Monday, October 1, 2018

Hiệp định Mỹ-Mexico-Canada: Donald Trump ghi điểm trước thềm bầu cử


Thỏa thuận mới này là một điểm cộng cho ông Trump và Đảng Cộng hòa trước thềm cuộc bầu cử giữa kỳ diễn ra trong tháng 11 tới.
Việc Mỹ, Canada và Mexico đạt được thỏa thuận thương mại mới, thay thế Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ ngay trước hạn chót đêm 30/9 được xem là một thắng lợi quan trọng của Tổng thống Mỹ Donald Trump trong thực hiện chính sách thương mại của mình.
Tổng thống Mỹ Donald Trump. (Ảnh: AP)
Tổng thống Mỹ Donald Trump. (Ảnh: AP)
Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 1/10 đã hoan nghênh thỏa thuận thương mại mới với Canada và Mexico, thay thế cho Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) được ký kết năm 1994.
Theo ông Trump, Hiệp định Mỹ-Mexico-Canada (USMCA) mới sẽ giúp nông dân Mỹ có thể tăng xuất khẩu lúa mì, gia cầm, trứng, sữa, biến khu vực Bắc Mỹ thành nhà máy sản xuất khổng lồ, đảm bảo mức lương cao hơn cho công nhân ngành ô tô. Tổng thống Trump cũng khẳng định việc đạt được hiệp định mới thật đáng kinh ngạc và sẽ là một hiệp định cân bằng nhất từ trước đến nay.
“Một khi được Quốc hội thông qua, hiệp định mới này sẽ là thỏa thuận thương mại hiện đại nhất, cập nhật nhất và cân bằng nhất trong lịch sử đất nước chúng ta với các điều khoản bảo vệ công nhân tiên tiến nhất cho đến nay” – ông Trump nói.
Thỏa thuận mới này cũng được xem là một chiến thắng quan trọng của Tổng thống Trump và Đảng Cộng hòa trong việc thực hiện chiến lược thương mại dưới học thuyết “Nước Mỹ trên hết”. Đây cũng là một điểm cộng cho ông Trump và Đảng Cộng hòa trước thềm cuộc bầu cử giữa kỳ diễn ra trong tháng 11 tới.
Trước hạn chót nửa đêm ngày 30/9, Mỹ và Canada cuối cùng đã đạt được thỏa thuận về một hiệp định thương mại 3 bên, thay vì bị xé lẻ thành những thỏa thuận song phương như lo ngại trước đây. Nói cách khác, Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ đã hồi sinh trong hình hài mới mang tên Hiệp định Mỹ-Mexico-Canada.
Thỏa thuận mới cho phép duy trì cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại mà Canada coi là một biện pháp phòng vệ nếu Mỹ áp đặt các rào cản thương mại hoặc thuế quan. Đổi lại, Canada đồng ý cho phép các nhà sản xuất và nông dân Mỹ xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp nhiều hơn vào nước này. Hiệp định mới cũng cần phải được Quốc hội mỗi nước phê chuẩn thông qua trước khi chính thức có hiệu lực./.
Phạm Huân/VOV-Washington
Nguồn: VOV
Tôi Hét Lên 

Nguyễn Trung Tây

Tôi mệt nhọc với cuộc đời, 
Tôi khò khè với cuộc sống!
Tôi làm hãng cam, làm anh cai.
Tôi đếm tiền.
Tôi, vợ đẹp.
Tôi, con khôn.
Tôi ung thư.
Tôi hét lên!

Hai mươi năm rồi, ngày nào tôi cũng mệt thở không ra hơi, đầu nhức căng căng, tim đập hồi hộp, thần mắt khờ khạo; bởi sáng nào cũng vậy, tôi dậy thật sớm, hốt hoảng như người bị ma đuổi, tôi phóng thật lẹ vào sâu trong phòng tắm. Nước ấm dội xuống cuống cuồng, tôi sấy tóc hối hả, tôi chải tóc vội vàng, tôi mặc quần áo thật lẹ, tôi ba chân bốn cẳng phóng ra xe, xe đề máy, tôi biến mất vào dòng đời xe cộ ngược xuôi. 

Tách rời dòng xe đen nghìn nghịt như những con bọ hung đông lạnh không nhúc nhích trên xa lộ chằng chịt dọc ngang, tôi kiếm đường tắt, hốt hoảng bẻ trái, lừa lừa quẹo phải, tôi bực bội bấm còi, tôi phóng vội vàng vào hãng cam. 

Ngồi nhặt những trái cam tươi, tôi xếp vào thùng đều đặn như người máy. Ngồi đếm những quả cam bóng lực lưỡng da căng tròn, tôi xếp vào thùng gỗ, đường rầy dây chuyền lăn đều đẩy tới những vòng quay. Nơi cuối đường, thùng gỗ đầy cam chầm chậm lăn vào lòng xe vận tải. Đầy những thùng cam, xe vận tải đề máy quay tròn mười sáu bánh xe lăn tới những nẻo đường xa lộ. Xe vận tải khác trống hoắc lầm lì lăn bánh tới, nóng nẩy chờ đợi những thùng gỗ cam tươi chất đầy lòng xe…

Hai mươi năm của cuộc đời vừa qua, tôi ngồi nhặt cam, xếp cam, lương khá. Thoạt tiên là mười lăm đồng. Năm năm sau lương tăng lên. Năm thứ bẩy, tôi hóa thành anh cai, nhận được lương phụ trội làm xếp. Được làm anh cai, tôi tới hãng sớm hơn, ở lại cũng trễ hơn. Nhưng cũng chẳng sao. Sớm và trễ đều hóa ra những đồng tiền bạc trăm bạc ngàn vào ngày thứ Sáu cuối tuần. Bởi thế tôi hăng hái lao vào nghề xếp những trái cam vô thùng gỗ. Cuộc đời bỗng dưng ngập những tiền là tiền. Cuối tuần, cầm tờ ngân phiếu hãng cam trả với bốn con số, tim tôi đập mạnh, niềm vui tiền bạc dâng lên tê tê đầu lưỡi, bao nhiêu nhọc nhằn cực khổ bởi sáng dậy sớm, chiều về trễ, hốt hoảng tranh giành đường đi trên xa lộ tự nhiên tan biến bởi những đồng tiền vào ngày thứ Sáu cuối tuần.

Tôi hát nho nhỏ,

“Tiền là tiên là Phật,
Là sức bật của tuổi trẻ,
Là sức khỏe của tuổi già”.

Tiền! 

Có tiền là có tiên. Vợ tôi đã đẹp giờ lại càng thêm đẹp bởi những đồng tiền của hãng cam. Nàng sửa cằm, bơm môi, nâng ngực, cắt mắt, nàng đẹp rực rỡ, nàng ăn trắng mặc trơn. Tôi muốn ăn Phở, nàng nấu Phở nước trong. Tôi muốn ăn cháo lòng rắc tiêu sọ, cơm sườn tàu hủ ky, nàng lái xe Bim mơ xuống phố mua cơm cháo. Tôi muốn hút thuốc ba số 5, nàng ghé vào tiệm mua cho tôi mấy cây. Cẩn thận, nàng còn mua thêm mấy gói thuốc con mèo. Con tôi hai đứa, mịn da đẹp thịt, học hành giỏi giang trong trường đại học tư thục nhờ lương bốn số cuối tuần của anh cai hãng cam. Nhà tôi cất cao nhất khu đồi, bốn phòng rộng thênh thang. Hai vợ chồng tôi một phòng, căn phòng có màn cửa nhung. Một đứa con gái, một đứa con trai, mỗi đứa một phòng. Mỗi phòng căn bản là một TV và một máy vi tính. Cạnh phòng ăn là bar rượu rộng thênh thang. Dưới hầm nhà, xếp đều tăm tắp những chai rượu VSOP, rượu vang đắt tiền. Cạnh phòng ăn, tôi gọi người tới biến thành căn phòng có ghế da hơi nằm dài theo dõi dàn máy home theater hiệu Sony chiếu phim trên màn ảnh đại vĩ tuyến. Asia, Thúy Nga, Vân Sơn, phim Việt Nam, tôi nằm dài coi trong rạp nhà, mà tưởng là mình đang ngồi coi trong rạp màn ảnh 4D bốn chiều. 

Cuộc sống tôi thênh thang. Xe Bim-mơ, vợ tôi một cái, tôi một cái. Tôi yêu vợ, yêu con, và yêu cuộc sống!

Bởi yêu vợ và yêu con, tôi anh cai hãng cam làm thêm ngày thứ Sáu, thứ Bẩy, và luôn cả ngày Chúa Nhật. Hai chục năm rồi, ngày nào tôi cũng đi làm. 

Tôi đếm tiền mỏi tay!
Tiền giấy đếm, sướng những đầu ngón tay.
Tôi hạnh phúc mênh mông!
Đời tôi màu hồng.
Chuồn chuồn bay đầy trên cánh đồng cỏ xanh.
Chuột đồng no nê căng tròn rong chơi trên đồng lúa vàng.
Cá chem chép vàng ươm êm đềm bơi lội dọc theo bờ sông đỏ màu phù sa.
Tôi, thiên đàng trần thế!
Hồn ơi, vui lên!

Sáng hôm qua, như thường lệ, tôi dậy sớm, cổ họng đau ran rát.
Đi khám,

Bác sĩ nói, - Ung thư cuống họng.

Lần đầu tiên trong đời tôi nếm vị thuốc.
Những lần chạy chemotherapy, tóc tôi rụng, đầu tôi sói sọi! 
Thân thể xanh xao. Mặt bủng da chì!
Tôi vàng như những trái cam mà có một thời tôi xếp xếp gói gói vào thùng gỗ năm xưa.

Tôi húp phở, phở không ngon.
Tôi chán những chén cháo lòng rắc tiêu sọ.
Tôi ói ra những miếng cơm sườn nướng tàu hủ ky.
Tôi ho sặc sụa với hơi thuốc ba số 5, thuốc đầu con mèo.
Tôi nhổ ra phèn phẹt ngụm rượu đỏ Cabernet Sauvignon.
Tôi giờ này chỉ còn nuốt được những viên thuốc ung thư.

Sáng sáng nhìn qua khung cửa, 
Bình minh rực rỡ,
tôi mơ sức khỏe.
Tôi khóc! Trời ơi, sao đời phù vân!
Nếu biết thế, tôi sẽ không sống như tôi đã từng sống hơn hai mươi năm vừa qua.
Trời mùa hạ xanh tươi, nhưng sao tôi thấy lá vàng đong đưa bên khung cửa.
Tôi hối tiếc cho những ngày xưa, những ngày còn sung mãn.
Cuối tuần, vợ tôi ghé vào viếng thăm.

Mười ngón tay của nàng, mầu hồng tô son thơm mùi phưng phức. Cặp môi trái tim, mắt phượng mở lớn, đôi ngực căng tròn, nước hoa từ thân thể nàng bốc mùi thơm hăng hắc. Tôi nhìn nàng, dáng nàng sang, tóc nàng đen óng sợi tóc dầy, tôi mơ ước sức khỏe ngày xưa.

Nàng hỏi, “Bao giờ anh về"”
Con tôi hôn lên vầng trán, “Thôi, con phải về, 
Ngày mai con có bài thi cuối khóa. 
Chúc bố chóng bình phục”.

Nhưng tôi vẫn tuột dốc.
Ung thư cổ họng gậm nhấm ăn mòn thân xác.
Tôi rớt xuống.
Tôi chạm đáy vực sâu.
Tôi đốt nến, nhìn lên tượng thánh giá.
Tôi đôi môi mấp máy như Hàn Mặc Tử:

“Ave Maria, Thánh Nữ Đồng Trinh,
Xin chữa con!
Xin cứu con.
Nếu bây giờ,
Phép lạ xẩy ra,
Con sẽ vẫn đi làm ở hãng cam,
Con sẽ vẫn làm anh cai,
Nhưng con sẽ không đi làm thêm ngày thứ Bẩy, Chúa Nhật.
Bởi con đã nhận ra đời sống này vô thường!
Có đó rồi mất đó,
Vô thường! Vô thường! Đại vô thường!”.

Nhưng phép lạ không xẩy ra.
Tôi tiếp tục mệt nhọc với ung thư, 
Tôi khò khè với bệnh tật!
Ung thư tiếp tục phá nát cuống họng!
Tôi nằm dài trên giường bệnh,
Con tôi hỏi, “Bố ơi, bao giờ bố về"”.
Tôi khóc, không nói được nữa, bởi ung thư đã phá rách toang cổ họng.
Tôi run run năm đầu ngón tay, viết lên trên tờ giấy trắng tinh, “Sao hai đứa con gầy vậy"”
Con tôi nói, “Bố ơi! Mẹ bỏ đi rồi!”.
Tôi hét lên! Tiếng hét cuồn cuộn xoáy sâu đẩy tôi rơi xuống vực thẳm!

Tôi mở mắt ra,
Người ướt đẫm mồ hôi!
Nhìn qua khung cửa,
Tôi nhận ra bình minh thứ Bẩy cuối tuần rộn ràng khua vang.
Bên khung cửa, 
Có chú chim nho nhỏ say mê hót vang khúc hát bình dị, “Good morning! Chào bình minh buổi sáng”.

Tỉnh cơn ác mộng,
Tôi KHÔNG hốt hoảng như người bị ma đuổi, phóng thật lẹ vào sâu trong phòng tắm như mọi ngày trong hai mươi năm qua.
Nhưng tôi quỳ bên chân giường, tôi đọc một lời kinh nho nhỏ với Chúa, với Phật, và với Bụt.

Thấy tôi bước xuống nhà pha ly café buổi sáng, vợ tôi ngạc nhiên hỏi,

— Ủa, không đi làm sao"

Tôi đáp cộc lốc, 

— Không!

Nhưng mặt tươi như hoa, nhìn qua khung cửa, hát nho nhỏ một bài ca… 

Nguyễn Trung Tây
https://vvnm.vietbao.com
Thành Phố Montreal của nhà văn Kim Thúy: Niềm vui và những quán cà phê

Ian McGillis
(Joy – and cafés – are the heart of author Kim Thúy's Montreal)

T.Vấn (Chuyển ngữ)
blank

Giới Thiệu:
Một nhà văn thành công, trước hết, không thể nào tách rời được với cuộc sống quanh mình, ở nghĩa cụ thể nhất: gia đình, bạn bè, thành phố mình đang ở, những quán xá, những con đường hàng ngày lui tới, những con người hàng ngày gặp gỡ. Từ trên cái nền thực tế này, nhiều vấn đề cao siêu hơn được nhà văn đặt ra, bàn bạc trong tác phẩm của mình. Để hiểu rõ hơn tác phẩm của nhà văn, người đọc, nếu có dịp, cũng nên để mắt tới thế giới chung quanh của tác giả (của) tác phẩm mà mình đang đọc, sẽ đọc.

Nhà văn Canada gốc Việt Kim Thúy hiện đang là một tác giả được đặc biệt chú ý qua việc tên bà nằm trong danh sách 4 người vào chung kết cuộc tuyển chọn gỉai thưởng Văn Chương Mới thay thế cho giải thưởng Nobel về văn chương năm 2018 của Hàn Lâm Viện Thụy Điển. Trong lúc chờ đợi cơ hội thuận tiện để giới thiệu với độc giả tiếng Việt một số trích đọan trong tác phẩm nổi tiếng nhất của bà (Ru, 2012 Random House Canada), tôi chọn chuyển ngữ bài báo dưới đây của ký giả  Ian McGillis của tờ Montreal Gazette như một động tác ghé mắt nhìn vào thế giới những tác phẩm và con người nhà văn nữ 49 tuổi, một cựu thuyền nhân và đang là thỏi nam châm thu hút sự chú ý của, không chỉ người đọc Việt Nam, mà còn cả người đọc thế giới.(T.Vấn)

Chúng tôi gặp được Kim Thúy trong một ngày đẹp trời. Sau buổi gặp gỡ, tôi có ý nghĩ,  nếu như bạn chỉ cần tiếp xúc trong một khỏang thời gian nào đó với nhà văn, bạn sẽ có cảm tưởng rằng ngày nào cũng là ngày đẹp trời.

Chỉ đọc bài phỏng vấn nhà văn của Montreal đã từng đọat giải thưởng văn chương cao quý của nước Úc (Governor General’s Award) trên báo, người ta khó có thể nắm bắt được cái tinh túy nằm trong những câu đối thọai giữa người hỏi và người trả lời: Kim Thúy có một cá tính rất sôi nổi, thường hay phá lên cười một cách lôi cuốn, có vẻ như rất nhanh chóng kết bạn với người mới quen.

Hôm nay là một ngày đặc biệt. Nhà văn vừa nhận được tin mình nằm trong số 4 người vào chung kết của giải thưởng văn chương mới, được coi như là một giải thưởng thay thế cho giải văn chương Nobel năm nay vừa bị tạm đình chỉ vì những tai tiếng xẩy ra chung quanh vài thành viên của ủy ban chấm giải. Nhưng Kim Thúy có vẻ như lại hứng khởi hơn để nói về mối quan hệ cá nhân mình với thành phố mà cô đã nhiều lần gọi là home town liên tục trong 14 năm qua kể từ khi rời bỏ Việt Nam vào cuối thập niên 1970.

“Cái đẹp của Montreal nằm ở khía cạnh nhân văn. Không như New York hay Paris, những thành phố ấy tuy xinh đẹp rực rỡ nhưng mình không bao giờ thực sự mang cảm giác có thể nắm bắt được chúng. Với Montreal, mình cảm thấy mình có thể ôm trọn nó vào lòng, dù thực sự đó là một thành phố rộng lớn và mang tầm vóc quốc tế. Đó là điều mình có thể làm được.”

Lòng hiếu khách của người dân thành phố là điều Kim Thúy cảm thấy ngay lập tức khi vừa đặt chân đến thành phố với tư cách người mới định cư; với cô, không có thời gian gọi là chuyển tiếp.

“Vẻ tử tế, dịu dàng luôn tóat ra từ người dân thành phố, lẫn du khách. Nhà cửa, đường phố, công viên – thật khó để diễn tả chính xác như thế nào – nhưng tất cả đều được xây dựng và sắp xếp để cho mình cảm thấy như đó chính là nơi mình đã từng quen thuộc ngay khi vừa bước vào. Giống như ở New York, nhưng phải là một New York hòan tòan mang tính cách của Greenwich Village. Cái cách của tôi nhằm diễn tả sự khác biệt khi có người hỏi là so sánh New York như một ngôi sao điện ảnh phóng túng, một Marilyn Monroe, trong khi đó Montreal thì lại có dáng vẻ một cô nữ sinh trong trang phục mùa hè tung tăng cỡi trên yên chiếc xe đạp.”.

Gặp Kim Thúy bên ngòai đài phát thanh Radio Canada, nơi cô vừa hòan tất xong một cuộc phỏng vấn, chúng tôi nhanh chóng nhận ra địa điểm này là một địa danh của thành phố rất có ý nghĩa với cô: từ nhà ở Longueuil, chỉ mất 10 phút lái xe ngang qua cầu Jacques Cartier và một vài nơi chốn quen thuộc của nhà văn. Trên đường Visitation Street, nơi một hôm Kim Thúy tình cờ đi dạo ngang qua khu phố,  và đã khám phá ra ngôi thánh đường hùng vĩ Saint-Pierre-Apôtre. Mặc dù không theo một tôn giáo nào, cô đã nhanh chóng hình thành nên một sự gần gủi mật thiết với ngôi giáo đường, nhanh chóng đánh giá đúng vai trò của nó là một chốn trú thân  mở cửa cho tất cả mọi người trong vùng Hochelaga-Maisonneuve và cả sự an nhiên tự thân rất thích hợp với vị trí nằm dọc trên đường ranh của khu Gay Village.
blank
Chỉ đúng 5 phút lái xe về hướng đông là khu chợ hải sản La Mer, nơi người ưa chuộng đồ biển như Kim Thúy được chào hỏi như thành viên trong gia đình.

“Tất cả là vì chính con người mà thôi. Chợ La Mer – hẳn nhiên chứ, tôi có thể mua cá tươi như thế này ở những nơi khác, nhưng cái làm cho cá ở đây ngon là nhờ câu chuyện ở đằng sau con cá, ở người bán hàng mời chào mình mua hàng. Hiểu biết được đôi điều về cá từ những người bán hàng có gốc gác từ Nam Mỹ, từ Lebanon, từ khắp nơi trên thế giới sẽ làm mình thay đổi lọai cá mình mua, cách mình mua, và cả cách mình nấu món cá ấy.”.

Là người thường hay ngồi quán cà phê như phần lớn các nhà văn, Kim Thúy có riêng cho mình một nơi chốn ưa thích, Cà phê N Latte, tọa lạc ngay một góc phố gần nhà ở Vieux Longueuil.
blank
Cà phê N Latte (Ảnh Facebook N Latte)
 

“Tôi rất hài lòng mình có một nơi chốn lui tới như thế này. Tôi đến để ủng hộ quán vì không khí quán rất quyến rũ. Phần khác, để thưởng thức món cà phê. Dù đã cố hết sức, tôi không thể nào pha được ly cà phê sữa ở nhà ngon như ở quán.”.

Một địa điểm khác mà Kim Thúy ưa thích là quán cà phê Espace Pépin Maison nằm trên đường St Paul trong khu Montreal cũ.

“Trong thung lũng nhỏ xíu kế bên một cửa tiệm, giống như tiệm bán hàng của người Hồi giáo, có một quán cà phê. Quán rất đáng yêu, thật tuyệt hảo. Tôi có thể ngồi đó cả ngày. Điều đó gợi cho tôi nhớ rằng luôn luôn có một sự cân bằng giữa các yếu tố tạo nên sự thành công của một cửa tiệm buôn bán. Nhưng sự cân bằng ấy cũng rất mong manh. Trước đây, có một quán cà phê mà tôi rất yêu thích – tôi sẽ không nói tên ra đâu – Một hôm, tôi vào quán và bỗng nhận ra có một sự thay đổi nào đó. Sau đó, tôi được biết quán đã thay chủ mới và không khí quán đã không còn như xưa nữa. Từ đó, tôi không bao giờ quay lại.”

Cũng khá gần nhà là một tiệm ăn mà Kim Thúy thường lui tới. Đó là nhà hàng Dur à Cuire năm trên đường St Jean ở Longueuil.

Nhà văn nói về nhà hàng bán thức ăn Pháp:

“Đây là một địa điểm xuất sắc về thức ăn, về khung cảnh, và cả về lòng nhân hậu. Một hôm tôi đến đó ăn với đứa con trai mắc chứng tự kỷ của mình. Con tôi không thể ăn những thứ có trong thực đơn nhà hàng. Tôi gỉai thích với viên đầu bếp. Không lâu sau đó, ông ta bưng ra một đĩa thức ăn ngon nhất, thứ thức ăn mà hai mẹ con tôi có thể cùng ăn với nhau. Dàn nhân viên nhà hàng còn rất trẻ, rất sáng tạo và thông minh. Bếp nấu bày ra trước mắt thực khách, mình có thể nhìn thấy họ đã dồn hết tâm trí vào dĩa thức ăn cho mình như thế nào. Họ là bậc thầy về nghệ thuật nấu nướng. Tôi rất thích vì nhà hàng chỉ cách nhà tôi độ 7 phút đi bộ.”

Tất cả câu chuyện xoay quanh vấn đề ăn uống này nhắc chúng ta biết rằng, sau khi đã là một luật sư, và trước khi trở thành nhà văn, Kim Thúy đã làm chủ một nhà hàng.

“Đúng vậy! Nhưng tôi phải nói ngay điều duy nhất về nó (việc điều hành một cửa hàng ăn) mà tôi còn nhớ đến là tiếp xúc với khách hàng, chia sẻ nhau những câu chuyện hàng ngày cùng những niềm vui nỗi buồn. Tôi không hề nhớ chi đến việc lau rửa bát đũa. Dù sao bây giờ thì tôi đã quá già để làm công việc đó. Nó rất là vất vả cho thân xác, lúc nào cũng tất tả với tốc độ chạy nước rút.”

Librairie A lire, một cửa hàng sách độc lập ở Longueuil, đã gãi đúng chỗ ngứa của con mọt sách Kim Thúy.

“Tiệm sách chỉ cách 10 phút đi bộ từ nhà tôi, và các người làm việc đó thì tuyệt vô cùng. Có lần, tôi vừa bước vào bên trong, thì một nhân viên bán sách chạy ra và bảo tôi: Tôi biết bà muốn tìm cái gì. Rồi anh ta đưa cho tôi quyển sách “Kiến Trúc và Thẩm Mỹ” của Alain de Botton. Quả đúng đó là quyển sách tôi đang cần. Như thể anh ta là thầy bói không bằng.”

Ở trên, nhà văn có nhắc đến đứa con trai 16 tuổi , một trong hai đứa con của cô, có lẽ đã có một tác động nhất định đến cái nhìn của cô với thành phố.

“Tất nhiên là phải có rồi. Tôi đánh giá thành phố, không chỉ với tư cách một phụ huynh, mà còn với tư cách một người mẹ có đứa con mắc chứng bệnh tự kỷ (autism). Tôi luôn nghĩ đến những gì con tôi thích và không thích, cái gì làm cho nó sợ và cái gì gây trở ngại cho nó. Chúng tôi luôn phải tìm xem những thứ chúng tôi có thể thỏa  mãn cho con mình. Thí dụ, con tôi thích Montreal Cũ vì nơi đó có những con ngựa. Vì thế, chúng tôi thường đến đó và đi bằng thuyền. Nếu không có nó, có lẽ chúng tôi sẽ chẳng bao giờ dùng phà từ Longueuil và sau đó lấy xe đạp đi vòng vòng.”

Một việc khác nữa, có lẽ nếu không có đứa con trai mắc bệnh chắc cô sẽ không bao giờ làm là đi chơi ở Portus 360, một nhà hàng quay ở trên đỉnh của tòa nhà  Delta Centre-Ville cũ nằm trên Robert-Bourassa Blvd.

“Do mắc chứng bệnh tự kỷ, con tôi nhận ra ngay lập tức là căn phòng đang di chuyển, dù với tốc độ rất chậm khiến có người lúc đầu không biết là căn phòng đang di chuyển. Tôi nghĩ nó thích đến đó vì từ vị trí trên cao nhìn được tòan bộ thành phố giúp nó tự thiết lập được mình với không gian chung quanh, một điều mà những đứa trẻ mắc bệnh tự kỷ rất khó có được.”

Về giải thưởng Văn Chương Mới – cô sẽ phải đương đầu với Maryse Condé, Neil Gaiman và Haruki Murakami – người thắng giải sẽ được công bố vào ngày 12 tháng 10 sắp tới đây. Kim Thúy tự đánh giá mình thấp, cho rằng cơ hội sẽ không đến tay cô.

“Có lẽ, tôi sẽ không được giải, vì như vậy là làm hủy họai uy tín của 3 người kia”. Kim Thúy thêm vào câu nói một tiếng cười lớn.

Tuy vậy, nhà văn tỏ ra vui thích vì được mọi người chú ý đến. Ít nhất, cô có vẻ như vậy. Nhưng tươi vui là trạng thái tự nhiên của Kim Thúy, nên rất khó để khẳng định điều này.

Ian McGillis (Montreal Gazette)
T.Vấn (Chuyển ngữ)

Cũng Bằng Cấp Như Ai!




Tháng hai năm 1990, tôi qua Mỹ được đúng bốn năm rưởi. Anh Ba tôi là quân nhân, xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân rồi sau đó vô Võ Bị Đà Lạt. Anh luôn chạy đua với thời gian, không bao giờ chậm trễ hay trì hoãn bất kỳ chuyện gì. Quyền huynh thế phụ.  Ba mất sớm, anh là con trai trưởng trong gia đình, luôn lo lắng và chăm sóc cho má và chúng tôi.


Anh qua Mỹ năm 1975, đúng năm năm sau, anh vô quốc tịch và bảo lãnh cho cả nhà tôi, mười bốn người sang Mỹ vào năm 1984. Tôi cần phải bổ túc thêm một số giấy tờ khác nên hai mẹ con qua trễ hơn chín tháng. Mấy anh chị em tôi qua trước nên đã vô quốc tịch hồi năm 1989. Theo thủ tục  bấy giờ, mình chỉ có thể nộp đơn trước sáu tháng thôi. Do đó, giữa tháng hai 1990, anh Ba tôi đi xin đơn cho tôi để điền. Khi ấy, con trai tôi mới mười lăm tuổi, nên không cần phải thi. Nếu tôi đậu, cháu sẽ đựơc tự động nhập quốc tịch, còn tôi rớt thì...hì..hì.... Riêng cháu gái thì sanh ở bên này nên cháu đương nhiên là công dân Mỹ gốc mít rồi.

Tháng Tư năm 1975, sau khi miền Nam đỗi chủ, làn sóng người ào ạt bỏ nước ra đi. Nhiều trại ty nạn được cấp tốc mở ra để giúp đỡ cho người Việt Nam. Trong đó, có doanh trại Fort Chaffee nằm trong thành phố Fort Smith, tiểu bang Arkansas. Trại nằm cách phi trường Fort Smith một mile về hướng đông nam. Đây là một trung tâm huấn luyện của các đơn vị trong vùng thuộc Vệ Binh quốc gia và Quân trừ bị cũng như các đơn vị hiện dịch từ các nơi khác tới tập huấn. Bây giờ, doanh trại này đã không còn sử dụng nữa.

Ngoài ra, người ty nạn năm 1975 còn được đưa về các nơi khác như Camp Pendleton ở California, Eglin Air Force Base ở Florida...

Cũng như nhiều người khác, gia đình anh chị tôi được đưa về Fort Chaffee, thành phố Fort Smith. Sau khi rời khỏi trại, anh chị tôi quyết định chọn nơi này để sinh sống.

Đây là một thành phố nhỏ, bốn mùa rõ rệt. Đông về  giá rét, hè thì nóng như thiêu. Sau khi đựơc chính thức định cư, nhiều người Việt Nam đã rũ nhau đi lập nghiệp ở những thành phố lớn như California, Houston...

Quen sống nơi tỉnh nhỏ , nên khi đến đây, tất cả anh chị em chúng tôi lại cảm thấy yêu mến cái thành phố hiền hoà này, một thành phố đạo, ra đường thấy toàn là nhà thờ, không nơi chốn ăn chơi, tội ác dường như rất hiếm.  Tuy nhiên, cũng có vài điều bất tiện. Chẳng hạn như một năm sau ngày đến Mỹ, tới ngày gia hạn thẻ xanh (green card), chúng tôi phải đi tận Memphis thuộc tiểu bang Tennessee, lái xe mất năm tiếng đồng hồ. Rồi đi thi quốc tịch cũng phải tới đó, thật mất thì giờ.

Do đến trễ, mấy anh chị em tôi đã thi xong hết rồi. Đến lượt tôi, dù anh Ba tôi có nói trước là anh sẽ nghỉ làm một ngày để chở tôi đi, nhưng khi làm đơn, tôi viết riêng một thư kèm theo, trong đó, tôi nói là tôi chưa biết lái xe, hai con còn nhỏ, không có phương tiện để đi xa. Tôi xin được thi tại thành phố này, trong  mỗi dịp có lễ tuyên thệ cho người đã thi đậu.

Sỡ dĩ tôi xin như vậy vì tôi biết rõ, thỉnh thoảng người ta có tổ chức lễ tuyên thệ quốc tịch tại toà án gần nơi tôi ở, chạy xe chỉ mười phút thôi. Tôi hay làm liều lắm, nếu hên, đựơc chấp thuận thì đỡ phải đi xa, còn họ từ chối thì mình cũng phải có cách khác, chứ có chết thằng tây nào đâu mà ngại hé các bạn...

Hên gì đâu, vài tuần sau tôi nhận được thơ từ sở di trú báo tin ngày thi tại Fort Smith. Mừng quá, tôi lập tức cho anh Ba tôi hay, anh nói không dè tôi nghĩ ra được cách này, may thiệt.

Tới ngày đi thi, tôi cũng diện kỹ lắm. Mặc bộ áo đầm do chính tay tôi may, màu hồng nhạt cho đời thêm đẹp, thêm tươi! À, tôi xin nói rõ về khoản này. Anh Ba tôi ( cái gì cũng anh Ba tôi hết) kỹ lắm. Trước ngày đi thi, anh căn dặn tôi đủ điều như cha dặn dò một đứa con nhỏ ngày đầu đi thi tiểu học vậy đó.

Tôi có đọc một bài báo, tường thuật cách nay cũng hơn hai mươi năm, tại Oklahoma  City. Có anh chàng Việt Nam đi thi quốc tịch. Tới ngày hẹn, anh ta chỉ mặc một áo thun ngắn tay, cổ tròn kiểu như áo lót bên trong sơ mi của đàn ông và quần jean bạc thếch. Khi bước vô phòng thi, người có trách nhiệm phỏng vấn nhìn anh ta một phút và biểu anh ta đi về, đợi giấy mời kỳ tới đi thi với lý do không tôn trọng chốn trang nghiêm.

Anh Ba tôi nói để người ta có cảm tình, mình phải ăn mặc chỉnh tề, lịch sự, phải đến đúng giờ, phải chào hỏi và khi được mời ngồi thì mới được ngồi chứ không nên tự động kéo ghế mà (sit down) sẽ bị mất điểm ngay từ đầu đó. Anh chị của tôi đã có kinh nghiệm khi đi thi trước tôi, nói cho tôi biết, interviewer (người phỏng vấn) là một luật sư, tên Cook, rất khó. Trong lúc hỏi bài, ông ta không ngồi ngay bàn viết đối diện với mình mà cứ đi qua lại, rồi đứng đưa lưng về phía mình, ông giả vờ lựa mấy cuốn sách trên kệ, tay thì cầm mấy cuốn sách, miệng đọc câu hỏi, em trai dặn tôi phải hết sức chú ý điểm này...nghe nói, tôi cũng lo lắm. Mấy ngày chuẩn bị, tôi nhờ cô giáo của Bình đọc bài thi trong băng cassette cho tôi tập nghe quen giọng Mỹ.

Tám giờ sáng, tôi gọi taxi để ra toà án là địa điểm tuyên thệ hôm đó. Đúng chín giờ, tôi được gọi tên vô. Luật sư Cook dáng người cao ráo, tuổi ngoài ba mươi, khá bánh trai ( mà sao khó tánh dữ a!) đã ngồi sẵn tại bàn làm việc. Tôi nhớ lời anh tôi dặn, bình tĩnh mà hơi...run, lịch sự chào ông. Ông ta rất lạnh lùng, đàn ông gì mà gặp phụ nữ chẳng chịu hé môi cười một cái coi cho được nữa. Sau khi được mời, tôi ngồi xuống nhẹ nhàng, không dám gây tiếng động, làm như thục nữ mới về nhà chồng vậy đó. Bắt đầu, ông biểu tôi tự giới thiệu về mình, xong vô phần hỏi lý lịch. À..cái này coi vậy mà không đơn giản đâu nha quý vị. Đó là “yes, no” questions nhưng nếu không hiểu mà ‘yes’hoặc ‘no’ lạng quạng là a lê hấp bị đuổi đi dìa liền. Chẳng hạn như câu:

-Bạn đã từng bị bắt về tội mãi dâm chưa?

-Bạn có mua bán hay xử dụng ma tuý không?

-Nếu đã trở thành công dân Mỹ, khi quốc gia có chiến tranh, bạn có trung thành và sẵn sàng gia nhập quân đội và cầm súng bảo vệ nước Mỹ không?

....
Câu một, câu hai nếu không hiểu mà ‘yes’đại một cái là kể như xong.

Với số vốn căn bản về tiếng Anh hồi còn ở Việt Nam, cộng thêm thời gian học bên này, những câu hỏi trên đã không làm khó tôi.

Rồi đột nhiên, ông ta đứng lên, y chang lời em tôi nói. Ông ta vói tay lên kệ sách, lựa chọn cái gì hỏng biết, miệng thì bắt đầu hỏi. Đã đề phòng trước, thấy ổng vừa đứng dậy là tôi cũng “thủ” liền. Tôi ngóng cái lổ tai về hướng ổng, rán vễnh lên nghe coi ổng nói gì...ổng vừa dứt câu vọng cổ, ý quên, câu hỏi, tôi trả lời nhanh chóng. Qua câu thứ nhì tôi cũng lẹ làng qua được . Ông ta quay lại, biểu tôi viết một câu tiếng Anh do ông ta đọc. À, cái này cũng dễ thôi, tôi viết rất nhanh và đưa ông ta coi.

Thiệt là may, chắc thấy tôi mau mắn trả lời và đều trúng hết, ổng chỉ hỏi hai câu là xong, trong khi tôi nghe nhiều người khác nói đi thi mà gặp ổng là phải vái thầm trong bụng vì ổng hỏi rất nhiều câu!

Xong đâu đó, ông bắt tay tôi, mỉm cười (A Di Đà Phật!):

-Congratulations, I congratulate you on becoming a United States citizen. Tomorrow, at noon, we will have a Naturalization Ceremony here at court, where you will take the Oath of Allegiance with your son. You must be here by 11 am, and you must take the Oath on your son’s behalf, as he is a minor.

Trời ơi! Tôi mừng hết lớn luôn nha. Đã thi đậu, lại được tuyên thệ ngay ngày hôm sau, còn gì bằng.

Về nhà, tôi chụp liền điện thoại, gọi cho anh Ba tôi (cũng là anh Ba tôi) báo tin. Anh Ba tôi vui lắm nhưng cũng dè dặt:

-Tốt quá, nhưng em có chắc là ngày mai được tuyên thệ không? Vì ai cũng phải đợi một thời gian hết, sao em lại được tuyên thệ liền?

-Chắc mà anh Ba, ổng còn biểu em dẫn Khương ra ngoài đó nữa.

-Được rồi, em nhớ đến sớm nha.

Tôi dạ rồi lo gọi điện thoại lên Subiaco, trường nội trú cách  nhà năm chục miles, nơi Khương đang theo học để xin cho cháu nghỉ một ngày, rồi vội nhờ Dũng, em trai tôi đi rước cháu.

Hôm sau, hai mẹ con đã có mặt ở đó thật sớm, áo quần chỉnh tề. Đúng giờ, chúng tôi được gọi vô cái phòng hôm qua thi. Cũng là ông luật sư trẻ tuổi đẹp trai có tên đầu bếp Cook, đang ngồi chễm chệ nơi bàn giấy. Sau khi chào hỏi, ông cầm một tờ giấy, đứng lên biểu con tôi (và cả tôi?) đưa tay mặt lên.

Ông đọc, con tôi đọc theo. Mới được một câu, bỗng ông ngừng lại, nhìn tôi rồi nói, giọng nghiêm nghị:

-Sao bà không đưa tay lên thề? Vậy thì đi ra ngoài đi, coi như không có tuyên thệ!

Chết cha tôi rồi! Tôi vô ý, mắc lo nghĩ gì không biết mà ổng biểu cả hai mẹ con, tôi lại tưởng có mình Khương. Tôi lật đật nói:

-Xin lỗi ông, tôi không để ý, tưởng đây là tuyên thệ cho riêng con tôi nên tôi không đưa tay lên thề. Ông làm ơn đọc lại đi...

-Thôi được. Bà đưa tay lên và lập lại lời tôi!

Hú hồn hú vía! Tôi như cái máy, lật đật đưa tay lên, râm rấp đọc theo liền.

Xong rồi, ông ta biểu hai mẹ con bước qua toà án. Nơi đây, người Việt Nam, Mễ , Lào, Ấn Độ... đủ sắc dân đã chật kín phòng. Sau khi tìm được chỗ ngồi, mẹ con tôi chờ chừng hai mươi phút,  buổi lễ bắt đầu. Sau lễ chào cờ, lời chúc mừng của ông Thị Trưởng, chúng tôi lần lượt đồng đứng lên đọc lời tuyên thệ và lên lãnh bằng, cái bẵng đầu tiên ở xứ cờ hoa!

Sau đó, chúng tôi được dự tiệc với sandwich, bánh ngọt, trái cây... người người ăn uống nói chuyện uyên thuyên, ai ai cũng hớn hở...hi hi...kể từ bây giờ tui cũng là Mỹ  da ...vàng, như ai chứ bộ...

Sau này, vấn đề thi quốc tịch đã có phần dễ dãi hơn nhiều. Tại thành phố nơi tôi ở đã có văn phòng sở Di Trú, những người di dân từ xứ khác đến không cần phải đi xa. Riêng ai đã ở Mỹ ít nhất mười lăm năm và trên năm mươi lăm tuổi sẽ được ưu tiên thi, có thông dịch viên. Má tôi bị mù vì bệnh tiểu đường, lại càng được đặc biệt hơn. Bà chỉ cần trả lời tên họ, ngày tháng năm sanh, cùng nơi ở hiện tại là được nhập quốc tịch.

Khi chị Hai tôi đủ thời hạn mười lăm năm để đi thi, tôi đưa chị đi. Bà giám khảo hỏi bằng tiếng Anh, tôi nói lại tiếng Việt cho chị Hai tôi nghe. Chị cũng có học bài trước nên những câu hỏi lịch sử chị trả lời đúng hết. Và kỳ đó, chị Hai tôi cũng thi đậu luôn. Thật ra, ngày xưa ở Việt Nam chị Hai tôi đã được học tiếng Pháp từ thời tiểu học, sau khi qua Mỹ chị cũng theo học Anh văn ở trường tráng niên một thời gian dài, cho nên chị nghe và hiểu cũng khá nhiều, chỉ ngại nói thôi.

Thật tình mà nói, nhiều người Việt Nam ngày xưa, khi qua đây phải cố gắng làm việc để lo cho gia đình bên Mỹ và còn gánh nặng từ quê nhà. Người ta thấy cái quốc tịch không lợi lộc và ảnh hưởng gì đến lương hướng, do đó nhiều người không cần thiết. Cho đến sau này, khi chuyện đi về Việt Nam đã phổ biến, rồi việc đem thân nhân qua Mỹ đòi hỏi người bảo lãnh phải là công dân ở đây, thêm vào đó, khi đến tuổi xin tiền trợ cấp an sinh xã hội (SSI) của các ông bà trên sáu mươi lăm tuổi thì mới có nhiều người hiểu được cái tầm quan trọng của việc thi quốc tịch. Chưa kể, những người không phải là cư dân chính thức, định cư ở Hoa Kỳ, nếu phạm tội và bị tuyên án tù trên một năm thì có thể sẽ bị trả trở về nguyên quán. Bây giờ, tại nhiều trung tâm giáo dục tráng niên có tổ chức lớp luyện thi quốc tịch miễn phí, chuyện thi cử tương đối dễ dàng nên người ta không còn e dè như xưa nữa.

Tôi còn nhớ, lúc con gái tôi lên năm, bắt đầu đi học mẫu giáo. Mỗi ngày, hai mẹ con cà rịch cà tang đi bộ đến trường phải mất nửa tiếng đồng hồ, trong khi chạy xe thì cỡ năm phút mà thôi. Ít  lâu sau, mùa đông đến, trời bên ngoài lạnh thấu xương mà mỗi sáng sớm tôi phải dắt bộ Bình đi học. Có nhiều hôm, thấy con bé run lẫy bẫy vì lạnh, môi tím ngắt. Tôi thương quá, bèn biểu cháu lên lưng, cõng cho lẹ mà ấm cả mẹ lẫn con. Dọc đường thỉnh thoảng gặp xe tốt bụng họ cho có giang thì mừng hết lớn luôn.

Mấy tháng mùa đông kéo dài lê thê, nhiều bữa hai mẹ con suýt té vì trơn trợt. Ngoài trời lạnh buốt, con bé cứ chảy mủi liên miên, tôi nóng ruột quá, nên quyết định tập lái xe. Đậu được bằng viết, ngày nào tôi cũng năn nỉ, hết người này đến người kia dạy giùm tôi. Ngày thi, cô cảnh sát người Mễ ngồi cạnh làm giám khảo, chỉ đường ra lệnh cho tôi chạy. Đến một ngã tư, đèn đang đỏ, nhìn hai bên đường trống trơn, tôi quẹo mặt. Vừa quẹo xong, bà ta nói:

-Chạy về ty cảnh sát, mày rớt rồi. Đèn đỏ mà mày quẹo là không được!

Ủa sao kỳ vậy ta? Tui ngồi xe mấy đứa em chở tụi nó cũng quẹo mặt hoài khi đường trống mà?

Thế là tiu nghỉu đi về, chờ tuần sau thi lại. Lên xe, tôi đem thắc mắc này ra hỏi Thái, cháu tôi nói:

-Chừng nào dì có bằng, dì ẩu vậy được chứ dì đi thi mà dì chạy kiểu đó thì rớt là cái chắc rồi!

Hi..hi... thêm một kinh nghiệm nhớ đời!

Qua tuần sau, trở lại. Lần này ông cảnh sát già ngồi bên, ngó nét mặt hiền từ, tôi cũng vững bụng, chạy theo hướng dẫn của ông. Về tới phòng cảnh sát, đậu vô bãi đâu đó ngay ngắn xong xuôi, ông nhoẻn cái miệng móm xọm cười thiệt tươi:

-You passed!

Chèn ơi, tim tôi đập loạn xà ngầu vì mừng quá....

Ba mươi ba năm sống ở Mỹ, tôi cũng có dịp ngồi ở giảng đường college một thời gian thiệt là...ngắn! Bữa đực bữa cái vì má tôi thỉnh thoảng cứ phải vô nhà thương, tôi quyết định chấm dứt cái thời sinh viên mơ ước từ thời còn ở Việt Nam. Chắc tại cái số của tôi, dù được may mắn sang Mỹ, dù rất ham học nhưng rốt cuộc phải chịu đầu hàng số phận!

Nói vậy chứ tôi cũng hãnh diện mà khoe với bà con cô bác gần xa là tôi cũng có được hai cái bằng chứ đâu có tệ, một bằng quốc tịch và một bằng lái xe ngon lành hé!

Trời đang chuyển thu, ngồi ngó qua khung cửa, nhìn lá vàng bay lả tả, bầu trời ảm đạm.  Tôi nhớ lại những ngày mới đến Mỹ cũng vào thời gian này. Khi đó chưa biết lái xe, cả  nhà đi làm.  Hai má con ngồi trong phòng khách, vừa nhắc chuyện xưa, vừa nghe vọng cổ từ cái máy hát bên  cạnh, ôi sao mà buồn não ruột.

Đã trên ba chục năm, các con đều trưởng thành, ra riêng. Lại cũng ngồi một mình bên khung cửa, không còn má để nhắc chuyện xưa, tai đã nghễnh ngãng  không nghe được những câu vọng cổ mùi mẫn nữa ...thôi thì viết ra đôi dòng, kể lại chuyện hồi nẫm, gởi đến các bạn, mong sẽ nhận được những nụ cười thoải mái của buổi chiều cuối tuần  vậy.

Thân chúc tất cả bạn hữu xa gần thật vui, thật hạnh phúc nha!

Fort Smith, 09-18 -2018

Dong Trinh
Chuyện ngủ gật trước công chúng

Tiến sĩ Nguyễn Nam Dương, Tham tán Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc

Việc các tờ báo của Pháp, Đức đăng tin và hình ảnh một đại biểu Việt Nam ngủ trong một tư thế phản cảm giữa hội trường Liên hợp quốc ở New York là một sỉ nhục lớn đối với đất nước; việc báo Tuổi Trẻ ở Việt Nam đăng bài và hình nhạo báng ông TT Mỹ là “đơn độc” và “ngồi chờ để được phát biểu” là nỗi nhục thứ hai; việc mạng xã hội đưa hình ảnh cảnh TT Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại đại hội đồng LHQ mà phía dưới cử toạ bỏ đi hết là nỗi nhục thứ ba.

Báo giấy tiếng Đức viết: “trong khi Thụy Sỹ tươi cười vui vẻ thì Việt Nam ngủ gục”.

Nhân đây tôi xin kể ra một câu chuyện mà tôi chứng kiến tư đầu đến cuối. Cũng về chuyện ngủ gật:

Khoảng năm 2009 tôi nhận được lời mời của bệnh viện Pacific ở Singapore qua làm phim phóng sự. Họ trả cho tôi 6.000 usd để làm phim trong 2 ngày. Chuyến đi đó tôi trực tiếp quay phim, làm đạo diễn và có nhà báo Nguyễn Bá Ngọc sếp tờ Sức khoẻ và đời sống ở cùng phòng. 

Buổi khai trương bệnh viện Pacific nằm trên đại lộ danh vọng nhất của Singapore là Orchard road có cả bộ trưởng y tế Singapore và bộ trưởng bộ y tế Việt Nam, lúc đó là Ông Nguyễn Quốc Triệu. Thời đó, bệnh viện mới là Pacific muốn cạnh tranh với đối thủ Parkway để dành lấy thị phần bệnh nhân ở Việt Nam đưa sang chữa bệnh nên họ sẵn sàng chi đẹp.

Đến giờ khai trương bệnh viện vẫn không thấy ông bộ trưởng Quốc Triệu ở đâu, cô bạn Hạnh Phước lúc đó là giám đốc truyền thông nháo nhào lên lo lắng. Mãi về sau mới thấy ông Triệu và đoàn tuỳ tùng đi tới. Tôi nhớ họ đi đông lắm. Ông Triệu mặc áo màu vàng nhạt bỏ ngoài, vạt ngang như kiểu Mao Trạch Đông, ngồi ngay hàng ghế đầu và vừa ngồi xuống ghế là... ngủ ngay lập tức. Tôi quay được những cảnh ông ta ngủ gà gật say sưa mặc dù cảm thấy rất nhục với bạn bè nước ngoài. Họ đứng phát biểu chỉ cách ông vài mét. 

Lúc đó Hạnh Phước bối rối, tôi thì vẫn bắt buộc phải quay; đến đoạn dắt đoàn đi tham quan các cơ sở do bệnh viện đầu tư, tôi ôm máy chạy trước để đón đầu; đám tuỳ tùng bộ y tế Việt Nam đi đứng nói cười ha hả như nhà không chủ; tôi phải làm việc và im lặng trong sự tức giận vô cùng.
Bộ trưởng Y tế Nguyễn Quốc Triệu: “Cái giường này êm thật, phải chi có một em như ở Gaylang đêm qua thì quá sướng!”

Chuyện này đáng nói: Khi bước vào một phòng bệnh, chủ nhà Singapore giới thiệu một giường nằm loại mới nhất với nhiều tiện ích, họ mời ông bộ trưởng y tế Việt Nam leo lên nằm thử. Thật không tưởng tượng nổi, ông ta đã nhảy lên một cái phổng, nằm nhún nhún và nói “Cái giường này êm thật, phải chi có một em như ở Gaylang đêm qua thì quá sướng!”. 

Trời đất ơi, Tôi, Hạnh Phước và một số cộng sự dường như không tin nỗi điều ông ta vừa nói. Bọn tuỳ tùng cười hô hố, sếp nói đúng rồi, có một em nằm cùng với sếp lúc này là tuyệt nhất! Họ không hề giữ một chút thể diện quốc gia. Họ là những con vật chứ không phải con người. Họ đâu biết là các nguyên thủ và chuyên gia Singapore lúc đó cũng có nhiều người biết tiếng Việt.

Tác giả Bùi Thanh Tuấn chụp tại bệnh viện Pacific năm đó, 2009.

Gaylang là khu phố đèn đỏ nổi tiếng, là “xóm đĩ” ở Singapore. Tối đêm trước đoàn tuỳ tùng đã đi chơi gái ở đó, và đó cũng là lý do sáng hôm sau ông bộ trưởng vô bệnh viện ngủ gà ngủ gật.

Đoạn băng đó đến nay tôi còn giữ dù đã gần 10 năm qua rồi. Nghe đâu sau khi bà Kim Tiến lên thay, ông bộ trưởng Triệu chuyển qua làm trưởng ban bảo vệ sức khoẻ cho các lãnh đạo, trong đó có các “tử sĩ” Nguyễn Bá Thanh, Trần Dại Quang vừa lên đường.

Calif. 9/28/2018
LB. Bùi Thanh Tuấn

Blog Archive