Sunday, October 29, 2017

Giới thiệu một phim hay và cảm động
Chào quý anh chị và các bạn,

Tuần này tôi có dịp xem phim mới do Angelina Jolie làm đạo diễn và giám đốc. Tựa của phim là “First They Killed My Father”, dựa theo cốt truyện có thật được kể trong tác phẩm nổi tiếng (National Bestseller) của bà Loung Ung, một nạn nhân còn sống sót sau vụ tàn sát của chế độ Pol Pot thuộc nhóm “Khmer Rouge” tại Cao Miên, từ năm 1975 đến 1979. Hiện tôi có tác phẩm nói trên.
image1.jpeg
Đây là bức ảnh hồ chí minh chụp chung với Polpot và lãnh tụ cộng sản Lào Cayxon Pompihan.

Angelina Jolie là một nữ tài tử rất được ưa chuộng, đặc biệt là trong những phim hoạt động như “The Tomb Raider” hay “The Tourist”. Nữ tài tử này cũng được biết đến vì cô ta có 6 người con nuôi: Maddox, Pax, Zahara, Shiloh, Knox và Vivienne. Maddox và Pax là con nuôi từ Cambodia và Vietnam. Angelina và tài tử Brad Pitt ly dị năm vừa qua.

Angelina Jolie trong phim "The Tourist".






Nữ tác giả Loung Ung của tác phẩm “First They Killed My Father: A Daughter of Cambodia Remembers” sống ở Phnom Penh cho đến năm 10 tuồi, trong một gia đình gồm 7 anh chị em, người cha là nhân viên cao cấp trong chính quyền.

Khi quân Khmer Rouge chiếm Phnom Penh vào tháng 4, 1975, gia đình của Loung phải chạy trốn. Nhưng sau đó Cha Mẹ của Loung bị bắt và giết, Loung vào ở trong trại dành cho trẻ mồ côi, được huấn luyện để trở thành “lính thiếu nhi” (child soldier), những anh chị thì bị đưa vào trại lao động. Sau khi CSVN đánh chiếm Cao Miên đầu năm 1979 thì Loung được đoàn tự với các anh chị còn sống sót.


Em bé Moch trong phim. Angelina và tác giả Loung. Họ là bạn thân.
Cô bé đóng vai Loung trong phim, tên Sareum Srey Moch, diễn xuất thật xuất sắc. Moch là chứng nhân của sự đói khát, bạo tàn và chết chóc, từ khi mới 5 tuổi. Bọn Khmer Rouge đã huấn luyện cho Moch biết cách gài mìn, bắn súng AK-47, cũng như đâm vào ngực lính CSVN.

Phim nói trên có hy vọng chiếm giải Oscar như là “Best Foreign Film”.Hiện phim đưọc chiếu trên Netflix và một ít rạp, khởi đầu là tại các rạp ở Cao Miên.

Thân mến,

LNT

Xin mời xem video (Trailer):
https://www.youtube.com/watch? v=uS3Vp_quGCw
Ngày 1.11.1963, vết đen trên lương tâm nước Mỹ

Ký Thiệt



 
Ngày 1.11.1963, chế độ Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam bị lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự. Tổng thống Ngô Đình Diệm, do dân bầu ra trong một cuộc tuyển cử tự do, đã bị giết chết cùng với cố vấn Ngô Đình Nhu, em ông.

Ngày nay, sau 54 năm, những bí mật liên quan đến cuộc chính biến bi thương và đẫm máu ấy đã lần lượt được đưa ra ánh sáng, cho thấy đồng minh Hoa Kỳ, dưới chính quyền Kennedy, đã đóng vai trò chủ động từ đầu tới cuối.

Gần như vào ngày 1 tháng 11 mỗi năm, trang sử đen tối ấy trong quan hệ  Việt – Mỹ lại có người nói tới với một số chi tiết mới hay cái nhìn mới.

Trước đây hai tuần, nhân nói về sự thiên lệch của bộ phim “The Vietnam War”, tác giả Phillip McMath đã mở lại trang sử cũ với một bài đăng trên Nhật báo The Washington Times ra ngày 9.10.2017 tựa đề “Ken Burns, JFK and the unopened door”, trong đó kể lại những diễn tiến đã dẫn tới vụ 1.11. 1963.

McMath nói rằng với sự thành công ngày càng hiển nhiên của chế độ tại Niềm Nam Việt Nam của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Cộng sản Bắc Việt và Việt Cộng ở Miền Nam VN đã khởi phát một cuộc chiến tranh du kích ác liệt ở Miền Nam để chống lại. Và vào mùa hè năm 1963 thì chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa ở Miền Nam VN có vẻ như bị suy sụp.

Dựa trên tiền đề ấy, tác giả đã dựng ra một kịch bản mới đưa đến cuộc binh biến ngày 1.11.1963. McMath nói rằng kịch bản ấy do một nhân viên người Ba-Lan tên Mieczyslaw Maneli trong Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến (International Control Commission - ICC) thi hành Hiệp định Genève, khởi xướng. Ủy hội này gồm có 3 người, ngòai Maneli (Ba-lan), còn có Ramchundur Goburdhun (Ấn-độ), và một người Canada.

Đến Sài-gòn vào đầu năm 1963, Maneli đã cùng với Goburdhun thiết lập một đường dây liên lạc riêng giữa Sài-Gòn và Hà-Nội. Họ đã giúp John Kenneth Galbraith, đại sứ Mỹ tại Ấn-độ, với sự hậu thuẫn của Thủ tướng Ấn Nehru, để thực hiện một kế hoạch tìm kiếm hòa bình bằng cách kêu gọi trung lập hóa Miền Việt Nam – một cuộc ngưng chiến và sau đó thành lập một chính phủ liên hiệp. Galbraith cho biết Kennedy đã chấp thuận kế hoạch này và ra lệnh “tiến hành ngay lập tức”.

Galbraith chỉ định Goburdhun tham khảo‎ ý kiến TT Diệm, Maneli ra Hà-Nội vào tháng 3 và nhiều lần sau đó.

Vào ngày 1 tháng 4, Galbraith gặp Kennedy xin thực hiện gấp đề nghị hòa bình nhưng bị Thứ trưởng Ngoại giao Averell Harriman và Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân HK chống đối. Tuy nhiên, Kennedy khuyến cáo: “Hãy chuẩn bị nắm lấy thời cơ thuận lợi để giảm bớt sự can dự của chúng ta.”

Sau đó, Kennedy thay thế Đại sứ Frederick Nolting, người chống truất phế TT Diệm, bằng Henry Cabot Lodge, thuộc phe cứng rắn ủng hộ một cuộc đảo chính. Cabot Lodge tới Sài-Gòn ngày 22 tháng 8. Hai ngày sau, Kennedy k‎ý  “Bức Điện văn 24 Tháng 8” tai tiếng gửi cho Lodge ra lệnh thay thế ông Nhu và đe dọa “có thể cả chính Diệm cũng không thể giữ lại”, nếu ông không cộng tác.

Sau đó, ngày 25 tháng 8, Maneli gặp ông Nhu một cách công khai và họp kín với nhau vào ngày 2 tháng 9. Cuộc họp thứ hai này bị CIA phát hiện và báo cho Lodge.  Và, tin đồn về một “thỏa hiệp bí mật” giữa Diệm-Nhu và Hồ Chí Minh được loan truyền đi khắp Sài-Gòn.

Được báo động, ngày 13 tháng 9 Lodge gửi điện cho Ngoại Trưởng Dean Rusk, hỏi: “chúng ta sẽ đáp lại như thế nào nếu Nhu, trong khi thương thuyết với Bắc Việt, yêu cầu Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam hay giảm bớt phần lớn lực lượng quân sự?”

Ngày 16 tháng 9, ông Nhu họp các tướng lãnh QLVNCH, tiết lộ đường dây Maneli và nhấn mạnh CSBV quan tâm tới việc giao thương giữa hai miền, và cho biết Maneli “đã sẵn sàng để bay ra Hà-Nội trong thời gian ngắn.”

Và rồi ngày 18 tháng 9, Joseph Alsop, một nhà báo Mỹ phe diều hâu tới Sài-Gòn, viết một bài nhan đề “Very Ugly Stuff” trên tờ Washingon Post, phanh phui vụ hiệp thương của Maneli. Đám cháy đã trở thành một cơn bão lửa.

Kennedy bối rối, ngày 21 tháng 9 cử Robert McNamara và Maxwell Taylor bay sang Sài-Gòn nhận định tình hình. Ngày 2 tháng 10, họ báo cáo rằng cuộc chiến VN có thể thắng vào năm 1965, với lãnh đạo mới. Không cố vấn tại mặt trận nào đồng ‎ý như vậy. Nhưng Kennedy đã thuận tai vì ông ta đang hy vọng điều đó, điều mà ông ta cần cho cuộc tái tranh cử vào năm 1964. “Làm mất Đông Dương” sẽ là một thảm họa cho cuộc tranh cử để ngồi lại Bạch Cung.

Và, Kennedy đã “bật đèn xanh” cho cuộc đảo chính ngày 1.11.1963. “Kịch bản” trên đây được thuật lại theo cái nhìn của McMath, trong khuôn khổ của một bài báo, có thể còn thiếu sót, và không giống kịch bản của những người khác đã viết về thảm kịch này, nhưng, kết quả thì gống nhau: chế độ cộng hòa non trẻ tại Nam Việt Nam bị chết yểu, TT Ngô Đình Diệm và người em, Ngô Đình Nhu, bị hạ sát, mà người chịu trách nhiệm nặng nhất là Tổng thống Hoa Kỳ J. F. Kennedy.

Trang sử đen tối trên đây cũng vừa được Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn soi sáng vào mọi mặt trong một tập biên khảo dài 60 trang, trong đó ông mổ xẻ mọi yếu tố có thể đã tác động vào tình hình Việt Nam trong 30 nhiễu loạn (1955-1975) để đi đến kết luận:

Cuối cùng lịch sử còn để lại một bằng chứng vững chắc nhất để chứng minh hùng hồn là Tổng Thống Diệm và quân dân Miền Nam đã chiến thắng oanh liệt khi ngăn chặn “làn sóng đỏ” tại Á Châu để bảo vệ “tiền đồn của Thế Giới Tự Do”.Bằng chứng đó chính là - qua chương trình chiêu hồi vào 1963 - nhiều Việt Cộng đã nhìn thấy hàng ngũ của họ đang tan rã từng ngày.

Vào tháng 4-1963 TT Diệm đã đưa ra chính sách chiêu hồi để kêu gọi các cán binh cộng sản về hồi chánh với chính quyền quốc gia. Tại tỉnh Quảng Ngãi khoảng 800 cán binh Việt cộng đã bỏ hàng ngũ, xin hồi chánh và được tiếp đón nhân đạo, đã  trở về với đời sống thường dân, hay được chính quyền Quốc gia trọng dụng tùy khả năng. Trên khắp Miền Nam đã có khoảng 10.000 cán binh Việt cộng đã về hồi chánh vào 1963.

Maggie Higgins không thể tưởng tượng được khi nhìn thấy các binh cộng sản tiếp tục buông súng để trở về với hàng ngũ quốc gia như những con chim tìm về tổ ấm của họ. Ngay cả sau khi Tổng Tống Diệm bị lật đổ, là khoảng thời gian có những cuộc nổi loạn chống chính quyền Miền Nam tơi bời do Thích Trí Quang và nhóm Phật giáo quá khích của ông gây ra. Trong những cơn lốc dữ dội vào 1964 và 1965 con số chiêu hồi tiếp tục gia tăng từng ngày. Sự kiện thực tế cho thấy đã có tới 27.000 cán binh cộng sản chính quy và trừ bị đã tung cánh chim tìm về tổ ấm với hàng ngũ quốc gia Miền Nam.

Chiêu hồi trở thành một làn sóng tiếp tục gia tăng ngay khi những võ khí của Nga và Trung Cộng tuôn ào ạt đổ vào, cùng với lực lượng Miền Bắc xâm lăng Miền Nam. Các lực lượng này theo đường mòn Hồ Chí Minh, từ Miền Bắc qua Lào để xâm nhập Miên Nam. Những đơn vị khác đã xâm nhập bằng đường biển đi qua vùng Biển Đông để đưa tiếp liệu và võ khí vào Miền Nam. Nhưng tất cả những nỗ  lực tiến chiếm Miền Nam Việt Nam của cộng sản Bắc Việt mà tất cả những chứng liệu lịch sử đáng tin cậy nhất vừa nêu lên ở trên cho thấy Tổng Tống Diệm và quân dân MN đã chiến thắng oanh liệt trước những đoàn quân xâm lăng và những lực lượng nằm vùng tại Miền Nam để bảo vệ nền an ninh vả ổn định nông thôn  khắp Miền Nam từ 1954-1963.

Tuy nhiên giới báo chí truyền thông thiên tả và thiên cộng và những viên chức chính quyền trong Bộ Ngoại Giao HK thuộc phe bồ câu thì tìm mọi cách đề đảo ngược tất cả sự thật hiển nhiên mà các viên chức cao cấp nhất của chính quyền Hoa Kỳ đưa ra trong những hồ sơ còn lưu trữ lại. Trong lúc đa số báo chí truyền thông chỉ ngồi ở Caravelle, Givral hay Continental tại Sài Gòn để tưởng tượng ra mà viết; rất ít người tham dự trong các trận đánh tại chiến trường hay đi về các vùng nông thôn trên 4 vùng chiến thuật mà quan sát và tìm hiểu sự thật. Nhưng dư luận Hoa Kỳ và thế giới Tây Phương, thay vì  tin vào những sự thật do phái bộ quân sự của Hoa Kỳ và những phúc trình của CIA hay Robert Thompson gửi cho Tòa Đại Sứ Mỹ  để biết tất cả sự thật, dư luận lại tin theo những tin tức giả dối hay bị bóp méo bởi những nhà truyền thông không có lương tâm hay những tên ngốc hữu dụng (useful idiots) khuất thân làm công cụ tuyên truyền không công cho cộng sản, viết ra để hướng dẫn dư luận hoàn toàn có hại cho Tổng Thống Diệm và cả quân dân Miền Nam. Họ biến những chiến thắng của Miền Nam thành những thảm bại cho quốc gia của họ.

Quan sát những thành quả vĩ đại của TT Diệm, có lần Thương Nghị Sĩ Mike Manfield đưa ra nhận xét về Tổng Thống Diệm: “the savor of all Southeast Asia”  (vị cứu tinh của khắp vùng Đông Nam Á). Còn Jacob Javits thì tôn vinh Tổng Thống Diệm: “one of the real heroes of the free world” (là một trong những vị anh hùng thực sự của thế giới tự do). Nhưng tại sao một số người Mỹ lại lật đổ TT Diệm để đưa đến thảm bại cho cả nước Mỹ? Higgins tìm được nguyên do như sau:

“Kẻ thù cộng sản là thứ lọc lừa trí trá rất tinh vi. Những người Mỹ thay vì phải học nơi ông Diệm khi đến Việt Nam, họ đã cưỡng ép trói buộc ông phải làm theo lời cố vấn của họ trong lúc những hiểu biết về kẻ thù cộng sản của họ rất mù mờ, mù mờ như con tàu đi trong sương đêm vì lạc lối.”

Đó là tất cả nguyên nhân dẫn đến cái chết thảm khốc Tổng Thống DIỆM và đưa luôn miền Nam VIỆT NAM vào tay cộng sản ngày 30.4.1975 khiến TT Johnson phải thốt lên: “Lật đổ TT Diệm là lỗi lầm to lớn nhất đã làm cho chính sách ngăn chận (làn sóng đỏ) của Hoa Kỳ tại Á Châu thất bại”. (ngưng trích)

Lỗi lầm ấy không chỉ là một thảm họa cho Việt Nam và tai hại cho Hoa Kỳ, mà còn là một vết đen không thể tẩy sạch trên lương tâm nước Mỹ. TT Kennedy trả lời thế nào khi nhúng tay vào âm mưu lật đổ chính quyền hợp pháp của một nước đang là đồng minh gắn bó với mình, sát cánh với mình chiến đấu chống kẻ thù chung và giết chết tổng thống của nước ấy?

Có lẽ ông Kennedy đã nhận ra lỗi lầm ghê gớm ấy, tội ác kinh khủng ấy, nên khi nghe tin về cái chết của anh em ông Diệm, mặt ông ta đã trở nên “xám ngoét như tro”.

Cái chết dữ của TT Kennedy, chỉ sau TT Diệm vài tuần lễ, mà nguyên nhân cho đến nay còn tranh cãi, phải chăng là một giải thoát cho ông?

Từ ngày lập quốc, chưa đầy 300 năm, Hoa Kỳ đã là ngọn đuốc soi đường cho nhân loại – về lý‎ tưởng tự do chính trị, về kinh tế phát triển, về những phát minh khoa học, y học phục vụ con người, về lòng hào hiệp, và nhờ hùng mạnh vô song, nước Mỹ đã cứu nhân loại qua hai cuộc Thế Chiến và đánh bại Cộng sản trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Không có nước Mỹ, bộ mặt thế giới sẽ khó coi hơn nhiều, và sẽ là một hành tinh khó sống, nhất là cho những nước nhỏ và yếu.

Dựa vào truyền thống ấy, nước Mỹ đã nợ Việt Nam một “Món Nợ Đạo Đức” khó trả. 

Ký Thiệt
(Đời Nay ra ngày 27.10.2017)

Saturday, October 28, 2017

Trump chấp thuận cho công bố hết hồ sơ về vụ ám sát Kennedy

VOA


Tư liệu - Xe chở Tổng thống John F. Kennedy và đệ nhất phu nhân, cùng Thống đốc bang Texas John Connally, đi qua thành phố Dallas không lâu trước khi ông Kennedy bị ám sát, ngày 22 tháng 11, 1963.
Tổng thống Donald Trump cuối ngày thứ Sáu nói rằng ông đã ra lệnh công bố tất cả các hồ sơ liên quan tới vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy.
Trong một dòng tweet tổng thống nói: "Sau khi tham vấn nghiêm ngặt với Tướng Kelly, CIA và các cơ quan khác, tôi ra lệnh công bố TẤT CẢ các hồ sơ JFK ngoại trừ tên và địa chỉ của bất kỳ người nào được nhắc tới mà vẫn còn sống." Ông nói tiếp rằng ông thực hiện hành động này "vì lý do công khai trọn vẹn, minh bạch và để dập tắt bất kỳ thuyết âm mưu nào."
Ông Trump lúc đầu ra lệnh hôm thứ Năm rằng hàng trăm hồ sơ vẫn sẽ được giữ bí mật, ít nhất là tạm thời, vì lợi ích an ninh quốc gia.
Ông nói tạm thời "không tiết lộ công khai" các tài liệu còn lại là "cần thiết để bảo vệ khỏi những tổn hại đối với phòng thủ quân sự, các hoạt động tình báo, thực thi pháp luật hoặc việc tiến hành các quan hệ đối ngoại có mức độ nghiêm trọng hơn nhiều so với lợi ích của công chúng trong việc công khai ngay lập tức."
Phần lớn mối quan tâm học thuật về vụ ám sát tập trung vào các hồ sơ liên quan tới chuyến đi của kẻ ám sát ông Kennedy, Lee Harvey Oswald, tới Mexico hai tháng trước chuyến thăm của tổng thống tới thành phố Dallas vào ngày 22 tháng 11 năm 1963.
Một quan chức Nhà Trắng họp báo với các phóng viên từ chối để ý tới câu hỏi của phóng viên về những hồ sơ Mexico City.
Tranh cãi và các thuyết âm mưu nảy sinh mấy ngày sau vụ ám sát. Chưa đầy một tuần sau cái chết của ông Kennedy, Tổng thống Lyndon B. Johnson bổ nhiệm Chánh án Tòa án Tối cao Earl Warren tiến hành một cuộc điều tra độc lập.


Lee Harvey Oswald bị cảnh sát câu lưu
Sau cuộc điều tra kéo dài 10 tháng, Ủy ban Warren công bố một báo cáo dài 888 trang kết luận rằng Oswald đã hành động một mình để ám sát Kennedy, và rằng chủ hộp đêm địa phương Jack Ruby cũng đã hành động đơn độc khi nổ súng bắn chết Oswald hai ngày sau đó, trong lúc kẻ ám sát đang bị cảnh sát giải đi.
Đại đa số các tài liệu liên quan đến vụ ám sát đã được công khai cho công chúng tiếp cận từ nhiều thập kỷ nay.
Những hồ sơ được công bố hôm thứ Năm bao gồm hơn 5 triệu trang hồ sơ bị giữ lại theo Đạo luật Hồ sơ JFK, một số vì các lý do an ninh quốc gia và một số khác vì chúng được coi là không liên quan đến cuộc điều tra.
Việc công bố những hồ sơ cuối cùng dường như khó lòng thỏa mãn được những người tin vào thuyết âm mưu trưởng thành quanh cái chết của ông Kennedy.
Một cuộc thăm dò dư luận của Gallup năm 2013 cho thấy phần lớn người Mỹ tin rằng có những người khác ngoài Oswald tham gia trong vụ ám sát.
Nhiều trong số những thuyết âm mưu này tập trung quanh chuyến thăm của Oswald, một cựu thủy quân lục chiến 24 tuổi từng sống vài năm ở Liên bang Soviet, đến Mexico City hai tháng trước vụ ám sát, khi anh ta thăm đại sứ quán của Soviet và Cuba.
Kỷ vật cho người ở lại

Image result for teenage couple photo
Chuyện xảy ra gần 20 năm trước, khi tôi còn làm y tá của một bệnh viện trong một thành phố nhỏ ở tiểu bang Arizona.

Tối hôm đó, bệnh viện của tôi nhận một nhóm nạn nhân của một tai nạn xe hơi thảm khốc. Trên xe là bốn em học sinh đều ở lứa tuổi 17-18, cùng đi về với nhau sau bữa tiệc. Người lái xe 18 tuổi, say rượu và chạy xe quá tốc độ, lạc tay lái tông vào một chiếc xe tải đang đậu bên lề đường. Nhờ có thắt dây an toàn, người lái và em ngồi cạnh tuy bị thương nặng nhưng không nguy hiểm tính mạng. Riêng hai em ngồi sau, 1 nam 1 nữ bị thương rất nặng vì không thắt dây an toàn. Em trai bị chấn thương sọ não và chết ngay sau khi xe chở đến bệnh viện. Em gái hôn mê bất tỉnh phải mổ gấp, không biết có cứu được hay không?

Thật đáng buồn, em trai tử vong là một em Việt Nam, 17 tuổi, vừa tốt nghiệp trung học và đang sắp rời nhà để vào một trường đại học danh tiếng. Các em còn lại đều người ngoại quốc.

Lúc đó tôi đang làm tại khu ICU (Intensive Care Unit). Bệnh nhân tôi được giao đêm đó là em gái 17 tuổi của tai nạn vừa kể trên. Một cô bé người ngoại quốc, đẹp hay không thì tôi không biết vì cả khuôn mặt lẫn cái đầu tóc vàng của em đều tím bầm, sưng to như trái dưa hấu vì những cú va chạm kinh khiếp. Em đang được mổ não khẩn cấp trong phòng mổ.

Tôi được (hay bị) kêu vào phòng họp gấp để nhận một nhiệm vụ quan trọng.

Sau khi được biết nhiệm vụ của mình là gì, tôi nhăn nhó phản đối, “Tại sao lại là tôi? Đây là nhiệm vụ của bác sĩ mà!”

“Tôi biết, nhưng người nhà của bệnh nhân không biết tiếng Mỹ rành lắm, cô đi theo thông dịch cho bác sĩ, và ráng van xin họ giúp chúng tôi,” bà y tá trưởng năn nỉ.

Sau một hồi bàn qua tính lại, tôi lê bước đi theo ông bác sĩ đến phòng chứa xác của em trai Việt Nam mới tử nạn, với nhiệm vụ là cùng bác sĩ, năn nỉ gia đình người chết hiến tặng những bộ phận còn tốt trong cơ thể của em cho bệnh viện.

Một em trai 17 tuổi đang khỏe mạnh nhưng chết vì tai nạn, là một ứng cử viên tuyệt vời để làm người hiến tặng, vì hầu hết các bộ phận trong cơ thể em còn rất khỏe, rất trẻ, rất thích hợp để cứu sống các bệnh nhân đang chờ đợi để được thay các bộ phận trong người. Đó là lý do bệnh viện hết sức cầu xin gia đình.

Thời gian đó, đối với người Việt mình, khái niệm hiến tặng bộ phận cơ thể còn rất mới mẻ. Nếu không là cho người thân trong gia đình, hầu như rất ít ai hiến tặng cho những người không quen biết. Huống hồ gì, chuyện cha mẹ đồng ý hiến tặng các bộ phận trong cơ thể của con thì hình như chưa hề xảy ra. Có cha mẹ nào mà nỡ lòng nào làm như thế? Mất con đã đau đớn lắm rồi…

Chúng tôi gặp cha mẹ nạn nhân trong phòng đợi, trong khi người con đang được chờ quyết định để rút tất cả ống support bên trong, tôi bắt đầu trình bày lý do. Quả như tôi lường trước, cho dù có van xin, nài nỉ, giải thích cách mấy, bác sĩ và tôi chỉ nhận được những cái lắc đầu quầy quậy, ánh mắt oán ghét, và những lời xua đuổi.

Tôi lắp bắp xin lỗi rồi bước nhanh như chạy ra khỏi phòng.

Phòng ICU rất vắng lặng vì ở đây toàn những ca rất nặng. Những y tá cùng trực với tôi đêm đó ai cũng bận rộn với bệnh nhân của mình nên chỉ có một mình tôi ngồi tại nurse station. Thường thì ở ICU, mỗi y tá lãnh hai bệnh nhân trong một ca. Nhưng đêm nay tôi chỉ có một, vì một bệnh nhân mới chuyển sang phòng thường. Bệnh nhân còn lại là cô gái đang trong phòng mổ, nên tôi cũng khá rảnh rỗi, cho đến khi ca mổ xong.

Bỗng nhiên tôi thấy hơi nhức đầu nên cúi gục vào lòng bàn tay một chút cho đỡ mỏi mắt. Khi tôi ngẩng đầu lên thì vụt một cái, thoáng có một bóng người mặc áo trắng lướt thật nhanh qua mặt.

Tôi đảo mắt nhìn quanh.

Không có ai cả!

Tôi vẫn thường thấy lao đao như vậy lắm, có lẽ vì tôi bị chứng bịnh thiếu máu kinh niên. Tôi dụi mắt nhìn kỹ lại một lần nữa, lần này thì thật sự có một bóng áo trắng đang từ từ tiến lại gần tôi.

Tôi dợm đứng dậy để nhìn cho rõ thì thấy có một cậu thanh niên Á Châu rất trẻ, gương mặt xanh xao mệt mỏi đang đi lại phía tôi ngồi. Cậu đi nhẹ nhàng như lướt trên không vậy, xuất hiện trước mặt tôi mà không gây nên một tiếng động. Cậu nhìn tôi, đôi mắt nâu hiền và ngây thơ đến nao lòng. Có vẻ như cậu đang bị lạc đường. Chắc là cậu đi nuôi người nhà bệnh và lạc từ khoa khác sang.

Thấy cậu đứng yên lặng không nói gì, tôi hỏi bằng tiếng Mỹ, “Em cần gì, tôi có giúp được gì cho em không?”

Lạ thay, cậu trả lời bằng tiếng Việt, “Em đi kiếm đồ!”

Giọng của cậu nhỏ và thanh, nghe văng vẳng như từ một nơi xa xôi nào đó vọng về.

“Em bị mất cái gì à?”

“Em làm rớt cái ví trong xe. Trong đó có một món đồ rất quan trọng. Chị kiếm dùm em nghe chị. Nhớ nghe chị…”

Không đợi tôi trả lời, cậu quay lưng đi thật nhanh và khuất bóng sau góc quẹo.

Tự nhiên tôi cảm thấy lạnh buốt, cái lạnh từ trong xương lạnh ra. Tôi rùng mình. Lạ thật, Tháng Sáu Mùa Hè ở cái xứ sa mạc này nóng cả trăm độ. Cho dù máy lạnh có mở cũng chỉ vừa đủ. Chưa bao giờ tôi cảm thấy lạnh cóng bằng cái lạnh của hiện tại.

Đầu óc tôi quay cuồng và tiếp tục nhức. Chắc mình sắp bịnh rồi, tôi tự nhủ. Sao tự nhiên lại cảm thấy lạnh và nhức đầu quá. Tôi đứng lên định đi theo cậu bé nhưng rồi lại choáng váng ngồi phịch xuống một chiếc ghế.

Vừa lúc đó, một cô bạn đồng nghiệp từ đâu đi tới. Nhìn thấy sắc mặt tôi, cô la lên, “Oh my God! Trời ơi sao cái mặt cô xanh lè xanh lét thấy ghê quá. Are you OK?”

“Tôi thấy lạnh quá, cô lấy dùm tôi một cái áo lạnh được không?”

Cô bạn nhanh chóng đi lấy cho tôi một cái áo labcoat mới được giặt ủi và hấp nóng. Tôi mặc áo vào, ngồi co ro mà thấy vẫn còn lạnh, mồ hôi rịn ra hai bên thái dương.

Tôi uống thêm hai viên Tylenol. Một lúc sau, tôi thấy từ từ dễ chịu, và lại nghĩ đến cậu bé hồi nãy. Cậu ta là ai, làm sao biết cậu ở đâu, đi kiếm cái xe gì, và cái ví gì nữa chứ?

Cả khu ICU này có 6 phòng. Hiện giờ đang có năm bệnh nhân, mỗi người nằm một phòng. Tôi coi lại danh sách bệnh nhân viết trên bảng treo trên tường. Không có bệnh nhân nào người Việt. Vậy cậu từ khoa nào đi sang đây?

Tôi đi lòng vòng với hy vọng gặp lại cậu bé, nhưng hỏi thăm những nhân viên quanh đó xem có ai gặp một cậu bé người Á châu không, ai cũng lắc đầu không biết.

Thất vọng, tôi trở về khoa đúng lúc bệnh nhân của tôi đã được giải phẫu xong và chuyển về phòng ICU. Bác sĩ bảo em được cứu sống nhưng đôi mắt sẽ bị mù vĩnh viễn vì chấn thương quá nặng. Chỉ có một hy vọng duy nhất là được thay đôi mắt khác em mới có thể thấy lại ánh sáng.

Ba mẹ em ngồi bên giường trong khi em vẫn đang nằm thiêm thiếp. Ông bà yên lặng chắp tay cầu nguyện. Tôi không biết làm gì hơn là ngồi xuống bên cạnh và góp lời cầu nguyện trong lòng.

Người mẹ buồn rầu nói, “Tội nghiệp chúng quá. Rồi đây Jane sẽ ra sao khi tỉnh dậy và biết là người yêu của nó đã chết?”

“Người yêu của Jane là anh Việt Nam ngồi chung xe hả bà?” tôi hỏi.

“Đúng vậy, chúng nó yêu nhau lắm. High school sweethearts mà. Hai đứa đều học giỏi và có tương lai. Thế mà, chỉ qua một đêm, một đứa ra đi vĩnh viễn, một đứa trở nên mù lòa.” Bà sụt sịt khóc.

Tôi ngập ngừng, “Bác sĩ nói con bà còn có hy vọng thấy lại ánh sáng, nếu…”

“Vâng tôi biết! Nhưng ở đâu ra có cặp mắt để thay kia chứ? Nếu đó là cặp mắt của một người còn sống cho con tôi, tôi biết chắc chắn nó sẽ không chịu nhận. Nó là cô gái rất tốt, không bao giờ muốn làm khổ ai.”

“Nhưng nếu đó là cặp mắt của một người vừa mới mất thì hoàn toàn có thể dùng được, chỉ có điều…” tôi bỏ dở câu nói vì tôi biết chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra. Đừng bao giờ nên hỏi cha mẹ cậu bé Việt Nam thêm một lần nữa.

Như đọc được ý nghĩ của tôi, bà mẹ thở dài, “Cô y tá ạ, tôi biết nỗi đau của người mẹ mất con nó khủng khiếp như thế nào. Tôi không dám đòi hỏi gì thêm. Số phận con gái tôi bị mù thì tôi sẽ hết lòng chăm sóc cho nó. Con gái tôi có nghị lực lắm, tôi tin nó sẽ vượt qua…”

Xót xa nhưng cũng rất xúc động trước những lời nói của bà, tôi nhẹ nắm lấy tay bà. Vừa lúc đó, một ông cảnh sát đang rảo bước tới, trên tay cầm một bọc giấy. Ông hỏi tôi, “Người ta chỉ cho tôi là có một cô y tá người Việt ở đây. Cô nói được tiếng Việt chứ?”

“Dạ được. Ông cần gì không?”

“Tôi muốn nhờ cô đi với tôi đến gặp gia đình người tử nạn trong tai nạn xe chiều nay. Chiếc xe bị total loss. Trước khi xe tow kéo xe đi, chúng tôi kiểm tra trong xe và tìm thấy chiếc ví này rớt trong xe. Nó thuộc về người đã chết. Tôi muốn giao lại kỷ vật này cho thân nhân của cậu.”

Ví, xe, người tử nạn… những mảnh rời rạc của chiếc hình puzzle tự nhiên ráp nối lại với nhau một cách có trật tự. Tim tôi đập thình thịch và cổ họng tự dưng tắc nghẽn. Chân tôi bắt đầu run lập cập và tay thì nổi da gà. Sao giống y hệt những điều cậu bé kia vừa nói?

Không lẽ mình vừa gặp ma sao?

Tôi lắp bắp hỏi ông cảnh sát, “Ông có thể cho tôi xem qua chiếc ví được không?”

Ông ngần ngừ một chút rồi nói, “Cũng được, nhưng trong ví không có gì quý giá hết, chỉ có tấm bằng lái xe và một ít tiền mặt vậy thôi!”

Tôi tần ngần mở chiếc ví ra. Thật vậy, trong ví ngoài một ít tiền nhỏ chỉ có tấm bằng lái xe. Tôi tò mò nhìn vào tấm bằng lái và hoảng sợ làm rơi chiếc ví xuống đất. Trên tấm bằng là hình của cậu bé vừa đến gặp tôi ít phút trước đây. Với gương mặt gầy và cặp mắt nâu trong vắt thơ ngây như đang nhìn xoáy vào tôi, như muốn nói một điều gì.

Vậy ra cậu chính là người đã chết đó sao?

Một luồng khí lạnh chạy dọc theo sống lưng của tôi.. Tôi thầm thì, nhắc lại lời của cậu bé khi nãy: “Trong ví này có một vật rất quan trọng…”

“Cô nói gì?”

Tôi lượm chiếc ví lên, mở ra xem lại và lật tới lật lui. Quả thật không có gì khác ngoài vài tờ giấy $10 và $5, cùng tấm bằng lái.

Tai tôi văng vẳng nghe tiếng của cậu bé, “chị nhớ giúp em nghe chị, nhớ nghe chị…”

Tấm bằng lái!

Tôi nhìn kỹ lại tấm bằng lái lần nữa. Đây rồi, vật quan trọng mà tôi cần tìm chính là tấm bằng lái này đây.

Trên bằng lái có tên, tuổi và hình chụp của cậu bé.. Còn nữa, nằm ngay ngắn ở góc phải của tấm bằng là cái sticker nhỏ màu hồng, trên có dòng chữ “DONOR” màu đen in đậm nét.

Tim tôi đập thình thịch. Như vậy là, chính cậu đã run rủi cho sở cảnh sát tìm thấy chiếc ví rơi trong gầm xe trước khi xe bị kéo đi; chính cậu đã tìm đến tôi, và đưa đẩy cho ông cảnh sát gặp tôi để mọi người có thể biết được ý nguyện của cậu. Thì ra ngay từ khi mới có bằng lái, cậu đã quyết định là nếu có điều gì xảy ra cho mình, cậu sẽ sẵn sàng hiến tặng những bộ phận còn tốt trong người cho tất cả ai đang cần chúng nên đã tình nguyện ghi tên làm người DONOR. Có phải cậu đến tìm tôi vì biết tôi là người chăm sóc cho người bạn gái thương yêu của cậu đêm nay và muốn nhờ tôi tìm cách để trao tặng cho cô gái đôi mắt của cậu như một kỷ vật cuối cùng?

Tôi chỉ vào chữ “DONOR” và nhờ vị cảnh sát xác minh lại với DMV. Sau khi xác nhận là cậu bé Việt Nam chính thực đã ghi danh làm người “DONOR”, nhưng đồng thời vị cảnh sát cũng thông báo rằng theo luật pháp, vì cậu bé mất khi cậu chưa đủ 18 tuổi, nên quyết định cuối cùng, cho hay không, cũng vẫn là quyết định của cha mẹ.

Phái đoàn gồm các bác sĩ, cảnh sát cùng với tôi sau khi đưa chiếc ví lại cho cha mẹ cậu và thông báo về tất cả những sự việc trên cho họ. Trong khi chờ gia đình cậu bé bàn thảo với nhau, chúng tôi đều lui ra ngoài đứng chờ.

5 phút, 10 phút trôi qua. Một bầu không khí yên lặng đến nghẹt thở.

Rồi cha mẹ cậu bé cũng bước ra. Người mẹ ôm mặt khóc, trong khi người cha nghẹn ngào nói với chúng tôi: “Thôi thì con tôi nó đã muốn như vậy, chúng tôi xin nghe theo ý nguyện của cháu. Xin bệnh viện giúp cháu làm tròn tâm nguyện, hãy giúp đỡ tất cả những ai đang chờ được giúp.”

Tôi bật khóc vì quá xúc động. Tất cả những người có mặt lúc đó đều khóc và cảm ơn cha mẹ cậu bé đã làm quyết định đau đớn và khó khăn nhưng rất cao cả này. Cảm ơn ông bà, tôi thầm thì. Trên cao kia, tôi biết cậu bé đang nhìn xuống và mỉm cười.

Những ngày sau đó, có ít nhất là cả chục bệnh nhân đang chờ thay thận, gan, tim, v.v… đã được cứu sống nhờ được ghép những bộ phận trong cơ thể cậu bé. Cô bạn gái cũng đã nhận được cặp mắt của cậu. Trên gương mặt trắng bóc và mái tóc vàng hoe, đôi mắt nâu trong veo luôn tỏa những tia sáng ấm áp dịu dàng. Đôi mắt như biết nói những lời yêu thương đến mọi người. Cậu bé đã ra đi mãi mãi, nhưng tình yêu quảng đại của em vẫn tiếp tục tồn tại.

****
Ngay sau cái đêm “gặp ma” trong bệnh viện đó, tôi đã suy nghĩ rất nhiều. Tôi về bàn với chồng, và vợ chồng tôi đã cùng đi đến quyết định là ra DMV để ghi tên tình nguyện làm người “DONOR.”

Nếu một mai có người nào phải ra đi trước, chúng tôi không muốn người thân mình ở lại phải suy nghĩ để làm những quyết định đau lòng thế cho mình.

Cát bụi rồi sẽ trở về với cát bụi. Thế thì tiếc làm chi các xác thân tạm bợ này! Nếu sau khi mình ra đi mà vẫn còn có ích cho người khác thì đó chính là một niềm an ủi và hạnh phúc vô biên cho mọi người chúng ta rồi. 

(Diễm Vy)

Đệ nhất sát thủ hay là “Nửa đời hương phấn”?



Siti Aisyah (trái) và Đoàn Thị Hương, nạn nhân 
hay thủ phạm? Ảnh: internet

Ls Nguyễn Văn Thân - Trong phiên tòa xét xử vụ án Kim Jong Nam vào tuần trước, cảnh sát Mã Lai xác nhận, ngoài Đoàn Thị Hương và Siti Aisyah đang bị truy tố, còn có 4 nghi phạm khác là Chang, James, Y và Hanamori. Trước đó, cảnh sát cho biết là họ đã yêu cầu Interpol truy nã 4 nghi phạm người Bắc Hàn là Ri Ji Hyon (33 tuổi), Hong Song Hac (34 tuổi), O Jong Gil (55 tuổi) và Ri Jae Nam (57 tuổi). Cả 4 người này đã rời Mã Lai chỉ vài giờ sau khi Kim Jong Nam bị ám sát, qua Dubai, Vladivostok rồi tới Bình Nhưỡng. 

Theo lời khai của cảnh sát trưởng điều tra vụ án Wan Aziz thì máy quay phim tại hiện trường cho thấy ông Y đội mũ và đeo túi đen, đi bộ tới sân bay cùng một người phụ nữ nhìn giống nghi phạm Đoàn Thị Hương. Ông Aziz cũng cho biết là ông Y đã bôi một chất lỏng vào tay của Hương. Còn ông Chang là người liên lạc và bôi chất lỏng vào tay Siti để thực hiện vụ tấn công ám sát Kim Jong Nam tại phi trường Kuala Lumpur vào ngày 13/2/2017.

Cả hai bị cáo là Hương và Siti đều khai là họ bị lừa tham gia vào một trò chơi truyền hình thực tế. Sau khi bôi chất lỏng vào mặt đối tượng theo chỉ định thì được trả tiền. Nhưng cảnh sát cáo buộc là cả hai biết là tay họ có tẩm chất độc. Sau khi bôi vào mặt Kim Jong Nam, họ đã vội vã chạy vào nhà vệ sinh để rửa tay rồi mới thong thả rời khỏi hiện trường. Một nhân chứng chuyên gia vũ khí hóa học đã khai với tòa là ông tìm thấy dấu vết của chất độc VX trên áo của Hương và Siti cũng như trên mặt, quần áo, máu và nước tiểu của nạn nhân Kim Jong Nam.

Vào tháng 3, báo Yonhap của Hàn Quốc loan tin, Ri Ji Hyon là con trai của cựu đại sứ Bắc Hàn tại Việt Nam, Ri Hong. Ri đã sống tại Việt Nam hơn 10 năm và rành tiếng Việt, từng làm một nhà ngoại giao tập sự và thông dịch viên. Cũng theo Yonhap thì Ri đã dụ Hương tham gia vào vụ ám sát Kim Jong Nam.

Đoàn Thị Hương sinh vào năm 1988 tại một vùng quê ở Nam Định cách Hà Nội 150 km. Bố của Hương ông Đoàn Văn Thạnh, 63 tuổi là một thương binh. Ông tham gia mặt trận Quảng Trị vào năm 1972 và cụt mất một chân. Ông lãnh tiền trợ cấp và làm thêm để kiếm sống, hàng ngày quét dọn, trông coi chợ xã Nghĩa Bình. Ông Thạnh có 5 đứa con và Hương là đứa con út, chưa có gia đình. Mẹ của Hương qua đời vào năm 2015 và ông Thạnh bước tiếp, cưới bà Nguyễn Thị Vy.

Vào năm 2007 khi mới 19 tuổi, Hương quyết định ”thoát ly” gia đình và lên Hà Nội sinh sống. Đoàn Văn Bình, người anh lớn cho biết là Hương lên Hà Nội học trung cấp Dược nhưng cũng có nguồn tin là Hương làm việc cho các quán bar. Trong một cuộc phỏng vấn với BBC, Kenny Bùi, người từng quản lý quán bar Seventeen ở Hà Nội cho biết Hương đã làm việc tại đây vào năm 2014 và nhận xét Hương là “một người hiền lành và tốt tính“. Cũng như các cô làm quán bar khác, Hương quen nhiều bạn trai người nước ngoài. Một người hàng xóm bà Maria Nguyễn cũng nói rằng Hương là “cô gái nổi bật trong một cái làng nhỏ có hơn chục hộ dân, nhuộm tóc, ăn mặc đồ mốt và Tết nào cũng về nhà với một người đàn ông ngoại quốc“. Lần cuối Hương về quê ăn Tết là vào tháng Giêng. Hương chỉ ở nhà vài hôm và không có một đồng xu dính túi. Bà Vy cho biết là bà phải cho tiền Hương mua vé xe buýt quay về Hà Nội.

Hương cũng từng ôm mộng làm ca sĩ hoặc diễn viên. Vào tháng 6 năm 2016, Hương tham gia chương trình Vietnam Idol dưới tên thí sinh Đinh Thị Khuyên nhưng bị loại ngày từ vòng đầu. Một viên chức Hàn Quốc giấu tên cho biết là Hương đã đến du lịch đảo Jeju và ở đó hết 4 ngày vào tháng 11 năm ngoái. Trang facebook của Hương để tên là Ruby Ruby liệt kê 65 người bạn mà trong đó có 56 người là nam và 27 tên Hàn.

Theo Asahi Shimbun, các nghi phạm trong vụ sát hại ông Kim đã diễn tập tấn công nhiều lần, trong đó có ba lần diễn tập bôi mặt rồi chạy trốn tại Campuchia vào tháng Giêng. Máy quay phim tại phi trường cũng thu được hình ảnh diễn tập của Hương với một người trước đó khi Hương từ phía sau bôi lên mặt một người đàn ông nhẹ nhàng rồi chấp tay và cúi đầu xin lỗi. Nhưng với Kim Jong Nam thì Hương có cử chỉ hung bạo hơn, xấn tới và ra tay một cách nhanh chóng rồi vội vã chạy vào phòng vệ sinh rửa tay trước khi thong thả bước chân ra khỏi phi trường. Hương bị cảnh sát Mã Lai bắt vào ngày 15/2 tại một khách sạn rẻ tiền gần phi trường. Cảnh sát cho biết Hương khai là làm việc cho một ”trung tâm giải trí” (entertainment outlet) nhưng báo Daily Mail thì tường thuật Hương khai với cảnh sát là cô làm gái bao kiếm được rất nhiều tiền để giúp gia đình nghèo ở Việt Nam.

Nữ bị cáo thứ hai là Siti Aisyah bị bắt vào ngày 16/2 lúc 2 giờ sáng tại khách sạn Flamingo Kuala Lumpur sau khi mới vừa phục vụ xong một người đàn ông Mã Lai. Trên giấy tờ, Siti là nhân viên đấm bóp của khách sạn Flamingo nhưng khi Doug Clark ghé tới điều tra thì liền được hỏi là “ông muốn ngủ với gái Thái hay Nam Dương?” Doug Clark là một ký giả từng sống và làm việc tại Nam Dương khoảng 3 năm. Ông nói thông thạo tiếng Bahasa là ngôn ngữ của người Nam Dương và Mã Lai. Ông quyết định điều tra về lý lịch của Siti và viết lại bài “Câu chuyện chưa kể trong cuộc ám sát Kim Jong Nam” (The Untold Story of Kim Jong Nam’s Assassination).

Theo Doug Clark, Siti sinh năm 1992 tại Sanca Sumua là một ngôi làng nhỏ có truyền thống bảo thủ. Lớn lên trong khu làng khoảng 500 người, đời sống của Siti gồm có đốn củi trong khu rừng bên cạnh và tắm suối. Hàng xóm nhớ Siti là một cô bé ít nói và sùng đạo. Hàng ngày Siti đều tới mosque cầu nguyện. Khi lên 9, Siti quấn khăn trùm đầu cắp sách đến trường. Tới lớp 6 thì thôi học và ở nhà phụ giúp cha mẹ làm nghề nông. Mơ ước của Siti cũng như bao cô gái thôn quê khác là có cơ hội thoát khỏi làng nghèo và lên thành phố để lập nghiệp.

Lúc Siti tới 14 tuổi, một người thân giúp đưa Siti lên Jakarta làm thợ may. Mỗi ngày Siti ngồi may 13 tiếng để lãnh 50 đô một tháng. Hai năm sau, Siti lấy chồng là Gunawan Hasyim con trai của người chủ hãng may. Không lâu sao thì Siti sinh ra một đứa con trai. Tới năm 2011 thì hãng may xuống dốc. Gunawan và Siti dọn qua Mã Lai. Kulala Lumpur có chung ngôn ngữ và văn hóa với Jakarta nhưng phồn thịnh hơn nhiều. Ước lượng có hơn 400.000 người Nam Dương tới Mã Lai hàng năm một cách hợp pháp và hơn 600.000 đi sang bất hợp pháp.

Hai vợ chồng ly dị vào năm 2012. Siti bế con về Jakarta nhưng sau đó trao lại cho bố mẹ chồng nuôi, để tìm việc làm kiếm sống. Đầu năm 2015, Siti trở lại Mã Lai và làm việc cho khách sạn Grand Continental. Vài tháng sau, Siti chuyển qua khách sạn Flamingo với số lương khá hơn. Cuối cùng thì cái gì đến phải đến và Siti trở thành một cô gái bao, quảng cáo trên mạng dưới tên “Kelly” với nụ cười khoe hàm răng bọc sứ cùng với giá phục vụ qua đêm không quá 40 đô la.

Vào đầu tháng Giêng năm 2017, trong một đêm vắng khách, Siti được giới thiệu tới một người đàn ông người Nhật tên James tìm mướn người bôi dầu lên mặt người lạ. Lúc đầu Siti cảm thấy có gì bất thường nhưng khi James hứa trả 100 đô cho công tác này thì cô không còn thắc mắc nữa. Mỗi lần tiếp khách cô chỉ kiếm được 15 đô. Phần còn lại thuộc về nhà chứa. Mơ ước của Siti là kiếm thật nhiều tiền để cất căn nhà lớn nhất trong ngôi làng cho bố mẹ.

James giải thích rằng ông đang quay lén một bộ phim hài sẽ đuợc trình chiếu trên youtube ở Nhật và Trung Quốc. Sau đó, James kêu Siti thực tập bôi dầu lên mặt những người lạ rồi ríu rít xin lỗi họ. Cứ mỗi lần thực tập như vậy là Siti được trả tiền. Chẳng những thế, những đọan phim thực tập này là cơ hội cho Siti sử dụng để xin làm diễn viên trong tương lai. Đó cũng là giấc mơ mà cô gái quê hằng ấp ủ.

Vào ngày 21 tháng Giêng, James đưa Siti sang Phnom Penh và giới thiệu cô với Chang là người nói rành tiếng Bahasa sẽ thay thế James hoàn tất đoạn phim còn lại. Vào ngày 3, 4 và 7 tháng hai, Chang đạo diễn cho Siti thực tập bôi mặt tại phi trường Kuala Lumpur và tăng tiền lương lên gấp đôi.

Sau khi bị bắt, nhân viên ngoại giao Nam Dương vào tù thăm Siti nhưng cô tưởng rằng vào tù là một màn của cuốn phim mà đạo diễn soạn ra và các nhân viên cũng đều là diễn viên nằm trong kịch bản. Tới lần thứ tư khi họ cho coi tờ báo đăng hình tử thi của Kim Jong Nam thì cô mới nhận ra là mình đã can án giết người rồi òa khóc.

Liệu phiên tòa có được xét xử công bằng với hai nữ bị cáo hay không? Mã Lai từng là thuộc địa của Anh quốc. Theo thông luật của Anh thì công tố viên phải chứng minh đủ hai yếu tố là hành động và ý chí sát nhân để cấu thành tội phạm. Nhưng các thủ phạm chủ mưu đã cao bay xa chạy về Bắc Hàn. Lập luận của cảnh sát và công tố viên rằng, hai bị cáo biết là họ bôi thuốc độc vào mặt nạn nhân dường như nghe không hợp lý. Tại sao họ phải liều mạng bôi thuốc kịch độc lên tay chỉ vì một vài trăm đô? Nếu như họ đã nhiều tập dượt trước đó bằng dầu thiệt thì làm sao họ ngờ được lần này là dầu giả?

Dĩ nhiên là sau khi bị bôi VX lên tay để bôi vào mặt Kim Jong Nam mà họ cảm thấy khó chịu và chạy nhanh vào phòng vệ sinh để rửa tay thì đó cũng là một việc bình thường. Không có nghĩa là họ biết đó là VX và đồng ý cho điệp viên Bắc Hàn bôi chất độc lên tay để giết người. Chính quyền Mã lai đã tiến hành ”trao đổi” tù binh và trả tử thi Kim Jong Nam cùng với 4 nghi phạm cho Bắc Hàn để nhân viên ngoại giao của họ được trở về nước. Đây là một quyết định dễ hiểu vì quốc gia nào cũng có trách nhiệm bảo vệ an nguy cho công dân của họ nhưng tước đi cơ hội cho bị cáo chất vấn nhân chứng để chứng minh bị cáo không cố ý giết người. Mặt khác, Mã Lai dường như đang muốn tìm vật tế thần bằng mọi giá để khóa lại hồ sơ và lảng tránh câu hỏi là tại sao họ vẫn ung dung làm ăn khắng khít với Bắc Hàn, trước bao nhiêu nghị quyết cấm vận của Liên Hiệp Quốc.

Xem ra vở tuồng ”Nửa Đời Hương Phấn” của hai soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng vào năm 1960 vẫn còn mang tính thời sự chớ không cải lương chút nào. Cả hai cô gái trẻ Hương và Siti đều xuất thân từ miền quê mộc mạc, rồi trở thành những cô gái phong trần vì không cưỡng lại được cám dỗ của chốn phồn hoa đô hội. Nhưng họ là những người con hết mực hiếu thảo. Mơ ước đơn giản của họ là cất một căn nhà khang trang để cha mẹ được nở mặt với bạn bè, hàng xóm. Có điều là cô The hoặc ‘Hương’ trong tuồng chỉ là một nhân vật hư cấu, kết cuộc đã chọn chốn thuyền môn hầu quên đi phận bạc. Còn Đoàn Thị Hương và Siti Aisyah là hai con người bằng xương, bằng thịt, và cái giá phải trả, nếu bị buộc tội sẽ là bản án tử hình bằng sợi dây thòng lọng.

Blog Archive