chậm lại song song với tôi, đưa tay chào, rồi lắc cánh nhẹ vài cái, dấu hiệu tạm biệt của người phi công, rồi mất dạng trong sương chiều.

Như một phép lạ, anh Charlie Brown bay được 250 miles (400 km) qua biển Bắc. Sau cùng đáp xuống phi trường của hoàng gia Anh ở Seething, nơi đồn trú của phi đoàn 440th bomber group, chỉ có một người chết, còn tất cả những người bị thương đều được cứu. Sau đó tất cả phi hành đoàn báo cáo với sĩ quan chỉ huy ở đây, họ được chỉ thị giữ kín chuyện này, vì nói ra sự thật có vẻ phản tuyên truyền, vì không thể có một phi công Đức nào hào hùng và độ lượng với kẻ thù như vậy.

Sau chiến tranh Charlie Brown ở lại phục vụ trong không lực Hoa Kỳ cho đến năm 1972 thì giải ngũ với cấp bậc trung tá sống tại Florida.

Câu chuyện không chấm dứt ở đây. Trở về lại quê hương, anh Charlie Brown viết rất nhiều thư để mong tìm ra tông tích người phi công Đức đã không cướp đi mạng sống cả phi hành đoàn chiếc B17 của anh. Tìm một người phi công sau một cuộc chiến tranh tàn khốc, không tên họ, chỉ có một câu chuyện đâu phải dễ tìm. Không nản lòng anh vẫn tiếp tục. 

Cuối cùng vào năm 1989, sau 46 năm tìm kiếm, anh Charlie Brown đã tìm ra được người phi công bí mật, lái chiếc Bf109. Một anh hùng không chiến của không lực Luftwaffe (Đức) cũng là một thiên thần độ lượng trên vòm trời Bremen vào những ngày cận giáng sinh năm 1943. Đó là anh Franz Stigler.

Sau khi chiến tranh chấm dứt anh Franz Stigler di dân sang sống ở Vancouver Canada. Trong bức thư đầu tiên anh Franz Stigler viết cho Charlie Brown: “suốt bao nhiêu năm dài tôi luôn tự hỏi, không biết chiếc B17 đó có đưa phi hành đoàn về đáp an toàn hay không“.

Họ gặp nhau sau 46 năm tìm kiếm diễn ra rất cảm động. Anh Franz Stigler hồi tưởng: tôi được lệnh cất cánh rượt đuổi bắn hạ chiếc B17, tống ga đuổi kịp, thì tàu của tôi báo hiệu máy đã nóng vượt bực, tôi đến từ phía sau quan sát chiếc B17. Một cảnh tượng thật tang thương, phần đuôi của con tàu gần như tan nát, một lỗ hổng lớn có thể nhìn từ đuôi cho đến cockpit, người xạ thủ tail gun turret nằm chết đong đưa, nửa trong nửa ngoài trên pháo tháp. Tôi bay lên quan sát bên thân tàu, cả một vùng thân đầy lỗ đạn to lớn, tôi có thể thấy cả phi hành đoàn bị thương nằm la liệt bên trong, người phi công đang vật lộn với con tàu mong giữ được bình phi, tôi ra hiệu cho anh ta theo tôi đáp xuống một căn cứ gần đó, để cứu những phi hành đoàn bị thương, anh ta nhìn tôi chăm chăm rồi nhè nhẹ lắc đầu, tôi không có can đảm giết những người anh hùng không còn vũ khí để tự vệ, tôi là một người phi công hào hùng, tôi chém giết để bảo vệ quê hương tôi, nhưng không hề có thù hận. 

Khi còn chiến đấu ở Bắc Phi, người chỉ huy của tôi đã nói. ”nếu tụi mầy bắn một người phi công đã nhảy dù ra khỏi phi cơ, đó là một hành động tồi tệ, tao sẽ là người bắn rơi tụi mầy”. 

Trong trường hợp nầy cũng vậy, chiếc B17 nầy không còn tự vệ được, tôi phải để cho họ có một cơ hội, ngày mai tôi sẽ bắn họ khi họ ngang ngửa với tôi. Biết là không thể thuyết phục được người trưởng phi cơ B17 tôi bay ra phía trước lắc cánh, tôi cũng mừng khi thấy anh đã bay theo tôi, hướng dẫn chiếc B17 độ một giờ sau thì tôi thấy biển Bắc, tôi bay chậm lại song song, chào anh ta rồi quay trở về đáp, dĩ nhiên là tôi phải báo cáo với cấp trên, là tôi đã bắn hạ chiếc B17 trên biển.

Anh Charlie Brown và Anh Franz Stigler trở nên đôi bạn thân, họ đã gặp lại nhau nhiều lần, sau đó họ đã được không lực Hoa Kỳ bạn tặng những huy chương cao quý.

Anh Charlie Brown mất ngày 24 tháng 11 năm 2008.
Anh Franz Stigler mất ngày 22 tháng 3 năm 2008.

Những người anh hùng trên một đất nước anh hùng, dù thắng hay bại vẫn được coi trọng, ”luận anh hùng không dựa theo thành bại”. Người Nhật người Đức, sau khi bại trận vẫn được người Mỹ kính trọng.

phiên dịch: đông quyên
Tản Mạn Chuyện Mỹ Và Canada


hình tác giả

Vợ chồng tôi, có một điểm “hoà hợp” khi đến với nhau, đó là cùng từng vỡ tan …mối tình đầu với xứ Hoa Kỳ.

Hồi tôi ở trại tỵ nạn, trầy trật bốn năm trời mới vượt qua cuộc thanh lọc đáng ghét, và khi gặp phái đoàn Mỹ phỏng vấn thì bị từ chối, mặc dù tôi có đầy đủ gia đình ở bển.

Còn chồng tôi, cả giòng họ rủ nhau đi vượt biên rất sớm, năm 1977 khi cả miền Nam đang vào cơn tàn tạ dưới bàn tay của “bên thắng cuộc”. Trong khi ở trại Mã Lai chờ phái đoàn Mỹ, thì phái đoàn Canada lơn tơn xuất hiện, gia đình chồng tôi nôn nóng thoát khỏi cuộc sống tù túng ở trại nên nhắm mắt đưa chân qua Canada định cư luôn một lèo. Sau đó, chồng tôi đi học, vào cấp ba rồi Đại Học, quyết chí thực hiện giấc mơ Mỹ Quốc năm xưa, bèn nộp vào trường Đại Học tại New York. Khi nộp đơn thì hào hứng, đến khi được nhận thì bị bà má chồng “bàn ra”, vì sợ tốn kém với số “student loan” quá lớn, chồng tôi cũng bị nản chí, không qua đó học nữa.

Dù sao, Canada và Mỹ cũng là hàng xóm. Chúng tôi quen dần với xứ lạnh tình nồng, hàng năm lại hào hứng với những chuyến du lịch đó đây. Ai đi đông đi Tây, ai đi xa đi gần, chứ gia đình tôi, ngoài vài lần đi Mexico, chồng tôi đi Conference bên Cuba, Puerto Rico, còn lại những chuyến vacation đều trong Canada và Mỹ. Với 50 tiểu bang của Mỹ và 12 tỉnh bang bao la của Canada, biết bao nhiêu cảnh đẹp tuyệt vời, cần gì phải đi đâu cho xa xôi!

Đi cruise thì tôi kiên quyết là không bao giờ (dù vẫn biết never say never). Thứ nhất là tôi hay bị say sóng, thứ hai, quan trọng hơn, là chuyến vượt biên của tôi 30 năm trước, tàu bị mưa bão, máy thoát nước bị hư, trong đêm tối bão bùng, tôi đã thấy biển là con quái vật hung dữ bạo tàn, nên tôi không muốn sống lại cảm giác đó một lần nào nữa.

Mỗi lần gia đình tôi bay đến một nơi nào đó trên xứ Mỹ hay Canada, thường sẽ mướn xe làm tiếp một chuyến mini road trip đến các thành phố lân cận.

Bay đến Vancouver (Canada) thì sẽ đi qua Seattle, hay Oregon (Mỹ), đến Toronto (Canada) thì đi Buffalo, New York, Philadelphia, Atlantic City (Mỹ), hoặc ngược miền Đông Canada về Ottawa, Montreal, Quebec. Khi bay đến Nam California thì lái xe qua Las Vegas, Arizona, và nếu bay đến Arlington Texas thì road trips thẳng tiến Dallas, Houston, San Antonia, Oklahoma, New Orleans. Thời gian cho mini road-trips thường từ 5 cho đến 10 tiếng lái xe.

Nhưng đã có hai lần, gia đình tôi có hai chuyến Road Trips thật sự, được tính bằng ngày và đêm. Chuyến đầu tiên là lái từ Edmonton xuyên qua ¾ chiều ngang nước Canada, vượt qua các tỉnh bang Saskatchewan, Manitoba, để đến Toronto, Ontario.

Chuyến thứ hai, chúng tôi bay từ Edmonton qua Toronto, rồi từ Toronto lái xe xuống Texas (Mỹ) băng qua các tiểu bang New York, Pennsylvania, Ohio, Kentucky, Tennessee, Arkansas …

Rất tiếc thuở đó chưa có iphone để chụp nhiều hình, livestream và khoe trên Facebook, nhưng tôi có video camera ghi lại những khúc đường quan trọng, để lại nhiều cảm xúc. Chúng tôi đi từ sớm cho đến tối mịt, dừng tại motel để tắm rửa và ngủ, hôm sau lại dậy đi tiếp. Khi qua một thành phố lớn, chúng tôi vào thẳng trung tâm thành phố, ăn uống, đổ xăng và “cưỡi ngựa xem hoa” những công trình tiêu biểu nơi đó.

Kỷ niệm vẫn còn đầy ắp, nào cơn mưa giông dữ dội trên highway Ohio, nào buổi breakfast tại một quán thôn quê bên rẻo đường nông trại vùng Regina, nào nửa đêm dừng xe vì con nai chết dọc đường vùng Sault Ste Marie để vào tiệm café Tim Hortons nhờ gọi cảnh sát mang con nai đi, nào nắng lấp lánh vùng ngoại ô thành phố Little Rock, Arkansas có những căn nhà bé nhỏ, cổng rào gỗ nhiều màu sắc với những bụi hoa nở tươi tắn dưới bóng lá cờ Mỹ bay phất phới trong gió, xinh đẹp như một khung cảnh trong các phim Hollywood.

Đôi khi, chỉ là một vách đá cheo leo giữa hoang vu, cũng gợi cho tôi những nỗi niềm bâng quơ như nhạc sĩ Diệu Hương:

Em hỏi tôi phiến đá có tình yêu không
Em hỏi tôi, phiến đá có linh hồn không?
Linh hồn tôi nay là đá sỏi
Nhưng đá nằm, khổ đau với tình yêu em…

Những cảm xúc đó, nếu bay trên mấy tầng mây, sẽ không bao giờ có được!

Một thú vị khác nữa, là khi xe chạy qua biên giới hai nước, luôn cho tôi một cảm xúc bâng khuâng lạ kỳ. Tôi ngắm nhìn bên này rồi bên kia, cách nhau trong gang tấc mà đã là nước ngoài rồi ư, dân chúng hai bên hai quốc gia ở vùng biên giới hẳn là quen thuộc, thân thiện nhau lắm. Nhiều lần chúng tôi đi qua biên giới giữa Toronto (Canada)- Buffalo (Mỹ), hoặc Vancouver (Canada)-Seattle (Mỹ) vào giờ cao điểm thì hàng xe dài cả vài cây số là chuyện bình thường, vì đó là giờ tan tầm, dân chúng đi làm việc ở “nước ngoài” chạy về nhà cho kịp giờ cơm tối. Các chàng/ nàng hải quan của hai bên Mỹ-Canada đa số đều rất dễ chịu, thoải mái, miễn mình đừng làm gì ...phạm pháp.

Nhân đây, tôi nhớ đến chuyện mấy anh hải quan đường hàng không của Mỹ. Hồi tháng 8 năm 2021 tôi phải bay qua Texas gấp gáp giữa mùa dịch để dự tang lễ của Ba tôi. Tại sân bay chuẩn bị bay qua Mỹ, nhân viên hải quan hỏi tôi qua Mỹ có chuyện chi, tôi trả lời, “for my dad's funeral”, rồi ổng im lặng, mặt lạnh như tiền, hơn cả mặt James Bond, đưa lại passport, ngoắc tay ra dấu cho tôi qua. Khi trở về Canada, cũng câu hỏi đó, cũng câu trả lời đó, chàng hải quan Canada nhìn tôi ấm áp, lịch sự: "I am sorry to hear that!"

Chị bạn bên Úc nghe tôi kể cũng “hùa” vào góp chuyện: Chị đi Mỹ nhiều lần và đều ...rất mệt với hải quan Mỹ. Lần đó chị đến Denver để ski, ông hải quan hỏi, cô từ Úc qua Mỹ làm gì, dạ tui đi ski, bên bển không có chỗ ski hở, có chớ nhưng tại Úc đang mùa hè, sao cô hổng đợi tới mùa đông, nghe lãng xẹt không em, cuối cùng cũng cho chị qua sau khi hỏi một đống câu hỏi…vô duyên. Tôi bật cười, nói với chị ấy, vậy là ông hải quan Mỹ đó có máu tếu chị ui, đừng giận ổng tội nghiệp, và nhớ sau mùa đại dịch cứ tiếp tục bay qua Colorado trượt tuyết nghen chị!

Ông xã tôi định cư Canada từ năm 1977 thì kể rằng, hồi đó còn “thanh bình”, dân Mỹ và Canada như người một nhà, đi qua biên giới (dù đường bộ hay đường hàng không) của nhau dễ như đi chợ, chỉ cần photo ID là đủ. Thời còn là sinh viên Đại Học tại thủ đô Ottawa, vào mùa Đông, những dịp cuối tuần, anh ấy thường cùng bạn bè lái xe qua biên giới tiểu bang Maine để trượt tuyết. Đi riết rồi quen, có khi gặp đúng officers Mỹ quen mặt, họ nhìn thùng xe chất đầy dụng cụ skiing và lố nhố nhóm sinh viên mũi tẹt da vàng rất dễ thương, là cho qua luôn, khỏi cần xem giấy tờ. Có lẽ sau vụ Sept 11 và BLM, cảnh sát và hải quan Mỹ sợ bị "khủng bố" hoặc bị "Chí Phèo ăn vạ" nên phải làm mặt nghiêm trang lạnh lùng để …an toàn chăng?! Nghe ông xã giải thích, tôi cũng hết hờn giận chàng hải quan Mỹ có bộ mặt James Bond mà tôi đã gặp!

Trong các chuyến road trips, tôi thấy sự khác biệt rất rõ giữa Mỹ và Canada, đó là dân Mỹ rất chịu khó treo cờ trước nhà, các nơi business, công sở, suốt đoạn đường xuyên quốc gia, tôi đếm không xuể những lá cờ Mỹ mà người dân hẳn rất say mê và yêu quý lắm. Còn bên Canada cờ thưa thớt hơn, dọc đường xa lộ, thỉnh thoảng qua các nông trại, xí nghiệp, hay khu nhà dân, lác đác mới thấy cờ Lá Phong. Hầu như chỉ có một ngày dân Canada được thấy cờ bay rợp trời đó là ngày Quốc Khánh (Canada Day), còn bên Mỹ thì họ treo cờ bất cứ nơi đâu mà chẳng cần lý do.

Tôi chẳng hiểu vì sao, bèn hỏi bác Gù Gồ thì thật thú vị khi có ngay một tiêu đề “Why American are so crazy about the flag”! Thì ra chuyện dân Mỹ “điên cuồng” về lá cờ của họ là có thật. Theo thống kê, hàng năm có 150 triệu lá cờ Mỹ với đủ sizes lớn nhỏ được bán ra. Họ tự hào với “lá cờ đẹp nhất thế giới” có13 sọc và 50 ngôi sao của 50 tiểu bang, là biểu tượng của sự hoà hợp, gắn kết, tạo nên sức mạnh tuyệt vời của United States, nên họ “điên cuồng” treo cờ từ thành thị tới thôn quê, trên mái nhà, bên ngọn cây, bên cửa xe, dưới garage, sau vườn nhà, ngay cả trên nón mũ, áo quần và giầy dép… nói chung, đi bất cứ nơi đâu trên đất Mỹ đều dễ dàng nhìn thấy Old Glory.

Rồi tôi cũng tò mò, hỏi bác Gú Gồ tại sao dân Cà Na Điên hổng khoái treo cờ, kết quả cũng khá bất ngờ và …khá buồn! Không phải riêng tôi, mà đã từng có nhiều người cũng đã nêu thắc mắc đó, họ còn dẫn chứng bên xứ Mỹ láng giềng người ta mê cờ của nước người ta lắm kìa. Thế là một số người nhảy ra phản pháo: Chúng ta yêu nước yêu lá cờ từ trong đáy tim, chớ không cần phải “show off” như …ai kia! Có kẻ còn la lên: tại sao phải …giống Mỹ !!! Thậm chí, đôi lần nơi quốc hội, một số nhà chính khách cũng vận động phong trào treo cờ, nhưng dân chúng vẫn hững hờ, họ bảo họ vẫn “proud to be Canadian”, tự hào với Cờ Lá Phong trong các đại hội Olympics, Stanley Cup, Canada Day, và nhất định khi đi du lịch qua Châu Âu họ luôn mang theo lá cờ nhỏ nơi hành lý để hải quan bên đó đừng tưởng họ là …dân Mỹ, ghê chưa! Ai bảo dân Cà Na Điên hiền nữa không nà?

Nhớ hồi mùa đại dịch còn căng thẳng, khi mới bắt đầu rục rịch có vaccine, chính phủ Mỹ không cho phép hãng Pfizer xuất vaccine trực tiếp qua Canada mà Canada phải đi đường vòng qua Châu Âu mới mua được vaccine cho dân chúng. Bữa đó tôi đi chợ Việt Nam nghe mấy người quen đứng nói chuyện rổn rảng ngay cửa chợ, chê trách Mỹ chơi xấu với nước láng giềng, đến lúc sống còn mới biết đá biết vàng. Một chú kết luận:

- Túm lại, tụi Mỹ chơi …hổng dzô! Lúc tối lửa tắt đèn có nhau mà cư xử vậy sao? Có cháy nhà mới lòi mặt chuột.

Tôi ngứa miệng góp ý:

- Thì chính phủ Mỹ phải lo cho dân họ trước chứ, họ có hơn 300 triệu dân, trong khi xứ mình đất rộng người thưa, chỉ khoảng xấp xỉ 38 triệu…
Nói chưa hết câu đã bị cả đám nhao nhao lên phản công:

- Cô bị bùa mê thuốc lú gì mà lúc nào cũng bênh vực Mỹ vậy?

Thiệt tình, thân tôi “một kiểng hai quê”, đứng giữa “hai phe”, nhiều lúc cũng khó xử lắm á! Tôi đâu dám đổ thêm dầu vào lửa, khi họ đang nổi sùng vì chưa nằm trong danh sách chích vaccine. Ai nói “Canada xứ lạnh tình nồng” thì tôi chịu, chớ nói dân Canada …hiền thì chưa chắc, tôi bèn xuống giọng vui vẻ:

- Các bác thử nghĩ xem, nếu nhà bác có đông con, bác phải lo cho chúng no đủ thì mới nghĩ đến chuyện giúp người khác, phải không nào? Hơn nữa, khi biết người hàng xóm cũng khá giả, con cái thưa thớt vài mống, với khả năng tài chánh dồi dào, chỉ là phải mua hàng …xa một chút, lâu hơn một chút, chứ đâu phải thấy người hàng xóm nghèo mạt rệp, sắp tắt thở mà họ không ra tay giúp, lúc đó khỏi cần các bác rủ rê, em sẽ có mặt hàng đầu đi biểu tình …chống Mỹ!

Chuyện hục hặc “thầm lặng” giữa người Canada gốc Việt và người Mỹ gốc Việt, không phải là không có, bữa nào quởn tôi sẽ viết hầu quý vị, kể cả chuyện “đế quốc Mỹ” từng hăm he ...xâm lăng đất nước Canada hiền hoà đẹp xinh một thuở xa lắc xa lơ nữa kìa!

Và chuyện một số người bản xứ Mỹ và Canada không ưa nhau, là có thật, bát đũa còn có lúc xô nhau, huống gì tình hàng xóm láng giềng. Nhưng may thay, đó chỉ là thiểu số không đáng kể.

Khi nào có …chiến tranh Mỹ-Canada thì lúc ấy tôi sẽ khai thác đề tài này, còn hiện nay, đa số dân hai bên đều vui vẻ thân thiện, “tình thương mến thương” lẫn nhau, cùng nhau gìn giữ hoà bình khu vực, thì dại gì mà đụng vào “ổ kiến lửa”, dễ …xa nhau lắm á!!

Kim Loan

Edmonton, Tháng2/2022
Từ Người Việt Tị Nạn...

1. Cơ hội "ngàn năm một thuở" tại các trại tị nạn mà dân Việt gần như không thể có được khi sống tại Việt Nam là: sự tự do thay đổi lý lịch và học Anh ngữ miễn phí. Thực ra, đây cũng là hai sinh hoạt bận rộn và nhộn nhip nhất của dân Việt tạm trú tại các trại tị nạn.

Sự thay đổi lý lịch gồm cả việc đổi tên, đổi tuổi và đổi sự không tưởng: địa vị xã hội [social status].

Chị Nguyễn Thị Gáo với một cái tên cúng cơm rất mộc mạc, hiền lành của "hoa đồng cỏ nội." Từ sau khi chị bị té giếng, hồi còn là thiếu nữ ở Cần Thơ, đầu óc của chị cho đến nay chưa hoàn toàn tỉnh táo, đó có thể là lý do mà chị vẫn còn "độc thân tại chỗ" với cái tuổi ba mươi mí rồi. Nhân cơ hội ngàn năm một thuở này, chị đổi tên cho có vẻ tỉnh thành, thơ mộng, văn nghệ hơn; và đổi tuổi cho trẻ trung hơn là: "Nguyễn Thị Phương Loan" hai mươi mốt tuổi. Mẹ của chị Gáo, cụ bà Nguyễn Thị Thau, thường than phiền với hàng xóm tị nạn là:

- Chèng đét ơi! Tôi đặt cho nó tên là Gáo, tức là gáo dừa để múc nước cho sạch sẽ và bền bỉ. Không biết ăn nhằm cái giống gì" mắc chứng gì" mà nó đổi tên thành "Lon!" [Loan] bằng sắt cho nó mau rỉ sét, mau lủng.

Với sự thay đổi đầy tiện nghi này, hy vọng rằng chị đã gặp được tình quân, có thể là cựu "Trung Tá Y Sĩ" hay cựu "Đại Tá" một cách mau chóng.

Cụ Lý Toét nằm chung lều [mỗi lều trong trại có thể chứa khoảng 4 đến 6 gia đình tị nạn] với tôi đã 65 tuổi, tức là tới tuổi hợp lệ về hưu ăn "tiền già" nếu sống ở đất Mỹ. Vì chúng tôi thuộc đợt thuyền nhân đầu tiên, ú a ú ớ, không có người hướng dẫn, cứ sợ ra khỏi trại Mỹ nó thấy tuổi già không mướn làm việc thì chết đói mất. Cụ tự khai rút lại tuổi, chỉ còn có 55! Tôi đoán là cụ sẽ đấm ngực "lỗi tại tôi; lỗi tại tôi mọi đàng! " về cái lỗi lầm quá tai hại này! Bởi vì cụ sẽ còn phải "cày" thêm khoảng một chục năm nữa mới về hưu được! Có lẽ cụ đã qui tiên trước khi nhận cái "check" phụ cấp hưu trí đầu tiên của sở xã hội Mỹ. Tội nghiệp chung cho dân tị nạn, nhân bần chí đoản. Chỉ vì sự lo âu về sinh kế trên đất lạ mà đầu óc trở thành đặc kịt như khoai tây, không thể phân tích lợi với hại; hai mắt giống như mắt ngựa kéo xe bị che cả hai bên, không nhìn xa được. Cho nên tự ý khai báo lại, sửa đổi tầm bậy tầm bạ trong cái hoàn cảnh vô luật lệ, vô sổ sách này.

2. Gia đình Bác Toàn [không phải tên thật] cũng ở chung lều với tôi. Trong lần đầu tiên tiếp chuyện với Bác gái, Bác đã "khiêm nhường" thông báo cho tôi cái địa vị xã hội của gia đình Bác như sau:

- Ông nhà tôi là "cựu Đại Tá" của QLVNCH! Trước đây gia đình tôi làm chủ 3 tiệm thuốc tây ở Sài gòn. Gia đình tôi còn có cả một bầy vú em, con ở phục vụ. Bây giờ ở đây [trại tị nạn] cái gì cũng phải tự làm lấy. Thật khổ ghê!

Cô con gái lớn của Bác, người có cái nhan sắc giống như nhan sắc của anh hề Tùng Lâm, cứ luôn miệng than vãn là:

- Tiếc quá, lúc "chạy" không đem theo được "con nhỏ làm tóc." Bây giờ đầu tóc như ổ quạ. Thật rõ chán!

Nhận xét của chị thật đúng! Tóc của chị cả lúc nào nhìn cũng giống như đau ban mới khỏi!

Lúc đó tôi ngây thơ, rất "nể nang" cái "danh giá" của gia đình Bác. Tôi vẫn tiếp tục giữ liên lạc, thăm hỏi gia đình bác nhiều năm sau khi ra khỏi trại tị nạn. Gia đình Bác được bảo trợ [sponsored] và định cư tại San Diego ngay từ ngày đầu của tháng 9 năm 1975. Bác trai sau này làm "Security Guard" và Bác gái chứa cờ bạc xì phé ở nhà để kiếm thêm tí tiền "xâu" cho ngân quỹ gia đình.

Năm 1984 tôi lập gia đình. Tôi đã mời hai bác tham dự đám cưới của tôi. Tại đám cưới này, tôi mới biết sự thật về cái "danh giá" của gia đình Bác. Đồng thời cũng tại đám cưới của tôi, Bác gái mới biết được là quả đất tròn; không có gì che dấu được lâu dưới ánh sáng mặt trời. 

Bác trai, trước năm 1975, là Trung Úy của cục Tiếp Vận và làm dưới quyền của Trung Tá Chín. Trung Tá Chín cũng được ông Bố vợ tôi mời dự đám cưới của tôi vì Trung Tá hồi còn ở chức vụ Thiếu Tá, đã từng là Sĩ Quan cùng đơn vị với Bố vợ của tôi. Hai thầy trò [Trung Tá Chín và "Đại Tá" Toàn] gặp nhau trong hoàn cảnh không có hẹn trước tại đám cưới này. Như tôi được giải thích rõ rằng hơn sau đó, nhà Bác Toàn chẳng có làm chủ tiệm thuốc tây nào cả. Bác gái chỉ buôn lậu thuốc Tây lặt vặt [có thể là buôn bán thuốc Tây giả!] Nhà Bác ở trong một ngõ hẻm ở khu Trương Minh Giảng cũ. Đi bộ từ ngoài đường cái vào đến nhà Bác phải hát bài "Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa" hết ba lần mới đặt chân tôi cửa nhà Bác. Khi muốn trở ra đường cái từ nhà Bác, tốt nhất là phải nhờ con Bác dẫn ra; nếu không bảo đảm sẽ đi lạc nếu đến thăm nhà Bác lần đầu. Bác gái đã thật can đảm thăng một lúc 4 cấp cho Bác trai, từ "Trung Úy" lên tuốt luốt "Đại Tá" không phải tại mặt trận, mà tại trại tị nạn chỉ vài ngày sau "30 tháng 4 năm 1975."

3. Trong tại tị nạn, sự thay đổi địa vị xã hội tương tự như vậy không phải là hiếm. Anh binh nhì tự thăng cấp mình lên thành Thượng Sĩ. Anh "Trung Sĩ Y Tá" thành "Trung Tá Y Sĩ." Anh "Thư Ký Hành Chánh" thành Phó Tổng Giám Đốc ..v.. v.. Người nào cũng làm quan lớn, chủ tiệm, chủ thương nghiệp, chủ chợ, chủ phố cho Mỹ mướn, chủ vựa cá, chủ đồn điền cà phê, chủ đồn điền trà, hoặc chủ ruộng đất cò bay thẳng cánh. Chẳng có ai làm lính trơn, chài lưới, cày ruộng, du đãng đường hẻm, cướp giựt hoặc ăn mày vô sản bần cố nông cả. Thật đúng là loạn! Không biết đâu là vàng, đâu là thau để xét đoán, lựa chọn. 

Nhiều cô gái ngây thơ nhẹ dạ, sau khi say mê nghe các anh "tài tử" thuyết trình không nghỉ về cái lý lịch "trời ơi ất hỡi," vô căn cứ, đã vội vã làm đám cưới với các anh có cái lý lịch "vàng son" này ngay tại trong trại tị nạn. Khỏi cần phải bàn thêm, các cô này bây giờ có lẽ không sớm thì muộn, đã thấy hoặc phát giác ra cái thực tế, cái lý lịch "lủng" của các thợ "phỉnh" một cách phũ phàng! Một số lớn các cô này đã trở thành nữ thi sĩ. Hèn gì! thi sĩ Hà Huyền Chi đã có lần nhận xét như sau:

- Sau ngày "30 tháng 4 năm 1975," văn đàn Việt Nam ở hải ngoại bị lạm phát thi sĩ.

4. Việc học Anh Ngữ miễn phí trong trại tị nạn mới thật là ngoạn mục. Trong đời đi học của tôi, tôi chưa thấy bao giờ học sinh lại chăm chỉ như vậy. Tôi nhớ hồi còn ở Saigon, Mẹ tôi phải chạy ngược, chạy xuôi vay nợ để cho tôi có tiền đóng tiền trường học thêm Anh Ngữ tại trường Nguyễn Ngọc Linh vào buổi tối. Thế mà tôi vẫn cố gắng tìm mọi cơ hội để "cúp cua" trốn học. Bây giờ thì tình thế hoàn toàn khác hẳn. Lính TQLC Mỹ đã dựng một số lều thật lớn để dùng làm lớp dậy Anh Ngữ. Thầy giáo, cô giáo hầu hết là những người Mỹ tình nguyện của các hội Thiện Nguyện Tình Nguyện Nhân Đạo [gọi tắt là cơ quan "Volag"] dậy học Anh Ngữ cho dân tị nạn. Họ không lãnh lương bổng gì cả. Sau giờ ăn chiều, chỉ chậm chân một tí là không tìm được chỗ ngồi trong các lớp học này. Phải đứng suốt cả mấy tiếng đồng hồ.

Những "sex symbol" của trại là các anh thông dịch viên, những anh trợ giáo [teacher aids] cho các thầy các cô người Mỹ của các lớp học Anh Ngữ này. Các anh trợ giáo nầy đại đa số là nhân viên cũ của sở Mỹ ở Việt Nam. Các anh trợ giáo nói Anh ngữ nghe như gà tây kêu, thế mà sao lúc đó tôi còn dốt đặc như cán mai, không thể phân biệt được thế nào là hay thế nào là dở cả! Mọi người trong trại tị nạn ngưỡng mộ các anh trợ giáo như thần tương. Các em gái xinh đẹp thơ mộng của trại bị các anh này "cua" hết ráo! Dân tị nạn đực rựa độc thân thuộc loại "ngọng" như tôi chỉ có nước ở giá.

5. Cụ Lý Toét luôn luôn chọn chỗ ngồi cạnh tôi trong lớp học anh ngữ. Lý do là chúng tôi ở chung lều, đã quen thuộc với mhau rồi. Kẹt kẹt, cụ phải cần phải hỏi tôi về Anh ngữ thì cũng không ngượng. Cũng nên biết, cụ hỏi tôi không phải vì tôi giỏi giang gì! Nhưng vì tôi cũng đã biết "lõm bõm" Anh ngữ, còn cụ chưa từng đi học Anh ngữ hay tiếp xúc với ngoại quốc bao giờ cả. Thắc mắc đầu tiên của cụ là:

- Này anh ạ, tiếng Mỹ sao quái đản quá vậy" "ai" [I] cũng là tôi, mà "mi" [me] cũng là tôi" Không biết đường nào mà lần. Anh chỉ tôi cách phân biệt "ai" với "mi" sau giờ học nhé.

Sau vài tuần lễ, cụ Lý Toét có vẻ tự tin hơn. Lớp học Anh ngữ đã tiến đến cấp khó hơn; có nghĩa là học trò phải tập nói làm một câu dài đầy đủ chủ từ, động từ và túc từ chứ không phải học từng chữ một như mấy tuần đầu. Thầy giáo cho học sinh trong lớp tuần tự đọc và áp dụng câu "this is a..."

- This is a door.

- This is a chair.

- This is a table.

Rồi đến lượt cụ Lý Toét. Thầy giáo chỉ vào một cái ghế bố [TQLC Mỹ phát cho mỗi dân tị nạn một ghế bố gấp lại được để làm vừa giường ngủ vừa làm ghế ngồi] xếp đứng ở trong góc lớp và ra dấu cho cụ lập câu và đọc. Mọi người đều được dịp cười gần bể bụng vị cụ Lý Toét dịch là:

- This is a "Chair Father! "

Ối giời đất ơi! Cụ đã ghép chữ đúng theo nghĩa đen. "Ghế" là "chair" và "Bố" là "father." Tôi phải giải thích cho cụ sau này tốt hơn là nên tránh dịch nghĩa đen như vậy. Mình nên học thuộc lòng cái danh từ Anh Ngữ của từng đồ vật hay người. Ghế bố phải được dịch là "Cot" chứ không phải là "chair father! "

6. Anh "Thượng Sĩ" Tiến, người cũng ở cùng lều với tôi, sáng nào anh cũng ngồi trên ghế bố cầm đọc đọc tờ báo Anh ngữ mà anh vẫn nhặt từ thùng rác do lính TQLC Mỹ quẳng để "hù" bà con láng giềng trong lều. Các cụ cao niên cứ tấm tắc khen anh Tiến là "giỏi quá, đã đọc được báo Mỹ rồi! " Riêng tôi, qua nhiều lần ngồi nói chuyện với anh về vấn đề học Anh ngữ, tôi vẫn có câu hỏi thật lớn là không biết anh Tiến có đủ trình độ Anh ngữ để đọc báo Mỹ không" Nhưng dù sao tôi phải khen ngợi anh ở chỗ anh có cố gắng. Một hôm, sau khi đọc mục rao vặt, tìm việc, anh nói lớn, trống không để cho mọi người trong lều cùng nghe chứ không nói trực tiếp riêng với người nào cả:

- Ở ngoài [trại tị nạn] Mỹ họ mướn người "coi con nít trên xe buýt" mà cũng trả đến $2.10 một giờ [lương tối thiếu lúc bấy giờ.]

Vì có tính hiếu kỳ nên tôi mới hỏi anh:

- Cái nghề đó tiếng Mỹ gọi là gì đó anh Tiến"

- Đó là nghề "Busboy." Anh trả lời.

Tôi may mắn đã biết được nghĩa chữ nầy hồi còn đi học Anh văn buổi tối ở Sài Gòn, nên tôi nói:

- Không phải đâu anh. "Busboy" là người dọn bàn trong nhà hàng đó!

Nhưng anh Tiến cứ nằng nặc cãi cho bằng được "Busboy" phải là "coi con nít trên xe buýt." Cuối cùng, tôi đành phải chào thua anh vì sự quả quyết của anh làm tôi cũng áy náy, ngờ vực không biết mình nhớ đúng hay sai!

Trong lớp học, anh Tiến à người hăng hái đưa tay hỏi thầy cô về mọi vấn đề của cuộc sống bên ngoài trại tị nạn. Anh hỏi cả cách chửi thề bằng tiếng Mỹ như thế nào. [Nên biết anh Tiến hỏi thầy bằng tiếng Việt và câu hỏi được trợ giáo dịch ra Anh Ngữ để cho thầy hoặc cô trả lời.] Riêng câu hỏi về chữ chửi thề bằng Anh ngữ, cô giáo trả lời là anh không cần phải học trong lớp. Khi ra khỏi trại, đời sống sẽ dậy cho anh biết một cách tự nhiên.

Có một lần, cô giáo yêu cầu anh dịch một câu ngắn làm thí dụ cho một đề tài về làm câu của buổi học. Anh Tiến dịch là:

- "Your eye is as beautiful as the stars. [Mắt em đẹp như những vì sao!]"

Cô giáo khen là câu nói của anh Tiến rất "lãng mạn!" [romantic.] Nhưng rất tiếc là, theo lời cô giáo, người yêu của anh Tiến chỉ có một mắt! !! Câu này phải nên sửa lại với mắt là số nhiều:

- "Your eyes are as beautiful as the stars."

Sau này, tôi có dịp gặp lại anh Tiến ở San Jose khoảng năm 1992. Anh làm chủ một cây xăng "Shell." Lúc đó có lẽ anh đã biết phân biệt danh từ số ít và số nhiều mạnh giỏi rồi.

7. Khi làm giấy tờ định cư tại "processing center" trong trại. Tôi gặp một ông Mỹ trắng chỉ dẫn dân Việt tị nạn cách điền vào các mẫu đơn và hoàn tất hồ sơ nộp cho Sở Di Trú Hoa Kỳ. Rất đặc biệt là ông ta nói tiếng Việt trôi chảy. Tiếng Việt với giọng Quảng Nam mới ly kỳ. Tôi rất lấy làm thích thú vì trong khi mình còn ấp a ấp úng chưa nói được chữ tiếng Mỹ nào mà đã có người Mỹ nói tiếng Việt quá giỏi! Tôi tìm cách lân la lại làm quen với ông Mỹ này và được biết ông là Mục Sư Tin Lành đã từng làm việc Tuyên Úy cho quân đội Mỹ tại Việt Nam.

Tôi hỏi Mục Sư:

- Thưa Mục Sư. Mục Sư có biết là đang nói tiếng Việt với giọng "Quảng Nam" không"

Mục Sư trả lời:

- Tôi biết chứ! Ông thầy tôi là người "Đè Nẽng" mà! Tôi còn phân biệt được giọng Bắc, giọng Nam và giọng Huế nữa.

Tôi hỏi thêm:

- Thế Mục Sư đã có gặp những trường hợp khó khăn nào khi giao thiệp với người Việt bằng tiếng Việt chưa"

- Có nhiều lần rồi! Trong một lần đọc bài giảng [sermon] cho giáo dân tin lành người Việt trong trại tị nan. Tôi lấy làm lạ vì thấy họ cười khúc khích với nhau. Sau buổi lễ, hỏi ra thì tôi mới biết là tôi dùng dấu chữ Việt trật lất làm cho ý nghĩa thay đổi hết. Thay vì tôi muốn nói: "Chúa 'ban' phước lành cho anh chi em [God bless you all.]" Tôi lại nói là: "Chúa 'bán' phước lành cho anh chị em [God sell the blessing to you all!]" Trong một lần khác, tôi nói: "con chim nó 'ngồi' trên cây [the bird is sitting in the tree.]" Đáng lẽ tôi phải nói: "con chim nó 'đậu' trên cây mới đúng."

Tôi xin bái phục vị Mục Sư Mỹ này làm Sư Phụ.

8. Năm 1976, tôi và tám chín đứa "tứ cố vô thân" và "thất cơ lỡ vận" giống như hoàn cảnh của tôi, mướn chung nhau một "apartment" 2 phòng ngủ ở San Diego - California và chia nhau tiền thuê mỗi tháng cho đỡ tốn kém vì đứa nào cũng làm lương tối thiểu cả. Mỗi lần, vì một lý do nào đó, "Manager" của khu "apartment" đến thăm, thì đám "tứ cố vô thân" vội vàng chạy trối chết trốn vào trong các tủ [closets] quần áo, bởi vì điều lệ thuê nhà không cho phép người thuê ở quá đông như vậy. Họ biết sẽ đuổi cổ ra khỏi "apartment." Thật tội nghiệp! Bạn cứ tưởng tượng quang cảnh chúng tôi lúc đang ăn cơm vội vàng bỏ bát đũa chạy vào tủ quần áo để trốn; giống hệt như lúc bạn bước vào bếp buổi tối, bật đèn lên rồi nhìn thấy một đàn gián [cockroaches] chạy bán sống bán chết vào các góc kẹt trong nhà bếp vậy!

Trong đám "tứ cố vô thân" này có anh "roommate" Sĩ Phú. Anh Phú, chẳng những là một ca sĩ tài danh mà còn là một Thiếu Tá phi công trực thăng của KQVN. Anh Phú nói tiếng Anh rất giỏi vì anh Phú đã được đi học lái trực thăng tại Hoa kỳ. Anh Phú chạy qua Mỹ với cùng tình trạng "khố rách áo ôm" như tôi. Anh "độc thân tại chỗ" vì bỏ lại vợ và 5 con ở Việt Nam. Lâu lâu, cuối tuần mấy anh em thường rủ nhau đi nhà hàng Mỹ để nghe nhạc sống cho đỡ buồn. Một hôm, vì ngứa nghề, anh Phú lên nói với anh chàng Mỹ trưởng ban nhạc là anh muốn được lên hát góp vui một bản nhạc. Không biết anh nói thế nào mà anh trưởng ban nhạc, sau đó, nói qua cái "micro" tuyên bố với tất cả thực khách là:

- Ladies and Gentlemen, this is my honor to introduce to you our special guest singer, Mr. "Seafood" who will sing for us a beautiful hit song, the "Unchained Melody."

Từ sau hôm đó, anh Phú có cái "nickname" là "Mr. Seafood."

Đến khi tôi thấy đã khuya rồi, ngày mai còn phải dậy sớm đi cày. Tôi nói với đám "tứ cố vô thân:"

- Thôi mình đi về đi! Mai còn phải dậy sớm đi làm.

Anh Phú trả lời là:

-Mày chờ tao vào "restroom" để "giặt" [wash] bộ râu xong rồi mới về nghe.

Sau này, khi có dịp gặp lại anh Phú lúc anh còn sống, tôi vẫn thường nhắc lại với "Mr. Seafood" về cái kỷ niệm này.

9. Hôm nay, cái "nạn" của đất nước đã đánh dấu năm thứ 32. Nhiều người tị nạn trong chúng ta đã đổi quốc tịch để thành "Mỹ gốc Á Châu!" Tên họ được viết đảo ngược [tên gọi đặt trước tên họ.] Nhiều người còn tiến bộ hơn, đổi cả tên lẫn họ thành tên Mỹ. Anh bạn Nguyễn Văn Tèo bây giờ trên giấy tờ là "Tony Newell!" Lúc đầu đọc nghe thấy kỳ kỳ; nhưng riết rồi cũng quen. Tôi còn nhớ lúc anh Tèo mới vào quốc tịch với cái tên mới Tony, bạn Mỹ gặp anh trên đường phố, gọi anh: "Tony, Tony..." Vậy mà anh nghe thấy, vẫn cứ bước đi thẳng như không có chuyện gì xẩy ra! Chính ngay anh cũng quên tên mới của anh là "Tony! " Có một lần anh đi ra tiệm giặt ủi của Mỹ để lấy quần áo giặt ủi về. Bà chủ tiệm người Mỹ nhìn cái biên nhận với cái tên mới "Tony Newell" của anh, rồi bà ta nhìn anh nói là:

- You do not look like "Tony Newell" to me!

10. Hơn ba mươi năm trời trôi đã qua mà cứ tưởng như mới ngày hôm qua. Đầu óc tôi cứ lơ đãng để ở một nơi nào đó ở Phi Luật Tận. Tôi chợt bừng tỉnh với cái thực tế của hiện tại khi thằng con trai bẩy tuổi của tôi gọi to:

- Bố! bố! "Giặt" cái đầu cho con. Xà bông đang chẩy vào mắt con "nóng" quá!

Tôi nghe mà không khỏi vừa cười thầm vừa lo âu! Cười thầm vì tiếng Việt đã bị Mỹ hóa nghe khôi hài, ngớ ngẩn. Lo âu vì không biết tương lai tiếng Việt trên đất Mỹ sẽ đi về đâu" Chính bản thân tôi tiếng Mỹ đã không thấy giỏi hơn chút nào mà tiếng Việt đã quên bớt đi rất nhiều. Lo âu cho thế hệ con, thế hệ cháu về sau này" Không biết tiếng Việt có trở thành "endangered species" giống như voi và tê giác ở Phi Châu đang bị giết để lấy ngà làm đồ trang sức và sừng làm thuốc bắc hay không"

Trở về thăm quê nhà, nói chuyện với bạn bè cũ, láng giềng cũ thì sự lo âu đó càng to lớn hơn. Mình là người ngoại quốc sống trên đất Mỹ đã đành. Bây giờ, mình cũng lại là người ngoại quốc đối với ngay quê hương cha sanh mẹ đẻ của mình. Đó là cái giá mà mình phải trả cho sự tự do. Đành phải chấp nhận "gặp thời thế, thế thời phải thế." Người Việt ở quê nhà bây giờ đang nói tiếng Việt với một bộ chữ Việt khác hẳn với chữ Việt như hồi tôi còn sống ở quê nhà. Nhiều khi tôi phải nhờ người nhà giải nghĩa mới hiểu!

"Còn trời còn đất còn non nước
Có lẽ ta đâu mãi thế này!"
(Nguyễn Công Trứ- Quân Tử Cố Cùng)

"Xin trời đất thương cho nước Việt và dân Việt!" Tôi vẫn thường cầu nguyện.

Trần Văn Giang

Blog Archive