Monday, April 29, 2019

“Hòa bình rồi sao Ngoại chết chi dzậy!”

Hoàng Chính 

“Chúng nó đến rồi! Chúng nó đến nơi rồi!” Bà hàng xóm – nhà ở tận cuối ngõ – vừa chạy từ đầu ngõ vào, vừa hớt hải gào không ra hơi.

“Đến đâu rồi?” Bà cụ nhà bên ngóng cổ ra khỏi cửa, hỏi.

Một tràng súng liên thanh lốp đốp nổ. Tiếng đạn chiu chíu bay, nghe như tiếng ai dùng móng tay tuốt sợi dây cước.

Bà hàng xóm đứng sựng lại, trợn tròn con mắt, hai tay ôm chặt lấy ngực, miệng há hốc ra thở, “Gần lắm rồi! Gần lắm rồi!”

Con bé em vừa chạy ra tới cửa, thụt ngay lại nhưng cũng cố ngóc cổ ra, “Gần lắm là ở đâu vậy bác?”

Người đàn bà lắc đầu quầy quậy, “Hết rồi! Hết cả rồi!”

Mẹ ở tận dưới bếp, gọi với ra, “Có vào phụ mẹ một tay hay không, con bé kia?”

Bố đi ra đi vào. Cái radio cầm chắc trong tay như sợ nó sẽ biến đi bất cứ lúc nào. Dưới bếp tiếng nồi niêu bát đũa chạm vào nhau lanh canh. Mấy đứa em luống cuống không biết làm gì. Tôi cũng đi ra đi vào. Rồi tôi đứng. Tôi cũng không biết làm gì. Tôi nhìn mẹ, nhìn qua bố, rồi nhìn lũ em. Qua cánh cửa mở toang. Tôi thấy những con ruồi bay vòng vòng. Vẫn những con ruồi của mọi ngày. Nắng vẫn lên cao trên khóm tre trước nhà. Con mèo vàng lại vừa bắt được một con gián từ rãnh nước trước nhà, nó tha con gián vào bậc thềm, thả cho đi, rồi vồ bắt lại. Bà hàng xóm vẫn đứng trước sân, cúi gập thân người xuống để thở. Miệng lẩm bẩm. “Hết thật rồi!”

Bà cụ nhà kế bên vẫn lom khom chờ câu trả lời của bà hàng xóm cuối ngõ. Con bé em cũng nóng ruột, đầu vẫn thò qua khung cửa, “Chúng nó đến đâu rồi bác?”

“Đến ngã tư chợ rồi! Chúng nó bắt…”

“Bắt ai hở bác?” Con bé em xớn xác.

Một tiếng nổ vang làm rung rinh những cành tre đang đu đưa trong nắng, phá vỡ cái lao xao buổi sáng. Người đàn bà ngồi thụp xuống sân. Hai tay kéo cái nón, che vội lấy đầu.

Con bé em chạy ra kéo người đàn bà, “Vào đây đi bác ơi.”

Người đàn bà đổ xuống trong cánh tay yếu ớt của con bé. Tôi chạy ra phụ với nó kéo người đàn bà vào nhà. Tôi nhìn lướt thật nhanh thân thể bà ta. Chỉ thấy lớp da nhăn nheo. Và mớ áo quần nhăn nhúm. Không chỗ nào loang đỏ. Không lạc đạn. Vậy là mừng. Nhưng thân hình gầy guộc của người đàn bà bỗng dưng nặng như cối đá. Chúng tôi ì ạch kéo bà vào nhà.

Cửa đóng sập lại. Bóng tối ập lấy căn nhà. Bố đứng ở góc nhà, loay hoay rà đài trên cái máy thâu thanh. Bố bảo cái đài bố đang nghe tự nhiên bị cắt mất. Tôi với con bé em đỡ người đàn bà ngồi xuống chiếc ghế đẩu.

“Chúng nó bắt ai hở bác?” Mẹ ngẩng đầu lên khỏi chỗ cơm đang vắt thành nắm, hỏi.

Người đàn bà vẫn ôm chặt lấy ngực, “Thanh niên. Chúng nó bắt thanh niên đi trước…”

“Để làm gì hở bác?” Con bé em tròn mắt.

“Để làm bia đỡ đạn chứ còn làm gì nữa!” Người đàn bà trừng mắt nhìn con bé.

Tôi chờ cái câu kế tiếp. Nhưng bà hàng xóm không nói thêm cái câu cửa miệng bà vẫn dùng để mắng thiên hạ. “Sao mà ngu thế!” Giờ phút này ngu hay không thì cũng cùng chung số phận. Tôi nghĩ.

Mẹ bỏ vội nắm cơm xuống đĩa, “Bắt thanh niên à bác?”

“Bắt thanh niên đi trước, chúng nó đi sau để lính mình không dám bắn…”

Ngực tôi thắt lại. Tôi nhìn bố. Bố nhìn tôi. Tôi đọc trong mắt nhìn của bố niềm tuyệt vọng của con bệnh trong phút lâm chung không nói lên được một lời trăn trối. Tôi nhìn mẹ, bắt gặp trong ánh mắt mẹ chao chao nỗi sợ hãi.

“Anh phải trốn đi thôi,” con bé em nói.

Mẹ lẩm bẩm, “Biết trốn đi đâu bây giờ?”

“Vào nhà thờ. Hồi Mậu Thân mình cũng vào nhà thờ đấy, có Chúa, có Đức Mẹ…” Con bé em nhanh nhảu. Dù hồi chạy loạn Tết Mậu Thân, mẹ còn bế đứa bé gầy như que củi là nó trên tay.

“Chúng nó mới pháo kích sập tháp chuông nhà thờ dưới ngã tư đấy!” Bà hàng xóm cảnh báo, tay vẫn chèn cái lồng ngực lép kẹp.

Tiếng rột roạt tĩnh điện phát ra từ chiếc máy thâu thanh của bố. Và giọng xướng ngôn viên xớn xác, ngột ngạt như người ngạt mũi. Rồi giọng ai đó đều đều như tiếng đứa con hoang đàng vừa mới trở về, đang lẩm nhẩm những lời tạ tội với mẹ cha.

Bố ép sát tai vào cái máy sắp hết bin.

Rồi bố bỏ cái máy thâu thanh quý giá của bố xuống bàn. “Bà ấy nói đúng. Hết rồi! Đầu hàng rồi!”

Và bố thở dài.

Mẹ nhìn tôi. “Phải đi thôi con à.”

Hồi nãy, trên đường chạy về nhà, tôi thấy người ta đổ xô ra đường. Chạy tới chạy lui, chạy xuôi, chạy ngược. Toàn người là người. Kẻ chạy hướng bắc, người chạy phía nam. Đông tây nam bắc chả còn đâu là phương hướng. Người ta réo gọi nhau trong tiếng súng lẻ tẻ vung vãi, trong tiếng đạn pháo kích bất kể nơi nào, trong tiếng động cơ gào rú của những chiếc xe nhà binh mà trên ấy chất đầy những người không mang áo lính; giữa khói đen mịt mù, trong mùi khét của nhà cửa bị cháy thiêu, của thịt người bị đốt.

Tôi cắn môi, “Biết đi đâu bây giờ?”

Biết đi đâu bây giờ! Câu hỏi chạy vòng quanh trong đầu.

Nhưng rồi chúng tôi cũng tìm được câu trả lời.

Mẹ chèn nắm cơm trong cái hộp nhựa. Gói giấy nhỏ đựng muối mè nhét một bên. Một cuốn sách giáo khoa, The Merck Manual; sách gối đầu giường của sinh viên trường Y. Và mẹ làm dấu Thánh Giá lúc tôi đẩy chiếc xe gắn máy ra khỏi cửa. Tôi vừa đạp máy, sắp sửa sang số thì mẹ gọi giật lại, “Còn quên cái này!”

Con bé em chạy ra quàng cái ống nghe lên vai tôi. Nó vẫn thích hình ảnh anh mình mặc áo blouse trắng, ống thính chẩn vắt ngang vai. “Cẩn thận nhé anh!” Con bé dặn. Tôi thoáng thấy tia nhìn đục ngầu lo âu trong mắt nó. Tôi gật đầu, gỡ cái ống nghe xuống, nhét vội vào cái túi vải. Và tôi lao mình vào cái hỗn loạn chưa từng thấy.

Sài Gòn của tôi đang hấp hối. Việt Nam của tôi đang đổ xiêu vào phút sinh thì.

Người và người. Trước mặt đầy người. Sau lưng cũng chật cứng những người. Tôi luồn lách trên đường phố chật cứng những người và xe cộ. Những chiếc xe hung hãn leo cả lên lề đường, cán nát những khóm hoa. Những chiếc xe cuồng nộ lủi vào những chiếc xe gắn máy chạy chậm phía trước. Người ngã gục. Những vòi máu phun tung tóe mặt đường tráng nhựa. Máu tuôn vào những ổ gà trên phố. Máu kéo thành những vệt dài đến những khung cửa đóng chặt. Những chiếc xe phóng như bay trên phố, với bọn rừng rú đeo băng vải màu đỏ ở cánh tay này, và súng AR-15 hay AK-47 ở tay kia. Những tràng đạn bắn lên trời. Tiếng súng lẫn vào tiếng hò hét của những con thú sổng chuồng.

Tôi vào bệnh viện. Bao nhiêu người bị thương, bao nhiêu chết ở giờ phút cuối cùng của chiến tranh. May ra tôi có thể cứu được một vài người. Những con người vô tội. Tôi vội vã khóa cổ, khóa chân chống chiếc Honda Dame bố mẹ mua cho ngày thi đậu vào trường Y trong bãi đậu khu sinh viên thực tập, và tất tả băng qua sân bệnh viện. Một tràng đạn nổ dòn. Tôi cúi đầu tuông chạy. Tiếng đạn xé gió trên cao. Lũ lâu la nhặt được súng, chuyền tay nhau bóp cò. Tôi len lỏi, luồn lách giữa đám người xớn xác trong hành lang bệnh viện, chạy vào phòng cấp cứu. Tôi trượt chân trên vũng máu loang cửa phòng cấp cứu, loạng choạng vung tay đập vào thành cửa đau nhói.

Một dãy xác người nằm nghiêng ngả trên nền nhà loang lổ. Tôi trợn tròn mắt nhìn. Những thân người nhúc nhích. Không phải là xác chết. Không có ai chết. Hay đúng hơn là chưa có ai chết. Những hình người đứng, ngồi nhấp nhổm trên những thân xác co quắp hay duỗi dài trên nền gạch hoa lấm lem. Tiếng rên rỉ, tiếng la hét, tiếng réo gọi, tiếng khóc trộn lẫn nhau thành một khối kinh hoàng.

Một người đàn ông khoác áo choàng trắng đang loay hoay trên một xác người. Những dây truyền nước biển đan vào nhau rối mắt. Người đàn ông khoác áo choàng trắng ngước lên. Chúng tôi nhìn nhau. “Vào tìm thêm nước biển, mau lên!” Người đàn ông nói như gào.

Tôi cuống cuồng luồn lách giữa những thân người.

Kéo vội cái ống nghe, quăng đại cái tủi vải vào góc phòng, tôi cuống cuồng khoác chiếc áo blouse lên người.

Một cô gái khoác áo blouse trắng loang máu đỏ hình dạng bàn tay với những ngón dài vạch trên lưng áo. Cô đang xớn xác mở tung những ngăn tủ đựng thuốc và dụng cụ y khoa. Tôi chạy đến bên cạnh. “Còn nước biển không?”

“Hết sạch rồi!” Cô gái quay lại nhìn tôi, cánh tay buông thõng hai bên thân người. Tôi nhìn vào từng ngăn tủ trống trơn. Bao nhiêu là chai đựng nước biển, bao nhiêu là bọc plastic chứa dịch truyền, tất cả đều đã hết sạch.

Tôi chạy ra chỗ người đàn ông, cố tránh để không dẵm lên những thân người vặn vẹo, “Hết sạch rồi!”

Người đàn ông vẫn loay hoay làm hô hấp nhân tạo cho một bà cụ. Tiếng khóc tiếng la xớn xác từ hành lang đổ vào cửa phòng cấp cứu. Hết thuốc, hết nước biển, hết tất cả mọi thứ mà bệnh nhân càng lúc càng đông.

Tôi ngồi xuống bên cạnh người đàn ông áo trắng. Tôi đọc vội cái tên thêu bằng chỉ đỏ trên túi áo anh. Bác Sĩ Phước. Bà cụ mà anh làm hô hấp nhân tạo vẫn trợn trừng hai con mắt, và thân thể cứng đờ.

“Em đi tìm thật nhiều vỏ viết BIC nhé. Mình làm tracheotomy!” Bác sĩ Phước nói.

Tôi đứng bật dậy. Cô gái khoác áo blouse trắng chạy tới bên chúng tôi, “Hết sạch rồi!”

Hết rồi; hết sạch rồi! Điệp khúc ấy vang vọng suốt phần đời còn lại của tôi.
Tôi nhìn ngôi sao thêu bằng chỉ đỏ trên ngực áo cô gái. Cô sinh viên năm thứ nhất. Tôi nhìn qua anh bác sĩ đang vuốt mắt cho bà cụ. Giờ này người ta chạy ra bến tàu, chạy vào Tòa Đại Sứ Mỹ. Anh với cô sao lại ở đây? Và tôi nữa, cậu sinh viên y khoa với ba ngôi sao trên túi áo, sao lại chạy vào đây?

Chúng tôi lục lọi tất cả hộc tủ, chúng tôi chạy lên các trại bệnh. Nhân viên y tế đi đâu hết cả thế này! Chúng tôi mở banh những hộc tủ và lục soát hung hăng như hai đứa cướp cạn. Gom tất cả những cây bút nguyên tử, chúng tôi tháo ruột bút bỏ lại, chỉ lấy cái vỏ ngoài. Bao nhiêu là bệnh nhân bị thương tích ở mặt, ở cổ, ở ngực… đường hô hấp bị tắc nghẽn. Để vậy nạn nhân sẽ chết ngạt. Chúng tôi dùng dao mổ khoét một lỗ ở cuống họng, chúng tôi nhét cái vỏ bút BIC vào khí quản. Bệnh nhân (hay nạn nhân) thở khì khọt qua cái vỏ bút BIC. Biết đâu rồi họ sẽ sống sót, qua cái thời khắc ngặt nghèo.

Chúng tôi chạy tới chạy lui, chạy lên chạy xuống. Chúng tôi quên thời gian, chúng tôi không biết đói, chúng tôi không còn thấy mệt. Áo blouse của chúng tôi đỏ lòe đỏ loẹt. Chúng tôi nói bằng giọng khao khao không còn hơi hướm. Chúng tôi không còn thuốc men, không còn nước biển. Nạn nhân mất máu chúng tôi khâu vết thương cho máu thôi chảy; hết chỉ để khâu, chúng tôi dán mép vết thương bằng băng keo; hết băng keo, chúng tôi xé áo, xé quần họ làm băng; nhưng không có nước biển chúng tôi đành truyền cho nạn nhân và thân nhân họ niềm hy vọng.

Một trái đạn pháo kích nổ đâu đó thật gần. Đất cát và mảnh đạn ném rào rào vào kính cửa sổ phòng cấp cứu. Tai tôi điếc đặc không biết bao lâu. Tiếng khóc bên ngoài nghe mịt mù xa xăm như vọng lại từ cõi khác. Lại những thân người được kéo lê trên nền nhà nhơm nhớp máu.

Tôi nhìn khu vườn kinh dị của những vỏ cây bút BIC mọc tua tủa lên từ những cổ họng con người. Khi cơn điếc đặc đã loãng đi, tôi thấy tôi chìm vào vùng âm thanh khọt khẹt tiếng thở đọng đầy đàm nhớt và máu từ những lồng ngực rạn nứt, qua những khúc cây nhựa màu trắng mọc lên từ những cổ họng khẳng khiu chen chúc giữa những bàn tay co quắp, cạnh những thân người tay xuôi tuyệt vọng.

Tiếng khóc rộn rã. Tiếng khóc của một cô gái nhỏ ùa vào phòng cấp cứu. Một người đàn ông và một người đàn bà kéo lê một thân người đã rũ xuống như hình nộm nhồi bông mà bông gòn bên trong ai đó đã moi ra hết. Cô gái – đầu tóc rối bù – lếch thếch bám theo cái hình nhân ấy.

Tôi nhìn quanh. Anh bác sĩ đang lúi húi cạnh một thân người. Cô sinh viên năm thứ nhất đang kiểm soát rừng cây bút BIC mọc trên cổ những thân người. Tôi nhìn cái hình người mà thân nhân vừa đẩy hai thân người nằm trên nền nhà sang hai bên lấy chỗ đặt xuống nền gạch bông loang máu. Tôi vạch mắt ông cụ. Con mắt trắng đục. Đồng tử dãn hết rồi. Tôi đặt ống nghe lên những chiếc xương sườn. Không có tiếng động nào ngoài tiếng đạn réo từng chặp bên ngoài, tiếng khò khè từ rừng cây bút BIC và tiếng khóc sụt sùi của cô gái. Tôi tìm động mạch cổ, tôi tìm mạch cổ tay. Tất cả lạnh băng và tĩnh mịch. Cái im lặng đáng sợ của Tử Thần.

Tôi ngước lên nhìn người nhà của ông cụ. Tôi không biết nói gì với họ. Rồi tôi lại nhìn xuống cái thân người khô khốc. Rồi tôi lại đặt tay lên cái lồng ngực trần trụi. Băng giá xoáy vào bàn tay tôi, len vào từng lỗ chân lông, buốt lạnh. Muộn rồi. Hết rồi!

Và tôi chống tay đứng dậy, hai mắt hoa đi trong giây lát. Cô gái lại khóc òa. Tôi nhìn cái bóng nhòe nhoẹt của cô. Khuôn mặt mếu xệch thảm thương. Chợt hai bàn tay mỏng mảnh vồ lấy hai mép cổ áo blouse tôi, giằng giật như người đi đòi nợ. “Bác sĩ cứu giùm Ông Ngoại em! Bác sĩ phải cứu Ông Ngoại em!”

Rồi hai bàn tay mỏng mảnh ấy buông cổ áo tôi ra, cái dáng nhỏ ấy ngồi thụp xuống bên xác ông cụ, “Ngoại ơi, hòa bình rồi mà Ngoại chết chi dzậy! Hòa bình rồi mà!” Và tiếng khóc nức nở ấy loang ra, bồng bềnh như con sóng, tràn ngập không gian phòng cấp cứu.

Tôi đứng đó. Tôi biến thành tượng đá. Tôi muốn hỏi cái hình người đang nằm trên nền nhà phòng cấp cứu, kế bên chỗ tôi đang đứng, và bao nhiêu người đang ngổn ngang trên nền gạch bông loang máu rằng hòa bình rồi, sao lại bỏ đi như thế!

Bất chợt cô gái đứng dậy, và lại vồ lấy hai mép cổ áo blouse tôi, giằng giật và nhìn thẳng vào mắt tôi, con mắt đen tròn tung tóe những tia lửa hận, “Bác sĩ tàn nhẫn lắm! Bác sĩ hổng cứu Ngoại tui! Ngoại tui chết là tui bắt thường bác sĩ cho coi!”

Tôi không cưỡng lại đôi cánh tay con gái. Tôi nín thở. Tôi lắc lư như gã bù nhìn quăng quật trong gió chướng. Người đàn ông có hai con mắt sâu hoắm tần ngần nhìn những thân người xếp lớp dưới chân. Những nếp nhăn chợt mọc đầy vầng trán. Người đàn bà để mặc nước mắt lăn dài trên má. Khi cơn gió thôi quăng quật, gã bù nhìn tôi lặng lẽ đứng nhìn. Cô gái buông tôi ra, quay qua người đàn bà, “Đưa Ngoại về cho rồi! Ở đây làm chi nữa!”

Ba người lại nhùng nhằng với cái thân thể gầy guộc của ông cụ. Họ len lỏi giữa những thân người la liệt trên nền gạch bông trơn trượt. Hai bàn chân đen đúa của ông ngoại cô gái kéo lê trên nền gạch, để lại một vạch màu nâu nhợt.

“Hòa bình rồi Ngoại ơi, hòa bình rồi, mắc mớ chi Ngoại chết Ngoại ơi!” Giọng con gái loãng ra và chìm dần vào vũng âm thanh hỗn độn cuối ngày.

Vài ống bút BIC bị nghẹt vì máu đọng, cô sinh viên tất tả đem vào nhà vệ sinh để thông cho hết nghẹt. Tôi nhìn những thân người sắp lớp cạnh nhau rồi quay qua anh bác sĩ, thì thầm, “Những người chết, mình phải làm sao đây?”

Anh bác sĩ khẽ lắc đầu. Và tôi biết mình hỏi cho có hỏi, thế thôi. Đừng để người đang chiến đấu với Tử Thần phải nằm cạnh những người đã chết. Tinh thần của họ bị ảnh hưởng và họ sẽ suy sụp nhanh chóng. Ai mà chẳng biết điều đó. Nhưng biết làm sao bây giờ. Ngày Sài Gòn hấp hối. Chúng tôi đếm không hết những người đã chết ngoài hành lang, trong phòng cấp cứu bệnh viện. Và phố xá ngoài kia. Và ở khắp nơi trên miền Nam nước Việt. Ngoài những tiếng cầu kinh rời rạc của thân nhân, không Linh Mục nào có mặt để xức dầu thánh cho họ, không Thượng Tọa, Đại Đức nào hiện diện để đọc cho họ một câu niệm Phật cuối đời, không bác sĩ nào có mặt để ký cho họ mảnh giấy khai tử. Chúng tôi ở đó. Một bác sĩ, một sinh viên y khoa năm thứ ba, một sinh viên y khoa năm thứ nhất. Chúng tôi sắp kiệt sức, sắp ngã gục vì kiệt sức, cũng có thể chúng tôi sẽ chết banh xác vì một trái hỏa tiễn 122 ly người ta bắn vào thành phố để dằn mặt những ai kháng cự.

Chập tối, tôi ra trước sân, tò mò nhìn những chiếc T-54 rầm rộ cày nát đường phố. Toàn thân nhức mỏi, tôi đi vào bãi đậu xe, bởi tôi không biết phải đi đâu. Hai gã thanh niên đang lẩn quẩn bên chiếc Honda Dame. Chúng làm gì với xe tôi thế này. Một đứa đỡ nghiêng chiếc xe qua một bên, đứa kia chĩa mũi súng M-16 vào ổ khóa. Rồi chúng dắt xe của tôi đi. Tôi thản nhiên đứng nhìn. Và tôi lủi thủi lẫn vào đám đông đang lũ lượt đi lên, đi xuống, đi qua, đi lại.

Phòng cấp cứu tanh nồng. Tiếng rên đan lẫn vào nhau, như tiếng côn trùng, tiếng giun dế sau cơn mưa. Cái ống nghe ban nãy để trên bàn làm việc, bây giờ mất đâu rồi. Một người đàn ông lảo đảo bước vào, dẵm lên cả những thân người xếp lớp trên nền nhà. Anh ta mặc độc một chiếc quần lính trận, bàn chân trần trụi lấm lem bùn đất. Cái thân người ấy áp chặt bàn tay lên một bên má đã lõm sâu, máu ứa qua những kẽ ngón tay. Máu đỏ loè trên ngực. Tôi đỡ vội lấy thân người ấy.

Tôi không biết tên người thanh niên ấy. Tôi không kịp hỏi anh ta câu nào hết. Vậy mà anh ta cũng cố lết được vào tới phòng cấp cứu. Chắc anh ta nghĩ bệnh viện là chỗ an toàn. Như hồi sáng mẹ tôi nghĩ vậy.

Tôi về nhà để bố mẹ và bầy em yên lòng. Xe tăng đã vào thành phố nghĩa là bọn họ không cần ai làm bia đỡ đạn nữa. Hơn nữa ở lại bệnh viện tôi cũng chẳng còn sức để làm bất cứ thứ gì. Tôi đón xe lam về nhà. Không dám nói cho bố mẹ biết là đã mất xe và mất cả ống nghe. Nhưng chuyện mất xe thì không giấu được. Tôi nhớ mãi những tiếng thở dài của bố mẹ. Bố mẹ chắc cũng nghĩ như tôi rằng những mất mát của mình có thấm vào đâu so với cái mất mát của của bao nhiêu con người trên nửa quê hương này.

Và tôi cũng không dám kể lại rằng có người nhà bệnh nhân níu áo tôi, bắt đền.
Buổi sáng hôm sau tôi cọc cạch xe đạp trở lại bệnh viện. Tôi vào chỗ giữ xe cho sinh viên thực tập. Một cô gái chặn tôi lại. Giọng nói hằn học, “Đi đâu vậy?”
Tôi nhanh nhảu, “Tôi đi thực tập. Tôi là sinh viên Y Khoa.”

“Đem xe đi chỗ khác.”

“Chị là ai vậy? Cái anh mọi khi vẫn giữ xe ở đây đâu rồi?”

“Tôi là sinh viên chi đoàn Văn Khoa.” Cô ta nói và giơ tay lên cho tôi thấy băng vải đỏ viền quanh cánh tay. Chi đoàn Văn Khoa. Tôi lạc hậu quá rồi. Cái tên chưa bao giờ bắt gặp.

Tôi nhì nhằng, “Lúc trước tôi vẫn gửi xe ở đây.”

“Bây giờ khác rồi!”

Tôi lầm lũi bỏ về. Tôi nhớ mãi câu nói ấy. Tôi nhớ mãi cái giọng gầm gừ của một sinh vật vừa mới gỡ bỏ cái vỏ duyên dáng của nữ sinh viên Văn Khoa Sài Gòn. Bây giờ khác rồi!

Mấy mươi năm qua, tôi vẫn không quên chốn ấy. Cái bệnh viện mà tên mới Trung Tâm Thực Tập Y Khoa luôn phải kèm theo tên cũ Nguyễn Văn Học khi chỉ đường cho ai đó. Tôi cũng nhớ hoài anh bác sĩ với cái tên vỏn vẹn một chữ Phước và cô sinh viên Y Khoa năm thứ nhất – mà hôm ấy – tôi không có thời gian và không còn tâm trí để đọc tên.

Ơi, những con người có tấm lòng nhân ái ấy! Mong họ được bình yên.

Và tôi vẫn tự hỏi sẽ nói gì với cô gái níu cổ áo tôi năm xưa, nếu như tình cờ gặp lại? Còn cái cô sinh viên Văn Khoa đeo băng đỏ ở chỗ gửi xe bệnh viện ngày cuối tháng Tư năm ấy, giờ này cô ấy ở đâu? Và dây băng đỏ đeo trên cánh tay có còn cất kỹ trong một ngăn ký ức? 

Thứ Bảy 20 tháng Tư, 2019.
Hoàng Chính
Cảm tưởng về Hà Nội 


Em thân yêu!

Anh tới Hà Nội đã được hai tuần rồi. Chắc em cũng biết, hai tuần trong đời một con người không đáng là bao, nhưng em cứ tin rằng hai tuần ở đây mang lại cho anh nhiều cảm xúc hơn hai mươi năm ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Thế giới của chúng ta rộng lớn và kỳ lạ, và Hà Nội có cả hai đặc tính đó, đã vậy còn kỳ lạ và rộng lớn một cách vẻ vang.

Đấy là một thành phố không lớn lắm em ạ, nhưng rõ ràng ai sống ở đấy cũng tự hào. Sự tự hào này có nhiều cách diễn đạt, ví dụ như có rất nhiều món ăn kiêu hãnh mang tên Phở Hà Nội, ô mai Hà Nội, bánh Trung Thu Hà Nội… Nhưng chủ yếu người đi đường thích nói mình là người Hà Nội. Có lẽ đấy là thành phố duy nhất có người trí thức, người nông dân, người nhập cư, người vãng lai và người Hà Nội.

Thành phố này có một khí hậu tuyệt vời, không nóng và không lạnh, không quá nắng và cũng không quá mưa. Và có sự âm thầm rất khó tả. Nếu nửa đêm, em có dịp đi bộ trên vỉa hè, nghe rõ từng tiếng bước chân mình và nghe lá cây trên đầu xào xạc, mùi hoa sữa (rất giống sữa tươi!) bay bay, cam đoan em sẽ có một cảm giác lâng lâng đến nghẹn ngào.

Kiến trúc ở đây có cổ kính, có hiện đại, có nửa cổ kính, nửa hiện đại, thậm chí có cả sự pha trộn cực kỳ phong phú ví dụ như cái cột thì cổ kính còn cái mái thì hiện đại. Điều ấy rõ nhất ở những vùng mới xây dựng ven đê. Đến nỗi anh vô cùng hối tiếc khi ngày xưa mình đã mất tiền đến Hy lạp và đến La mã để xem các công trình. Chỉ cần đến Quảng Bá là thấy tất cả.

Anh hay lang thang một cách hào hứng trên những con phố cổ ở trung tâm. Lang thang bằng đôi chân của mình vì đấy khéo là cách tốt nhất để nhẩy, để chạy, để nhón gót hoặc để luồn lách qua đủ các thứ xe cộ, quang gánh, hàng quán la liệt, phong phú, rực rỡ, lộn xộn, lơ lửng ở tứ phía.

Em sẽ không khi nào tưởng tượng nổi người ta có thể chất nhiều thứ đến thế và trưng bày nhiều thứ đến thế trên một vỉa hè nhỏ hẹp đến thế. Nếu anh là chủ một con tàu vượt đại dương, anh thề sẽ mời một người dân Hàng Ngang hay Hàng Đào làm thuyền trưởng vì ông ta có thể xếp một triệu khách lên một con tàu có sức chở một trăm người.

Tuy đi lại vất vả như thế, anh không khi nào thấy mệt em yêu ạ, vì chỉ cần di chuyển vài mét là anh có thể ngồi xuống, nghỉ ngơi ở một quán nước trà trên vỉa hè. Ai cũng tưởng trà đạo của Nhật là vô địch. Họ nhầm. Trà chén ở Hà Nội đúng mới là một tôn giáo thực sự.

Từ thanh niên đến ông già, từ ông xích lô đến ngài tiến sĩ đều có thể cầm cái chén bé xíu trong tay, ngồi cả ngày và uống kiên nhẫn từng giọt trà một (bởi nếu không uống từng giọt thì chả có cách nào ngồi lâu tới vậy!). Khi ngồi xuống đấy, qua các câu chuyện khách khứa trao đổi với nhau, anh cũng biết được toàn bộ tình hình Trung Đông, giá vàng, giá đô la, ai sắp làm tổng thống Mỹ và ai sắp trở thành hoa hậu. Rõ ràng đấy không phải là một quán nước thông thường, mà là những trạm phát thanh, do những người thành thạo, có tâm huyết đảm nhiệm một cách tình nguyện. Thậm chí, anh còn tin rằng, nếu em phản bội anh, đi với kẻ khác tại Paris, thì chỉ cần ngồi ở một quán nước vỉa hè anh cũng biết, vì chỗ này có đủ mọi tin tức trên đời, đã thế còn lan truyền cực nhanh.

Nếu không đi bộ thì anh đi xe. Thành phố này người ta dùng xe máy để đi và xe hơi để khoe, vì đi xe hơi có thể chậm hơn đi xe máy rất nhiều nhưng nhiều người vẫn mua với mục đích ra “oai”.

Anh không nhớ “oai” dịch ra tiếng Anh như thế nào nhưng ở tiếng Việt, từ ấy rất quan trọng. Tuy “oai” không phải thức ăn, không phải nước uống, càng không phải quần áo nhưng nhiều người thà không ăn, thà không uống, thà không mặc quần áo chứ cương quyết không “oai”. Họ có khả năng dành dụm, tích cóp, phung phí bất tận cho “oai” chứ không cho bất cứ gì khác.

Đi xe máy ở Hà Nội, theo anh, quan trọng nhất không phải cần biết luật giao thông, mà chỉ cần biết bấm còi và không giật mình khi nghe đứa khác bấm còi. Ngày đêm, tiếng còi xe vang vang trên từng góc phố, từng hàng cây, từng con đường, trở thành một bản nhạc hùng vĩ, bất tận. Anh có cảm giác bây giờ mà hạ cánh xuống Paris không nghe tiếng còi nữa, anh sẽ nghĩ đấy là một thành phố ma. Cũng như tất cả các thành phố hiện đại khác, ở Hà Nội có kẹt xe, và cũng như tất cả người dân khác, khi kẹt xe người ta phải nhăn nhó. Nhưng với tính sáng tạo bẩm sinh và khả năng nhanh nhẹn cao độ, dân Hà Nội lúc kẹt xe không ngồi im đọc sách hoặc cầu nguyện.

Họ phi lên vỉa hè, phi vào các ngỏ nhỏ và nếu có thể "phi" lên cả ngọn cây. Ai cũng phi và ai cũng tìm cách lách nhanh hơn người khác cho nên sự kẹt xe thường được tự giải quyết rất gọn gàng. Anh đặc biệt thích những lúc trời mưa, khi mà ngồi trên xe máy nước ngập ngang đùi, thỉnh thoảng có cảm giác một chú cá chạm vào chân, chưa khi nào ở trong thành phố mà anh gần thiên nhiên đến thế. Đã xuất hiện những tin đồn khi phố thành sông, có nhiều người đi làm về chỉ cần rũ ống quần là có nửa ký cá rơi ra, không cần mua ở chợ. Những người may mắn còn vớ được cả lươn. Còn ếch nhái thì nhiều vô kể. Nhưng ếch nhái thì tính làm gì?

Kỷ niệm sâu sắc nhất khi ở đây có thể xảy ra rất hồn nhiên, rất bất thình lình và rất đời thường lúc ta đến các tiệm ăn. Hà Nội có rất nhiều tiệm ăn, và có nhiều món ngon khủng khiếp, được chế biến cầu kỳ, truyền từ đời nọ sang đời kia.

Nếu như ở châu Âu, tới tiệm ăn phải đặt chỗ trước thì ở Hà Nội chỉ cần phải chuẩn bị tinh thần. Ở các tiệm ăn này, tiền bạc không là gì cả, chỗ ngồi không là gì cả, khách khứa cũng không là gì cả mà bà bán hàng là tất cả. Bà ấy có thể tươi cười (điều này khá hiếm), bà ấy có thể hầm hầm và mắng mỏ xa xả (điều này khá thường xuyên). Khách ăn không hề tự ái, và cũng không được tự ái bởi không ăn thì “biến” để đứa khác ăn.

Nhân tiện nói thêm "biến" là một từ rất phổ biến ở đây. Ta có thể bị kẻ khác hô “biến” ở bất cứ chỗ nào, kể cả lúc chia tay với người yêu. Nhưng chắc em cũng hiểu, phần lớn anh không biến vì anh đâu phải là thần thánh, anh chỉ đứng sững sờ.

Tất cả những chi tiết ấy chỉ chứng tỏ ẩm thực Hà Nội cực kỳ tinh tế và ngon miệng. Nó tinh tế đến mức để thưởng thức nó, khách hàng sẵn sàng hy sinh tiền bạc, thời gian, sức lực và đôi lúc cả danh dự của mình. Những món ăn này đã vượt lên trên những giá trị thông thường, trở thành thiêng liêng đến mức mọi thứ khác đứng cạnh đều trở nên tầm thường.

Nếu ở Paris, sau khi dùng bữa, hai đứa mình gọi hai cốc cà phê thì ở Hà Nội, hai đứa có thể ra “trà chanh chém gió”. Điều phi thường là thứ nước ấy chả có trà cũng chả có chanh. Nó có gì thì quỷ sứ cũng không biết nhưng ai uống cũng vung tay chém vào không khí trên vỉa hè khiến muỗi bay tán loạn. Ở các quán trà chanh này nếu anh có bảo mình là Tổng thống Pháp chắc cũng có người tin và nếu không tin cũng chả ai cười, vì ở đây mọi người đều có chức vụ cao hoặc quen với ai đó chức vụ cao.

Nói tóm lại, sau một ngày đi bộ, đi xe, ăn uống và chém gió, anh đã cảm thấy nhịp sống trẻ trung, say sưa, đầy sôi động của Hà Nội. Và anh nghĩ mình rất khó xa nơi đây, mình yêu nó từ lúc nào như yêu một cô gái dễ thương, vừa đỏng đảnh, vừa ngây thơ vừa phá phách, vừa nhí nhảnh vừa cau có, quyến rũ vô cùng.

Anh hy vọng em bỏ hết mọi thứ, bay sang đây với anh, và hai đứa sẽ nắm tay nhau đi dưới hàng cây, để hoa sấu (tên một loại hoa sinh ra quả vừa ngọt vừa chua) rơi lên tóc.

Anh của em

Pie.

Sunday, April 28, 2019

Trước khi trả lời ‘tiền nhiều để làm gì’, có lẽ nên tự hỏi ‘đi làm để làm gì’


Theo dkn.tv
Trước khi trả lời ‘tiền nhiều để làm gì’, có lẽ nên tự hỏi ‘đi làm để làm gì’
Jeff Bezos


Chắc hẳn phần đông câu trả lời sẽ là: “Để kiếm tiền chứ để làm gì!”. Nhưng thực tế lại chứng minh đó là một tư duy sai lầm. Chúng ta đã bị trúng lá bùa thiếu thốn, bị thôi miên bằng nỗi lo sẽ không thể sống tốt nếu không có đủ tiền. Và chúng ta vẫn đang tự lừa dối bằng sự ngọt ngào của cảm giác hưởng thụ và vị kỷ của chính mình.
Khi tiền là động lực duy nhất
Khi ai cũng nghĩ rằng ‘đi làm để kiếm tiền’ thì tiền sẽ trở thành mục đích duy nhất và cuối cùng của việc bỏ công sức ra để làm điều gì đó. Khi tiền là động lực thì tất yếu người ta sẽ chỉ chăm chăm làm mọi cách để kiếm được nhiều tiền. Và xã hội chúng ta đang sống đã chứng minh rằng: Khi làm bất kể công việc gì, nếu động lực duy nhất là vì tiền thì cùng với đạo đức thoái hóa đến kinh hoàng, điều gì người ta cũng sẽ dám làm chỉ để kiếm được nhiều lợi lộc hơn.
Chỉ vì tiền, mà bác sĩ khám bệnh qua loa cốt để kê đơn thuốc đắt đỏ ăn chia với nhà thuốc, dọa nạt, lạnh nhạt để người nhà bệnh nhân phải gửi “phong bì” mới chữa chạy tử tế. Chỉ vì tiền, mà quan tòa lật úp lật ngửa, thay trắng đổi đen khiến công lý trở thành luật rừng. Chỉ vì tiền, mà thầy giáo không dạy hết kiến thức trên lớp lại để dành tới lớp học thêm, dùng vị thế của mình bán điểm, vòi vĩnh cha mẹ học sinh. Chỉ vì tiền, mà cảnh sát giao thông lạm quyền để cướp trắng tiền nộp công quỹ từ người vi phạm. Chỉ vì tiền, mà nông dân làm nên những thứ “rau hai luống, lợn hai chuồng” đe dọa sức khỏe và sinh mạng của biết bao người…
Hiện nay, nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng luôn luôn là vấn đề nhức nhối của xã hội. (Ảnh minh họa: cachnaumonan)
Tư duy “đại nghĩa” lại mang đến thành công vượt bậc
Nhưng nhiều người thành công lớn lại đưa ra bí quyết của mình theo cách tư duy hoàn toàn ngược lại. Là một doanh nhân người Nhật, ông Inamori Kazuo dành cả đời thực hành triết lý “hãy cống hiến cho xã hội và sự phát triển của nhân loại”, nhờ đó thành lập nên tập đoàn công nghệ cao đa quốc gia Kyocera với 66.000 nhân viên và hãng viễn thông KDDI lớn thứ hai Nhật Bản.
Còn Steve Jobs, người đã làm thay đổi hoàn toàn cách dùng điện thoại thông minh, chia sẻ rằng ông lấy cảm hứng từ ban nhạc The Beatles với phương châm “thành công của cả nhóm luôn rực rỡ hơn thành công của từng thành viên” để xây dựng nên “đế chế” của mình. Đối với ông, “công việc không phải là công cụ để kiếm tiền mà là cùng các cộng sự ‘đem lại bước đột phá cho thế giới’” – (Trích Những viên ngọc quý sinh ra từ thất bại).
Ông chủ Amazon, đồng thời là người giàu nhất thế giới năm 2018, Jeff Bezos chia sẻ bài học thành công của mình rằng: “Có hai kiểu công ty, kiểu thứ nhất luôn cố gắng để lấy tiền của khách hàng và kiểu thứ hai luôn cố gắng giảm thiểu chi phí cho khách hàng. Chúng tôi là kiểu thứ hai”, “Chúng tôi có ba ý tưởng lớn tại Amazon và kiên định với nó suốt 18 năm, đó là lý do chúng tôi thành công: Hãy đặt khách hàng lên trên hết. Bình tĩnh và kiên nhẫn”.
Và chỉ bằng một câu đúc kết về giá trị lao động hay kinh doanh, giám đốc công ty Arirang-Ion Hàn Quốc, ông Huh Seong Yeol đã giải thích hành trình 17 năm bị coi là “kẻ điên rồ” khi nghiên cứu về nước cao năng lượng như sau:
Bất kể là làm nghề gì đều phải có một loại “cảm giác sứ mệnh” chứ không phải chỉ chăm chăm vào kiếm tiền, nếu không sẽ đem đến những hiệu ứng phụ diện khó mà tưởng tượng được.
Nhưng chính bởi tiền đã thay thế cho trách nhiệm và sứ mệnh, nên những hiệu ứng kinh hoàng mới lan tràn trong xã hội ngày nay: Bác sĩ không đề cao sứ mệnh cứu người. Thầy giáo không coi trọng sứ mệnh dạy dỗ con trẻ. Quan tòa không thấy tầm quan trọng của sứ mệnh duy trì công lý. Nông dân cũng không quan tâm tới sứ mệnh của người làm ra lương thực đối với xã hội… Ai ai cũng là phần tử nhỏ bé trong cộng đồng, mỗi người một việc đều cần làm cho tốt. Đem lại lợi ích cho người khác thì người khác cũng sẽ làm lợi cho bạn dựa trên sở trường và phương diện mà họ có sứ mệnh gánh vác.
Nhật Bản được cả thế giới ngưỡng mộ bởi sự hùng mạnh về kinh tế và bề dày của văn hóa. Vậy mà một doanh nhân trong bộ ba xuất chúng của lịch sử doanh nghiệp hiện đại Nhật Bản đã cảm thấy lo lắng cho đất nước mình từ rất lâu về trước. Ông cho rằng tinh thần Nhật Bản đang “ngày càng lụn bại làm cho người Nhật xấu xí đi”. Trong cuốn sách Con đường đi đến thành công bằng sự tử tế của mình, doanh nhân Inamori Kazuo đã viết lại câu thành ngữ Nhật Bản: “Tử tế không vì người” như một phương châm kinh doanh, để nhắc nhở người Nhật tránh xa việc trục lợi cá nhân mà đánh mất tinh thần dân tộc. Bởi đối xử tử tế với người khác thật ra là làm lợi cho chính ta, cuối cùng người hưởng lợi vẫn sẽ là ta. Ông cho rằng “lợi tha” (làm lợi cho người khác) chính là “toa thuốc hiện đại” cho người Nhật Bản trong cái “thời đại đang bệnh tật này” (Inamori Kazuo).
Doanh nhân Inamori Kazuo. (Ảnh: bloomberg.com)
“Tránh xa ham muốn, mài giũa lòng thành, cống hiến cho người” – Inamori Kazuo.
Ông mang theo tư tưởng “đại nghĩa” khi làm mọi việc, rằng doanh nhân phải mang sứ mệnh tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho tất cả nhân công, phải đưa ra những sản phẩm tốt nhất với giá tốt nhất cho khách hàng và đem lại lợi ích cho các cổ đông đã đầu tư và kỳ vọng ở doanh nghiệp.
Ông giải thích vì sao xã hội Nhật Bản ngày càng xuống dốc, rằng từ sau chiến tranh, ý nghĩa và giá trị của lao động có xu hướng đi theo quan điểm: “Mục đích cao nhất và đôi khi duy nhất của lao động là làm ra của cải vật chất. Theo cách hiểu đó chúng ta đã quen với suy nghĩ ‘làm việc để nhận thù lao sau khi đã cung cấp thời gian và sức lực của mình’… Cách hiểu đó đã sinh ra một suy nghĩ khác: Tốt nhất là làm sao để vừa nhàn nhã lại vừa kiếm được nhiều tiền”.
“Nhưng từ xa xưa, người Nhật Bản đã thấu hiểu ý nghĩa sâu xa và giá trị của lao động. Họ coi lao động là niềm tự hào, là giá trị sống, và biết rằng nhờ lao động mà tâm hồn con người trở nên phong phú… Bởi thông qua lao động quên mình vì lợi ích của người khác, sẽ mài giũa nhân cách và nâng cao tâm hồn của chúng ta, qua đó làm cho cuộc đời trở nên phong phú và tuyệt đẹp” – (Cách sống từ bình thường trở nên phi thường, Inamori Kazuo).
Khi bạn nghĩ rằng mình có thể nhàn hạ, không phải cống hiến gì mà vẫn kiếm được nhiều tiền, thậm chí có thể gây tổn hại tới lợi ích của người khác, thì đó là một sự ảo tưởng. Bởi có mất thì mới có được, có cho đi thì mới có nhận lại, có trách nhiệm thì mới có hồi đáp.
Văn hóa truyền thống mà trẻ em Việt Nam được học trên ghế nhà trường cách đây chưa tới 100 năm cũng nói rõ điều này:
“Ta cần phải có xã hội và xã hội đã giúp ta được nhiều công việc, thì ta cũng phải tìm cách mà trả nợ cho xã hội. Ta phải lưu tâm mà làm những việc ích lợi. Bất cứ làm nghề gì, đi cày hay đi buôn, làm quan hay dạy học, ta cũng phải dốc lòng làm cho hết cái chức trách của ta. Ta không nên thờ ơ chểnh mảng mà mang tiếng là lười nhác, không nên điên đảo giả dối mà mang tiếng là bất lương. Ta nên cố tìm cách canh cải mọi nghề nghiệp cho mỗi ngày một lương thảo hơn lên. Nghề của ta được tinh xảo, thì có ích riêng cho ta, mà lại lợi dụng cho cả xã hội nữa.” – (Trích Luân Lý Giáo khoa thư).
Bởi nước nổi thì bèo nổi, người khác được lợi thì ta mới được lợi, nào có chuyện mạnh ai nấy sống, chỉ cần lo cho bản thân mình? Mỗi người khi cố gắng có được nhiều lợi ích sẽ vô tình và/hoặc cố ý mà đẩy những điều bất lợi, xú uế ra ngoài xã hội. Cuối cùng, nó cũng sẽ quay trở lại làm hại bạn mà thôi.
Tiền bạc, của cải không phải là mục đích cuối cùng của lao động. Cống hiến bằng kỹ nghệ, công sức, thời gian của mình để mang lại lợi ích cho người khác, mài giũa tâm hồn và khẳng định giá trị tốt đẹp của bản thân mới là động lực đúng đắn nhất. Thông qua đó lợi ích sẽ đến với chúng ta.
Thuần Dương
Cựu sĩ quan QL Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam, nổi giận viết thơ mắng chửi bà Nancy Pelosi Chủ Tịch Quốc Hội Hoa Kỳ
Luật sư Dennis L. Guthrie/ Nguyệt San Việt Nam


Luật sư / Cựu chiến binh Dennis L. Guthrie chống đối bà chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi

Thưa bà Pelosi:
Tôi viết cho bà hoàn toàn do sự khinh bỉ! Bà đáng khinh và phi dân tộc Mỹ như kẻ phản bội tên là Jane Fonda.
Tôi sẽ sớm được 75 tuổi, đã từng bỏ phiếu trong mọi cuộc bầu cử tiểu bang và địa phương từ năm 1966. Tôi đã bỏ phiếu cho cả hai đảng Cộng hòa và Dân chủ. Tôi đã làm việc trong các chiến dịch tranh cử cho cả hai đảng Cộng hòa và Dân chủ, trắng và đen.
Tôi phục vụ quê hương yêu dấu này, tòng quân tham dự chiến tranh Việt Nam, giống như con trai tôi đã làm ở chiến trường Trung Đông. Tôi đã được quân đội tuyên dương với hai huân chương đồng.
Tôi đã tham gia chính trị từ năm 6 tuổi khi cha tôi làm quản lý chiến dịch cho một dân biểu Mỹ rất vĩ đại, ông Charles Raper Jonas, một người thật tâm phục vụ cử tri và đất nước và được ngưỡng mộ, không giống như Bà.
Rõ ràng là gần đây Bà không đọc Hiến pháp, hay có bao giờ bà đọc các tài liệu Liên bang, hoặc thậm chí đọc cuốn sách của David McCulloughs nói về cố tổng thống John Adams. Bà nên dành thời gian để đọc chúng trong khi được đưa đi tham quan, bằng máy bay phản lực và phương tiện sang trọng do chính phủ cấp cho Bà. Bà là biểu tượng cho chủ nghĩa xã hội và Marxist là những chủ thuyết mà tổ tiên sáng lập đất nước này quyết xóa tránh, cha ông chúng ta đã cố gắng dẹp bỏ chúng khi thành lập thể chế chính phủ cộng hòa tư bản do Hiến pháp của chúng ta ấn định.
Tôi thấy thật thú vị khi Bà và chồng Bà là những triệu phú với phần lớn tài sản của Bà tạo ra được là nhờ vào sự phục vụ công cộng của Bà. Bà đã kiểm soát luật pháp để chúng giúp tăng cường những đầu tư của chồng cả trong và ngoài nước. Đồng thời Bà phân phối lại của cải của người khác.
Nền kinh tế thị trường tự do của chúng ta đang bị phá hủy bởi những người như Bà. Bà bay quanh vùng Vịnh với chi phí của người nộp thuế trong khi Bà chỉ trích chủ tịch các công ty đang sản xuất một cái gì đó cho nền kinh tế này. Bà không góp gì cho nền kinh tế Hoa Kỳ, Bà chỉ giảm trừ chúng.
Tôi muốn đề nghị Bà quay trở về lại thành thị của bánh trái cây và các loại hạt đậu, ăn cá ngừ hộp và dứa đóng hộp của chồng Bà – chúng được sản xuất bởi những người nhập cư bất hợp pháp và bởi những người lao động đã bị loại trừ khỏi sự bảo vệ mà 90% là công nhân hợp pháp tại Hoa Kỳ.
Tôi chờ đợi sự thất bại của Bà trong cuộc bầu cử kỳ tới với niềm vui sướng…
Đừng bao giờ dùng chữ "un-American" (phi Mỹ - không phải dân tộc Mỹ) đối với những người biểu tình, họ yêu đất nước này và đang thực thi các quyền mà quốc gia này được thành lập. Nhân tiện đây, khi tôi phục vụ trong Quân đội, tôi đã bị phỉ nhổ bởi loại người dại dột mất trí, là đám người đã hỗ trợ Bà và có thể cũng là những người mà Bà có hỗ trợ họ trong thập niên 60 và 70. Bà là cái ô nhục cho tất cả quân nhân chúng tôi,những quân nhân bảo vệ quốc gia này để Bà có thể có quyền được bảo vệ quyền tự do ngôn luận mà dám gọi chúng tôi là "phi Mỹ". Và đồng thời, tôi có quyền viết thư cho Bà để thông báo cho Bà rằng tôi coi Bà, cũng như đa số dân chúng xem Bà, không phải là người Mỹ. Bà là một cái ô nhục thực sự đối với hầu hết những người phục vụ quốc gia và những người đang hiến thân phục vụ công cộng tại quốc hội Hoa Kỳ.
Tôi tin chắc các trợ lý của Bà sẽ không trình báo bức thư này cho Bà, nhưng tôi dự định chia sẻ nó với rất nhiều người...
Ký tên: Guthrie.
Cựu sĩ quan QL Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam;
Cựu Luật Sư các tòa án tại North Carolina.
-----------
Xin hãy giúp người đàn ông này thực hiện “cam kết” với Pelosi bằng cách chuyển tiếp lá thư này cùng với suy nghĩ của mình!
(do ĐxSơn chuyển Việt Ngữ, giúp cựu Đại Úy Guthrie phổ biến )
*********
Nguyên bản bằng Anh Ngữ được chép lại dưới đây từ trang mạng Palo Alto
Open Letter to Nancy Pelosi
Original post made by Agree with Guthrie, Greater Miranda, on Feb 16, 2010
If you dare, read this scathing letter to Nancy Pelosi from Dennis L. Guthrie, an attorney,(Mercer University, 1969 JD, Phi Alpha Delta), Vietnam veteran ( National Defense Medal and 2 Bronze Stars), U.S. District Court, Eastern, Middle and Western Districts of North Carolina; U.S. Tax Court; Fourth Circuit Court of Appeals; Vice-Justice, District XIV, 1968 - 1969; Board of Directors of both Boy Scouts and Girl Scouts etc. ( Remaining credentials are listed below the letter)
It was written last August, in the midst of her horrifying statements about us who disagreed with her. Especially from one of her generation and ilk, who represented and continues to represent those who spit on the very people and their families who have died or been maimed in the name of her freedom to call us whatever she wishes...I know she will never, ever be demoted in San Francisco (she will probably still be re-elected even after her funeral Mass)... they are too far gone to see her for what she represents, but for the rest of the country, I suspect it is bye-bye Pelosi.
This has been verified on Snopes. Link to Snopes page with verification and full pdf. letter ( with letter head included on that one...I can't "copy and paste" the letterhead part, I am sure for good reason) (Web Link)
He pretty much sums up how I believe most Americans feel about this 3rd most powerful person in the USA, and one of the leaders of a Party which has lost its way...It has taken this long for this letter to wind its way to my e-mail page.
+++++++++++++++++++++++++
Dated August 11, 2009
Dear Ms. Pelosi:
I write to you out of utter disdain! You are as despicable and un-American as the traitor Jane Fonda. I am a soon to be 65 year-old who has voted in every state and local election since 1966. I have voted for both Republicans and Democrats alike. I have worked on campaigns for both Republicans and Democrats, white and black. I served the country that I love in Vietnam, as my son did in the Middle East. I was awarded two bronze stars. I have been involved in politics since age 6 when my father was campaign manager for a truly great American Congressman, Charles Raper Jonas, who worked for his constituents and his country, and was to be admired, unlike you.
You obviously haven’t read the Constitution recently, if ever, the Federalist Papers, or even David McCullough’s book on John Adams. You ought to take the time while riding around in your government provided luxury executive jet to do just that. You represent Socialistic and even Marxist principals that our founding fathers tried to avoid when setting out the capitalistic republican form of government represented by our Constitution.
I find it interesting that you and your husband are multi-millionaires with much of your fortune being made as a result of your “public service”. You have controlled legislation that has enhanced your husband’s investments both on and off shore. At the same time you redistributed the wealth of others. Our system of a free market economy is being destroyed by the likes of you, Harry Reid, and now our President. You ride around in a Gulfstream airplane at the tax payer’s expense while criticizing the presidents of companies who produced something for the economy. You add nothing to the economy of the United States; you only subtract therefrom.
I would like to suggest that you return to the city of fruitcakes and nuts and eat your husband’s canned tuna and pineapple produced by illegal immigrants and by workers who have been excluded from the protection that 90% of the legal workers in the United States have.
I await your defeat in the next election with glee.
Don’t ever use the term “un-American” again for protesters who love this country and are exercising their rights upon which this country was founded. By the way, while I served in the Army, I was spit on by the same type of lunatics who support you and who you probably supported in the 60’s and 70’s. You are an embarrassment to all of us who served so that you would have the protected right of free speech to call us un-American. But at the same time, I have the right to write you to notify you that I consider you to be un-American, as do the majority of the people of this formerly great country. You are a true disgrace to most of the people who served this country by offering themselves for public service in the United States Congress.
I feel certain your aides will not share this letter with you, but I intend to share it with many.
Sincerely,
Dennis L. Guthrie
++++++++++++++++
CREDENTIAL LIST (link to his Credential Page at his law firm Web Link)
Born St. Louis , Missouri , August 21, 1944
Bar Admissions: North Carolina, 1969
U.S. District Court, Eastern, Middle and Western Districts of North Carolina , 1969
U.S. Tax Court
Fourth Circuit Court of Appeals
Education: Wofford College , 1966A.B. Mercer University, 1969J.D.
Phi Alpha Delta
Vice-Justice, District XIV, 1968 - 1969
Professional Associations and Memberships:
North Carolina and American Bar Associations (Member, Sections on: Administrative Law; General Practice; Litigation)
26th Judicial District and North Carolina State Bar
Mecklenburg County Bar Association
American Association of Justice
North Carolina Trial Lawyers Association
Captain, U.S. Army, 1969-1971, Vietnam
National Defense Medal, 1969
Republic of Viet Nam Service Medal, 1970
Bronze Star Medals (2), 1971
Assistant District Attorney, Mecklenburg County , 1971 - 1974
Charlotte Chamber of Commerce
Chairman, Board of Trustees Providence United Methodist Church
Board of Directors, Alexander Children's Home
Board of Directors, Charlotte Culinary Institute
Wofford Alumni Executive Council
Scoutmaster, Boy Scouts of America
Board of Directors, Boy Scouts of America of Mecklenburg County
Board of Directors, Girl Scout Council
Life Member, National Eagle Scout Association
Life Member, Girl Scouts of America
------------
Tên Việt kiều phản động.

Ngồi trên chuyến bay từ Mã lai về Đức. Trong chuyến bay, ngồi chung hàng ghế với một cán bộ cs. Ông ta tự giới thiệu là "cán bộ đi công tác.“ Vì là người Việt Nam, và tánh tôi hay thích tìm hiểu nên mới trò chuyện. Trông điệu bộ ông cán này tỏ ra là người có hiểu biết trong xã hội chủ nghĩa cs. Hay xưng bác và tôi. 

Bác đi du lịch đó hả, bác làm cơ quan nào? 

Tôi trả lời không, tôi đi thăm người thân ở Úc, máy bay ghé qua Mã Lai rồi về Đức, tôi hiện nay sống ở Đức. Ông ta nói. À thế bác là Việt kiều. 

Tôi nhanh miệng nói. Vâng Việt kiều yêu nước, để coi ông ta nói gì. ( Việt kiều yêu nước là những người sống ở nước ngoài nhưng làm tay sai cho cs) 

Ông ấy nói thì ra không phải là Việt kiều phản động. 

Tôi cười và nói, Việt kiều phản động là sao vậy ông? Ông ta trả lời bác có biết họ là một lũ ngụy đánh thuê cho thằng Mỹ, bị quân dân ta đánh một trận sấm sét cho Mỹ chạy ngụy nhào, rồi bỏ chạy ra nước ngoài, quay lại đánh phá nhà nước ta. Tôi chỉ nói, họ có đánh gì đâu, súng ống đâu mà đánh? Ấy bác không biết, súng ống làm gì mà đánh lại quân dân anh hùng ta. Chúng đánh phá là hô hào, viết và nói xấu đảng ta trên Internet đó.

Tôi nói họ nói đúng thì đảng phải biết sửa chữa chứ. Tôi có đọc, thấy họ nói cán bộ đảng viên hiện nay ăn hối lộ, họ nói đúng, thì thế nào là phản động? Họ nói miền bắc nghèo đói, miền nam giầu sang, vào miền nam ăn cướp mà gọi là giải phóng. Tôi nghĩ cái đảng csvn chỉ vì qúa ngu lại thích làm anh hùng, thích chiến thắng, nên đã đánh mất đi một cơ hội lớn để xây dựng Nước Việt Nam sau chiến tranh do hiệp định đình chiến ký tại Paris. Là xây dựng và tái thiết Việt Nam sau chiến tranh tàn phá. Đảng có nói cho ông biết không?

Ông ta nhìn tôi có vẻ tức tối và nói bác láo thật, nếu bác nói là đảng ta ngu, thì tất cả trí thức và nhân dân miền nam còn ngu hơn đảng. Tại sao họ nghe theo đảng, và cùng với đảng đứng lên để giải phóng miền nam. Những người trí thức như BS Dương Huỳnh Hoa, Bs Huỳnh Tấn Mẫn v...v...

Tôi nói họ không phải là những người Trí Thức. Ông lầm rồi. Họ là những người khoa bảng. Ông ta hỏi khoa bảng là gì? Tôi trả lời là những người có bằng cấp cao. Ông nói thì bằng cấp cao là người trí thức. Tôi nói không. Người Trí Thức phải có hội đủ 3 điều kiện ắt có và đủ để trở thành người Trí thức là Bằng cấp cao và kiến thức sâu rộng cùng với Đạo đức tốt. Có đủ 3 điều kiện này mới trở thành người Trí Thức.

Ông ta hỏi kiến thức là cái gì? Tôi cười và nói là người thấy sâu hiểu rộng, người từng trải trong cuộc sống, đi đó đây để tự học hỏi và tìm hiểu tra cứu, tự tìm hiểu về khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội, Nghệ thuật v...v...

Bác nói lung tung qúa, người có bằng cấp cao là họ biết hết tất cả. 

Tôi nói ông lầm rồi. Họ học cái nghành nghề của họ mà thôi, để có bằng cấp đi làm. Nếu họ về hưu thì bằng cấp ấy cũng hết gía trị.

Tôi mới chứng minh cho ông ấy biết là :

Nếu người có bằng cấp cao mà không có kiến thức và Đạo đức. Thì ông biết người đó như thế nào không?

Người đó hay tự phụ, và tự cao và coi ta đây là người học cao, nếu có quyền chức thì xem những người khác không ra gì. Thích thị uy và đánh đập người khác, ăn hối lộ. Ám hại người nếu chống lại.

Còn người có bằng cấp cao, mà lại có kiến thức rộng mà không có Đạo đức. Loại này ỉ vào mình học cao hiểu rộng , nên rất khôn khéo biết luồn lách pháp luật để làm những điều gian ác. Nếu có chức phận quyền hành thì xảo quyệt, lưu manh, hại người.

Còn loại người có bằng cấp cao, có Đạo đức tốt mà không có kiến thức sâu rộng. Là những người hay bị kẻ khác dụ dổ như. Bs Huỳnh Tân Mẫn, Bs Dương Huỳnh Hoa v..v... Vì thiếu kiến thức rộng nên không phân biệt được đâu là tà, đâu là đúng và đâu là sai.

Còn một loại này nữa. Là người không bằng cấp, không đạo đức chỉ có kiến thức nhưng không cao, không sâu, và không rộng. Thứ này rất nguy hiểm. Là hồ chí minh, khôn vặt, lém, láo cá. xảo quyệt.

Ông ta không nghe nữa, bỏ đi chỗ khác, tìm chỗ có ghế trống ngồi. Sau khi nghe người tiếp viên nói đã tới Đức, xin đừng tháo giây an toàn chờ máy bay ngừng hẳn...... 

Rồi mới thấy ông ấy tới lấy hành lý và thòng theo một câu. Nếu mà mày ở Việt Nam tao sẽ cho mày nhừ xương, và ở tù không có ngày ra. Thằng Việt kiều phản động.

Nguyễn Sơn Germany .
Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau 

T.Vấn
blank
Phố Cũ – Tranh: Thanh Châu

▀Từ đau đớn và truân chuyên, tôi gởi đến cho mọi người hạnh phúc vững bền của chữ nghĩa. (Hoàng Ngọc Tuấn)
 
1.
Năm 20 tuổi, tôi già nua theo năm tháng với nỗi ám ảnh của thứ triết lý thời thượng về một đời sống buồn bã. Mỗi ngày qua đi, tôi ngao ngán nhìn cuộc chiến khốc liệt trước mặt như con quái vật đang nhe răng gầm gừ sẵn sàng nuốt chửng lấy mình. Nỗi sợ hãi khiến tôi thu mình lại trong vỏ bọc một đời sống lơ lửng trên mây. Dầu vậy, tôi vẫn khao khát tình yêu (trong mơ) qua những trang văn Hoàng Ngọc Tuấn…

Năm 40 tuổi, tôi mới bắt đầu nhận ra rằng đời sống là có thật sau bao bất trắc của chiến tranh, của tù đầy. Quái vật chiến tranh đã biến mất, nhưng để tồn tại trong một xã hội hòa bình mà đằng đằng sát khí ấy thật không dễ dàng gì. Cái buồn bã lúc này là sự buồn bã có thật, đến từ một đời sống có thật, chứ không phải từ những trang triết lý thời thượng ngày nào. Dẫu sao, tôi đã là kẻ sống sót, sau một cuộc chiến, sau một cuộc đổi đời. Và hơn lúc nào hết, tôi khao khát một tình yêu (có thực, chứ không phải hình như) để bắt đầu lại đời mình.

Năm 60 tuổi, tôi có cảm tưởng mình trẻ lại với tình yêu cuộc sống cứ ngày một mãnh liệt hơn. Và biết  trân trọng những tình cờ ngọt ngào đến từ đời sống. Biết trân trọng những gặp gỡ, dẫu cho đó chỉ là những gặp gỡ trong một thế giới đầy ắp hòai niệm. Đời sống, đến bây giờ tôi mới hiểu được, đó là một nơi mà, ở đó, ai cũng quen nhau. Và yêu nhau. Sự hiểu biết muộn màng ấy, đến với tôi cũng thật tình cờ. Tình cờ như sự có mặt của chính mình trong đời sống này. Tình cờ như câu chuyện ngọt ngào đến với tôi trong những ngày cuối cùng của tháng Mười Một êm ái dịu dàng một cảm giác biết ơn vì tôi vẫn còn đủ đam mê nâng niu những con chữ ngập tràn hạnh phúc, thứ hạnh phúc thường làm chảy nước mắt, thứ hạnh phúc mà nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn gọi là hạnh phúc vững bền đến từ những đau đớn và truân chuyên.

Cũng từ nhà văn quá cố Hòang Ngọc Tuấn, tác giả Ở một nơi ai cũng quen nhau, mà tôi tình cờ biết đến một câu chuyện, được nhà thơ Hoàng Xuân Sơn – một người bạn thân của nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn – gọi là  như chuyện thần tiên.

2.
blank
Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn (hình chụp 2 tháng trước khi ông qua đời)
Tháng 7 năm 2005, tôi về thăm quê nhà. Một buổi sáng lang thang trên những đường phố bụi bậm một thời quen thuộc của Sài Gòn, tôi đọc được tin trên báo về cái chết của nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn (HNT) ở tuổi 60. Bâng khuâng với cuộc tái ngộ thành phố mà ở đó, tôi đã lớn lên, đã biết yêu lần đầu, đã nhiều lần bỏ đi và nhiều lần trở về, cùng với cái tên nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, tác giả của nhiều truyện ngắn tuyệt vời viết về tình yêu, vốn gắn liền với tuổi trẻ Sài Gòn chúng tôi những ngày tháng ấy, tôi đã ghi lại cảm xúc của mình trong bài viết Sài Gòn và Hòang Ngọc Tuấn, phổ biến ở một số tạp chí và mạng điện tử. 

Một ngày cuối tháng Mười Một năm 2009, từ hộp thư độc giả trên trang mạng điện tử của tôi (T-Van.Net), tôi nhận được thư của một người, nhân đọc bài viết về nhà văn HNT, tự giới thiệu cũng là một độc giả của nhà văn HNT từ mấy chục năm nay. Chị cho biết, sau khi rời khỏi đất nước vào tháng 4 năm 1975, chị đã về Vịêt Nam vài lần, và cũng để ý dò tìm tông tích của nhà văn, mà một tình cờ của đời sống đã khiến chị đọc được những tác phẩm của ông từ ngày còn rất trẻ. 

Mãi cho đến chuyến về quê năm 2006, sau khi nhà văn đã qua đời gần 1 năm, chị mới liên lạc được với gia đình nhà văn. Cùng với phu quân, chị đã đến nhà thắp cho ông một nén hương tưởng nhớ. Sau đó, được sự cho phép của thân nhân nhà văn, quay lại Mỹ chị đã tái bản tác phẩm mà chị yêu thích nhất trong những tác phẩm của Hoàng Ngọc Tuấn: Ở một nơi ai cũng quen nhau.(1) Qua ấn bản lần này, tôi biết thêm nhiều điều thú vị về mối quan hệ độc giả – tác giả, ở đây là giữa chị và nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn.

"Tôi đọc Ở một nơi ai cũng quen nhau  một lần là thương liền. . . Sau cuốn Ở một nơi ai cũng quen nhau, tôi vừa tiếp tục đọc ông, vừa đọc những tác giả khác. Có những tác giả làm tôi nể phục và kính trọng. Đọc Hoàng Ngọc Tuấn tôi vừa nể trọng, vừa kính phục, vừa thương"(2). Đó là tâm sự của chị trong lời giới thiệu ấn bản Ở một nơi ai cũng quen nhau in ở hải ngọai.
 
Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, trong bài viết mở đầu tập truyện, đã giới thiệu khá chi tiết về mối quan hệ của chị và nhà văn, mà ông cho là "dù bình thường hay khác thường, vẫn nghe ra Như Chuyện Thần Tiên" , như sau :
“ . . . Hòa Bình  là một độc giả trung thành của Hoàng Ngọc Tuấn. Chị đọc không sót một truyện nào của Tuấn. Đọc đi đọc lại nhiều lần, thuộc nằm lòng, mê và thương cảm tất cả nhân vật HNT đã dựng nên.

Chưa hết, Hòa Bình vẫn âm thầm theo dõi những bước chân của nhà văn mình ngưỡng mộ  nếu không muốn nói là thần tượng trên mọi nẻo đường đời. Khi hay tin HNT đi trình diện nhập ngũ ở Trung Tâm 3, chị đã không ngần ngại gói ghém quà cáp, bươn bả tìm thăm, nhưng không được gặp mặt vì không phải là thân nhân trực tiếp! Nhưng rồi trời không phụ người có lòng: Hoà Bình đã được hội diện với nhà văn mình thương mến trong một dịp tiếp tân của Thủy Quân Lục Chiến tại Sàigòn, khi HNT còn khoác áo binh chủng này. Dù chỉ dăm ba phút hàn huyên, mối hảo cảm giữa người viết và bạn đọc càng đậm đà thêm. Đôi cánh tâm hồn đã cùng nhau bay lượn theo trời xanh cao!“.(3)
 
Đó là lần gặp gỡ duy nhất giữa nhà văn và độc giả. Nhưng dư âm của nó kéo dài mãi đến hôm nay, kể cả khi nhà văn đã ra khỏi cuộc đời buồn nhiều hơn vui, thiếu thốn nhiều hơn no đủ, đau khổ nhiều hơn hạnh phúc. Chị lo lắng cho nhà văn:

"Ra khỏi Sài Gòn giữa tháng Tư, 1975, tôi có băn khoăn về ông. Đời sống bây giờ làm ông đau khổ nhiều hay ít? làm thế nào để ông tiếp tục nuôi dưỡng tâm hồn thơ dại, lãng mạn kia? Làm sao ông giữ được tấm lòng chan chứa yêu thương sau những biến cố dồn dập thô bạo? làm sao ông tiếp tục viết?“(4)
 
Năm 1972, bị bủa vây bởi những thiếu thốn không đáng thiếu thốn, Hoàng Ngọc Tuấn viết (như một cách tự trào): "Tôi cần một năm rảnh rang và đủ ăn cho một tác phẩm lớn, trị giá khỏang 360 ngàn đồng. Bây giờ ai cho tôi một năm như thế, tôi sẽ trả lại tất cả mọi người một kiệt tác.".  

Dù biết nhà văn chỉ đem sự nghèo khổ của mình ra đùa cợt, chị vẫn "Những lần trở lại Sài Gòn sau năm 1975 tôi đi tìm tác giả để mang đến ông "một năm rảnh rang và đủ ăn". Vậy mà ba chục năm nay tôi chưa bao giờ được dịp thực hiện ước muốn đơn giản và thiết thực đó" (5).

Dầu vậy, mối quan hệ ấy vẫn đơn thuần là mối quan hệ độc giả -nhà văn, từ một độc giả yêu mến và trân trọng chữ nghĩa của nhà văn.

3.
Như tôi đã viết trong Sài Gòn và Hoàng Ngọc Tuấn, tuổi trẻ chúng tôi (bao gồm cả chị Hòa Bình) những ngày ấy binh đao đã đến với những trang truyện ngắn Hoàng Ngọc Tuấn để tìm một thế giới không có tiếng súng, không có những cái chết đang rình rập, và để ít nhất giả vờ sống . . . một thời để yêu trước khi vội vã bước chân vào nơi gió cát. Nếu không có cái tên Hoàng Ngọc Tuấn và những trang truyện ngắn đầy những chất thơ nói về tình yêu, hẳn là tuổi trẻ chúng tôi 40 năm trước chỉ  có một thời để chết và một thời để nhớ mãi khôn nguôi.
 
Điều ấy giải thích được phần nào mối quan hệ khá khác thường giữa nhà văn nay đã quá cố và vị nữ độc gỉả Hòa Bình. Như chị đã viết  "Tôi mang ơn tác gỉa vì ông đã tặng cho tuổi trẻ tôi những tác phẩm văn chương tạo bằng những gì tinh anh, tươi thắm, cùng với những đớn đau âm thầm trong tâm hồn ông". Và việc chị đang làm "in lại Ở một nơi ai cũng quen nhau là một cách bầy tỏ lòng yêu mến và trân trọng chữ nghĩa của Hoàng Ngọc Tuấn". (6)

Một người bạn văn của tôi, anh Đỗ Xuân Tê đã nhận xét về việc làm của chị Hòa Bình đối với trường hợp nhà văn quá cố Hoàng Ngọc Tuấn: "Một hiện tượng Khánh Ly-Trịnh Công Sơn trong văn học. Hiếm thấy một khuôn mặt nữ chịu ‘lộ diện’ như xác minh lòng ngưỡng mộ của mình với một tài năng văn học. Càng khâm phục khi người ấy đã có chồng và lại cùng ‘phu quân’ đốt nén hương lòng tưởng niệm người xưa".
 
Ngược lại, về phía nhà văn, trong những trang Nhật ký viết năm 1972, ông đã trân trọng "mang ơn tất cả những người nào đã cho tôi nụ cười thân ái, một lời thăm hỏi ân cần, một lời khen ngợi dầu nhỏ nhặt đến đâu đi nữa. . . Cuộc đời mong manh và ngắn ngủi, nợ ân nghĩa thì nặng nề. Tôi biết làm sao đền đáp hết được, tôi có gì để trả nợ hết được. Cái gì đáng quý nhất ở một con người sáng tạo, nếu không phải là những tác phẩm của hắn".(7)

Dù giã biệt trần gian khá sớm, ông vẫn kịp để lại cho đời nhiều món quà vô giá. Nhà văn đã ra đi, nhưng cái tên của ông và những đứa con tinh thần của ông, thứ đáng quý nhất mà ông có,  còn ở lại trần gian. Mãi mãi.
Và những tấm lòng hâm mộ, biết ơn của người đọc trải dài nhiều thế hệ, trải rộng từ trong nước ra đến ngòai nước, điển hình là người nữ độc giả Hòa Bình.▄
 
T.Vấn

(Trích CÕI NGƯỜI, sắp xuất bản)

Chú Thích:
(1)  Ở một nơi ai cũng quen nhau – Tập truyện ngắn của Hoàng Ngọc Tuấn do Hòa Bình tái bản tại Hoa Kỳ, gồm những truyện ngắn nổi tiếng như: Ở một nơi ai cũng quen nhau, Buổi chiều Hạ Lan, Cô bé tuyệt vời trên cao nguyên và nhiều truyện ngắn khác. Đặc biệt, tập truyện còn có phần Phụ Lục: Nhật Ký sau một tác phẩm của chính Hoàng Ngọc Tuấn.
(2)  (3) (4)  Ở một nơi ai cũng quen nhau. Phần Mở Đầu - Không ghi số trang.
(5)  (6) (7) Sđd – Phần Phụ Lục – Không ghi số trang 

Blog Archive