Tuesday, April 5, 2022

Tuổi Già Mất Người Phối Ngẫu

Tôi biết:
Đất trời có bốn mùa : hết Xuân thì tới Hạ, rồi Thu và tới Đông ...
Con người: có Sinh thì ắt có Tử...
Biết là một chuyện, chấp nhận và bằng lòng với quy luật đó là một chuyện khác.

Cho dù thế nào thì tôi cũng phải làm quen và tập sống với thực tế: cuộc đời của tôi đã thay đổi từ khi người chồng đáng kính của tôi đi xa. Anh đã sang qua một thế giới khác.

Trong 53 năm, chúng tôi kề cận, nhường nhịn, yêu thương và chăm sóc nhau để cùng xây dựng cuộc sống riêng sau khi cả hai chúng tôi học xong đại học. Chúng tôi đã có một gia đình nhỏ an vui với hai con trai. Và từ khi chúng tôi đem hai cô con gái nhà người dưng, mang về làm hai con gái ruột nhà mình thì gia đình chúng tôi có thêm ba đứa cháu. Nay, các con đã thành nhân, các cháu thì đã có đứa chuẩn bị vào đại học. Hai con trai của chúng tôi đã có nghề nghiệp vững vàng, chúng đã có nhà riêng. Chúng tôi già dặn hơn cùng với sự trưởng thành của con cháu. Hai chúng tôi đã về hưu, vẫn cùng có nhau, tiếp tục nhường nhịn, chăm lo cho nhau trong những năm tháng cuối đời...

Nhờ duyên lành, tôi được học Phật khi tôi còn ở bậc trung học đệ nhất cấp. Tôi rất lí thú nghe Pháp và thực tập theo cách sống Bi - Trí - Dũng của Phật từ lúc còn rất trẻ đó. Tôi biết, thông hiểu và chấp nhận sự vô thường của muôn loài.

Nhưng, khi chồng tôi nằm xuống vĩnh viễn, người bạn đời của tôi đã bỏ tôi, tôi mới chợt nhận ra bấy lâu nay tôi như con vẹt, lập lại và nhìn mọi vật, có đó rồì mất đó – trong cái vô thường của đất trời – nó tự nhiên, nó nhẹ nhàng như tôi đang thở, nay, không phải như thế nữa. Với chính thực tế mất mát của bản thân, mọi suy nghĩ trước đây của tôi về sự vô thường của một kiếp nhân sinh đã bị đảo lộn, rồi quay cuồng.... Đây có phải là một tổn thất quá lớn trong cuộc đời mà từ trẻ cho tới bây giờ tôi chưa hề trải qua, tôi chưa hề có kinh nghiệm? Tôi hụt hẵng, tôi níu kéo và cố bám vào ảo tưởng: “Ông nhà tôi đi đâu đó rồi Anh sẽ về thôi mà...”

Tôi đợi Anh trở về, hết ngày rồi tới đêm... Một tuần, rồi hai tuần ...và tôi thất vọng...

Tôi không chấp nhận sự thật.Tôi đang sống thời gian khó khăn nhất.
Nguyễn Thị Phi Phượng và cố tác giả giám khảo VVNM Bồ Tùng Ma

Thế rồi, tôi cũng phải ráng tập lối sống mới: một mình, tự lo thân, tự quyết định mọi việc... Mà sao khó quá, tôi không cảm thấy dễ chịu chút nào... Bất chợt , trong tiềm thức của tôi, hiện lên qui luật mới: học nhớ dễ hơn học quên vạn lần!... Với tôi, không nỗi đau nào hơn nỗi đau của tuổi già bị mất người phối ngẫu. Không có sự trống vắng nào hơn ở tuổi xế bóng bị mất người chồng( hoặc người vợ), người đã đồng hành, đã cùng mình vượt qua bao khổ nhọc của cả một đời. Tôi không còn ai để nói hết, nói thật... nói tất cả... những lo toan, những vui buồn tôi đang gặp phải. Không còn ai để tôi “cằn nhằn”! Tôi vẫn thường nghe câu nói đầu môi từ vài người bạn: “Vợ chồng tôi không cải nhau bao giờ”. Tôi không bao giờ tin những lời nói này. Với tôi, chuyện vợ chồng tranh cải vì khác ý kiến trong một vấn đề, đó cũng là bình thường. Ông bà mình vẫn luôn nói: chén dĩa trong sóng còn khua thay.

Hai năm cuối đời, ước lượng được sức khoẻ của mình, Anh đã nói với thằng cháu lớn nhất 17 tuổi: “ Ông Nội ráng đợi ngày Con tốt nghiệp đại học, Ông sẽ có mặt trong ngày Con ra trường. Con nhớ dẫn Ông đi ăn một bữa thịnh soạn rồi Ông Nội sẽ đi xa.” Tội nghiệp thằng cháu không rành tiếng Việt và cũng không hiểu “đi xa” là Ông Nội sẽ đi đâu thế mà ngày Ông Nội nằm xuống, Cháu cũng biết tại sao Ông không thể giử lời hứa với Cháu. Và bữa ăn thịnh soạn ngày Cháu tốt nghiệp sẽ mãi mãi không bao giờ có mặt Ông Nội nữa...

Năm nay, mùa đông California rét buốt hơn mọi năm. Trời lạnh, cái nhà của tôi càng lạnh hơn vì chỉ một mình tôi lẻ loi...

Nhớ lời dặn: “Anh chết rồi, buồn lắm, em ơi. Hãy về một đứa con mà ở.”

Tôi tới nhà con trai út ở thành phố San Francísco – đứa con gần tôi nhất - ở chơi vài hôm. Ở đó, có con cháu vây quanh, tôi nguôi ngoai phần nào mà sao tôi vẫn nhớ, vẫn thích trở về cái nhà nhỏ quen thuộc của tôi. Trong ngôi nhà xưa thân quen, hằng ngày, tôi “nói chuyện” với Anh như Anh vẫn còn đó. Tôi cảm thấy Anh vẫn loanh quanh đâu đây, bảo vệ và mang về sự bình yên cho tôi. Tôi tự do khóc, tự do ăn, tự do ngủ... bất cứ khi nào... theo “thời dụng biểu bất thường” trong lúc này của tôi. Và điều quan trọng mà vợ chồng tôi đã nhận thấy từ lâu, nay, càng rõ ràng hơn, đó là: các con – các cháu của tôi, chúng có suy nghĩ của chúng. Chúng nó trẻ. Chúng say mê công việc và theo đuổi sự nghiệp. Chúng lo làm việc để trả nợ nhà, nợ xe... và nhất là lo việc nuôi dạy con cái. Chúng không có cùng cách giải quyết vấn đề như thế hệ già của chúng tôi. Làm sao tôi có thể bộc bạch hết những tâm tư sâu kín của tôi với chúng nữa.

Chồng tôi đã có chỗ ở mới, chắc chắn rất an vui. Còn lại tôi, bơ vơ, chới với. Người đi trước sao mà ấm áp, được mọi người lo cho đầy đủ, chu toàn.

Tôi bắt đầu ganh tỵ với chồng tôi.

Hồi tưởng lại vài năm sau này, khi hai chúng tôi đã về hưu và nhờ có con vi rút covid , chúng tôi có nhiều thì giờ ngồi bên nhau. Không biết tìm đâu ra, chồng tôi thường đọc cho tôi nghe bài thơ xưa (không biết tên tác giả) của người chồng già viết tặng vợ:

...Mất gì thì mất Bà ơi,
Xin Trời để lại còn Tôi, còn Bà
Nếu mà có phải đi xa
Để Tôi đi trước còn Bà đi sau

Mong Bà đừng ốm đừng đau
Để Tôi có bát cơm rau sáng chiều
Càng già, càng quí, càng yêu
Bâng khuâng lại nhớ ít nhiều ngày xưa ....

Mất gì thì mất Bà ơi,
Xin Trời để lại còn Tôi, còn Bà
Tôi – Bà nay tuổi đã già
Mà Tôi vẫn sợ còn Tôi, mất Bà...

Thế là ước muốn “ xin được đi trước” của chồng tôi đã được thỏa theo ý nguyện.

Chồng tôi, cả đời là một nhà giáo đạo hạnh. Anh có chánh nghiệp. Anh có một đời sống viên mãn. Nay, nghiệp đã trả xong, Anh ra đi nhẹ nhàng. Anh được thay cái xác mới. Tôi tin: nhất định Anh đã đến được cõi an lành.

Rồi thì ai cũng sẽ phải theo con đường của Anh thôi mà. Tôi cũng sẽ như thế.

Hai tháng, ... rồi ba tháng, ...
Tôi không thể nào khoẻ mạnh trong tình trạng sống đau buồn mãi được.

Tôi bắt đầu đọc sách nhiều hơn, nghe giảng Pháp nhiều hơn. Tôi thiền định lâu hơn. Tôi làm vườn, công việc này chồng tôi phụ trách trước đây, tôi nào biết tới. Và tôi tiếp tục lại các việc đang dang dở mà thời gian qua vì phải chăm sóc Anh bịnh tôi đã xin tạm nghỉ. Tôi có Chùa Phổ Từ ở Hayward, gần nhà. Tôi có Camp Metta ở Los Gatos. Tôi có nhiều bạn đạo rất thành thật ở hai nơi đó. Tôi có những bạn thiện tri thức của hai nhóm Gia Đình Phật Tử Chánh Tâm và Chánh Hòa, nơi tôi đang dạy thiện nguyện Tiếng Việt cho các em đoàn sinh và nhất là hằng ngày tôi được tu tập qua những câu viết ngắn dưới đề mục “Morning Coffee” của Sư Bhante . Dần dà, tôi đã lấy lại sự quân bình trong suy nghĩ. Niềm vui và sự tin tưởng vào Chánh Pháp đã vực tôi đứng lên. Tôi nhận ra thế nào là Chơn Thường trong Vô Thường của sự vật, của cuộc sống. Đã có sẵn Chánh niệm và Chánh Tư Duy, tôi cảm nhận được sự sống đang có mặt trong từng giây phút của hiện tại. Sự tiếc nuối và suy nghĩ về mất mát trở về lại với tôi nhẹ nhàng như tôi đang thở.

Tôi đăng ký học vẽ ở Chabot College – Hayward. Tôi tập vẽ trên giấy canvas để áp dụng vẽ trên áo dài, niềm say mê nhất của tôi từ khi còn trẻ nhưng vì quá bận rộn phải xếp qua một bên.

Tôi đang suy nghĩ để xem tôi có còn thích hợp để học khiêu vũ không. Đây là môn thể dục lý thú của tuổi già.

Tôi sẽ tiếp tục gặp lại học trò qua hai lớp dạy thiện nguyện Tiếng Việt của tôi sau thời gian dài dạy chúng qua zoom.

Tôi sẽ tiếp tục dịch sách chương trình “Early Childhood Education” ( Ngành Mẫu Giáo Nhà Trẻ). Sách tôi dịch, in ra, đã và sẽ giúp các cô giáo dạy chương trình này ở Việt Nam làm giàu thêm kiến thức nghề nghiệp của họ.

Cám ơn Phật pháp đã giúp Con sáng ra và chấp nhận thực tế đúng như tính chất vô thường nó đang là.

Cám ơn Anh đã cùng Em đi hơn nửa cuộc đời. Anh đã giúp Em hiểu được sự chịu thương chịu khó, sự hy sinh cho một tình yêu đích thực. Anh đã để lại cho Em quá nhiều kỷ niệm, Em chẳng thể nào quên. Em sẽ chuyển nỗi đau thành niềm thương nhớ. Anh ơi, hãy chờ Em bên kia sông, vài năm nữa mình sẽ gặp lại, nhé Anh.

Mẹ cám ơn hai Con Trai của Mẹ. Các Con đã giúp Mẹ tiếp tục giữ cuộc sống an nhàn như khi Ba Mẹ có nhau.

Bà Nội cám ơn ba Cháu yêu. Các Cháu rất ngoan, nghe lời dạy bảo của cha mẹ, học giỏi. Cám ơn các Cháu luôn báo tin vui về việc học của các Cháu cho Bà nghe.

DT – Th H ơi, Nh – Ng ơi ! Các Em đang đủ đôi. Đó là hạnh phúc quý báu nhất Thượng Đế ban tặng cho riêng các Em và cho cả loài người. Các Em hãy yêu thương – chăm sóc nhau với tất cả những gì có thể để rồi mai kia, khi một người đi xa trước, người ở lại không có gì để hối hận...

Tôi cũng vậy.
Tôi đã là người vợ tốt.
Tôi đã là người mẹ tốt.
Tôi đã hết lòng chăm sóc chồng tôi khi Anh bịnh hoạn.
Tôi không có gì để hối hận.
Tôi phải vui lên để được sống khỏe mạnh. Cầu mong tôi giử được sức khoẻ này lâu dài cho tới khi nào quá yếu. Khi đó, tôi sẽ về sống cùng với con cháu.

Tôi đang bước vào khúc quanh mới của đoạn cuối con đường và tôi sẽ thanh thản đón hoàng hôn./.

Hayward – CaliforniaTháng Hai, 2022.
Nguyễn Thị Phi Phượng
Nhớ về rạp xi-nê Rex, rạp tối tân nhất Đông Nam Á trước 1975

Trong bài trước, tôi có liệt kê tất cả những rạp xi-nê của Sài Gòn trước 1975. Trong số các rạp kể trên, chúng ta phải nói đến một rạp của người Việt mà quy mô về mọi mặt của nó có thể nói đứng đầu cả Đông Nam Á, đó là rạp Rex.
 
SAIGON 1970 – Công viên Đống Đa – REX Movie Theater

Tính đến năm 1960, rạp Đại Nam trên đường Trần Hưng Đạo của ông bà Nguyễn Phúc Ưng Thi thuộc vào loại нạng nhất ở Sài Gòn. Rạp có một tầng lầu và máy lạnh mát rượi.

Có lẽ chưa hài lòng lắm với quy mô của rạp Đại Nam, ông bà Ưng Thi, một cặp тнươиɢ gia tнàин đạt sở hữu nhiều rạp chiếu phim hàng đầu tại Sài Gòn, đã dồn hết vốn liếng mua một miếng đất trên đường Nguyễn Huệ gần Tòa Đô Chánh để xây dựng rạp Rex, một rạp chiếu bóng với quy mô chưa từng có ở Việt Nam.

Rạp Rex – đúng như ý muốn của chủ nhân – là một rạp chiếu bóng thuộc vào hàng tối tân bậc nhất. Rạp này được тʀᴀng bị những tiện nghi hiện đại dành cho một rạp chiếu bóng. Dàn máy lạnh có công suất cực cao khiến cho 1.200 khán giả run cầm cập. Có người đi xᴇm phim phải мαng theo áo chống lạnh.
Màn ảnh của Rex là màn ảnh đại vỹ tuyến Todd-AO rộng đến 150 m2. Phim được chiếu tại đây là phim 70mm với dàn máy chiếu đặc biệt cнỉ có ở Rex. Khán giả đến với Rex được tận hưởng khυиɢ cảnh rất тʀᴀng nhã và sang trọng.

Thời bấy giờ, đối với những cặp tình nhân, được ngồi trên ghế nệm êm ái, xᴇm phim nghe âm thanh иổi stereo, có lẽ đó là điều нạnh phúc nhất.

Vé của Rex thuộc loại khá đắt, gấp mất lần so với các rạp khác. Có 2 loại vé, dưới đất và trên lầu. Vé trên lầu có giá cao hơn và khách được sử dụng thang cuốn. Có thể nói đây là chiếc thang máy tự động đầu tiên ở Việt Nam, và lại тʀᴀng bị cho một rạp chiếu phim!
Theo lời một người kể lại: “Trong ngày khai trương, một người đẹp lên lầu bằng thang cuốn. Có lẽ chưa quen với loại thang này nên đã bị thang máy cuốn luôn cái quần. Cũng мαy chưa có điều gì đáng tiếc xảy ra“. Thời điểm khai trương rạp Rex (1961) là một sự kiện gây được chú ý của kнôиg cнỉ dân kinh doᴀɴh rạp mà còn cả giới cнíɴн тʀị gia thời đó.

Cuộn phim đầu tiên để khai trương rạp là phin Ben Hur. Phim đoạt 11 giải Oscar vào năm 1959, được trình chiếu tại Mỹ.

Tнôиg тнường một cuộn phim mới được chiếu tại Mỹ phải 4 năm sau mới về đến Việt Nam. Vậy mà Ben Hur chiếu cùng lúc với Mỹ chắc hẳn ông bà Ưng Thi phải mất một khoản tiền khá lớn để nhập về.

Trong 10 năm từ 1960 – 1970, thị trường phim ảnh và rạp chiếu bóng tại Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chυиɢ rất phát đạt. Hầu như năm nào cũng có rạp mới khai trương dù vậy kнôиg rạp nào có quy mô bằng hoặc vượt qua được rạp Rex.

Monday, April 4, 2022

CHỊ HƯỜNG

Năm tôi mười lăm. Chị Hường đã mười chín, hai mươi tuổi. Năm đó, tôi chuẩn bị thi Trung học đệ nhất cấp thì Chị nghỉ học, ở nhà trông coi Sản nghiệp Gia đình. Ba Má chị là thợ máy, phải lên Sài Gòn, chạy theo công việc. Chị thui thủi một mình, nên thường ra quán kiếm tôi, nói chuyện dưới đất trên trời. Sản nghiệp Gia đình Chị thật ra chỉ có một căn nhà để che gió che mưa và một thẻo đất chứa đầy những chiếc Peugeot vẹo đầu sứt đuôi thời xa lơ xa lắc.

Những chiếc xe rêu phong đã phủ đầy, cỏ dại mọc kín, vậy mà chúng vẫn nằm đó, ngó tuổi thơ chị Hường đi lên, một cách tội nghiệp. Chị càng lớn càng đẹp. Cái đẹp mộc mạc, mặn mà của loài hoa thôn dã. Lúc này, họa sĩ Lê Trung nổi tiếng trên báo chí. Tôi thường “cọp” báo hàng ngày, nên biết rõ về Ông. Những bức tranh vẽ thiếu nữ của Lê Trung thường để lại trong tôi ấn tượng rất đẹp. Chẳng biết Ông họa sĩ tài hoa có bao giờ đến Cà Mau chưa? Có gặp chị Hường chưa? Sao mà những bức tranh Thiếu nữ nào cũng giống hệt bóng dáng diễm kiều của Chị?

Ngoài giờ đến trường, tôi ghi tên thêm học thi. Nhà ông thầy dạy tư ở tận xóm Tân Lập, gần phi trường. Muốn đến học, tôi phải đạp xe trên mấy cây số, phải còng lưng vượt qua cái cầu quay có con dốc cao dễ sợ. Khi đến nơi, phải đứng trước thềm nhà Ông thầy vài phút, cầm cuốn tập quạt qua quạt lại cho bớt mồ hôi, mới yên tâm bước vào chỗ học. Thấy tôi cực khổ, chị Hường tình nguyện chở tôi đi học. Đến nơi, Chị qua nhà Thờ ngang đường, thơ thẩn gần hai tiếng đồng hồ, để chờ tôi tan lớp, chở về. Ngồi sau yên xe, gió thổi lất phất, vạt áo Chị tung bay, thốc vào mũi tôi một mùi hương lạ kỳ.

Má tôi có cái quán cóc bên đường, bán tạp hóa và kẹo bánh lặt vặt. Cái quán, cách thẻo đất chị Hường chỉ một lối đi nhỏ. Ngồi trước quán, có thể nhìn thấy những chiếc Peugeot đen xì bên đó, nằm lúp xúp trong cỏ và bóng dáng Chị tha thướt trên sân nhà. Má thương Chị, vì tính Chị hiền lành, hay giúp đỡ Má trong công việc khó khăn. Riêng tôi, tôi thấy Chị còn đẹp, thùy mị và có thể là đối tượng của Ông họa sĩ Lê Trung nổi tiếng.

Thương Chị, Má thường giao quán cho Chị, giao cả tôi cho Chị trông nom, nhắc nhở học hành. Đôi khi, ban đêm, Chị ngủ lại quán với tôi, như người thân trong Gia đình. Cho tới một hôm, anh Tư tôi từ Sài Gòn trở về. Mùa Hè, Anh được nghỉ học. Anh muốn về quê tìm lại tuổi thơ, đang lẩn trốn đâu đây, quanh bờ ao, vạt cỏ. Nhưng chưa bắt gặp tuổi thơ, anh đã chớm thấy tuổi Xuân trên đôi môi hồng thắm của chị Hường. Tuổi xuân lung linh những nụ mộng. Tung tăng một đóa hoa còn khép cánh e lệ, giữa trời xanh.

Từ ngày đó, chị Hường quên tôi, như quên một món đồ không cần thiết nữa. Tôi tự đạp xe đi học thêm. Khi cong lưng đạp kịch liệt lên dốc cầu, tôi kêu lớn tên Chị, réo gọi Chị như oán trách, giận hờn. Ban đêm, tôi ngủ chèo queo trong quán. Càng lạnh, tôi càng nhớ vòng tay ấm của Chị, càng tưởng hơi thở êm đềm của Chị đang phà bên tai tôi, thầm thì những lời khuyên bảo đậm đà. Suốt tháng nay, hai người hò hẹn, đưa nhau đi mất tiêu. Có bữa, Má tôi phải đi kiếm khắp nơi. Vì cái món ruột mà Anh tôi thích, Má đã sẵn sàng để đãi Anh. Từ ngày đó, chị Hường được Má tôi công nhận là một phần tử trong Gia đình. Chị tạm quên những chiếc Peugeot chết tiệt để làm quen với những viên kẹo óng ánh sắc màu, nằm la liệt trong cái quán Má tôi.

Chẳng hiểu Tình cảm của hai người thế nào mà Anh tôi, bỏ xứ biền biệt. Chị Hường đếm từng ngày, từng tuần, từng tháng, rồi từng năm, rồi từng năm nữa… Anh vẫn không trở về. Tội nghiệp, Chị mòn mỏi đợi chờ, héo hắt dung nhan, người lúc nào cũng rũ xuống, như một đóa hoa sắp rơi. Má tôi buông tay đầu hàng. Má không biết thằng Con trai của Mình nghĩ gì, khi cô dâu đã dâng đến trước mặt, khi mọi chuyện đã hoàn tất, chỉ chờ sự trở về của chú rể.

Tôi nhìn chị Hường đau khổ, lòng không cầm được xót thương. Muốn nguôi ngoai, tôi quay qua làm thơ, diễn tả nỗi thất tình của một người yêu bị bỏ rơi. Bài thơ ấu trĩ đó, lại lọt vào mắt Chị. Đêm, ngủ trong quán, gần Tết, gió bấc lạnh thấu xương. Tôi day lưng về Chị, nằm co quắp, ngủ ngon lành. Tôi tỉnh dậy, vì có cánh tay ấm áp dang ra, kéo nhẹ tôi vào lòng. Và tiếng thỏ thẻ của Chị, vang lên trong đêm khuya.

– Bộ em thất tình hả Bé? Con trai mà thất tình, kỳ lắm nha!

Tôi vươn vai cho tỉnh ngủ, rồi rúc sâu vào ngực Chị. Một mùi hương kỳ lạ từ da thịt Chị phả ra, làm tôi ngây ngất.

– Sao chị biết? Chắc coi lén thơ phải không?

– Thấy em làm thơ, Chị tò mò. Té ra em bỏ học, chạy theo một cô gái.

Tôi muốn phân trần với Chị, về bài thơ. Tôi làm thơ vì xót thương Chị. Vì không chịu nổi cảnh một người yêu chờ mãi một người yêu. Nhưng thôi, hãy để Chị nghĩ đến tôi như kẻ thất tình, có vẻ hay hơn, có vẻ lãng mạn hơn đôi chút.

– Em tưởng tượng Chị ạ! Em vẫn học thi, có bỏ đâu?

Chị Hường ôm tôi, nhẹ nhàng. Những lọn tóc dài rớt xuống mặt tôi, trong đêm tối, sao nó huyền ảo, lung linh như bức tranh vẽ Thiếu nữ của họa sĩ Lê Trung. Tôi mơ màng, quay lại, quấn chặt lấy Chị.Và bên tai,vẫn văng vẳng tiếng thỏ thẻ của Chị.

- Bé nè! Bé đẹp trai. Hổng có thất tình, nghe chưa?

Cho tới một hôm, chị Hường ra đi. Ngày Chị đi, tôi không hay. Khi biết được, cánh cửa nhà Chị đã khóa kín. Hàng bông huệ sân trước, rũ lá, khô cành. Đứng trong thẻo đất Chị, bên cạnh đống Peugeot tật nguyền, tôi cảm thấy cô đơn muốn khóc. Xung quanh đây, từ căn nhà Chị đến cái quán má tôi, dường như đầy dẫy bóng dáng Chị, dường như đó là phần thân yêu, buộc chặt vào đời sống tôi, không thể bứt rời.

Những ngày sau, tôi như một kẻ Thất tình, thật sự. Tôi bắt đầu chìm ngập theo thơ. Tôi bắt đầu uống rượu, tụ ba tụ năm với Bạn bè, say khướt trong những đêm muốn nổi điên. Nhưng tôi vẫn học. Vì học để vươn lên, để thoát khỏi bàn tay nhầy nhụa của Chiến tranh. Đến năm tôi chuẩn bị thi tú tài II, chị Hường bỗng trở về. Chị đi thẳng vào quán, ôm Má tôi, nức nở. Cả nhà ngạc nhiên. Má tôi cảm động, bật khóc. Tôi ngỡ ngàng, ngó Chị. Vừa mừng, vừa xót thương vô vàn. Chị không còn là thiếu nữ mộng mơ của Lê Trung nữa. Chị đã già dặn, đã vàng võ hơn xưa. Hình như Chị đang lao lung. Đang bị cuộc đời quăng vào nơi chốn bất an.

Thăm Má một lát, Chị vội vàng từ giã đi. Tôi chạy theo, nắm tay Chị, kéo lại.

– Tối rồi. Chị ngủ lại đây cho vui. Mai sẽ về.

Chị Hường bùi ngùi nhìn tôi. Tôi se sắt nhìn lại. Tôi thấy đôi mắt Chị long lanh ngấn lệ.

– Không được em ạ! Chị có Bạn. Bạn chị đang chờ.

Từ đó, tôi mất chị Hường luôn.

Mãi sau này, lên đại học, rồi đi lính. Tôi có ý định tìm Chị, nên lang bạt khắp nơi. Chẳng mãn nguyện, tôi tìm trong thơ, trong rượu, trong nhan sắc của mỗi gái điếm. Tôi nhào vào cuộc chiến như nhào vào cuộc tình. Đánh rồi rút. Yêu rồi đi. Chẳng cần ngày mai. Chẳng cần tương lai. Cho tới một hôm, tôi về Vũng Tàu. Đêm ở đây yên lành. Biển ở đây êm đềm. Trời đẹp như thế này, sao không thả ra phố làm một cốc cà phê cho ấm dạ? Tôi lủi vào góc một quán nhỏ, ngồi nghe dòng nhạc Trịnh bay nhảy trên môi Khánh Ly.

Quán thưa người, có vài cặp đang thu mình ở các góc vắng, thầm thì. Tôi chờ cà phê bằng những ngụm thuốc lá. Lâu rồi, những ngụm khói vô tri này đã trở thành bằng hữu, bên cạnh tôi, trong suốt các nỗi buồn. Nó cũng hút tung bụi thơ lấm tấm từ hồn tôi, truyền tình cảm xuống bàn tay, bắt viết nên từng con chữ vấy huyết, tận cung tim. Vì vấy huyết, tôi yêu các con chữ này, đến hơi thở cuối. Tôi không bỏ thơ. Có thể, từ lâu, nó đã là phần tế bào, trong khối óc tôi.

– Bé! Bé đấy ư? Bé đi lính hồi nào vậy? Trời ơi! gặp em, Chị mừng quá.

Một Thiếu phụ rời khỏi cánh tay ông đại úy biệt động quân, xà xuống bên tôi.

– Trời! Chị Hường. Lâu quá, không gặp Chị. Chị khỏe không?

Tôi trân trối ngó Chị. Nhan sắc tàn phai, năm xưa, đã phục hồi. Khuôn mặt sáng hơn. Đôi môi vươn cao, chín mọng. Chị siết chặt tôi, gật đầu. Những giọt nước mắt rơi xuống, cảm động. Ông đại úy tiến tới, bắt tay tôi. Màu áo vằn vện của Ông khiến tôi nhớ đến Anh tôi, cũng đang lăn mình trong chiến trận. Tới giờ, tôi vẫn chưa hiểu, tại sao Anh tôi nỡ đành bỏ rơi chị Hường?

– Anh Khả, Chồng chị. Chị theo ảnh về Biên Hòa sống, lâu rồi.

Chị Hường chỉ tay về Ông lính, giới thiệu. Anh Khả hùng dũng, oai nghi với bộ quân phục. Anh trò chuyện cùng tôi, cười cợt như đã quen từ lâu. Sau đó, chúng tôi cũng chia tay. Chị Hường lại thút thít. Chị ôm vai tôi, không muốn rời. Mùi hương kỳ lạ năm xưa lại phả vào mũi tôi, khiến tôi xúc động. Những giọt nước mắt tự nhiên lăn xuống, rơi trên tóc Chị.

Tôi trở lại Cà Mau, lần cuối, lúc chế độ cộng sản nhuộm đỏ miền Nam. Trở lại thăm thằng em út đang lặn ngụp trong đời sống cơ hàn, tiện thể, thăm Bạn bè. Những đứa học chung lớp. Những đứa từng làm thơ, từng uống rượu nổi điên, trong những đêm hào sảng. Cũng muốn gặp lại chị Hường, xem đời sống Chị ra sao, sau khi anh Khả gãy súng.

Cà Mau, những năm đó, thảm thương. Dân số tăng nhanh. Cuộc sống bần hàn hơn xưa. Người ta tranh nhau kiếm sống. Tranh nhau buôn bán. Có nhà, tuôn hết những vật Kỷ niệm trong Gia đình ra đổi gạo, ăn qua ngày. Tôi tìm không gặp một thằng Bạn nào. Dường như, cuộc sống khó khăn đã lôi tụi nó đi khắp nơi, bươn chải. Còn thằng em tôi, mua nợ một chiếc gắn máy cà tàng, chạy xe ôm, nuôi con hằng bữa.

Nhưng tôi gặp chị Hường. Chị phất lên như diều gặp gió. Chị đang an hưởng trong cảnh lầu cao cửa rộng. Ba Má chị, sau 30 Tháng Tư, trở về là cán bộ cao cấp của phe bên kia. Ngày xưa, họ tung tin đi Sài Gòn làm thợ máy, nhằm che mắt Thiên hạ. Tôi gặp Chị không khó khăn. Vì nghe tin tôi về, Chị vội vã tìm tôi. Chị Hường chở tôi trên chiếc xe Honda đàn bà. Chị ghé nhiều chỗ. Mỗi chỗ, Chị dừng lại lâu, cho tôi nhớ Kỷ niệm. Tôi nhớ nhất cái quán Má tôi. Những đêm giáp Tết, trời lạnh tái tê, tôi và chị Hường ôm nhau ngủ, một cách hồn nhiên. Cái quán bây giờ không còn nữa. Mảnh đất đó đã bị người trong bưng, túa ra, chiếm mất rồi. Chạy loanh quanh một chập, chị Hường tấp vào một quán cà phê bên đường. Quán vắng khách. Những cái bàn lộ thiên, trải dài ngoài vườn. Không khí thiên nhiên, hợp với tâm hồn thôn dã của chúng tôi. Chị Hường chọn cái bàn sâu nhất, giữa hàng cây rậm rì, xanh mướt.

– Mấy năm trước, Má rời Cà Mau, Chị mất liên lạc với Má luôn. Những năm sau này, Chị tìm em khắp các trại tù miền Nam, nhưng vô vọng. Bộ người ta đưa em ra Bắc hả ?

– Không chị. Em bị nhốt ở miền Đông. Rừng Xuyên Mộc.

Chị chăm chú nhìn tôi, thở dài.

– Anh Khả mất. Chị như người không có linh hồn. Buồn thật buồn em ạ!

Tôi giật mình. Người đại úy mà tôi chỉ gặp một lần đã mến phục. Mất rồi sao? Tôi nóng nảy.

- Ảnh mất lâu chưa? Lâu chưa?

– Ảnh tử trận. Trước Tháng Tư chỉ vài tuần.

Nói xong, Chị đưa hai tay ôm đầu, vò tóc, nghẹn ngào. Tôi ngậm ngùi. Nhớ đến Anh tôi. Anh tôi cũng vậy. Cũng thời gian đó, Anh tôi mất tích ở “đại lộ kinh hoàng”, trong toán quân di tản về miền Nam. Nhưng tôi không dám thở than điều này. Chẳng ích gì. Chỉ làm cho vết thương lòng chị Hường, vấy thêm đau nhức.

Chị Hường tiếp tục tức tưởi.

– Bây giờ, Chị đã có Chồng. Ba chị bắt, ép gả cho một Ông cán bộ.

Tôi tròn xoe mắt. Chị lấy cán bộ? Thôi rồi, Chị đã phản bội anh Khả, phản bội quê hương, đất nước. Nhất là, Chị phản bội tấm lòng của em. Chị biết chưa? Tôi hét lớn. Nếu có thêm vài ngụm rượu, chắc chắn tôi sẽ nổi điên, đập phá tứ tung. Chị Hường khóc rống lên. Tiếng khóc ai oán biết bao. Xót thương biết bao. Tiếng khóc làm tôi nguôi giận, hối hận và tự trách mình sao quá đỗi hung tàn. Tôi lặng lẽ đứng dậy, đến bên chị Hường vuốt vai, vỗ về.

– Em xin lỗi chị. Giận quá, mất khôn. Chị biết không? Em căm thù giặc. Căm thù đến hơi thở cuối cùng.

Tôi chưa nỡ bỏ Cà Mau đi sớm. Vì thằng em đơn chiếc. Nó vừa nuôi con vừa chạy xe ôm kiếm sống. Vợ nó làm ăn xa, lâu lâu mới thăm nhà một lần. Nó cần tôi ở lại đây, trông mấy đứa nhỏ, chừng tháng sau, Mẹ chúng trở về. Thương em, tôi chấp nhận lời yêu cầu của nó. Cũng là dịp tôi có thời gian tìm Bạn, xem Bạn có công việc nào giúp mình sinh sống không?

Một hôm, thằng em phóng xe về, la lớn.

– Chị Hường đang bị công an bắt kìa, anh Bé.

Tôi đang bới cơm cho con bé, nghe đến tên chị Hường, bỗng hoảng hốt, chạy ra.

–Sao bị bắt? Làm gì bị bắt?

– Chị cầm dao đâm Chồng, khi ổng đang ngủ. Ớn quá!

Tôi nhào lên xe thằng em, đốc nó chạy nhanh đến nhà chị Hường. Đám đông bao quanh căn nhà. Công an cố gắng đẩy dòng người hiếu kỳ sang một bên, lấy chỗ cho xe cộ chạy qua. Tôi lủi vào dòng người, cố chen ra phía trước, dáo dác tìm bóng chị Hường. Trong nhà Chị, công an dày đặc. Họ đứng che lấp khoảng cửa, bít kín hiện trường để làm việc gì đó, với kẻ gây án. Thất vọng, tôi chỉ còn biết lắng nghe dư luận xầm xì.

– Nạn nhân được xe cứu thương chở đi rồi. Máu ra nhiều quá, tôi e khó sống.

– Giết được thằng nào hay thằng nấy. Ở đâu, về đây làm trời.

Nóng lòng quá, tôi khều một Ông kế bên, hỏi nhỏ.

– Thủ phạm bị đưa đi chưa Chú? Hay đang còn trong nhà?

– Chưa đưa đi đâu. Người ta còn điều tra mà.

Lát sau, đám công an đưa chị Hường ra xe. Lúc này, hai tay Chị bị còng, bẻ quặt ra phía sau. Tôi cố vượt đám đông, tiến tới gần Chị.

– Chị Hường!

Chị quay lại, thấy tôi. Ánh mắt bỗng trở nên nghiêm nghị, sắt đá và cương quyết. Đám công an lôi Chị, vượt lên, đi thẳng về chiếc xe bít bùng. Nhưng tôi vẫn nghe rõ giọng Chị, oang oang trong gió.

– Chị trả thù chồng. Nó giết anh Khả.

PHẠM HỒNG ÂN

Tưởng tiếc chị Hường,
Escondido, California, Feb 2022
Món bánh xèo Nhật nổi tiếng sau vụ ném bom hạt nhân Hiroshima 

Steve John Powell & Angeles Marin Cabello/ BBC Travel
Okonomiyaki 

Vào một buổi chiều lạnh mùa xuân khoảng một thập niên trước, tôi cùng vợ, Angeles, đi bộ dọc theo sông Tenma ở Hiroshima, tìm một chỗ nào đó để vào ăn.

Cực kỳ đói và lạnh sau một ngày đi dạo, chúng tôi thèm món gì đó nóng, ngon lành và no bụng nhưng không tốn nhiều tiền.

Chúng tôi chỉ mới ở Nhật Bản vài ngày, vì vậy đi ăn ở ngoài vẫn là việc hàng ngày như thể Alice chui xuống hang thỏ và lọt vào thế giới thần tiên ẩm thực.

Chúng tôi thấy bức mành vải noren màu xanh đậm treo bên ngoài một cửa hiệu nhỏ, dấu hiệu cho thấy nơi này có mở cửa, nên bước vào.

Bên trong không gian nhỏ hẹp chỉ có chưa tới chục bàn ăn nhỏ và bốn ghế ngồi trống. Chủ tiệm là một phụ nữ với gương mặt tràn ngập vui vẻ, bà mở lời chào mừng "irashaimasen" và ra hiệu cho chúng tôi ngồi ở "bar" - là chiếc bàn vuông có chảo nóng lớn.

Tiếng Nhật của chúng tôi khi ấy vẫn còn rất sơ đẳng, vì vậy chúng tôi chỉ nói "hai" (vâng) và "onegaishimasu" (cảm ơn hoặc vui lòng) để đáp lại bất kỳ câu nào bà chủ nói, và hi vọng sẽ được ăn món ngon.

Bà đổ ra hai đĩa bột đầy trên chảo nóng, trải đều chúng thành hai hình tròn bự nằm cạnh nhau. Sau đó bà xếp một ít bắp cải bự cỡ núi Phú Sĩ lên mặt bánh, sau đó là một nắm giá đậu và vài miếng mỡ thịt heo mỏng. Kế tiếp, khi rau chín khô dần, bà đặt hai nhúm mì ramen lớn kế bên.

Sau vài phút, bà khéo léo lật bánh, đặt mỗi chiếc bánh lên trên một nhúm mì. Đó là nghệ thuật trình bày ẩm thực, một bức điêu khắc ăn được dần hình thành trước mắt chúng tôi.

Món ăn trông có vẻ ngon và mùi hương thơm ngon. Nhưng bà vẫn chưa làm xong. Bà đập hai quả trứng trên bàn nướng, trải đều mỗi quả thành kích cỡ to như chiếc bánh.

Cuối cùng, bà đặt chiếc bánh lên trên quả trứng, và trang trí cả khối núi bằng cách rắc nhiều hành lá thái nhỏ, sợi cá ngừ khô và rong biển nori lên trên.

Trao cho chúng tôi vài chai sốt, một chai mayonnaise và một chai sốt màu nâu có hương vị tuyệt vời, bà ra hiệu cho chúng tôi bắt đầu ăn với câu nói nhiệt thành "itadakimasu!" (chúc ngon miệng).

Chúng tôi xịt nước sốt lên trên rồi ăn ngay món trực tiếp từ chảo nóng bằng một cái xẻng xúc kim loại. Và đúng như chúng tôi trông đợi, món ăn nóng, ngon lành, no bụng và rẻ.

Đó là lần đầu tiên chúng tôi thử món bánh xèo okonomiyaki huyền thoại, một trải nghiệm mà chúng tôi sẽ gặp lại nhiều lần qua các năm tháng sau đó, khi Hiroshima trở thành nhà của chúng tôi.

Món này được gọi là "bánh pizza Nhật" hay "bánh kếp Nhật", nhưng những so sánh như vậy không thể hiện được trải nghiệm tuyệt vời khi ăn bánh okonomiyaki.

London có món lươn nấu đông. Valencia có món cơm thập cẩm. New Orleans có món súp hải sản gumbo. Và Hiroshima có món bánh xèo okonomiyaki - món ăn định danh của thành phố.

Okonomiyaki là món ăn phổ biến khắp Nhật Bản, đặc biệt là vùng Kansai, nơi có Osaka, Kyoto và Kobe, và ở Hiroshima, khoảng 300km xuôi xuống vùng duyên hải Biển Nội hải từ Osaka.

Nhưng vùng Hiroshima có một điểm khiến nơi này nổi tiếng: đó là nơi đây có nhiều nhà hàng okonomiyaki tính trên đầu người cao hơn bất cứ vùng nào khác ở Nhật; có khoảng hơn 2.000 nhà hàng như vậy trong thành phố Hiroshima.

Okonominura (nghĩa là làng Okonomi) nằm trong trung tâm thành phố Hiroshima, là một mê cung bốn tầng lầu, có hơn 25 nhà hàng bán bánh xèo okonomiyaki, mỗi tiệm có một cách chế biến món này riêng biệt.

Những kiểu làm bánh riêng biệt như thế chính là cốt lõi khiến món này nổi tiếng.

Bạn không thích thịt heo? Vậy hãy thử món này với hàu tươi vừa bắt tại địa phương. Bạn thích ăn chay hơn? Hãy gọi một đĩa với thịt làm từ đậu nành.

Trên đảo Miyajima, hòn đảo cách Vịnh Hiroshima 10 phút đi phà, có một vài nơi, như nhà hàng Yosakoi ngay trước cảng biển, có bán món anagoyaki: là bánh xèo okonomiyaki ăn với vài lát cá chình biển anago, là đặc sản của hòn đảo này.

Cách tiếp cận "tùy ý bạn" cũng khiến món okonomiyaki là chọn lựa hoàn hảo khi nấu ăn tại nhà, sử dụng bất cứ nguyên liệu nào bạn đang có sẵn hay món dư thừa trong tủ lạnh.

Một buổi tối, khi người bạn mời chúng tôi ghé nhà cô ăn tối với món okonomiyaki, cha cô đem đến hai con mực tươi vừa mới bắt, vậy là chúng trở thành thành phần chính trong món bánh.

Một sự cạnh tranh thân thiện giữa vùng Kansai và Hiroshima xuất phát từ câu hỏi nơi nào làm bánh xèo okonomiyaki ngon nhất.

Cả hai phong cách làm đều cho ra món có vị ngon tuyệt vời. Khác biệt cơ bản là cách làm theo kiểu Kansai trộn tất cả thành phần lại với nhau, trong khi cách làm ở Hiroshima là xếp các nguyên liệu theo từng lớp.

Hơn nữa, phiên bản món này ở Kansai không sử dụng mì. Đó là lý do nhiều lần chúng tôi nghe dân Hiroshima bình luận là món bánh xèo kiểu Kansai "chỉ là đồ ăn vặt".

Ngoài đặc tính vùng miền, cư dân Hiroshima còn có lý do khác để tự hào về món ăn địa phương của họ: Đây là món ăn khơi nguồn quá trình phục hưng của thành phố sau sự kiện bị đánh bom nguyên tử.

Hồi ban đầu, kiểu bánh xèo okonomiyaki Hiroshima xuất hiện từ giai đoạn trước Thế Chiến thứ Hai.

Được biết đến với cái tên "issen yōshoku" (có nghĩa là "món ăn Tây một xu", hay "món Tây một đồng"), đây chỉ đơn giản là bánh kếp mỏng có rắc hành lá xanh, cá khô sợi hoặc tôm, nhưng món này được trẻ em cực kỳ ưa thích.

Vào ngày 6/8/1945, một trái bom hạt nhân được thả xuống Hiroshima, ngay lập tức biến thành phố thành bình địa.

Sau sự kinh hoàng đó, những người sống sót đối mặt với tình trạng cực kỳ thiếu thốn thực phẩm và phải tìm cách sống qua ngày với bất cứ loại lương thực nào họ có thể tìm được.

Một số người có tài phát minh đã nhặt nhạnh đĩa kim loại từ đống đổ nát và sử dụng chúng làm chảo chiên tạm thời để nấu món issen yōshoku, món ăn yêu thích của họ trước thời chiến, bằng cách dùng bột và bất cứ thứ gì họ có thể tìm được.
Phiên bản bánh xèo Nhật okonomiyaki ở Hiroshima thường gồm có mì, và nguyên liệu được đổ thành nhiều lớp

Khi quá trình tái thiết thành phố tăng tốc, các xe bán hàng rong và cửa hàng bán đồ ăn rẻ tiền mọc lên khắp thành phố, bán món issen yoshoku.

Rất nhiều các xe bán hàng rong này tập trung ở khu vực Shintenchi ở trung tâm thành phố, nơi giờ đây là chỗ khu phức hợp ăn uống Okonomimura tọa lạc.

Người ta bắt đầu thêm vào đủ mọi thành phần món ăn có thể có, như bắp cải, trứng, mì ramen hoặc mì soba, và cả hải sản tươi sống tại địa phương để làm món issen yoshoku thành món ăn bổ dưỡng hơn, giúp người dân địa phương có đủ dinh dưỡng xây dựng lại cuộc sống, xây dựng lại thành phố.

Cách tiếp cận nhặt nhạnh và phối món mới mẻ này với các thành phần thực phẩm chính là điều khiến món ăn này có được cái tên mới phù hợp hơn: okonomiyaki, có nghĩa là "bất cứ gì bạn thích, nướng lên".

Vào cuối thập niên 1950, món ăn này đã trở nên phổ biến với tất cả các tầng lớp xã hội và độ tuổi, trở thành biểu tượng mến thương về sự hồi phục và sức sống của người dân địa phương.

Theo Shizuka Kobara, nhân viên truyền thông tại Otafuku, nhà sản xuất hàng đầu có trụ sở tại Hiroshima chuyên làm nước sốt ăn bánh xèo okonomiyaki có vị ngọt, thì "Hiroshima đã phát triển cùng với bánh xèo okonomiyaki; món ăn xuất phát từ người dân và kể từ đó trở thành món ăn ưa thích của họ. Đây chính xác mà món quốc hồn quốc túy của người Hiroshima."

Nếu bạn từng đến Hiroshima, bạn sẽ ngửi thấy mùi bánh okonomiyaki, dù bạn chưa từng ăn thử món này.

Hiếm khi nào bạn có thể đi bộ qua một dãy phố mà không ngửi thấy mùi hương ấm áp, chào đón tỏa ra từ cửa hàng và cửa sổ quán ăn, thấm đẫm trong không khí vị ngọt ngào hạnh phúc của món ăn. Chỉ một luồng hương thơm tỏa ra đã có thể đẩy lùi sự buồn bã.

Người bạn Yasuko của chúng tôi thậm chí thường mang theo một chai nước sốt okonomiyaki, hơi có vị giống sốt Worcestershire, nhưng ngọt hơn và ít mặn hơn, khi cô đi du lịch để khỏi nhớ nhà.
Bảo tàng Tưởng nhớ Hòa bình Hiroshima được tôn vinh là Di sản Văn hóa Thế giới Unesco vào năm 1996

Vậy thì, điều gì đã tạo ra món nước sốt thần kỳ này? Theo Kobara, "rất nhiều loại hoa quả, rau củ, gồm có cà chua, chà là, hành củ, táo và hơn 20 loại gia vị và ớt."

Ngày nay, nhiều nhà hàng cạnh tranh nhau trong ngành này, món bánh xèo okonomiyaki ở Hiroshima liên tục được cải tiến khi chủ tiệm nghĩ ra cách mới để thu hút khách hàng và làm cho món okonomiyaki dễ ăn hơn với khách nước ngoài.

Vào năm 2008, Otafuku khai trương Bảo tàng Trứng Gỗ Okonomiyaki, nơi du khách có thể tham quan xưởng sản xuất và bảo tàng, và học cách nấu món okonomiyaki.

Sau đó, đến năm 2018, họ mở studio dạy nấu ăn Trải nghiệm Okosta Okonomi kế bên nhà ga Hiroshima.

Với khẩu hiệu "Hạnh phúc Không Biên giới", Okosta chào đón người đến từ đủ mọi quốc gia muốn thử làm món bánh xèo okonomiyaki của riêng họ. Phiên bản món này làm chay và làm theo kiểu halal của người Hồi giáo cũng được giới thiệu.

Trong năm đầu tiên, 200.000 người đã ghé thăm studio, mà 20% là người nước ngoài.

Mục đích của Otafuku là "đóng góp vào xã hội vui tươi bằng sức khỏe, sự thịnh vượng và hạnh phúc thông qua ẩm thực," Kobara chia sẻ.

Nơi ăn món okonomiyaki yêu thích nhất cua chúng tôi là nhà hàng Tokugawa ở quận Heseka của Hiroshima.

Tòa nhà này cũng là nơi xứng đáng ghé thăm. Đó là một ngôi nhà gỗ lịch sử với mái ngói đen cuộn sóng, có từ hơn 140 năm trước vào đầu thời Minh Trị (1868-1912).

Khi bạn bước qua khu vườn nhỏ và kéo cửa lại, bạn thấy mình đứng trong phần sảnh bóng râm từ mái nhà chìa ra, với những căn phòng trải chiếu tre tatami. Quang cảnh như thể bạn vừa bước vào thế kỷ trước.

Trên Đảo Miyajima, món okonomiyaki thường ăn kèm với vài lát thịt cá chình biển

Người bồi bàn sẽ bưng ra các thành phần món ăn, bật chảo nướng tại bàn của bạn lên, và để bạn tự làm món okonomiyaki theo ý mình.

Nếu bạn thấy bối rối, chỉ cần nhấn nút là người nhân viên cực kỳ kiên nhẫn sẽ đến giúp bạn.

Nếu bạn không hứng thú ăn trực tiếp từ chảo nướng nóng hổi với xẻng xúc, hãy hỏi xin đũa và đĩa, hoặc thậm chí có thể gọi cả dao và nĩa.

Dù bạn chọn thế nào, thì nấu món này luôn là trải nghiệm vui chưa từng có. Đó cũng là cách rất xã hội để ăn cùng nhau, "ngồi quanh chảo nóng chuyện trò vui vẻ khi cùng nấu và ăn với nhau," như cách Kobara mô tả.

Khi các nhà hàng bánh xèo okonomiyaki mọc lên khắp nơi từ Barcelona đến Brisbane, món ăn tiêu biểu của thành phố Hiroshima đã chuẩn bị bước vào hàng ngũ cùng món sushi, đậu hũ, mì ramen và những món ẩm thực Nhật Bản khác được yêu thích và xuất khẩu đi nhiều nơi.

Vì vậy, khi bạn đến Hiroshima, hãy nhớ thử ăn món bánh xèo okonomiyaki thực sự với bất cứ thành phần nào bạn thích, và hãy dành cho trái tim mình một chút hạnh phúc kiểu Hiroshima.

Và hãy nhớ, bạn không chỉ ăn một món mà là bạn đang thưởng thức cả tâm hồn của thành phố này.

Thằng Đi Mất Biệt

Tiểu Tử

Sáng nào, nếu trời không mưa, bà Hai cũng vắt cái khăn rằn lên vai, chụp cái nón lá đã tưa vành lên đầu, xách giỏ trầu đi ra phía vàm rạch trèo lên mô đất cao, ngồi chồm hổm vừa nhai trầu vừa nhìn qua bên kia sông, nhìn miết.

Mô đất nầy, cách đây hơn ba mươi năm - hồi thời kháng chiến chống Tây - chính tay bà và đồng bào trong xóm đã đắp lên làm ụ súng cho du kích bắn tàu Tây chạy ngoài sông Cái. Hồi đó, mô đất cao lắm. Bây giờ nó đã mòn lần nhưng vẫn còn đủ cao để bà Hai, dầu ở vị trí ngồi, vẫn nhìn thấu tuốt qua bên kia sông. Bên kia sông là quận Gò Keo, ở đó có sở cao su của Năm Lượm, em út của bà. Bà còn nhớ rõ như in:

“Hồi nẳm, thằng Lượm làm cặp-rằng trong sở cao su của thằng Tây Mi-Sên. Kế đến Tây rút đi – đâu hồi một ngàn chín trăm năm mấy gì đó – thằng Mi-Sên kêu bán rẻ lại cho thằng Lượm. Thằng hên! Nó bán đi phần ruộng ông già để lại cho nó rồi chạy thêm mớ nợ, mua trọn gói sở cao su! Vậy rồi nó giàu ngang, mới tức cười!” Thường thì kể đến đây bà Hai hay ngừng lại để xỉa cục thuốc qua lại mấy lần rồi mới nói tiếp:

“Bây coi! Hồi thời ông gì đó, chỉ có Út Lượm là sắm được chiếc ca-nô tổ chảng, chạy lên chạy xuống tỉnh hà rầm. Lâu lâu còn cho mấy ông lớn mượn đi bắn le le nữa! Hồi ông nhà tao còn sống, nó hay lái ca-nô qua đây nhậu với ổng. Mẹ! Mỗi lần ca-nô nó vô tới đầu vàm rạch là nó hú còi nghe điếc con ráy, còn làm nổi sóng cho nước phóng lên bờ, bà con trong xóm ai cũng hay là có ông Út qua!” Bà thường ngừng ở đây để cười khịt khịt mà nghe sung sướng ở trong lòng, bởi vì trong ba thằng em trai, bà Hai thương thằng em út nầy nhứt. Bà hay nói:

“Thằng Lượm tuy ít học hơn hai anh của nó nhưng bụng dạ nó tốt lắm. Ăn ở có nhơn nên dân thợ trong sở cao su ai cũng thương. Hồi giàu lên rồi, nó cũng không quên ai hết. Như anh Ba của nó đi tập kết đâu tuốt ngoài bắc viết thơ về gởi gắm hết người nầy tới người kia cho nó, vậy mà nó cũng lén nuôi đàng hoàng. Còn thằng anh Tư của nó theo bên vợ làm thầy giáo ở Cần Thơ muốn mở trường tư thục gì gì đó, nó cũng mang tiền xuống giúp. Thằng tốt!”

Trong làng Bình Quới nầy ai cũng biết vụ bà Hai ngày ngày ra ngồi trên mô đất nhìn miết qua bên kia sông. Chuyện xảy ra sau ‘giải phóng’, từ ngày người con trai út của bà, tên Trực, ở Sài Gòn về thăm bà và để cho hay là vợ con của Trực đã theo tàu hải quân di tản rồi, còn Trực thì phải lo khai báo với chánh quyền mới để có giấy tờ hợp lệ bởi vì Trực là sĩ quan của chế đõ cũ. Trực nói:

“Chừng có giấy tờ, con về đây ở với má. Chắc chừng vài ba bữa nửa tháng, hà!”

Nghe vậy, bà Hai rất vui, têm trầu ăn liền liền! Bà nói:

“Tao chỉ có hai thằng con, mà Trời thương, thằng nào cũng được hết. Thằng Cang – thằng lớn – đi lính quốc gia. Nghe nói nó đánh giặc gan lỳ. Vậy mà không bao giờ nó nói động tới thằng cậu Ba nó ở ngoài kia. Còn thằng Trực – thằng út – thì thông minh học giỏi, vậy mà sau khi anh hai nó chết trận ở Công-tum Công-tiết gì đó, nó đang học đại học cũng bỏ học đi lính nói để trả thù cho thằng anh!”

Bà hay ngừng một chút rồi mới nói tiếp, như để kết một câu chuyện:

“Bây giờ thì hết giặc rồi. Vài bữa thằng Trực về đây, tao sẽ chỉ nó lo chăm sóc cây trái vườn tược thế cho con Tư để con nhỏ còn đi lấy chồng chớ!”

Nói như vậy bởi vì mấy năm gần đây, từ ngày ông Hai nằm xuống, bà Hai hay ngã bịnh bất thường nên người em bà con ở bên quận gởi đứa con gái là cô Tư – ba mươi tuổi, chưa chồng – qua ở với bà để lo cơm nước vườn tược v v… Cô Tư kêu bà bằng Dì.

Sau khi Trực trở về Sài Gòn, một hôm, đò ngang từ bên quận Gò Keo qua làng Bình Quới ngừng lại trước nhà bà Hai thả xuống một ông già lưng mang ba-lô, ốm nhom đen thui đầu bạc trắng. Người lái đò chỉ tay nói lớn:

“Ông đi thẳng vô trong, cái nhà gạch nền đúc đó, đó!”

Nghe lao xao, cô Tư nói:

“Dì Hai! Dì Hai! Có ai kìa!”

Bà Hai nheo mắt nhìn: má bên trái của ông già có một nút ruồi với một sợi râu lăng quăng. Bà rớt nước mắt: “Mầy còn sống hả Ba?”

Vậy là hai chị em gặp lại nhau, vẫn nhìn ra được nhau sau hơn hai mươi năm xa cách! Út Lượm hay tin cũng xách ca-nô chạy qua thăm anh Ba, tủi tủi mừng mừng. Cô Tư dầu chưa biết ‘Cậu Ba’ là ai nhưng trước cảnh gặp nhau đó, cô cũng nghe xúc động nước mắt chảy quanh…. Sau đó, để hàn huyên cho đã, nên ông Ba dự trù ở lại chơi thêm năm bảy hôm.

Bữa nọ lối mười giờ sáng, có tiếng ca-nô chạy xộc vô rạch. Thằng Kiên, con Út Lượm, u vào nhà, vừa thở vừa nói:

“Con qua rước bác Ba về can thiệp gấp vụ nầy: họ đang kiểm kê để tịch thâu sở cao su ở bển đó!”

Ông Ba cười:

“Bây làm gì như Mỹ bỏ bom vậy?”

Rồi quay qua bà Hai:

“Chị để em qua bển một chút. Em nói mấy tiếng rồi về, hà! Biểu con Tư nó nấu cho em miếng cháo gà ăn chơi!” Rồi ông xuống ca-nô qua quận. Bà Hai ở nhà đợi em. Càng lúc càng trưa, rồi đứng bóng, rồi xế bóng. Chừng đó mới thấy một chiếc xuồng nhỏ, với tiếng dầm khua nước lách chách, đâm đầu vào chân cầu thủy tạ trước nhà, ông Ba lò dò bước lên. Bà Hai và cô Tư chạy ra bươn bả:

“Ủa! Sao vậy cậu Ba? Còn ca-nô đâu?”

Ông Ba lắc đầu:

“Tụi nó kiểm kê luôn rồi!”

Bà Hai thở hắt ra:

“Còn thằng Út!”

Ông Ba cười như mếu:

“Nhờ nó có công nuôi cách mạng nên mấy đồng chí đó giữ nó lại làm trong tổ kế hoạch, làm tổ viên thôi nhưng cũng có lương.”

Bà Hai phun cốt trầu nghe cái phẹt: “Hứ! Đồng chí với đồng rận! Lương với lậu!”

Bà ngừng ở đó, nhai miếng trầu trong miệng như nhai cái tức ở trong lòng. Một lúc, bà mới nói:

“Tao tưởng mầy đi theo tụi nó mấy chục năm để làm được cái giống gì, té ra mầy cũng trớt quơ cũng bạch tuộc như mấy thằng cô hồn trôi sông lạc chợ chớ có hơn gì đâu? Hỏi chớ mầy đi theo tụi nó chi lâu vậy?”

Ông Ba đốt điếu thuốc rồi ngồi bập liên miên, làm như khói thuốc có thể che cho ông đỡ ê mặt! Bà Hai xỉa cục thuốc qua lại, ấn mạnh vô răng như muốn kỳ cọ cho cái ‘lớp tức’ nó bong ra! Một lúc sau, bà nói với cô Tư, giọng thật trầm tĩnh:

“Tư! Mầy đẩy xuồng trong xẽo ra đưa cậu Ba qua sông, đi!”

Cô Tư nhìn bà, ngạc nhiên. Nhưng người ngạc nhiên nhứt là ông Ba. Ông nuốt nước miếng rồi mới nói được:

“Bộ chị đuổi em hả chị Hai?”

Bà Hai tằng hắng:

“Tôi đâu có đuổi! Ai mà dám đuổi cách mạng! Tôi… mời cậu ra khỏi nhà, chớ ở lại đây, thiên hạ cười tôi thúi mặt sao cậu?”

Ngần ngừ một chút như định nói gì, nhưng rồi ông Ba lẳng lặng xách ba-lô cuối đầu đi thẳng ra bờ rạch, bước xuống xuồng mà nghe như trời đất ngã nghiêng chao đảo….

Thằng em đi rồi, bà Hai như người mất hồn. Tối ngày làm thinh, ngồi bó gối trên bộ ván nhỏ kê ngoài hàng hiên, vừa ăn trầu liên miên vừa nhìn đăm đăm ra phía rạch như đợi như chờ cái gì. Thấy kỳ, cô Tư hỏi:

“Bộ đợi ai sao dì Hai?”

Một lúc, bà mới trả lời:

“Tao đợi thằng Trực! Nó nói nó đi năm ba bữa gì đó là về. Vậy mà đã hơn con trăng rồi sao hổng thấy bóng dáng gì hết!”

Rồi bà lầm bầm:

“Thằng! Đi mất biệt!”

Cô Tư nói:

“Con nghe nói…”

Rồi ngừng ngang. Cô định nói là cô có nghe nói sĩ quan chế độ cũ đều bị đi cải tạo, chắc giống như đi ở tù… nhưng cô sợ dì Hai hết hồn nên cô bỏ lửng câu nói. Trong nhà, ngoài cô Tư ra, ông Út Lượm – lúc nầy lâu lâu chèo xuồng qua thăm chị Hai – cũng biết vụ ‘cải tạo’ nhưng ông không dám nói cho bà chị biết. Vì vậy, bà Hai cứ ngày ngày ngồi đợi thằng con. Và trách: “Thằng đi mất biệt!”

Mới đầu, bà còn ngồi chờ trên bộ ván hàng hiên. Thời gian sau, khi trời nắng ráo, bà hay đi tuốt ra ngoài vàm rạch lên ngồi trên mô đất để có thể nhìn thẳng qua bên kia sông. Như vậy, ‘khi nào thằng nhỏ nó về, mình thấy nó từ đằng xa, nó có đi đò, trong đám đông mình cũng nhìn ra được nó liền hà!’

Vậy rồi ngày ngày bà ra ngồi trên mô đất, như một pho tượng. Thiên hạ trong làng đi ghe đi xuồng ngang qua, có hỏi thì bà trả lời, lúc nào cũng chỉ có một câu:

“Ợ… Tao đợi thằng đi mất biệt!” Không ai ngừng lại để hỏi tiếp coi ‘Thằng đi mất biệt’ là ai? Riết rồi thành quen nên lâu lâu nghe có người chèo ngang qua hỏi cho lấy có:

“Đợi thằng đi mất biệt hả bà Hai?”

Rồi đi tuốt…. Cái mô đất bà ngồi, bây giờ láng cón. Cỏ dại chỉ mọc cao ở dưới chân, bao quanh giống như một hàng rào. Người mẹ đợi con đó ngã bịnh rồi chết, hai năm sau. Bà nhắm mắt mà trong lòng chắc vẫn trách thằng con sao đi mất biệt. Lúc hấp hối, bà Hai còn ráng thều thào:

“Bây chôn tao ở đầu vàm cho tao thấy thằng Trực trở về….”

* * *
‘Thằng đi mất biệt’ được thả về sáu năm sau, nhờ học tập tốt. Đi đón Trực ở bến xe đò quận Gò Keo là ông Ba và ông Út. Ông Út, vì rầu sự nghiệp nên già khú, vẫn là công nhân nhà máy cao su. Ông Ba về thọ tang bà Hai rồi ở lại luôn Bình Quới để giữ ‘đất đai ông bà’ kẻo ‘mấy thằng ác ôn nó quen thói côn đồ đớp hết của người ta’, ổng nói như vậy! Bây giờ, ông Ba hay cười gằn, cầm cây rựa quơ quơ:

“Tụi nó có muốn vô nhà nầy phải bước qua xác của tao, nè!”

Hai ông đưa Trực ra đầu vàm thăm mả bà Hai nằm cách mô đất không xa. Sau khi thắp nhang vái lạy, ông Ba kể cho Trực nghe chuyện bà Hai ngày ngày ra ngồi trên mô đất để trông ‘thằng đi mất biệt’. Trực ngồi thụp xuống, úp mặt vào hai tay khóc ngất. Ông Ba chấp tay nói như nói trước mặt người chị:

“Chị Hai ơi! Thằng đi mất biệt của chị, nó về rồi nè!”

Bỗng, mặt ông nhăn nhúm lại, giọng ông cao lên:

“Mà… thằng Trực đâu phải là thằng đi mất biệt đâu, chị Hai!”

Rồi ông nấc lên, vừa đấm vào ngực vừa la lớn:

“Em mới là thằng đi mất biệt đây, chị Hai à!”

Ông quì xuống ôm lấy mộ bia, gục đầu lên đó, nức nở. Cái đầu tóc trắng lắc qua lắc lại, nói lên tâm tư của một người không tìm ra đáp số cho bài toán khó.

Ông Út khom xuống, đặt tay lên vai anh bóp nhẹ:

“Anh Ba à! Anh nói được như vậy là anh đã thấy con đường về rồi đó, anh Ba!”

Tiểu Tử

Saturday, April 2, 2022

Chiêm ngưỡng chiếc xe dài nhất thế giới

Chiếc limousine dài nhất thế giới dài hơn 30m, có 26 bánh, chứa được 75 người, và có cả một bãi đỗ cho trực thăng.

Chiếc xe dài nhất thế giới có tên "giấc mơ Mỹ", dài hơn 30 mét, có 26 bánh, chứa được 75 người, và có cả một bãi đỗ cho trực thăng.

Chiếc limousine vừa phá vỡ kỷ lục của chính nó lập vào năm 1986 sau khi được phục chế.

Nhóm nghiên cứu đã phải làm việc rất vất vả mới có thể khôi phục lại chiếc xe, đưa nó trở lại vinh quang như trước đây sau một thời gian dài bị bỏ rơi ở nhà kho tại New Jersey (Mỹ).

Chế tạo lần đầu tiên vào năm 1986 tại Burbank, California, Mỹ, dài 18,28 m, có 26 bánh xe và một cặp động cơ V8 ở phía trước và phía sau.

Sau lần đầu tiên nhận kỷ lục Guinness thế giới vào năm 1986, chiếc xe "giấc mơ Mỹ" trở nên nổi tiếng.

Jay Ohrberg là người phục chế, kéo dài chiếc xe thành 30,54 m như hiện tại. Chiếc xe này có thể chứa đến 12 chiếc xe ô tô Smart Fortwo.

Với kích thước siêu khủng và nhiều tính năng trong xe, hành khách bước chân lên xe là được tận hưởng không gian sang trọng.

Ngoài một số thiết bị như ti vi, tủ lạnh, điện thoại thông mình, bên trong xe có trang bị nhiều hoạt động vui chơi giải trí cho người sử dụng trải nghiệm sự thoải mái trong chuyến đi dài.

Dự án khôi phục chiếc xe ô tô dài kỷ lục tiêu tốn hơn 250.000 USD, phần lớn là tiền vận chuyển, vật liệu, nhân công...

Phải mất khoảng ba năm để hoàn thành chiếc xe siêu dài này.

Kỳ Hoa Dị Thảo / Amazing & Beautiful Flowers




Blog Archive