Thursday, April 5, 2018

Kỷ niệm Một thời chiến đấu oai hùng

Lê Hoàng 

Khi đến đất Mỹ nửa tháng sau tôi mới quen. Lang thang đi bộ một mình trên đường phố T.phố Oakland – Trên một con đường ít người qua lại, xe cộ ở đây chạy rất êm ả, rất trật tự luật lệ nghiêm minh so với Việt Nam ngày nay xô bồ bất chấp luật giao thông như thế nào cả. Nếu có vi phạm thì xài luật “rừng” với nhau. Hoặc có bọn Công An thì luật “Đầu tiên” là xong ngay.

Bất chợt, tôi qua khỏi một ngã tư đèn xanh đèn đỏ, gặp một quán trà. Nhìn lên tôi thấy mấy chữ Quán trà “Bốn Phương”. Thấy cũng lạ! Đất Mỹ mà cũng có quán trà để uống “mạn đàm” hay “trà đàm”, không chừng lại là “Trà Đạo” nữa chăng?

Nhìn vào trong quán – lúc đó buổi sáng cuối mùa Thu, trời nắng nhưng se lạnh. Tôi bước vào, một vài người nhìn tôi, có vẻ xa lạ! Chắc ở nơi tôi có cái gì biểu hiện của sự mới mẻ cho họ biết rằng tôi là dân “quê nhà” mới đến nước Mỹ chăng? Một người tuổi chừng trên 50 hỏi tôi:

– Xin lỗi! Anh ở Việt Nam mới sang phải không? Tôi gật đầu.

Thế rồi, một vài anh nữa cũng đều hỏi tôi chuyện V.N và họ rất vui khi biết tôi qua với diện H.O. Họ cũng chỉ cho tôi những kinh nghiệm sống ở đất Mỹ. Sau khi nói chuyện một hồi, tôi tình cờ lấy một tờ báo đọc, đó là tờ nhật báo có tên: “PS Việt Nam”. Nhìn cho kỹ mới rõ là “Phụng Sự Việt Nam”. Tiếng nói của người Quốc gia hải ngoại.

Thế rồi, tôi ngồi uống trà và đọc báo. Qua những tin tức, rồi những bài viết về thời sự v.v… Bất chợt tôi đọc đến truyện “Đoàn quân mũ đỏ” Tác giả: Hoàng Ngọc Liên. Bài khởi đăng từ 02 tháng 8 năm 2000. Cũng là ngày tôi “chân ướt, chân ráo” vừa đến Mỹ đúng một tháng. Đọc một hồi, tôi trả tiền cà phê, không quên ghi số điện thọai của toà soạn báo. Đến chỗ điện thoại công cộng. Nhưng loay hoay mãi, tôi vẫn không thể nào gọi được cho tòa soạn tờ báo để hỏi thăm tin tức tác giả Hoàng Ngọc Liên.

*  *  *

Vào ngày… tháng 05 Năm 1968. Tôi đang trên đường rừng, mang theo một tiểu đội Trinh sát, vượt rừng từ đường mòn “Hồ chí Minh”, về đến một căn cứ quân sự Mỹ có tên là “Nancy” cách Mỹ Chánh chừng hơn 15km. Đến đó, chúng tôi gặp một đơn vị Thiết giáp – Chi Đoàn 20 – do Trung úy Th. làm Chi đoàn trưởng (Cùng khóa với tôi). Chúng tôi dừng quân và xin tá túc qua đêm… Gặp nhau, hai đứa vui mừng và cũng không quên kể cho nhau nghe về chiến sự và trách nhiệm mình đang thi hành bên lề cuộc chiến. Sau khi cơm nước xong, Th. sắp xếp cho chúng tôi nghỉ ở một căn hầm khá kiên cố trong công sự phòng ngự của đơn vị Th… Lúc đó ..vào khoảng 7g30 tối, hỏa châu đã bắt đầu bắn lên không gian, thỉnh thoảng một vài tiếng súng bắn lẻ tẻ ngoài xa …xa.. Rồi, tiếng pháo lớn của các đơn vị pháo binh vọng lại làm tăng thêm phần không khí căng thẳng của chiến cuộc đang diễn tiến. Vì băng rừng lội suối suốt ngày, nên “con cái” chúng tôi lăn đùng ra ngủ cho lại sức chỉ có phiên gác “nội bộ” mà thôi. Tôi vẫn còn thao thức… trước khi ra khỏi hầm, Th. đưa cho tôi cái Radio mà Th. hay mang theo trên xe để vừa nghe nhạc em gái “Dạ Lan” và tin tức hằng ngày! Tôi nghĩ thế. Tôi vừa nằm, vừa mở máy nho nhỏ vừa đủ nghe. Tiếng nói của đài phát thanh quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Phát thanh từ Sài Gòn, tôi lặng yên nghe. Bỗng một giọng đọc thật rõ ràng, trịnh trọng và cũng rất buồn xướng lên:

– …Cố Trung sĩ nhất Hoàng L. số quân 60/101237. Thuộc đại đội Tổng hành Dinh Bộ Tư lệnh Sư Đoàn nhảy dù, đã bị tử thương ngày 6 tháng 5 năm 1968. Đã anh dũng đền nợ nước trong cuộc hành quân tiến chiếm “Ngã Tư Bảy Hiền”, thuộc Quận Tân Bình – Gia Định – Vùng 3 Chiến thuật.


Tôi giật mình, đầu óc quay cuồng. Một vùng ánh sáng tỏa xuống chụp vào toàn thân tôi, mà tôi tưởng rằng như pháo địch đã rơi đúng trên đầu mình. Người anh của tôi đã hy sinh đền nợ nước! Những kỷ niệm thời thơ ấu của hai anh em chúng tôi bắt đầu tuần tự hiện ra trong trí tôi. Gia đình cha mẹ tôi chỉ có 2 anh em tôi mà thôi. Đất nước chiến tranh, quân cộng sản ào ạt xâm chiếm miền Nam. Thời còn đi học, tôi thường đọc sách và đã nhận ra rằng cộng sản Quốc Tế nói chung, cộng sản Việt Nam miền Bắc nói riêng, là điều hiểm họa tất yếu sau này. Thế rồi anh em đều tình nguyện vào lính. Anh tôi nhập ngũ sớm hơn tôi vài năm. Đơn vị Sư Đoàn nhảy dù. Anh đã phục vụ qua các tiểu đoàn 1, 3, 5. Cuối cùng thì được thuyên chuyển về Đai Đội Tổng hành dinh. Biệt phái cho phòng Tâm Lý chiến của Sư Đoàn. Tôi không biết giờ này mẹ tôi đã biết anh tôi bị tử trận hay chưa? Tôi lo sợ mẹ tôi hay tin sẽ ngất xỉu và bệnh cũ sẽ tái phát. Các con đi lính – Mẹ buồn, mẹ khóc – Nhưng mẹ cũng rất vui khi các con về phép, mang trên vai giây chiến thắng màu vàng chen màu đỏ oai hùng. Đội chiếc nón “bê rê” màu đỏ, màu xanh. Mẹ tôi thường nói:

– Tụi bây đi lính chi mà thằng lớn thì mũ đỏ. Thằng nhỏ thì mũ xanh, hi? Tao thấy lính ở đây có đứa nào như tụi bây mô? Mỗi lúc như thế, tụi tôi cười và trả lời.
– Thì lính dù, tụi con có khác mà má.
– Lính dù, nhảy từ trên trời xuống mà tụi bây không sợ hứ?
– Dạ, từ trên trời cao nhảy xuống, chúng con đã không sợ mà còn thích thú nữa má à.

Bây giờ anh tôi đã nằm xuống, không còn nữa những ngày tháng hai anh em mặc quân phục dù chở nhau chạy trên xe Dame đỏ chạy khắp thành phố Sài gòn trong những ngày tôi nghỉ phép về Sài gòn chơi.

*  *  *

Về đến Đà Nẵng trong ngày, tôi trình diện với Đại Bàng, trình bày sự việc và xin Đ.B. 5 ngày phép vào SG để dự đám tang của anh tôi, chưa nhận kịp giấy phép, thì tôi lại có lệnh khẩn cấp nhảy xuống vùng Ba Tơ -Trà Bồng, để thi hành một nhiệm vụ mà không thể trì hoãn được. Sau mấy tiếng đồng hồ chuẩn bị tôi và anh em đồng đội lại vào phi trường Đ.N. lên trực thăng thi hành nhiệm vụ. Mãi cho đến cuối năm, lu bu với công việc, tôi cũng chưa có dịp thuận tiện để vào SG tiễn đưa linh hồn anh tôi về nơi an nghỉ cuối cùng.

Chị dâu tôi thì đã về quê. Chị tôi tay bế tay bồng, còn mang thêm cái bầu chưa sinh. Tôi về phép được 2 hôm thì gặp chị tôi về. Gặp tôi, chị tôi khóc nức nở, hai đứa nhỏ cháu tôi nhìn tôi ngơ ngác. Hai mái đầu xanh đã sớm chít khăn tang chắc chúng nó buồn, nhưng chưa hiểu thấu đáo về chuyện cha chúng nó đã đền xong nợ nước. Ôi! mà còn thêm một đứa sắp sửa chào đời nhưng vĩnh viễn không thấy được mặt cha mình.

Mẹ tôi lại khóc, Mẹ tôi hay khóc hoài, mỗi lần chúng tôi về phép rồi lại đi, mẹ tôi cũng lại khóc! Nên anh em tôi ít khi về, sợ rằng mẹ khóc hoài có phương hại đến đôi mắt. Chị dâu tôi trách tôi. “Tại sao anh chú mất mà chú không vào để dự lể tang?” Tôi chỉ im lặng không trả lời. Vì có giải thích thì chị tôi cũng không thể hiểu hết được. Thế rồi chị lại bảo:

– Anh chú mất có ông Thiếu Tá Hoàng Ngọc Liên và Ông Thiếu Tá Hoàng Thọ trưởng phòng giúp đỡ, lo liệu thật chu đáo. Đọc bản tuyên dương trên đài phát thanh quân đội. Mọi người trong đơn vị (BTLSĐD) lo hết, lúc đó chị bối rối có biết gì đâu. Anh chú được an táng trong nghĩa trang quân đội ở Biên Hòa.

Rồi mẹ tôi, chị tôi bắt đầu kể chuyện về anh tôi với các cấp chỉ huy trong đơn vị cho tôi nghe. Chị tôi cứ bảo rằng:

– Chú phải vào SG gặp ông Thiếu Tá Hoàng Ngọc Liên và Thiếu tá Hoàng Thọ để cám ơn các ông giùm cho anh chú. Ôi! đặc biệt lắm. Anh chú cũng thỏa mãn – Đơn vị lo liệu tang lễ đầy đủ, ai cũng bùi ngùi thương tiếc tính trung thực, thật thà của anh. Tôi bảo:
– Thì tình huynh đệ chi binh “Hai ông Thiếu tá đó đều lo cho bất cứ ai trong đơn vị, nếu có xẩy ra tình trạng như thế. Chứ đâu một mình anh L. đâu. Không phải – chị tôi cãi lại:
– Anh chú được mấy ông thương nhiều lắm!

Thế rồi, chị cứ nhắc mãi chuyện tôi phải đi SG để gặp hai ông Thiếu Tá. Đôi lúc tôi cũng khôi hài với chị: Thì, hai ông đó cũng họ Hoàng cả nên thương anh L. là phải rồi. Chị tôi lại giận bảo:

– Chú lại nói bậy. Mấy ông đó người Bắc, người Nam. Anh chú người Trung làm sao họ hàng được.

Ồ! Chị không hiểu. Con nhà lính là “Huynh đệ chi binh” anh em hết. Thế rồi, đến tháng 10 năm 1970. Tôi có dịp đi công tác Saì Gòn. Trước khi đi tôi về thăm gia đình. Gặp chị tôi, chị lại nhắc chuyện tìm gặp hai ông Thiếu Tá nhảy dù để thay mặt chị cám ơn. Tôi bảo với chị tôi, biết vậy hồi đó em đăng báo cảm tạ cho chị yên lòng. Chị tôi nói:
– Biết mấy ông có chịu đọc báo để biết không? Ở Sài Gòn chị thấy cả hằng trăm thứ báo.

Tôi đến SG vào buổi sáng trong một chuyến phi cơ boeing Air VietNam bay từ Đà Nẵng vào. Xuống phi trường, tôi gọi điện thoại cho Thành – người bạn sẽ cùng tôi đi chuyến công tác trong những ngày tới ra đón tôi. Đợi chừng hơn 30 phút Thành đã đến. Về trại K, tôi gởi hành lý rồi cùng Thành đi ăn cơm trưa. Lúc đó cũng vào khoảng 11 giờ trưa, trời SG nắng hanh nhưng cũng dễ chịu. Trở lại trại, sẵn có điện thoại. Tôi hỏi trung sĩ A. ở phòng trực số điện thoại của phòng TLC /SDND. Trung Sĩ A cho biết là: 30.344. Sau ba lần quay số, điện thoại bên kia vẫn bận đường giây. Tôi đợi thêm 10 phút nữa quay thêm lần nữa. Nhưng không được. Tôi cũng không hiểu tại sao?.. Thế rồi, Thành gọi tôi ra xe để qua trại M.K. chuẩn bị những thứ cần thiết cho ngày mai lên đường thi hành nhiệm vụ. Chuyện đến gặp hai ông thiếu tá dù coi như hoãn lại dịp khác. Từ đó, đời Binh nghiệp, quá khứ và chuyện anh tôi cũng qua đi với thời gian. Cuộc chiến đấu chống Cộng vẫn không ngừng.

29 tháng 3 năm 1975. Đà Nẵng thất thủ – mất – Rồi 30 tháng 4 1975. Sài gòn cùng chung số phận. QLVNCH, mỗi người mỗi ngả. Kẻ đã di tản ra ngoại quốc trước, người còn ở lại, lần lượt bị cộng sản gom vào các trại tập trung với nhiều hình thức khác nhau. Cái gọi là “Cải tạo” để hành xác và tinh thần. Tôi cũng như các chiến hữu khác, cùng chung số phận.

Năm 1982, tôi được thả về quê, gặp lại vợ con và gia đình. Điều đầu tiên tôi suy nghĩ là phải bỏ đi vào miền Nam xa lạ. Không thể ở quê nhà, không thể yên ổn bản thân được. Sau khi trình diện bọn Công An Xã và Huyện. Ba tháng sau, tôi một mình đi vào miền Nam -Vùng kinh tế mới – ẩn thân lập nghiệp, vợ con tôi lần lượt vào sau. Rồi chuyện H.O đến, các bạn bè tôi lần lượt ra đi qua Mỹ. Tôi cũng sớm biết chuyện này, tuy nhiên hậu quả địa phương cả hai nơi đã tạo ra khó khăn không it cho tôi. Cuối cùng tôi cũng hoàn tất được điều tôi muốn. Trước khi đi Mỹ, tôi trở về quê để thăm mẹ tôi và chị tôi. Ba tôi bị mất trong tù với chức Thôn trưởng và nguyên chủ tịch Phong trào Cách Mạng Quốc Gia thời kỳ Đệ nhất Cộng Hòa. (Vì tuổi già không chịu nổi kham khổ).

Sau bao năm lăn lộn với cuộc sống chật vật. Con cái đứa còn, đứa mất. Cuối cùng vẫn là hai bàn tay trắng. Tôi nghĩ đến Mỹ, đất lạ quê người, nhưng chắc chắn mình được hưởng sự Tự Do, công bằng. Không như xứ sở quê hương mình bây giờ quân CS đã không còn nhân tính, tất cả đều bị chà đạp. Người dân hoàn toàn bị nô lệ. Bị lợi dụng trăm bề để tụi CS đục khóet tận xương tủy.

Về đến quê, vợ con tôi và tôi vui vẻ được các bà con nội ngoại, bạn bè thân tình đến thăm hỏi và chúc lành. Vì điều kiện kinh tế, gia đình tôi chỉ ở lại quê nhà một tuần lễ, rồi phải quay về vùng kinh tế mới thường trú để chuẩn bị cho chuyến ra đi. Chị dâu tôi, nay đã già và bệnh hoạn. Các cháu tôi cũng đã lớn. Ba đứa cũng sắp sửa lập gia đình. Thằng con trai giống anh tôi như đúc. Tôi thương các cháu và khuyên tụi nó ở nhà cố gắng làm việc lo cho mẹ già.

Bất chợt, ngày gần vào SG. Chị tôi gọi lại, chị tôi nay bị liệt không đi được và bảo:
– Chú sang Mỹ, nhớ tìm gặp hai ông Thiếu Tá dù nghe. Chắc chắn mấy ông đó đã sang bên đó rồi.
– Chuyện hơn mấy chục năm trước rồi mà bây giờ chị vẫn còn nhớ và nhắc lại.

Chị tôi trả lời:
– Sao lại không nhớ. Tôi nhớ suốt đời.

Tôi tự nghĩ “chim trời cá nước” chị tôi không hiểu. Đất Mỹ, chứ đâu phải như ở “Sông Hương, Núi Ngự” hay 12 quận nội ngoại thành SG đâu mà đi tìm? Mà cho dù SG hay Huế, không có địa chỉ thì cũng đành chịu thua. Cuộc đời quân ngũ trong lính tình nghĩa “Huynh đệ chi binh” thật thắm thiết. Khi đoàn quân ra đi. Đến lúc trở về, thiếu vắng một ai, thì nổi buồn rõ ràng hiện lên trên những khuôn mặt đồng đội. Tăng lên sự căm thù giặc Cộng. Tập đoàn CS hiếu chiến miền Bắc đã nghe theo lệnh quan thầy Nga Sô và Trung Cộng đã gây ra biết bao tương tàn chết chóc kéo dài triền miên cho đến ngày hôm nay vẫn chưa chấm dứt.

Nhìn lại hơn 30 năm. Khi CS tiến chiếm miền Nam. Mọi con người phải sống trong ngục tù cay đắng – Cái nhà tù vĩ đại nhốt hơn 90 triệu con dân, dân tộc Việt Nam!!!.

Bây giờ tôi mới thấy thấm thía hơn khi đọc lại tập “Chín tầng địa ngục” Hay “Quần Đảo ngục tù” của một nhà văn người Nga.

Tôi chưa đọc hết tập truyện “Đoàn quân mũ đỏ” của nhà văn Hoàng Ngọc Liên. Nhưng, đọc một phần nào đó, tôi cảm nhận được những hào hùng của đoàn quân Sư đoàn dù năm nào đã chiến đấu anh dũng trong lòng đất mẹ và nhiều chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trên mọi đường đất nước quê hương dấu yêu.

Cũng nhân tiện đây, tôi xin viết vài giòng tâm sự xin trân trọng cảm tạ hai anh Thiếu Tá Hoàng Ngọc Liên và Hoàng Thọ (mà tôi chưa bao giờ gặp). Lời cảm tạ chân thành trong tình nghĩa của một thời chiến đấu bảo vệ HÒA BÌNH và TỰ DO cho quê hương.

Lê Hoàng
Tại Sao Trẻ Em Ở Mỹ Lại Tự Tin Hơn Những Đứa Trẻ Việt?



Không quan trọng học lực, ngoại hình xấu đẹp, hoàn cảnh ra sao,… trẻ em ở Mỹ đều rất tự tin, năng động. Các bé hiểu rằng, mỗi người đều đặc biệt theo cách riêng và không cần so sánh bản thân mình với ai cả. Vậy trẻ Mỹ có được sự tự tin này từ đâu?

1. Cha mẹ Mỹ dành tình yêu vô điều kiện cho con

Các nhà tâm lý học tin rằng, sự tự tin của trẻ con phần lớn có nguồn gốc từ tình yêu vô điều kiện của cha mẹ dành cho con mình.

Cụ thể là gì? Ngay từ khi trẻ mới chào đời, cho đến suốt cuộc sống sau này của trẻ, mẹ Mỹ luôn để con biết rằng: dù con nặng cân hay còi cọc, khỏe mạnh hay ốm yếu, thông minh hay chậm chạp, biết nghe lời hay nghịch ngợm, xinh xắn hay xấu xí, cao hay lùn…. bố mẹ đều luôn yêu con và nuôi dạy con là một người độc lập, không giống như những đứa trẻ khác. Điều này khiến trẻ con Mỹ rất tự tin vì chúng biết, mình không cần phải so sánh với ai và dù có ra sao, chúng luôn nhận được sự ủng hộ vô điều kiện từ cha mẹ.

Với những đứa trẻ Việt, từ bé đã bị mẹ so sánh về cân nặng, chiều cao, lớn lên lại bị áp lực bới điểm số, bằng cấp. Nhiều bậc phụ huynh Việt tỏ ra ngại ngần trong việc thể hiện tình yêu với con và trước mặt người lạ, luôn cố tình chê con mình với mục địch cho bé cảm thấy bản thân cần cố gắng. Tuy nhiên, cách làm này là sai lầm. Đứa trẻ sẽ cảm thấy tự ti vì chúng chưa bằng người khác, và cha mẹ chúng dường như cũng chưa hài lòng về chúng.

Lúc này trong lòng trẻ sẽ tự hoài nghi chính mình, đánh mất sự tin vào bản thân, đồng thời trẻ sẽ học cách nhìn tình yêu thương và sự quan tâm bằng quan điểm “vụ lợi”. Nếu cha mẹ cứ đặt ra tiêu chuẩn quá cao thiếu thực tế cho trẻ thì khi lớn lên trẻ sẽ trở nên căng thẳng, lo lắng, suy tính thiệt hơn.

Bác sĩ khoa thần kinh cho rằng: Các bé gặp vấn đề về tâm lý đa số đều có thể tìm thấy nguyên nhân trong cách giáo dục của gia đình. Sự tác động của cha mẹ đối với tính cách và cảm xúc của con trẻ nhiều hơn sự ảnh hưởng đến từ nhà trường và xã hội.

2. Trẻ em Mỹ được tôn trọng như một người lớn

Lòng tự trọng là một phần tạo nên sự tự tin của con người. Trẻ nhỏ cũng có lòng tự trọng và cần được mọi người tôn trọng. Các trường học và cả gia đình ở Mỹ luôn dạy trẻ về việc tôn trọng lẫn nhau. Một đứa trẻ có thể không giỏi toán nhưng lại có tài lãnh đạo, một cô bé có thể không giỏi văn nhưng lại vẽ rất đẹp… Tất cả các bé đều có ưu điểm riêng của mình và đều phải được tôn trọng, giúp đỡ để phát huy tài năng.

Các trường học và gia đình ở Mỹ luôn đề cao “giáo dục cổ vũ” và “giáo dục tôn trọng”. Giáo viên ở trường rất tôn trọng học sinh. Bất kể những câu hỏi của học sinh có ngô nghê đến đâu, các giáo viên đều trả lời rất tận tình, và thường kèm theo những câu nói động viên như: “Đây là một câu hỏi rất thú vị” hay “Em đã hỏi đúng vấn đề quan trọng nhất”… Giáo viên luôn giúp trẻ cảm thấy thoải mái và can đảm nêu ý kiến. Trẻ em lớn lên trong một môi trường như vậy liệu có thể không tự tin?

Trẻ em ở Mỹ còn được tôn trọng như một người trưởng thành vậy: Bố mẹ vào phòng con phải gõ cửa, muốn thay đổi đồ gì trong phòng con phải có sự đồng ý của trẻ, những gì liên quan đến con đều phải nói với con, nhật ký của con thì không được quyền mở ra đọc…. Mẹ Mỹ biết rằng, một đứa trẻ không được tôn trọng không chỉ không tự tin, mà còn không biết tôn trọng người khác, bởi vì không có ai làm gương, thực hành cho trẻ thấy.

Các nhà giáo dục đã rút ra kết luận sau những cuộc nghiên cứu sâu rộng như sau: Trong quá trình trưởng thành của trẻ, điều quan trọng nhất là xây dựng sự tự tin của trẻ, khi đã tự tin thì trẻ sẽ có sức mạnh để khắc phục khó khăn mà trẻ gặp phải trong cuộc sống, sống với thái độ cố gắng, dám nghĩ dám làm. Vì vậy khi trẻ còn nhỏ, điều mà cha mẹ cần làm không phải là để trẻ học được bao nhiêu chữ, học thuộc bao nhiêu bài thơ, làm được bao nhiêu bài tập mà là phải tôn trọng cảm giác dù nhỏ nhất của trẻ, xây dựng cho trẻ sự tự tin.

3. Trẻ tự tin khi được khuyến khích và đánh giá cao

Trong lòng mỗi người đều muốn được khẳng định và khen ngợi, nếu một đứa trẻ cảm thấy mình được người khác thừa nhận rằng trẻ quan trọng, có ý nghĩa với người khác thì trẻ sẽ cảm thấy vui vẻ một cách rất tự nhiên, có cảm giác được khẳng định mình.

Các trường học ở Mỹ thường tổ chức các chương trình văn nghệ, mỗi đứa trẻ sẽ lên và trình bày một tài năng của mình. Các phụ huynh sẽ ngồi ở dưới, cùng lấy máy quay để ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ. Và đương nhiên, tiết mục nào cũng nhận được những tràng pháo tay nhiệt tình nhất. Sự tự tin luôn được khuyến khích ở Mỹ. Khi một đứa trẻ được đánh giá cao bởi mọi người, chúng sẽ tự nhiên cảm thấy vui vẻ, muốn khẳng định mình hơn, cảm thấy tự hào và tự tin hơn. Ngược lại, những đứa trẻ hay bị khiển trách, phê bình, thậm chí mỉa mai sẽ cảm thấy như mình luôn thất bại, mặc cảm, sẽ phủ nhận khả năng của chính mình, sinh ra tâm lý tự ti, từ đó mất đi nhiệt tình trong việc học và trong cuộc sống.

Bắt đầu từ lớp một, các bé ở Mỹ sẽ luân phiên làm cán bộ lớp, tất cả đều có tư cách được phát biểu trên bục và phát biểu thế nào cũng được. Có những bạn khi nói không có kết cấu, nói vấp váp lắp bắp, câu trước không khớp câu sau, giáo viên sẽ khen ngợi học sinh đó có quan điểm đặc biệt và rất dũng cảm.

Giáo viên ở Mỹ luôn có rất nhiều cách để tìm ra được ưu điểm, điểm mạnh của học sinh để khen ngợi và tránh những khiếm khuyết của trẻ. Lâu dần, những điểm tốt của trẻ sẽ càng ngày càng tốt hơn, sở trường sẽ càng lúc càng giỏi. Trẻ sẽ tìm được sự tự tin nhờ những sở trường của mình.

4. Cha mẹ Mỹ tin tưởng vào con cái

Có bao giờ bạn nghe thấy một cuộc đối thoại kiểu như: “Mẹ ơi con thấy cái áo này hơi nóng” và sau đó người mẹ sẽ đáp lời: “Con mặc vào đi. Nóng gì mà nóng”. Mẹ Việt có thể từ chối ý kiến của con và cho rằng lời nói của trẻ không đáng tin cậy và không tin tưởng vào con mắt, cảm nhận của một đứa trẻ. Thế nhưng mẹ Mỹ thì không.

Những đứa trẻ nhiều lần bị từ chối và phản đối ý kiến bởi chính bố mẹ mình lâu dẫn sẽ mất tự tin và khả năng độc lập. Là phụ huynh, cha mẹ Mỹ luôn cố găng tin tưởng vào cảm xúc và quan sát của con mình, để ý đến ý kiến cá nhân của trẻ. Khi trẻ muốn thử điều gì, mẹ Mỹ sẽ cho con cơ hội để làm. Điều đó khiến trẻ con Mỹ có cơ hội để tự tin hơn.

Một người thật sự tự tin không dựa vào những giá trị bên ngoài như học lực, thành tựu trong công việc, tiền bạc, ngoại hình mà là những giá trị mà bản thân người đó nhận thức được ở chính mình.

Hãy dạy con như mẹ Mỹ, và ta sẽ có được một thế hệ trẻ em mới, tự tin và tự chủ hơn.

Hồng Liên (t/h)
Tinh hoa net
Vụ Đầu Độc Gây Chấn Động Thế Giới 

Trúc Giang MN (Danlambao)


Ông Sergei Skripal và con gái Yulia trước khi bị trúng chất độc thần kinh ở Salisbury

1. Mở bài

Ngày 4-3-2018, ông Sergei Skripal, cựu sĩ quan tình báo Nga, đang cư ngụ tại thành phố Salisbury, miền nam nước Anh, cô con gái ông 33 tuổi, sinh sống tại Moscow, Yulia đến thăm ông, cả hai bị nhiễm chất độc thần kinh. Một thám tử đến nhà ông để điều tra cũng bị nhiễm độc. Cả ba người bị bịnh nặng.

Vụ đầu độc gây chấn động thế giới. Hoa Kỳ, Tổ chức Cấm vận Vũ khí Hóa học. Liên minh châu Âu và các thành viên, Khối NATO, Australia, Canada và giới truyền thông quốc tế, Hội đồng Bảo An LHQ… bị lôi cuốn vào vụ việc nầy.

Ngày 14-3-2018, chính phủ Anh chính thức cáo buộc nhà nước Nga đứng sau vụ đầu độc và phải chịu trách nhiệm về vụ nầy.

Anh Quốc trục xuất 23 nhà ngoại giao Nga được xem là những gián điệp đang do thám nước Anh. Đồng thời thông báo nội vụ cho Hội đồng Bảo An LHQ. Hoa Kỳ, Pháp và Đức ra thông cáo lên án Nga về vụ đầu độc nầy.

2. Vụ đầu độc
Ngày 4-3-2018, ông Sergei Skripal, 66 tuổi cư ngụ tại thành phố Salisbury và cô con gái tên Yulia cư ngụ tại Moscow (Nga) đến Anh Quốc thăm ông. Cả hai được phát hiện bất tỉnh trên một băng ghế trong công viên tại trung tâm Salisbury.

Một nhân chứng đã thấy cô Yulia sùi bọt mép, đôi mắt trợn ngược chỉ còn thấy màu trắng.

Đến ngày 15-3-2018, ông Sergei Skripal đang ở trong tình trạng nguy kịch. Thám tử Nick Bailey tuy trầm trọng nhưng ổn định.

3. Cuộc điều tra của Anh Quốc




Các chuyên viên chất độc hóa học từ quân đội Anh được điều động đến TP Salisbury hỗ trợ điều tra ngày 11-3 - Ảnh: REUTERS
Vào ngày 9-3-2018, 180 chuyên gia quân sự trong lãnh vực chiến tranh hóa học và 18 chiếc xe đặc nhiệm được triển khai đến hiện trường.

Các mẫu chất độc được cơ quan công nghệ quốc phòng cho biết, chất độc nầy rất hiếm, mà thủ tướng Anh, Theresa May, tuyên bố ngày 12-3-2018 đó là chất độc tên Novichok mà Liên Xô đã sản xuất hồi thập niên 1980.

Ngày 11-3-2018, cuộc điều tra tập trung vào những nơi mà ông Skripal và con gái đã từng ở đó hoặc đã tiếp xúc như: vali quần áo, nhà ở, xe ôtô, quán rượu The Mill và nhà hàng Zizzi là những nơi mà ông Skripal và con gái đã đến ăn và uống rượu, băng ghế công viên mà ông Skripal đã bất tỉnh tại đó. Nhà của ông có chất độc khiến cho thám tử Nick Bailey bị nhiễm độc khi điều tra tại đó. Ngay cả bó hoa mà ông đã đặt tại mồ của vợ ông cũng được đưa vào vào danh sách điều tra.

Cảnh sát Anh đã nhận dạng hơn 240 nhân chứng và thu thập hơn 200 chứng cứ, ngoài ra còn có một số lượng hình ảnh video an ninh.

3.1. Chất độc được giấu trong hành lý của Yulia Skripal.
Ngày 16-3-2018, đài RFI đưa tin, chất độc dường như được giấu vào một trong những hành lý trước khi cô Yulia rời Moscow.

Từ Luân Đôn, thông tín viên đài RFI, Muriel Delcrow cho biết “Yulia đã vận chuyển chất độc thần kinh trong vali của cô”.

Một bản tin được tờ Daily Telegraph đăng trên trang nhất, thì thủ phạm, có lẽ đã bôi chất độc vào quần áo hay các loại mỹ phẩm của cô.

Những điều nầy cho thấy thủ phạm vẫn còn ở Moscow.

3.2. Những đối tượng nằm trong danh sách điều tra

Ông Neil Basu, người đứng đầu lực lượng cảnh sát chống khủng bố, tiết lộ một số chi tiết quan trọng.

Vào lúc 13h40, ông Sergei Skripal và con gái dừng xe ở bãi đậu của trung tâm thương mại Malting, thuộc thành phố Salisbury.

Lúc 15h35 ông đến nhà hàng. Lúc 16h35 cơ quan cứu hộ nhận được tin báo của một người dân. Khi đến nơi cảnh sát phát hiện hai người đã bất tỉnh trên một băng ghế của công viên nằm gần nhà hàng.

Một nhân chứng cung cấp những người mà ông Skripal đã gặp gỡ. Cảnh sát thu thập những để xác minh những người khả nghi đó. Và thu thập được 380 vật chứng.

1). Điều tra về chiếc xe BMW của ông Skripal



Xe của cựu đại tá Nga Skripal được che phủ và đưa đi khám nghiệm
Ông Skripal có thể bị nhiễm độc khi chạm vào tay nắm cửa xe mà chất độc được bôi vào đó. Thế nhưng cả hai cha con đều nhiễm độc cùng một lúc cho nên nghi vấn nầy không thuyết phục vì chỉ có ông Skripal mở cửa xe.

Một nghi vấn khác là sát thủ có thể vào trong xe để bôi chất độc. Nghi vấn nầy có thể chấp nhận, vì đối với những tay chuyên nghiệp thì xâm nhập vào trong xe không khó gì.

2). Điều tra bó hoa đặt trước mộ


Bó hoa tươi mà ông Skripal đặt trước mộ vợ được xếp vào bằng chứng quan trọng trong cuộc điều tra. Đó là những bông hoa bị nhiễm bởi một một chất độc thần kinh hiếm có, nhưng chưa rõ nguồn gốc.

Mọi hướng điều tra tập trung vào những bông hoa trên mộ nầy. Việc đặt bó hoa tươi được xem là bất thường, vì ông thường mua hoa giả ở cùng một tiệm bán hoa trước khi đến nghĩa trang.

Một nhân chứng nhìn thấy có “một người đàn ông đeo mặt nạ” đáng nghi ngờ xuất hiện gần hiện trường. Thế là hàng trăm cảnh sát chống khủng bố vào cuộc. Họ tiến hành điều tra tại khu vực mộ của bà Liudmilla, vợ của ông Skripal.

Cảnh sát mở rộng phạm vi hoạt động để xác định chất độc từ đâu tới. Quán rượu The Mill bị phong tỏa. Hơn 500 khách lui tới nhà hàng Ý Zizzi và quán rượu được mời đến để giải độc. Nhà hàng Ý Zizzi và quán rượu The Mill bị đóng cửa để điều tra.


Quán rượu The Mill bị phong tỏa để phục vụ điều tra - Ảnh: AFP

3). Khai quật mộ của vợ ông Skripal




Nhân viên điều tra Anh làm việc tại khu mộ con trai ông Sergei Skripal ở nghĩa trang Salisbury - Ảnh: EPA
Một dân biểu Anh cho rằng vợ của ông Skripal và con trai ông “bị giết” mặc dù lý do chính thức là bà qua đời vì bệnh ung thư và được an táng ở đây năm 2012.

Một bản tin hôm 10-3 nhiều nhân viên mặc trang phục chống độc đã “khai quật” ngôi mộ của bà Liudmilla, vợ ông Sergei Skripal.

4. Vài nét về Sergei Skripal

4.1 Tiểu sử



Sergei Skripal sinh năm 1951, là sĩ quan kỳ cựu trong cơ quan tình báo quân đội (GRU). Ông tốt nghiệp học viện quân sự ngoại giao ở Moscow. GRU phát hiện tài năng vượt trội của Skripal nên được chọn làm sĩ quan tình báo hoạt động ở châu Âu.

Tình báo Anh cử người tiếp xúc và mua chuộc, ông nhận lời làm việc cho tình báo Anh.

Năm 2000. Skripal rời khỏi GRU, khi chưa bị phát hiện, ông vẫn tiếp tục hợp tác với MI-6.

Năm 2004, Skripal bị an ninh Nga bắt giam về tội phản bội tổ quốc, làm gián điệp cho nước ngoài. Cáo trạng của an ninh Nga cho rằng ông đã nhận 100,000USD để bán cho tình báo MI-6 danh sách gián điệp Nga đang hoạt động ngầm ở Anh.

Năm 2006, Skripal bị kết án 13 năm tù. Tháng 7 năm 2010 được trao đổi giữa Nga và Hoa Kỳ.

Năm 2012, vợ ông qua đời vì bịnh ung thư. Tháng 3 năm 2017, con trai ông, Alexander qua đời do bịnh suy gan.

Cuộc trao đổi gián điệp Nga và Mỹ được thực hiện vào tháng 7 năm 2010. Cuộc trao đổi đó được xem là lớn nhất sau thời chiến tranh lạnh. Mỹ trả cho Nga 10 điệp viên do Mỹ và Anh trục xuất để đổi lấy 4 điệp viên của Anh Mỹ.

Trong 10 gián điệp Mỹ trả cho Nga có một điệp viên nổi tiếng là vô cùng xinh đẹp. Đó là Anna Chapman. Trong 4 gián điệp Mỹ nhận từ Nga thì có ông Sergei Skripal. Cuộc trao đổi bí mật tại sân bay thủ đô Vienna, Áo (Austria), khi hai chiếc phi cơ đậu sát vào nhau và 14 điệp viên từ hai bên lần lượt bước sang phía đối diện.


Điệp viên Anna Chapman
Điệp viên Sergei Skripal được trao quyền tỵ nạn ở nước Anh.

Theo trang web DEBKAfile của Israel là sau 10 năm làm điệp viên hai mang cho tình báo Anh (MI-6) đến vụ đầu độc nầy, ông Skripal vẫn còn hoạt động.

Mỗi tháng một lần, ông vẫn tiếp xúc với một sĩ quan tình báo Anh tại một nhà hàng ở Salisbury. Sĩ quan nầy là một người đàn ông mặc quần áo bằng vải len Tweed. Họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh và tiếng Nga.

5. Phản ứng và bình luận
5.1. Phản ứng của chính phủ Anh



Thủ tướng Anh Theresa May phát biểu trước quốc hội. Ảnh: Reuters

Ngày 8-3-2018, Bộ trưởng Nội vụ Vương Quốc Anh, bà Amber Rudd nói rằng việc xử dụng chất độc thần kinh trên đất Anh là hành động thô bạo và liều lĩnh giết người công khai và tàn nhẫn.

Ngày 12-3-2018, Thủ tướng Theresa May, đưa ra tối hậu thư là Nga phải trả lời vụ việc vào ngày hôm sau, 13-3-2018. Nước Anh cương quyết sẽ có những phản ứng, thậm chí sẽ lên kế hoạch thảo luận với Mỹ và các đồng minh châu Âu, về những biện pháp trả đũa,

Nếu Nga không có câu trả lời thích đáng thì Anh Quốc sẽ trục xuất các nhà ngoại giao là điệp viên Nga, tiến hành những biện pháp trừng phạt tài chánh đối với Nga. Thậm chí Anh sẽ lên kế hoạch thảo luận với Mỹ và các đồng minh ở châu Âu về khả năng tẩy chay FIFA World Cup 2018 tại Nga. (Từ 14 tháng 6 đến 15-7-2018) tại Nga.

Ngày 14-3-2018, Thủ tướng Theresa May tuyên bố trục xuất 23 nhà ngoại giao Nga ra khỏi nước Anh. Họ được cho một tuần để thu xếp.

Biện pháp tẩy chay nầy rất khó thực hiện vì các vận động viên của những quốc gia nầy đã rèn luyện và chờ ngày đem tài năng ra thi thố. Những vận động viên có hy vọng chiếm huy chương vàng sẽ phản đối, vì ông nầy đã từng làm gián điệp hai mang, Anh và Nga. Gián điệp thanh toán nhau là việc bình thường trong ngành gián điệp, nhất là vụ việc xảy ra ở nước Anh. Không vì vụ thanh toán nầy mà làm thiệt thòi cho các lực sĩ của quốc gia mình.

Bộ trưởng Nội vụ Anh, bà Amber Rudd, tuyên bố “Anh sẽ không nương tay đối với bất cứ hành động nào, chính phủ nào trên đất nước nầy”

5.2. Phản ứng của Nga


Tổng thống Vladimir Putin

Ngoại trưởng Nga Sergey Viktorovich Lavrov
Phát ngôn viên của Tổng thống Nga Vladimir Putin nói rằng “Chúng tôi nhìn thấy tình trạng bi thảm nầy nhưng chúng tôi không có một thông tin nào về những mối liên quan đến vụ việc. Đại khái là Nga không có liên quan gì đến vụ đầu độc nầy cả.

Sứ quán Nga cho biết Nga sẽ không đáp ứng tối hậu thơ của Luân Đôn cho tới khi nào cơ quan điều tra của Anh thu được những mẫu hóa chất đầu độc nầy.

Sau khi được tái đắc cử, Tổng thống Vladimir Putin cho rằng cáo buộc của Anh là vô lý. “Nga không có chất độc nầy, chúng tôi đã phá hủy tất cả các vũ khí hóa học dưới sự kiểm soát của các nhà quan sát quốc tế.

Ngày 17-3-2018, Nga trả đũa, tuyên bố trục xuất 23 nhà ngoại giao Anh và ra lịnh đóng cửa lãnh sự quán Anh ở St.Petersburg và đóng cửa Hội Đồng Anh ở Moscow.

Nga tung hỏa mù về chất độc Novichok

Người phát ngôn bộ ngoại giao Nga, bà Maria Zakhanova, nhấn mạnh chất độc Novichok đã từng được các nước nghiên cứu bao gồm Anh Quốc, Slovakia, Cộng Hòa Séc và Thụy Điển, vì sao mà Anh Quốc cho rằng Nga là thủ phạm.

Bà nầy nói, hiện tại không có chất độc Novichok để làm mẫu khi so sánh để nhận ra chất độc nầy. Vậy căn cứ vào đâu để kết luận đó là Novichok.

5.3. Phản ứng của Hoa Kỳ
Ngày 12-3-2018, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Rex Tillerson, đưa ra tuyên bố Mỹ ủng hộ hoàn toàn lập trường của chính phủ Anh. Tổng thống Donald Trump nói rằng Nga có thể có trách nhiệm trong vụ đầu độc nầy.

5.4. Phản ứng của tổ chức Cấm Vũ khí Hóa học
OPCW = Organisation for the Prohibition of Chemical Weapons

Tổng Giám Đốc của tổ chức nầy, ông Ahmet Uzumcu, đưa ra tuyên bố trong phiên họp của Hội đồng Giám đốc điều hành, cho rằng việc xử dụng chất độc thần kinh để đầu độc Skripal là không thể chấp nhận được.

5.5. Phản ứng của NATO
Ngày 14-3-2018, NATO đã đưa ra một phản ứng chính thức, NATO tỏ ra mối quan tâm sâu sắc về việc sử dụng chất độc thần kinh nầy. Rõ ràng đã vi phạm các hiệp định quốc tế, Tổ chức nầy kêu gọi Nga tiết lộ đầy đủ về những nghiên cứu chất độc Novichok nầy cho Tổ chức Cấm Vũ khí Hóa học.

5.6. Phản ứng quốc tế

Thủ tướng Úc, Malcolm Turbull và Ngoại trưởng Julie Bishop đưa ra một tuyên bố chung nói rằng Úc đang xem xét những biện pháp hỗ trợ Vương Quốc Anh.

Thủ tướng Canada, Justin Trudeau nói, ông đã nói chuyện với Thủ tướng Theresa May, là Canada đứng sau Anh và lên án vụ tấn công nầy.

6. Giải mật chất độc Novichok

Chất độc Novichok được gọi là “Vũ khí nhị phân” bao gồm hai thành phần vô hại khi để riêng ra, nhưng vô cùng cực độc khi kết hợp với nhau. Rất khó phát hiện trong quá trình sản xuất vì chúng có thể sản xuất ở bất cứ nhà máy trừ sâu nào. Một trong những lý do khó phát hiện vì những thành phần của chúng không nằm trong danh sách cấm.

Ông Vil Mirzayanov, một nhà khoa học thuộc viện Nghiên cứu Hóa học Nga, sau khi đào thoát qua phương Tây tiết lộ, Nga đang chế tạo chất độc thần kinh mạnh hơn bất cứ thứ nào đã có trước đó. Chất độc thần kinh (Nerve Agent) được LHQ xếp vào vũ khí hủy diệt hàng loạt (Weapon of mass destruction). Chất độc nầy chỉ tấn công vào hệ thần kinh mà thôi.

Trả lời phỏng vấn của báo New York Times, ông Vil Mirzayanov cho biết ông đào tỵ sang phương Tây là do cắn rứt của lương tâm.

7. Khẩu chiến giữa London và Moscow

Ngoại trưởng Anh, ông Alexander Boris Johnson gọi Nga là “lực lượng bất hảo và phá hoại”. Đáp lại, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova nói những phát biểu của Ngoại trưởng Anh là “mọi rợ”. Các nhà ngoại giao Nga ở London cáo buộc ông Johnson là đang “quỷ hóa” nước Anh.

8. Kết luận

Thế giới tình báo bao trùm những bí mật. Ngoài việc trục xuất những nhà ngoại giao của hai bên, ngoài những tuyên bố chung chung về việc hỗ trợ nước Anh chống lại Nga, hiện chưa có biện pháp cụ thể nào chống lại Nga cả.

Ông Mark Edele, một nhà phân tích về Nga tại Đại học Melbourne ở Úc, nói với đài VOA rằng các nhà điều tra có thể sẽ không bao giờ tìm ra được thủ phạm.

Minnesota ngày 29-3-2018


Trúc Giang
danlambaovn.blogspot.com

Wednesday, April 4, 2018

QUÁN CAFÉ, ĐIỂM HẸN CỦA GIỚI VĂN NGHỆ SĨ PARIS




Paris sẽ không là Paris nếu không nhắc đến 600 quán café của chính nó. Quán café là điểm hẹn  tốt nhất nhằm thể hiện tình thân hữu của giới văn sĩ, diễn viên điện ảnh, kịch nghệ. Dân Paris cũng rất thường xuyên đến quán café để trò chuyện, trao đổi về công ăn việc làm, bàn chuyện thời tiết nắng mưa, vừa nhâm nhi tách café bốc khói thơm lừng. Những câu chuyện râm ran từ bàn này đến góc kia đã làm nóng không khí trong quán café của kinh đô ánh sáng. Khách đến quán café thuộc đủ mọi thế hệ, mọi quốc tịch.
Le Procope, quán café đầu tiên của Paris:
Quán café cổ xưa nhất Paris nằm trên đường Ancienne-Comédie, gần quảng trường Odéon, giữa khu phố Latin. Đó là quán Café Le Procope. Thế mà cách đây vài năm, quán café này suýt bị xóa sổ vì chủ quán nộp đơn xin phá sản! Rất may là hai anh em Pierre và Jacques Blanc, thuộc thế hệ thứ ba trong một gia đình chuyên sống về nghề nhà hàng, quán café và bar, đã mua lại và duy trì Le Procope đứng vững đến nay. Jacques Blanc vui vẻ kể lại: ” Giữa Le Procope và chúng tôi đã xảy ra một ‘tiếng sét ái tình’. Quán Café Le Procope thật sự là một điểm giao lưu văn hóa đặc biệt thuận lợi. Nhà văn Montesquieu và Voltaire thường chọn Le Procope làm điểm hẹn. Những điều khoản của Hiến pháp Mỹ được soạn thảo tại đây. Chúng ta không thể để một di tích lịch sử, văn hóa và ẩm thực như thế tàn lụi.”
Được sáng lập năm 1686 bởi Francesco Procopio Dei Coltelli, một thanh niên trẻ người Ý,  trên thực tế Le Procope đúng là quán café đầu tiên của Paris. Vào thời đó, các quán rượu của Paris ít được khách lui tới vì rất tối tăm, dơ bẫn và là sào huyệt của bọn bất lương, cướp giật. Sau khi thực hiện thành công các phi vụ, chúng hay tập họp về đây để uống bia, rượu thường có chất lượng không tốt. Tham vọng của Francesco Procopio là xây dựng một cơ ngơi mang sắc thái hoàn toàn khác biệt. Tại đây sẽ phục vụ thức uống khiến cho triều đình của vua Louis XIV thịnh nộ, đó là café.
Francesco Procopio tậu một khu đất trên đường Fossés-Saint-Germain, ngày nay là đường Ancienne-Comédie, lập dự án, bản vẽ và tiến hành xây dựng. Gilles Grandjean, đương kim Giám đốc  của Le Procope, kể lại: ”Francesco Procopio lấy nguồn cảm hứng từ phong cách trang trí của cung điện Versailles. Người ta treo trên tường nhiều tấm thảm thêu dệt, bố trí những tấm gương để tạo không gian rộng lớn trong quán. Quán café được chiếu sáng bởi hệ thống đèn chùm pha lê rất đắt tiền nhập từ Ý.”
Mọi người vào quán đều được phục vụ như là thượng khách. Ở Le Procope, khách gọi café sẽ dùng với một ít đường. Quán còn phục vụ nước trái cây các loại được chế biến theo công thức pha chế của Ý! Gilles Grandjean kể tiếp:”Francesco Procopio đã gặp may. Đoàn hài kịch Pháp đóng đô đối diện với quán Le Procope. Đội quân của Molière là khách thường xuyên của Le Procope. Bên cạnh đoàn diễn viên kịch là đội ngũ văn sĩ, đạo diễn, biên kịch… cũng thường xuyên đến quán trò chuyện, trao  đổi, thư giãn. Francesco Procopio cung cấp miễn phí bút lông, mực cho những vị khách văn nghệ sĩ nổi tiếng, và bán cho họ giấy, nến. Mọi chi tiết dù nhỏ nhất đều được chuẩn bị, chăm chút cẩn thận nhằm phục vụ và làm hài lòng khách đến quán mà ông luôn xem như là thượng khách được chính ông trân trọng mời, chứ không phải chỉ là khách bình thường, vãng lai, qua đường.”
Quán Le Procope đã tồn tại cùng với người sáng lập ra nó. Các thế hệ con cháu của Francesco đã kế thừa Le Procope cùng với việc lưu truyền truyền thống của gia đình trong tiếp đón và phục vụ chu đáo giới văn nghệ sĩ. Nhiều điều khoản của bộ Bách khoa toàn thư (Encyclopédie) nổi tiếng được các triết gia viết ra tại quán café này. Các nhà văn, triết gia như Diderot, Rousseau, d’Alembert là khách thường xuyên lui tới quán. Chính tại Le Procope, nhà văn Voltaire và nhà bác học kiêm chính trị gia Hoa Kỳ Benjamin Franklin đã bàn cãi về sự cần thiết phải đánh giá sự tiến hóa của mối tương quan giữa nhà nước và xã hội dân sự theo hướng nới rộng tự do và tăng cường trách nhiệm. Là điểm hẹn trò chuyện, trao đổi của giới trí thức, Le Procope đã gián tiếp tham gia vào sự đăng quang của nền dân chủ tự do.
Quán Café Les Deux Magots:
Rời quán Café Le Procope, đi theo đại lộ Saint-Germain, bạn sẽ đến một quán café lớn khác: Les Deux Magots (Hai Tượng Sứ). Tên quán có nguồn gốc từ hai bức tượng sứ Tàu được sử dụng làm biển hiệu của một cửa hàng kinh doanh đồ thời trang trước đây nằm tại vị trí  quán café này. Hiện nay, hai bức tượng sứ vẫn hiện diện tại quán như để theo dõi số phận thăng trầm của cửa hàng.
Năm 1914, Augustin Boulet mua lại cửa hàng thời trang Les Deux Magots và thuê một kiến trúc sư mỹ thuật cải biến nó thành quán Café Les Deux Magots đặt dưới sự quản lý của gia đình. Từ đó đến nay, bối cảnh trang trí của quán không thay đổi. Các vật dụng làm bằng gỗ gụ (acajou) và những cái ghế dài truyền thống bằng da thuộc được chăm chút và giữ gìn nguyên vẹn. Giới nghệ sĩ, nhà thơ, nhà văn… là khách quen thuộc của quán Café Les Deux Magots. Rimbaud, Mallarmé, Gide, Fernand Léger, César, Le Corbusier, Picasso… xem quán Café Les Deux Magots như thể nhà mình.
Jacques Mathivat, cháu đích tôn của Augustin Boulet, hiện là quản lý quán, tự hào kể lại: ”Đây là bàn mà trước đây nhà văn Hemingway vẫn thường ngồi mỗi khi đến quán. Chỗ kia, cạnh cửa sổ kiếng, là bàn mà Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir vẫn thường hẹn gặp nhau.”
Quán Café Les Deux Magots đặt chất lượng dịch vụ lên tiêu chuẩn hàng đầu mà mọi nhân viên phải tuyệt đối tôn trọng. Trước khi rót rượu vào ly phục vụ khách, nhân viên phải trình chai rượu còn nguyên nhãn hiệu cho khách xem, bất luận đó là rượu mạnh hay rượu vang. Francis Dupin, đương kim Giám đốc quán Café Les Deux Magots, khẳng định: ”Cách chế biến sô cô la của quán vẫn được giữ nguyên từ lúc mới sáng lập quán đến nay. Thanh sô cô la nâu được làm tan chảy ra trong sữa và chậm rãi đun nấu trên lửa riu riu cho đến khi thành phẩm.”
Quán Café de Flore:
Cách quán Café Les Deux Magots chừng vài chục mét là quán Café de Flore. Ngoài rượu Pouilly-fumé danh tiếng, một loại rượu trắng nguyên chất ở vùng Sauvignon Blanc của Pháp, thức uống làm nên thương hiệu của quán là Café de Flore vì nó nổi tiếng thơm ngon nhất của thủ đô Paris nhờ được pha trộn và chế biến theo một công thức đặc biệt. Jacques Larisco, quản lý Café de Flore, tiết lộ: ”Trong mỗi ly có đúng 12 gram café, trong khi ở những quán café chỉ có 5 hay 6 gram!”
Nhưng Café de Flore còn được mọi người biết đến như là điểm hẹn thu hút hầu hết các triết gia theo thuyết hiện sinh (existentialisme) mà người đứng đầu, không còn phải tranh cãi gì nữa, chính là triết gia Pháp Jean Paul Sartre. Denis Huisman, triết gia người Pháp thế kỷ XX, nói: ” Jean Paul Sartre sống gần như suốt ngày tại quán Café de Flore. Chính tại đây nguồn cảm hứng tuôn trào ra trong tâm hồn ông.”
Quán Café de la Paix:
Không phải chỉ tả ngạn dòng sông mới có những quán café nổi tiếng. Quán Café de la Paix rộng lớn nhất Paris nằm sát bên nhà hát Opéra. Mặt tiền của quán này trải dài những 45 mét trên đại lộ Capucines. Vào mùa cao điểm, quán có thể chứa đến 400 người. Oscar Wilde, nhà văn, nhà thơ Ái nhĩ Lan,  đến đây gần như mỗi ngày để nhắm nháp cốc rượu vecmut (vermouth). Quán café này là địa điểm lý tưởng để quan sát dòng người Paris nối tiếp nhau diễu hành qua lại trên đại lộ Capucines. Arthur Conan Doyle, một nhà văn danh tiếng khác của Anh quốc, cha đẻ của nhân vật đình đám Sherlock Holmes, ngồi ở mái hiên mặt tiền quán này để viết.
Quán Café de la Paix thường trực có 18 người hầu bàn phục vụ khách dưới sự giám sát chặt chẽ của một đội trưởng. Vào những buổi trưa mùa hè, khi Quán Café de la Paix chật cứng khách, có đến 30 hầu bàn phục vụ nhằm đảm bảo mọi yêu cầu của từng khách một trong thời gian ngắn nhất. Michel Sourdet, phụ trách quán Café de la Paix, cho biết: ”Tất cả hầu bàn đều mặc đồng phục truyền thống. Đó là loại áo dài đen hẹp tà (frac noir) và một tấm tạp dề trắng với cái nơ hình bướm.”
Quán Café de la Paix là điểm hẹn của những người nổi tiếng trên thế giới. Từ hơn một thế kỷ nay, nhiều nhân vật lừng danh trên toàn thế giới hiện diện dưới mái nhà Café de la Paix được nhóm nghệ nhân của Charles Garnier, kiến trúc sư nhà hát Opéra Paris, trang trí theo gam màu vàng rực rỡ. Pascal Boissel, chịu trách nhiệm về lịch sử của quán café de la Paix, nhấn mạnh: ”Những nhà văn, nghệ nhân, chính trị gia… nổi tiếng thế giới từng đến đây đều có ghi bút tích vào sổ vàng của quán.”
Nhưng Café de la Paix cũng không thiếu vắng người Paris. Trong số những khách thường lui tới quán, phải kể đến giới doanh nhân ngân hàng ở khu Opéra và đội ngũ nhân viên của những cửa hàng thuộc hệ thống siêu thị Chaussée-d’Antin. Rémy Moteau, quản lý quán café de la Paix, thổ lộ: ”Hầu hết khách tỉnh lẻ đến thăm viếng nhà hát Opéra đều dừng chân nơi quán chúng tôi để thưởng thức cái bánh ngọt, một tách café, ly trà hay cốc rượu.”
Nhiều quán café lớn khác của Paris nằm trên đại lộ Montparnasse. Hồ sơ lưu của cảnh sát quận 6, Paris, còn lưu trữ biên bản ghi nhận cuộc ẩu đả giữa nhóm nhà văn trường phái siêu thực (surréalisme) sau bữa ăn trên tầng một của quán Café La Closerie des Lilas. Và không thể bỏ sót những quán café như Café la Rotonde, Le Dôme và La Coupole là nơi tụ họp của những họa sĩ lừng danh thập niên 1920 như Matisse, Man Ray, Picasso và Jean Cocteau, đó là chưa kể đến những tiểu thuyết gia lớn của Mỹ như Hemingway, Scott Fitzgerald, Henry Miller hay James Baldwin.
Thế nhưng truyền thống lớn của những quán café Paris không chỉ có trong quá khứ. Bằng chứng là quán Café Costes ở khu Halles, đối diện với đài phung nước Innocents, cách trung tâm Georges Pompidou chỉ vài bước chân. Quán Café Costes vẫn còn duy trì phong cách phục vụ cổ điển trong không gian của một mái hiên rộng thoáng. Jean-Louis Costes, chủ nhân và là nhà sáng lập quán, hóm hỉnh thuật lại: ”Có nhiều đoàn du khách vào tận bên trong quán của chúng tôi để chụp hình bối cảnh trang trí đặc thù do nhà thiết kế Pháp Philippe Stark thực hiện, mà không gọi món ăn hay thức uống nào cả. Dù thế nào thì đó cũng là một vinh dự cho quán chúng tôi vốn nổi tiếng không thua kém một viện bảo tàng.”
Từ lâu, lực hấp dẫn kỳ diệu của các quán café Paris đã vượt ra khỏi biên giới của quốc gia có  hình lục giác này. Năm 1948, người ta đã không ngạc nhiên khi Raymond Morgan, một trong những người đi tiên phong trong lĩnh vực đài phát thanh, đã trực tiếp thu thanh chương trình mang tên “Đây là Paris” (Voici Paris) tại quán Café de la Paix. Henri Salvador, một danh ca và diễn viên hài nổi tiếng, cùng một số diễn viên ngôi sao khác đã được chọn tham gia chương trình này. Pascal Boissel, phụ trách lịch sử của quán Café de la Paix, còn nhớ: ”Maurice Chevalier hát bằng tiếng Anh và Yves Montand hát bằng tiếng Pháp. Riêng tôi đã tham gia diễn hài kịch. Người Mỹ muốn nghe tiếng cười từ nước Pháp. Đó là một chương trình khá hoành tráng thời bấy giờ, bởi với những trang thiết bị lúc đó, quả là không dễ dàng thực hiện chút nào. Dù dây cáp được giăng tứ hướng, nhưng quán Café de la Paix đã mang đến một khung cảnh tuyệt vời.”
Mười lăm năm sau, tức năm 1943, khi quay trở lại quán Café de la Paix, Henri Salvador đã ngẫu hứng viết vào sổ vàng: “Hãy mở rộng quán Café de la Paix (hòa bình) và chúng ta sẽ có hòa bình trên toàn thế giới.”
Đào Duy Hòa  (Sydney)
(Theo Sélection)
Người xin visa Mỹ sắp phải khai báo lịch sử lên mạng xã hội 5 năm gần nhất
Chính phủ Mỹ hôm thứ Sáu (31/3) đã đưa ra đề xuất về việc thu thập lịch sử tham gia mạng xã hội của hầu hết những người muốn xin visa (thị thực) vào Mỹ. Đây được cho là một phần trong chính sách “kiểm tra nghiêm ngặt” về an ninh của Tổng thống Donald Trump, nhưng đang vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của các nhóm hoạt động nhân quyền.
(Ảnh EpochTimes)
Đề xuất do Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra sẽ yêu cầu hầu hết các đương đơn xin visa cung cấp chi tiết về các tài khoản mạng xã hội của họ. Những mạng xã hội được liệt kê trong đề xuất này gồm các nền tảng của Mỹ như Facebook, Twitter, Instagram, LinkedIn, Reddit và YouTube. Tuy nhiên, tờ New York Times cho biết những mạng xã hội quốc tế như Sina Weibo của Trung Quốc và VK của Nga cũng sẽ được tính đến.
Theo BBC, đương đơn xin visa vào Mỹ sẽ phải cung cấp tất cả lịch sử tham gia mạng xã hội trong vòng 5 năm gần nhất.
Theo các thống kế chưa đầy đủ, có khoảng 14,7 triệu người mỗi năm sẽ bị ảnh hưởng nếu đề xuất của Bộ Ngoại giao Mỹ được áp dụng chính thức.
Những thông tin này sẽ được giới chức Mỹ sử dụng để xác định danh tính và kiểm tra kỹ lưỡng cả những đương đơn xin visa nhập cư và visa không nhập cư.
Theo BBC, trong đề xuất này, Bộ Ngoại giao Mỹ cũng yêu cầu đương đơn xin visa phải cung cấp các số điện thoại, các địa chỉ thư điện tử và lịch sử di trú của họ trong 5 năm gần nhất. Họ cũng sẽ bị yêu cầu phải thông tin xem liệu họ đã từng bị nước ngoài trục xuất lần nào chưa hoặc họ có bất kỳ họ hàng, thân quyến nào đã từng liên quan đến các hoạt động khủng bố hay không.
Tuy nhiên, những yêu cầu thu thập thông tin mạng xã hội nêu trên sẽ không áp dụng đối với các công dân đến từ các nước đang được Mỹ cho hưởng quy chế miễn visa di trú, trong đó có Anh, Canada, Pháp và Đức. Theo BBC, công dân các nước không được hưởng quy chế miễn visa như Ấn Độ, Trung Quốc và Mexico có thể cũng được ưu tiên nếu họ xin visa vào Mỹ để làm việc hoặc du lịch.
Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết họ không có ý định yêu cầu các đương đơn xin visa công vụ, ngoại giao phải khai báo các thông tin mạng xã hội, theo Epoch Times.
Các quan chức chính quyền Trump bảo vệ đề xuất này bằng cách cho rằng nó sẽ giúp xác định danh tính của các kẻ khủng bố tiềm ẩn.
Đề xuất của Bộ Ngoại giao cần phải được Văn phòng Quản lý và Ngân sách phê duyệt. Công chúng cũng sẽ có 60 ngày kể từ ngày Bộ Ngoại giao công bố đề xuất hôm (31/3) để thảo luận về các yêu cầu của chính quyền trước khi điều này chính thức được áp dụng.
Mạng xã hội tại Mỹ đã bị kiểm soát chặt chẽ hơn kể từ sau vụ xả súng tại San Bernadino, bang California khiến 14 người chết vào năm 2015. Các nhà chức trách khi đó nói rằng họ đã bỏ qua các dấu hiệu cực đoan trong các thông điệp trên một nền tảng tin nhắn trực tuyến mà những kể tấn công đã gửi cho nhau trước khi hành động thảm sát.
Kể từ tháng Năm năm ngoái, giới chức Mỹ đã được quyền kiểm tra lịch sử tham gia mạng xã hội của người dân, nhưng chỉ trong các trường hợp mà nhà chức trách cảm thấy “những thông tin đó là cần thiết để xác nhận danh tính hoặc tiến hành kiểm tra nghiêm ngặt hơn liên quan an ninh quốc gia“.
Ngay sau khi Bộ Ngoại giao công bố đề xuất, các nhóm hoạt động tự do dân sự đã lên án chính sách này, coi đó là sự xâm hại quyền riêng tư cá nhân và có thể làm xói mòn quyền tự do ngôn luận.
Bà Hina Shamsin của Liên minh Tự do Dân sự Mỹ cho hay: “Mọi người bây giờ sẽ phải tự hỏi liệu điều họ nói trên mạng trực tuyến có bị các quan chức chính phủ hiểu sai, hiểu lầm hay không”.
“Chúng tôi cũng quan ngại về cách chính quyền Trump định nghĩa thuật ngữ ‘các hành động khủng bố’ mơ hồ và hàm nghĩa quá rộng, bởi vì nó vốn mang bản chất chính trị và có thể bị sử dụng để phân biệt đối xử với những người nhập cư mà họ không làm điều gì sai”, bà Shamsin nói thêm.
Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Mỹ khẳng định rằng: “Duy trì các tiêu chuẩn sàng lọc mạnh mẽ đối với người xin cấp visa là một thực tiễn thay đổi liên tục và phải thích ứng với các mối đe dọa mới”.
“Chúng ta đã yêu cầu thông tin liên lạc, lịch sử di trú, thông tin về thành viên gia đình và địa chỉ trước đó từ tất cả các đương đơn xin visa một cách giới hạn rồi. Việc thu thập thông tin bổ sung này sẽ tăng cường quá trình kiểm tra với những người nộp đơn và xác nhận danh tính của họ”, Bộ Ngoại giao Mỹ giải thich.
Trước đây, yêu cầu khai báo các thông tin như tài khoản mạng xã hội, số điện thoại và địa chỉ email chỉ áp dụng cho trường hợp an ninh đặc biệt, như những người đã từng đi qua khu vực do quân khủng bố kiểm soát. Theo báo Time, mỗi năm có khoảng 65.000 người thuộc diện này.
Nếu đề nghị này được thông qua, nó sẽ ảnh hưởng tới khoảng 15 triệu người xin visa vào nước Mỹ hàng năm, trong đó có khoảng 710.000 người xin visa nhập cư và 14 triệu người xin visa không nhập cư. Tuy vậy, công chúng có 60 ngày kể từ ngày 30/3/2018 để cho ý kiến về đề nghị này.
Yên Sơn (T/h)

Tuesday, April 3, 2018

Âu Mỹ nhìn TQ Sai Thế Nào?




(viết theo tạp chí The Economist – March 03, 2018)

* Cố TT Nixon về cuối đời than về China rằng: “Phải chăng chúng ta đã tạo ra một con quái vật!”

“ Con Đường Tơ Lụa Mới” chỉ là một khẩu hiệu “sexy” gợi cảm để che giấu tham vọng thống trị thế giới của China.”  - Một nhà ngoại giao cấp cao phương Tây.

Khi xưa Tây phương đánh cá là China sẽ tiến về thể chế dân chủ và kinh tế thị trường. Họ đã thua.

Cuối tuần qua, China từ chuyên chế bước sang độc tài.  Khi mà Tập Cận Bình đã trở thành ngừơi có quyền lực nhất thế giới; hắn sẽ thay đổi hiến pháp của China để có thể làm chủ tịch và có lẽ là suốt đời.  Kể từ họ Mao, chưa có người cầm đầu nào của China lại sử dụng quỳên lực của mình một cách công khai như họ Tập này.  Đây không phải chỉ là một thay đổi lớn lao cho China mà còn là một bằng chứng hùng hồn rằng cuộc đánh cá 25 năm nay của Tây phương vào China đã bị thua thiệt.

Sau khi khối Soviết bị sụp đổ, phương Tây đã chào đón nước theo cs lớn khác, China,  vào trật tự của hệ thống kinh tế toàn cầu.  Các nhà lảng đạo phương Tây tin rằng cho China một phần trong định chế như Tổ chức Thương mại Thế giới WTO sẽ trói buộc nó vào một hệ thống có quy luật rõ ràng được thiết lập sau lần thế chiến thứ nhì này.  Họ hy vọng rằng sự hội nhập kinh tế sẽ khuyến khích China chuyển hoá vào kinh tế thị trường và rằng, khi nó trở nên giàu hơn, dân của China sẽ đòi hỏi những tự do dân chủ, quyền lợi và được pháp trị.  Đó là một viễn kiến đáng ca ngợi hơn là lọai bỏ China ra rìa và nó đã trở nên giàu mạnh hơn sức tưởng tượng của mọi người.  Dưới sự lảnh đạo của Hồ Cẩm Đào, thì ta còn có thể nói là canh bạc đang có lợi.  Rồi khi họ Tập lên hồi năm năm trước đây, ai cũng nói là hắn ta sẽ tiến về thể chế pháp trị.  Thế nhưng hiện nay ảo vọng đó bị bể tan.  Trong thực tế thì họ Tập lái  chính trị và kinh tế của Tàu hướng đến việc đàn áp, nhà nước kiểm soát và theo hướng hung hản đối đầu với Âu Mỹ.

Tung hô Tập Chủ tịch
Hãy bắt đầu ở mặt chính trị, họ Tập đã dùng quyền lực của mình để tái xác định lại quyền chủ tể của Đảng CS và củng cố địa vị trong đảng của hắn.  Như là một phần của chiến dịch bài trừ tham nhũng, hắn đã thanh trừng những tiềm năng đối nghịch.  Hắn thi nhành một cuộc cải tổ lớn rộng tổ chức  Quân đội Gỉải phóng Nhân dân để biến nó trở nên trung thành với đảng và cho chính cá nhân của mình.  Hắn đã bắt giam những luật sư chống đối và dẹp bỏ những chỉ trích đảng và chính quyền trên báo chí và trên mạng.  Dù cho đời sống của dân chúng tưưng đối được thoải mái nhưng hắn thiết đặt sự theo dò và kiểm soát những hiện tượng bất mãn và đi chệch hướng với chánh quyền.

 China thường huênh hoang là mình không có chủ tâm gì về can thiệp vào nội tình của các nước  khác nếu họ để yên cho mình.  Tuy nhiên nó lại giữ chặt một hệ thống chuyên chế như là một kình địch với hệ thống tự do dân chủ.  Trong kỳ đại hội đảng thứ 19,  muà hè năm rồi, họ Tập đưa ra đề nghị cho các nước khác là: “ ...có một sự lựạ chọn mà trong đó có mang theo sự khôn ngoan  và một phương thức mang trong đó China-tính (!) để giải quyết những vấn đề mà nhân lọai đang phải đối đầu.” Họ Tập, sau đó, nói rằng China không muốn xuất cảng ‘mô hình China’ của mình nhưng ai cũng hiểu ra là giờ đây Mỹ không những có một kình địch về mặt ktế mà còn ở mặt ý thức hệ nữa.

China đã thành công hơn trong cuộc đánh cá khi đặt vào con bài  mua bán ở thị trường khi nó hoà nhập vào hoạt động kinh tế thế giới.  Nó là xứ xuất cảng lớn nhứt thế giới với tổng số:  hơn 13%.    Nó giỏi về làm ăn, biết kiếm mối và là nơi trụ của 12 công ty trong số 100 công ty có trị giá cao nhứt thế giới. Nó đã tạo được sự trù phú vượt bực cho chính mình và cho những đối tác làm ăn với nó.

Tuy nhiên ta nên hiểu rằng China không pải theo hướng kinh tế thị trường như ta đang thấy, mà sẽ không bao giờ theo đường hướng này.  Thay vì vậy, nó gia tăng sự kiểm soát việc thương mại với bàn tay của nhà nước nhúng vào.  Kế họach “ Made in China 2025 ” là một ví dụ, dùng trợ cấp và bảo hộ của nhà nước để tạo ra mười kỷ nghệ đứng hàng đầu thế giới bao gồm hàng không, kỷ thuật và năng lượng,  nắm gần 40%  số lượng sản xuất.  Cho dù China có bớt đi về mặt gián điệp ăn cắp trong kỷ nghệ nhưng các công ty phương Tây vẫn còn kêu than về những tấn công nhằm ăn cắp, có nhà nước Tàu đứng sau lưng, vào những tác quyền trí tuệ.  Trong khi đó, ngoại quốc làm ăn, mua bán với Tàu có lời đó, nhưng trở nên khốn đốn vì luôn phải tuân theo điều kiện thương mại của Tàu.  Ví dụ như các công ty thẻ tín dụng Mỹ chỉ được cho vào China sau khi việc chi trả phải chuyển sang hình thức(thanh tóan) dùng mobil phones.

China có tuân theo tốt một vài luật định của phương Tây nhưng nó lại thảo ra một hệ thống song hành cho riêng nó.  Lấy ví dụ sáng kiến: Một Vòng đai, Một con Đường với hưá hẹn là China sẽ đầu tư trên  1 tỷ USD  vào thị trường quốc tế, số lượng tiền  này vượt qua cả ngân sách dành cho kế hoạch Marshall hồi xưa của HK.  Một phần nằm trong dự tính cứu miền tây lục địa của China ra khỏi khó khăn ktế nhưng sáng kiến này  cũng tạo ra một mạng  lưới do China  chi tiền  để nhằm chi phối hầu hết nước nào chịu ký kết gia nhập.  Sáng kiến này đòi hỏi các nước chấp nhận những phương thức dàn xếp theo căn bản định đặt ra của Tàu.

China còn dùng thương mại để đối đầu với kẻ thù của nó.  Nó dùng hình phạt cách trực tiếp, như khi hảng xe hơi Mercedes-Benz của Đức mới đấy phải tuyên bố lời xin lỗi cách đầy ‘nhục nhả ‘ sau khi vô tình dẫn lời của Đức Lạt Ma trên website của mình.  China còn dùnh hình phạt đối với  chính phủ của một nước.  Như khi Phi Luật Tân đưa ra tranh chấp về quyền làm chủ  bải cạn Scarborough ở Biển Đông thì bất thình lình China ngưng không mua chuối của Phi nữa lấy lý do an toàn vể thực phẩm (!).  Khi China càng mạnh lên thì những kiểu gây sức ép kiểu này càng xãy ra nhiều. 

Dùng “quyền lực cứng”  trong lảnh vực thương mại là cách hổ trợ cho việc sử dụng quyền lực cứng về mặt quân lực của China.  Ở mặt này, China hành động như một siêu cưừng quốc trong khu vực nhằm đẩy Mỹ ra khỏi Đông Nam Á.  Trong quần đảo Scarborough, China đã chiếm và xây dựng công sự trên một số đảo nhỏ và các vùng đá cạn.  Mức độ tân trang hoá quân sự và đầu tư làm cho người ta nghi ngờ về cam kết lâu dài của Mỹ trong khu vực.   Dù cho Quân Đội Nhân dân vẫn chưa thể đánh bại Hoa kỳ nhưng sức mạnh của nó đang tăng dần.  Dù China công khai thách thức như vậy nhưng Mỹ vẫn “lừng khừng” và không thể chận đứng những gì nó làm.

Rồi tình hình sẽ ra sao đây?
Rồi người ta phải làm gì đây?  Phương Tây đã bị thua cuộc trong khi nền dân chủ của chính mình đang chịu sự khủng hoảng về lòng tin.  TT Trump có thấy được mối đe dọa đó của China nhưng ông ta nhìn là vấn đề nằm  ở góc cạnh thâm thủng mậu dịch của đôi bên, dù mối  đe dọa chính lại không nằm ở điểm này.   Một cuộc chiến thương mại sẽ làm hại đến những nguyên tắc mà ông ta nên bảo vệ và lại làm hại đến các đồng minh của Mỹ ngay ở lúc mà mọi người cần đoàn kết lại để đương đầu với tên hung đồ Trung cộng này. Mà cho dù Ô. Trump có phản đối cách nào nhưng với lời hưá “Làm Cho HK Lại Lớn Mạnh”, ông ta mở ngỏ cho  một chủ trương “cô lập” của HK và chỉ làm cho TC mạnh thêm thôi.  Thay vào đó, Ô. Trump cần thẫm định lại tầm cở chính sách của mình với China.

China và phương Tây nên học sống với những dị biệt của mình.  Dung thứ những hành vi xấu trong hiện tại với hy vọng rằng chính sách ‘tử tế’ của mình sẽ làm cho China trở nên biết điều hơn trong tương lai là một điều không hợp lý chút nào.  Phương Tây càng dung túng  lâu những hành động càng quấy càng sẽ tạo ra nhiều thách thức cho họ về dài lâu.  Do vậy,  trên mọi lảnh vực, cần phải có chính sách cứng rắn hơn với China dù cho phương Tây có tuân theo những giá trị mà họ cho là phổ biến. 

Để đương đầu với ‘quyền lực cứng’ của China, xã hội phương Tây nên tìm cách rọi sáng những liên hệ giữa các tổ chức độc lập kể cả những nhóm sinh viên và nhà nước TC.  Để đương đầu với kiểu ‘ ma đạo’ kinh tế của China, phương Tây cần xét, bằng sử dụng đến kỷ thuật vi tính,  cho kỷ những đầu tư của mình vào các công ty quốc doanh và các công ty của TC ở mọi hình thức.  Phương Tây nên đẩy mạnh những định chế bảo vệ trật tự thế giới mà họ đang duy trì. 

Đã nhiều tháng qua, Mỹ đã chận đứng việc gởi đại diện tại WTO, Ô. Trump nên chứng tỏ sự cam kết với các đồng minh của mình bằng việc tái xét lại việc gia nhập vào Hiệp Định Đối tác TBD như ông ta đã từng có ý định trước đây.  Để chống lại quyền lực cứng đó của China, Mỹ cần đầu tư vào những hệ thống vũ khí mới và nhất là tạo sự bảo đảm với các đồng minh là mình đứng bên  họ.  Khi họ đang thấy thâm ý bất lương hiện nay của China và được sự bảo đảm đó của HK, tự nhiên họ sẽ trông cậy vào cường quốc số một trên thế giới này.

Sự tranh cạnh giữa các siêu cường quốc hiện hữu và cac nhóm đang lên không cần thiết phải dẫn tới chiến tranh.  Tuy vậy, tham vọng quyền lực của họ Tập đã đang dẩn đến sự mất ổn định thế giới cách tệ hại.  Ngày nào đó, khi hắn ta muốn được vang danh, hắn sẽ đánh chiếm Đài Loan.  Ta nhớ lại rằng China, sau lần bị độc- tài -trị của Mao, đã ấn định thời hạn cho các lảnh tụ sau này để tránh nội loạn và tội ác do thời kỳ Mao gây ra.  Một chế độ độc tài dựa vào việc dùng sức mạnh nhưng lại dễ vỡ như hiện tại ở China không phải là một trò đánh cá mà phương Tây muốn.  Nhưng than ôi, nó lại đang diễn ra!

Blog Archive