25 NĂM VIẾT VỀ NƯỚC MỸ
Khi được người em vợ bảo lãnh đi Mỹ thì tôi đã 54, vợ tôi 47, đứa gái lớn 18 và em trai nó 14. Tôi và bà xã thì vừa đi làm, vừa đi học college để có thêm Financial Aid nuôi hai con, một đứa vào đại học, một đứa lớp 9. Thời gian vụt qua rất nhanh đối với một đời người nhưng chỉ là cái chớp mắt của lịch sử. Không biết ai nói câu đó nhưng tôi thấy quá đúng. Một vài năm sau khi cuộc sống nơi quê người ổn định thì tôi bắt đầu viết về nước Mỹ, từ năm 2001 cho đến nay cũng được 25 năm, một phần tư thế kỷ! Mới đó mà tôi đã 83. Ngoảnh lại phía sau: Cả một đoạn đường dài; ngước nhìn phía trước: đường đi cứ ngắn dần.
Đời sống ở Mỹ theo cái nhìn của tôi rất muôn màu muôn vẻ, với đầy đủ đắng cay, chua chát, mặn nồng. Dòng đời có những lúc êm như suối mơ, có những lúc dữ dội sóng cuồn, lại có lúc éo le, gay cấn, bất ngờ và lý thú hơn tất cả những gì con người có thể tưởng tượng được. Do đó, khi viết về nước Mỹ tôi chỉ viết những gì đang diễn ra trước mắt mà không tưởng tượng, không hư cấu như một nhà văn, tôi không phải là nhà văn.
Tên gọi đầy đủ: Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, hình thành bởi nhiều chủng tộc nên có nền văn hóa hết sức phong phú, đa dạng. Hàng ngày có biết bao điều xảy ra mà tưởng chừng như là tiểu thuyết. Người ta dùng rất nhiều từ khác nhau khi nói về nước Mỹ: Đó là đất nước vĩ đại, đất nước lạnh lùng, đất nước của cơ hội, đất thiên đàng, và cả…địa ngục! Nhiều người rất ghét nước Mỹ nhưng lại đổ xô đến nước Mỹ, muốn con em họ được học hành ở Mỹ. Cũng có nhiều người nhìn thấy nước Mỹ rất nhân đạo và dễ thương. Không ít dân tộc, không ít người chịu hàm ơn nước Mỹ, trong đó có người Việt Nam, nhất là người Việt tị nạn hình thành ở nước này từ sau ngày 30/04/1975 đã là 50 năm.
Nhiều thế hệ người Việt vẫn đang có mặt ở Mỹ: Từ thế hệ thứ nhất, đến thế hệ một rưỡi, tiếp theo là thế hệ thứ hai, thứ ba sinh ra và lớn lên ở Mỹ. Viết về nước Mỹ cũng có nghĩa là viết về cộng đồng người Việt ở Mỹ. Tôi mặc dầu đã là công dân Mỹ nhưng suốt đời vẫn là người Việt Nam, tự hào mang trong mình dòng máu Việt Nam. Quê hương vẫn cứ chập chờn hiện ra trong từng miếng ăn, giấc ngủ, lúc đi, đứng, nằm ngồi, khi lất phất mưa bay hay mịt mùng bão tuyết! Đó là lý do tại sao bài viết nào của tôi cũng thấm đậm tình tự quê hương như nhà thơ Đỗ Trung Quân mô tả :
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bóng vàng bay ...
Quê hương tôi đó, nơi tôi sanh ra và lớn lên từ lúc còn tấm bé cho đến khi cắp sách tới trường. Tốt nghiệp đại học Luật Khoa Sàigòn, tôi làm việc ở Ngân Hàng Quốc Gia rồi nhập ngũ khi “ Mùa Hè Đỏ Lửa” cháy rực vào năm 1972. Rồi ngày 30/04/1975 ập đến, tôi cũng trải qua biết bao là đắng cay của chánh sách “ học tập cải tạo” như trăm ngàn thanh niên cùng thế hệ.
Thân phận của một cá nhân, một gia đình không tách rời khỏi thân phận quê hương, đất nước. Khi đất nước ngã nghiêng, chao đảo thì từng gia đình, từng con người cũng chịu chung số phận. Bài đầu tiên tôi viết về nước Mỹ là bài “Người Không Nhận Tội”, gửi Việt Báo ngày 01-11-2001 viết về một người bạn tôi, anh đã ngã gục trong tù chỉ vì cương quyết không nhận mình là người có tội theo sự quy chụp của “bên thắng cuộc”. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, anh trối lại với tôi khi được thả về thì tìm gia đình anh để nói lên sự thật về trại tập trung và hoàn cảnh của anh, và tôi đã hứa.
Tôi được về cuối năm 1977, không thể tìm được gia đình anh nên tôi bắt tay vào viết lại câu chuyện của người bạn quá cố. Ở Việt Nam có mấy trăm tờ báo, toàn là báo đảng và chánh quyền, đâu có báo nào chịu đăng bài viết của tôi. Nghĩ vậy nên viết đến nửa chừng thì tôi ngưng lại vì còn phải lo chuyện cơm áo, gạo tiền trong hoàn cảnh vừa mới ra tù. Tôi kẹt lại ở Việt Nam đến 20 năm. Vì có bằng đại học, và chuyên môn về ngân hàng, tài chánh, kế toán nên tôi xin việc làm không khó lắm, mặc dầu tôi là nhân viên chế độ cũ nhưng rất được tin tưởng và nể trọng bởi chánh quyền mới. Có lần tôi được bổ nhiệm làm Tổng Giám Đốc một Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần của tập đoàn người Đài Loan. Khi đi “học tập cải tạo” về tôi mới lấy vợ và có hai con.
Khi được sang tới Mỹ thì tôi viết tiếp câu chuyện về bạn tôi để đăng báo. Đó là lý do tại sao một câu chuyện, một bài báo mà phải mất trên 20 năm mới hoàn thành. Có phải đây cũng là một kỷ lục chưa được gọi tên đối với một người viết văn? Khi bài viết của tôi được Việt Báo đăng lên thì vài ngày sau tôi nhận được tin tức từ mấy người em của anh, một người ở Pháp và hai người khác ở Texas. Họ nói đã đọc được bài viết Người Không Nhận Tội và chúng tôi hẹn gặp nhau nói chuyện nhiều hơn trên điện thoại. Vậy là tôi đã trút bỏ được gánh nặng đè lên tâm tư từ hơn 20 năm và hoàn thành lời hứa đối với người quá cố, dầu có muộn màng. Tôi muốn được mượn cơ hội này để một lần nữa cám ơn Việt Báo và diễn đàn Viết Về Nước Mỹ đã tạo cơ hội cho tôi được trang trải nỗi lòng trên trang giấy, và điều kỳ diệu đã đến. Từ đó, tôi gắn bó với Việt Báo cho đến hôm nay. Âu cũng là duyên nợ!
Hai mươi lăm năm qua, giờ nhìn lại tôi thấy đã viết khá nhiều bài với nhiều chủ đề và nội dung khác nhau như: Đẹp Đạo- Đẹp Đời, 25 Năm Một Nỗi Niềm, Quê Người- Quê Nhà, Phía Bên Kia Thiên Đường, Đất Nước Này Đâu Phải Của Riêng Ai, Thông Điệp Cho Người, Việt Kiều Về Quê, Bão Tố Trong Tách Trà, Sân Khấu Cuộc Đời, Hạnh Phúc Tuổi Già, Tam Đại Đồng Đường,… Đặc biệt khi viết về con tôi (bài Viết Cho Con Nhân Ngày Father’s Day) và bốn đứa cháu tôi thì tôi thấy ngập tràn hạnh phúc, tôi sôi nổi và phấn khích hẳn lên mà không biết tại sao. Nhiều bạn đọc và bạn văn quan tâm, hỏi thăm và chúc mừng. Hai lần tôi được nhận giải Danh dự gần đây đều có hai bài viết về đứa cháu ngoại (bài Giữ Cháu Ngoại) và cháu nội (bài Xin Đừng Đẻ Nữa) của tôi. Còn nhiều bài viết về cháu tôi, sẽ lần lượt gửi cho Việt Báo.
Một vị có uy tín và trách nhiệm trong ban biên tập nói rất trân trọng những bài viết của tôi và đề nghị tôi in thành sách vì nó thực tế và sát với thời cuộc. Thật tình thì tôi chưa nghĩ đến việc này. Theo cái nhìn của tôi thì hàng ngày ở Mỹ này có biết bao điều xảy ra ly kỳ và lý thú. Nếu để nó trôi qua hoặc mai này khi tôi mất đi mà không ghi lại được điều gì thì uổng lắm! Bài “8 Giờ Đầu Trên Đất Mỹ” tôi ghi lại cảm giác và cảm tưởng đầu tiên của tôi khi đặt chân đến nước Mỹ vào tháng 7 năm 1997. Nước Mỹ qua cái nhìn đầu tiên của tôi là hoàn toàn mới lạ, đưa tôi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác, nhất là khi liên tưởng tới Việt Nam, nơi tôi sinh ra, lớn lên mà tôi vừa mới rời khỏi trước đây mười mấy tiếng đồng hồ: Nào là hệ thống xa lộ, tính cách của người Mỹ yêu hoa, yêu thú vật mà tôi nhìn thấy trên đường đi, khi vào quán ăn hay nơi công cộng người Mỹ đều xếp hàng có trật tự, không chen lấn như ở Việt Nam, đây là văn hóa. Mặc dầu không hề quen biết nhưng khi gặp nhau ngoài phố, người Mỹ thường nở nụ cười thân thiện và chào hỏi mình nhiệt tình như đã thân nhau tự thuở nào. Ấn tượng nhất khi tôi nhìn thấy người Mỹ vừa nhâm nhi ly cà phê, vừa đọc báo ở trạm chờ xe bus đến sở làm. Tôi thầm nghĩ người Mỹ quí trọng thời gian như vậy thì đất nước họ không giàu mới là lạ. Trong khi đó ở Việt Nam người ta sống với khẩu hiệu bất thành văn:“ chân ngoài dài hơn chân trong”. Chân trong để giữ việc làm ở cơ quan, xí nghiệp với đồng lương chết đói, còn chân ngoài phải dài đủ để đi chạy chọt, mánh mung kiếm thêm thu nhập bên ngoài.
Khi vào trạm đổ xăng tôi thấy em tôi tự đổ xăng, tự trả tiền bằng thẻ ngân hàng là xong. Em giải thích ở Mỹ không những người ta tiết kiệm thời gian mà còn tiết kiệm nhân lực nữa vì tiền công lao động tính theo giờ và rất mắc. Ở đây người ta chi trả bằng thẻ tín dụng qua ngân hàng mà ít khi sử dụng tiền mặt. Phương tiện thanh toán này giúp cho việc lưu thông tiền tệ được nhanh chóng và dễ dàng, đồng thời thúc đẩy nền kinh tế mau phát triển. Khi tôi rời Việt Nam thì kỹ thuật tài chánh này chưa được phổ biến. Tệ hơn, nhà nước còn áp dụng chính sách bao cấp theo kiểu “xin, cho”, theo cái gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa: Ngân hàng trung ương giao định mức tín dụng cho từng ngân hàng thương mại theo từng thời kỳ. Ngân hàng nào cho vay hết định mức mà muốn tiếp tục thì phải mua thêm định mức, nếu không thì cứ việc “ngồi chơi xơi nước”! Được tiếp xúc với định chế tài chánh ngân hàng tư bản, có lẽ giờ đây Việt Nam đã có thay đổi, nhất là khi được vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO?
Sau một thời gian cùng với mọi người hội nhập vào xã hội Mỹ thì đề tài tôi viết đi sâu vào từng vấn đề của xã hội Mỹ hơn, từ vấn đề đơn giản đến vấn đề nhức nhối, phúc tạp nhất như nền giáo dục Hoa Kỳ, quản lý kinh tế ở Mỹ, chuyện láng giềng ở Mỹ, chuyện đi câu cá, đi chụp hình, chuyện sinh hoạt văn học, nghệ thuật, sinh hoạt tôn giáo, chuyện viết văn ở Mỹ,… Truyện “Tôi Và Nước Mỹ” Việt Báo đăng ngày 23/12/2001 được trao giải Đặc biệt năm 2002 với nhận xét “tinh tế trong cách nhìn và cách viết”. Bài này tôi viết sau sáu năm sống ở Mỹ. Tôi nói tôi đi Mỹ vì muốn cho hai đứa con tôi có tương lai chớ thật tình tôi không thích nước Mỹ về nhiều phương diện văn hóa, xã hội như bạo lực học đường, trụy lạc trong lối sống, kể cả chánh trị có nhiều điều khập khễnh, vì phe nhóm, đảng phái hơn vì nhân dân. Tôi có cảm giác như vậy khi biết Tổng Thống đắc cử George W Bush được 4,3 triệu thành viên của hiệp hội súng trường Hoa Kỳ NRA ủng hộ và nhận được quá nhiều tiền của họ trong khi vận động tranh cử. Thức ăn Mỹ thì hoàn toàn không thích hợp với tôi.
Biến cố ngày 11/09/2001 xảy ra đã làm thay đổi tất cả. Tổ chức khủng bố người Ả Rập Alqueda do Osama Bin Laden cầm đầu dùng 19 tên không tặc cướp bốn chiếc máy bay Boeing của hai hảng United Airlines và Amercan Airlines đâm vào tòa tháp đôi, bộ quốc phòng và nhắm thẳng vào tòa Bạch Ốc nhưng không thành, gây thiệt mạng hơn 6000 người dân vô tội. Tổng Thống George W Bush tuyên bố “Hoặc là các bạn đứng về phe chúng tôi hoặc đứng về phe khủng bố”. Nhiều người cho rằng nước Mỹ là đất thiên đàng, cũng có người nói là địa ngục. Từ Chicago, qua màn ảnh truyền hình tôi đã thấy rất rõ địa ngục thật sự đã diễn ra giữa trần gian, nhưng biến cố này làm cho người dân thức tỉnh và đoàn kết nhau hơn, và yêu nước Mỹ nhiều hơn, trong số đó có tôi.
Năm 2004 tôi có viết hai bài về Câu Lạc Bộ 309.81 ở Chicago. Cái tên rất lạ mà nhiều người chưa từng nghe thấy. 309.81 là ước số quốc tế để chỉ căn bệnh gọi là Hội Chứng Tâm Thần Sau Chấn Thương Và Tress (Post traumatic stress disorder syndromes) mà sau chiến tranh người lính thường mắc phải. Ở đây là người lính Việt Nam Cộng Hòa được sang Mỹ sau ngày 30/04/1975. Không phải họ bị ruồng bỏ, rẻ khinh nhưng có đời sống ầm thầm, lặng lẽ. Không phải họ điên khùng gì nhưng họ sống nửa mê, nửa tỉnh, lúc quên, lúc nhớ. Họ giận dữ, la hét, buồn vui thất thường mỗi khi họ nghe và thấy những hình ảnh của chiến tranh trong quá khứ ùa về. Hiện tại vẫn chưa có phương thuốc nào hữu hiệu dành cho họ trừ liều thuốc an thần khi cần thiết. Họ được tập họp, sinh hoạt chung dưới sự hướng dẫn của bác sĩ, các chuyên viên tâm lý học để cho căn bệnh không nặng thêm, không đưa tới kết quả tai hại hơn.
Các bạn trẻ, các bà, các cô và những ai muốn biết đời sống của người lính Việt Nam Cộng Hòa trong chiến tranh như thế nào có thể tìm đọc bài “Thư Gửi Người Lính Năm Xưa” để thương người lính hơn. Viết về người lính mà bỏ quên người vợ lính là một thiếu sót lớn. Tôi viết về “Chị Sui” của tôi khi chị 88 tuổi. Chị người Bắc di cư năm 1954, là vợ của một trung tá Hải Quân, làm việc ở Bộ Tư lệnh Hải Quân, bến Bạch Đằng, Sàigòn. Ngày chồng đi tù ngoài Bắc một tay chị ở nhà chạy ngược chạy xuôi, vừa lo miếng ăn cho bốn đứa con nhỏ, vừa tiếp tế, thăm nuôi chồng ngoài Bắc. Đồng thời chị còn chăm sóc cha mẹ và gia đình bên chồng, vì các anh em bên chồng đều là sĩ quan cao cấp và đi tù như chồng chị. Chị đã gom góp hết tiền bạc, chạy chọt lo cho chồng về sớm. Năm 1980 anh được tha chị lại lo cho anh vượt biên. Khi tới được nước Mỹ thì chồng chị bảo lãnh cho chị và các con qua Mỹ theo diện ODP, nhưng sau đó lại bỏ chị và bốn đứa con để chạy theo người đàn bà khác. Chị ở vậy nuôi con ăn học thành tài, ai cũng yên bề gia thất. Năm nay chị đã ngoài 90 và còn khỏe mạnh. Câu chuyện về chị sui tôi không chỉ có ý nghĩa trong gia đình mà còn có ý nghĩa lịch sử: “Khi nước mất thì nhà tan”. Chị là người vợ lính tiêu biểu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vì sa cơ, thất thế mà phải gánh chịu nhiều đau thương, mất mát từ sau ngày oan nghiệt đó, kể cả sau khi đặt chân tới nước Mỹ. Chúng ta đã có tượng đài người lính VNCH, tại sao không có tượng đài của người vợ lính, hay ít nhất cũng có một ngày để vinh danh những người vợ lính? Đó là điều mà tôi trăn trở. Các đảng phái, các tổ chức đấu tranh, các hội đoàn, đoàn thể nghĩ sao?
Năm 2005 tôi viết “Chuyện Vượt Biên”, Việt Báo đăng hai kỳ với nhận xét “truyện kể rất sống động và xúc động về cuộc vượt biên với đầy đủ thảm cảnh giông bão, hải tặc và những di lụy sau đó ”. Đây là bài viết theo lời kể của chị sui tôi về cuộc vượt biên năm 1985 của chồng chị. Bài này không những giúp bạn đọc hiểu được thảm cảnh của thuyền nhân sau ngày 30/04/1975 mà còn hiểu được định mệnh nó cay đắng, khắc nghiệt như thế nào. Tại sao chị sui tôi và ông chồng phải chia tay sau khi hai người đã trùng phùng tại Mỹ vào năm 1991: Chồng chị và người đàn bà thứ ba đã gặp nhau và cưu mang nhau trên con tàu vượt biên và người này đã có con với chồng chị. Khi ba người giáp mặt nhau thì người đàn bà ngỏ ý trả chồng lại cho chị, nhưng chị sui tôi cương quyết không nhận. Chị nói nếu anh không ra khỏi nhà thì chị cắn lưỡi mà chết. Câu chuyện thật nhưng tưởng chừng như là tiểu thuyết! Phải nói tôi là người may mắn được chị sui tin tưởng và kể hết câu chuyện của đời chị cho tôi nghe. Tôi suy nghĩ hoài mà vẫn không tìm ra được câu trả lời thỏa đáng cho thắc mắc của mình. Trách anh, trách chị hay trách người đàn bà kia? Suy ra cho cùng thì chẳng ai có lỗi, chẳng ai muốn như vậy. Chẳng qua là không ai có thể vượt lên được cái số của mình?
Cảnh nước mất nhà tan, gia đình phân ly trên nước Mỹ này không phải là hiếm nhưng câu chuyện giống như của chị sui tôi phải nói là đặc biệt và không phổ biến. Sau ngày 30/04/1975 người Việt tị nạn tản mát khắp nơi trên thế giới, khi có cơ hội gặp và giúp đỡ nhau thì ai cũng sẵn sàng. Trong nhóm bạn già của tôi có một cựu quân nhân sinh năm 1942, tên là Nguyễn Thắng Thương không vợ không con, sống một mình trong căn phòng ở tầng thứ 14 của một cao ốc do nhà nước cấp. Từ năm 2012 anh bị ung thư hạch. Năm 2017 bệnh tình anh trở nặng. Bệnh viện địa phương cử một y tá đến tận nhà chăm sóc cho anh. Y tá Linh Nguyễn sinh năm 1971 cùng ba mẹ đến Mỹ năm 1992 theo diện HO-10. Trên nguyên tắc mỗi ngày y tá phục vụ bệnh nhân hai tiếng đồng hồ. Thực tế cháu Linh túc trực chăm sóc anh Thương có ngày lên đến 8 tiếng cho đến khi anh mất vào tháng 4 năm 2023. Cháu Linh và nhóm bạn chúng tôi cùng nhau lo hậu sự cho anh Thương. Có một điều cần nói rõ về cháu Linh: Bản thân cháu Linh cũng bị bệnh tim và suy thận từ năm 2001, đã chờ đợi 10 năm trong một danh sách 1500 người mới được thay thận vào năm 2020. Người hiến tặng quả thận cho cháu Linh là một bà Mỹ trắng. Chi phí ghép thận trên một triệu đồng do bảo hiểm chi trả. Trong lúc chăm sóc cho anh Thương, cháu Linh vẫn phải đi lọc thận ba lần một tuần, mỗi lần 4 tiếng đồng hồ. Tôi gọi nghĩa cử cao đẹp như cháu Linh là “ Tình Người Viễn Xứ”. Viễn xứ là xứ ở xa, Hoa Kỳ cách Việt Nam đến nửa vòng trái đất với nhiều sắc dân từ các châu lục khác nhau mà người ta cư xử với nhau thật là tình nghĩa, cho dầu không có họ hàng, bà con thân thiết gì với nhau. Có người đã hiến một phần thân thể của mình cho người xa lạ như bà Mỹ trắng kia đã hiến một trái thận của mình cho cháu Linh và cháu Linh đã giúp đỡ tài chánh để cứu rất nhiều người ở Việt Nam, đã hy sinh phục vụ không điều kiện để chăm sóc cho anh Nguyễn Thắng Thương.
Điều gì đã khiến người ta làm như vậy? Tùy vào tín ngưỡng và góc nhìn, mỗi người sẽ có cách lý giải khác nhau. Dầu đứng trên quan điểm nào chúng ta cũng có lý do để tin rằng giữa cảnh đời bon chen và phức tạp này còn có những gì thiêng liêng cao quí. Cuộc đời này vẫn rất tốt đẹp và đáng sống biết bao, nhất là ở nước Mỹ này!
Không những viết về những người thân quen, tôi còn viết về những người xa lạ như “Joe Và Những Con Bồ Câu”. Joe là một người Mỹ trắng, không vợ, không con, ở một mình trong một chung cư trên đường Arthur ở Chicago. Lúc nhỏ ông sống thiếu tình thương trong gia đình. Cho nên suốt đời ông chỉ làm mỗi một việc là đi rao giảng tình thương. Một sáng mùa Đông tôi gặp ông ngồi một mình với lũ bồ câu bên vệ đường. Lúc đó ông đã 77 tuổi và nói đã ngồi đây với lũ bồ câu từ mười một năm trước, báo chí gọi ông là “pigeon man”. Tôi hỏi ai là bạn thân nhất của ông bây giờ. Ông nói đó là thánh St Francis of Assissi. Đây là vị thánh Thiên Chúa Giáo La Mã, sinh năm 1181, mất năm 1226 ở Ý. Vị thánh này có lòng yêu mến đặc biệt với thiên nhiên, thú vật. Ông cổ vũ cho Hòa Bình, Công Lý nhằm chấm dứt bạo loạn, chiến tranh, nghèo khổ và áp bức. Ông Joe khen tôi chụp hình đẹp và muốn có một tấm hình với lũ bồ câu. Khi tôi thực hiện được thì ông đã mất trong tai nạn trên đường đến với lũ bồ câu vào tháng 9 năm 2022. Có một điều lạ là ông đã trút hơi thở cuối cùng ở bệnh viện có tên là Francis of Assissi, vị thánh mà ông tôn thờ và học theo. Bài viết này của tôi đã lấy đi nước mắt của rất nhiều độc giả.
Chuyện “ 43 Năm Bây Giờ Mới Kể” tôi viết về một gia đình mười người gồm có hai ông bà và tám người con, đứa nhỏ nhất lúc đó 10 tuổi. Họ đóng 145 cây vàng để đi vượt biên bán chánh thức từ tháng 12/1978 đến đảo Pulau Bidong ở Mã Lai rồi đến Chicago tháng 9/1979 cho tới nay. Bốn mươi ba năm sau ông bà mới kể tôi nghe để viết lại chuyện này. Khi tới Mỹ hai ông bà làm đủ thứ công việc để nuôi nấng, lo cho con ăn học. Giờ đây ai cũng thành tài và đều đã có gia đình gồm có sáu kỹ sư, một bác sĩ và một nha sĩ. Lúc đi gia đình có 10 người bây giờ tăng lên đến 39 thành viên trong đó có 21 đứa cháu nội ngoại. Bài viết của tôi không nhằm đề cao một gia đình thành đạt nơi xứ người mà muốn chia sẻ với mọi người, muốn mọi người cùng biết về một gia đình chuẩn mực, đạo đức và gương mẫu, đã đóng góp rất nhiều công sức và tiền bạc để giúp đỡ và xây dựng cộng đồng gần 50 năm qua. Theo yêu cầu của gia đình, tôi không đưa tên của họ lên mặt báo. Năm nay ông đã 94 còn bà 88, sức khỏe không còn như mấy năm trước.
Âm nhạc đóng vai trò gì trong đời sống chúng ta? Đó là chủ đề của bài viết “Âm Nhạc Và Đời Sống”. Lần này tôi viết về một người bạn lâu năm của tôi tại Chicago, anh Phạm Châu Nam, dược sĩ, có tiệm thuốc tây trên đường Argyle, nằm trong khu phố người Việt nổi tiếng của tiểu bang Illinois. Là doanh nhân mang tâm hồn nghệ sĩ. Anh Nam thường dùng lời ca tiếng hát của mình phục vụ cộng đồng mỗi khi có dịp. Năm 2003 đài truyền hình SBTN ở thành phố Garden Grove, Nam California có tổ chức cuộc thi tiếng hát truyền hình lấy tên là “Tiếng Hạc Vàng”, dành cho mọi người từ 55 tuổi trở lên. Ngoài mục đích tạo ra sân chơi lành mạnh cho người lớn tuổi, nó còn nhằm bảo tồn nền văn hóa dân tộc đầy tính nhân bản của Việt Nam Cộng Hòa. Nửa thế kỷ đã trôi qua, chính quyền mới bằng nhiều biện pháp cấm đoán hòng tiêu diệt nền văn hóa đó nhưng nó vẫn tồn tại và phát triển mạnh ở trong nước và cả hải ngoại, vì nó đã thật sự đi vào lòng người. Cuộc thi thu hút đông đảo người tham dự, kể cả những người từ các quốc gia xa xôi như Pháp, Đức, Thụy Điển, Úc, Canada, Việt Nam. Anh Nam cũng có ghi danh tham dự. Không may cho anh, căn bệnh ung thư máu của anh trở nặng. Gia đình chuyển anh về Cali nơi có khí hậu và thời tiết ôn hòa hơn để tịnh dưỡng. Sống ở Cali nhưng anh điều trị ở MD Anderton, Houston Texas, một bênh viện có tiếng chuyên về ung thư. Tưởng đâu phải bỏ cuộc nhưng cuối cùng anh Nam đã giành được hai giải nhất, một của ban giám khảo và một do khán giả bình chọn. Điều gì và bằng cách nào mà anh Nam đã làm được như vậy? Nếu cư dân Chicago vui và tự hào về anh Phạm Châu Nam bao nhiêu thì cũng thương và ngưỡng mộ chị Minh Tâm, vợ anh bấy nhiêu. Xin cám ơn chị. Riêng người viết bài này thì muốn chia sẻ với mọi người một tấm gương tốt về người thật, việc thật ở địa phương mình, muốn ca ngợi sự dũng cảm và lạc quan của anh chị, và muốn gửi ra một thông điệp là tình yêu âm nhạc, nỗi đam mê nghệ thuật thì không có tuổi, nó có khả năng vượt qua và chiến thắng mọi khó khăn và trở ngại, kể cả bệnh tật, dầu là căn bệnh nguy hiểm nhất.
“Sống Ở Mỹ Sướng Hay ở Việt Nam Sướng?” Đây là câu hỏi mà nhiều người đặt ra mấy năm gần đây khi mà có nhiều Việt kiều Mỹ hầu hết là đã nghỉ hưu, trở về sống lâu dài ở Việt Nam. Những người này không những hết lời ca tụng Việt Nam một cách ngây ngô mà còn đặt điều, chê bai, nói xấu nước Mỹ thậm tệ. Tư Mã Thiên, nhà sử học thời nhà Hán ở Trung Quốc có nói “bất bình tắc minh”. Còn tôi thì nghe những điều trái tai gai mắt, thấy khó chịu quá nên phải lên tiếng. Sau 1975 do hoàn cảnh, tôi có cơ hội sống và làm việc trong các cơ quan nhà nước Cộng Sản trên 20 năm. Mấy năm gần đây tôi cũng thường xuyên về Việt Nam đi chụp hình từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam cho nên tôi rành Việt Nam và hiểu Việt Nam lắm. Do đó tôi có cơ sở để phân tích, nhận định, và kết luận vấn đề một cách trung thực và khách quan hơn nhiều người thường nhận định theo cái nhìn thông thường và chủ quan của mình. Thực tế có nhiều người đang ở Việt Nam nhưng nói sống ở Mỹ sướng, ngược lại có người đang ở Mỹ mà nói sống ở Việt Nam sướng trong nhiều trường hợp rất cụ thể và lý thú. Họ là ai? Câu trả lời nằm ở đoạn kết bài viết ngày 30/07/2024 của tôi.
25 năm viết về nước Mỹ đối với một người đã 83 tuổi như tôi, nếu có chắc cũng không nhiều. Với tôi, đó là phần thưởng cao quí không có gì bằng. Tôi viết không phải để tranh giải với các bạn trẻ mà để thỏa mãn đam mê, để chứng tỏ rằng mình vẫn còn tồn tại, vẫn sống mạnh mẽ và có ý nghĩa với bản thân, gia đình và với cộng đồng mà mình yêu mến. Một lần nữa tôi phải cám ơn Việt Báo đã tạo cơ hội, đã dành cho tôi và nhiều người một sân chơi lành mạnh và trí tuệ có tên VVNM, nơi gìn giữ, bảo tồn và phát triển chữ Việt, tiếng Việt, nơi mà mỗi ngày tôi có thể đọc được một bài viết, một câu chuyện mới mẽ và lý thú. Từ đó tích lũy, làm giàu thêm vốn sống của mình. VVNM nơi mà mọi người có thể tự do bày tỏ suy nghĩ, nỗi niềm và khát vọng của mình trên bước đường hình thành và xây dựng cộng đồng trên miền đất mới, nay đã là quê hương thứ hai.
Tiêu chí số một đặt ra cho mỗi bài viết của tôi là ý nghĩa thông điệp mà tôi muốn gửi ra cho mọi người. Sống ở Mỹ, viết về nước Mỹ nhưng không bao giờ quên cội nguồn, gốc rể, nơi mình sinh ra và lớn lên, nơi có nền văn hóa và phong tục, tập quán cao quí của người Việt đang bị bức hại bởi người Cộng Sản dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa xa lạ ở Quê Nhà nhưng rất quan trọng và hết sức cần thiết ở Quê Người.
Duy Nhân
No comments:
Post a Comment