Tuesday, April 3, 2018

Hương Mai, Tình Chết Một Mùa Đông...

Kim Thanh

Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai?                    
(Vũ Hoàng Chương)


1. Tôi gặp nàng lần đầu, khoảng giữa 1970, cách đây đúng bốn mươi tám năm, khi đang là Trung đội trưởng Chính Huấn của Đại đội 204 CTCT, Nha Trang. Một buổi sáng, Thiếu uý Cường, Trung đội phó, vào văn phòng gặp tôi, cùng với một thiếu nữ rất đẹp, vẻ hiền thục, tuổi độ đôi mươi. Cường nói:

- Xin giới thiệu với Trung uý, đây là cô Hương Mai, đến xin việc.

Tôi ngừng viết, đứng lên, chào nàng. Thấy gương mặt thanh tú, môi thắm tự nhiên, tóc huyền rẽ đường ngôi ở giữa, buông xuống hai bờ vai, mắt to đen, mũi cao, trong bộ quần jeans và áo pull tím ôm dáng cao thon, đầy đặn, tôi chịu ngay. Tất cả nơi nàng biểu hiện một vẻ đẹp có phần cổ điển, như trong tranh của Raffaello (Raphặl), hoạ sư người Ý, tràn đầy sức sống, và dưới mắt tôi đã đạt quá tiêu chuẩn của một ca sĩ, dù ca sĩ chính huấn –hay nữ huấn đạo, theo tên gọi chính thức. Hương Mai ngồi xuống, và bắt đầu tự giới thiệu, giọng nhỏ nhẹ, nửa Huế nửa Nha Trang:

- Thưa Trung uý, gia đình em ở Ninh Hoà.. Ba em là sĩ quan phục vụ tại Tiểu khu Phú Yên. Em còn mẹ và ba đứa em nhỏ. Em thi rớt Tú tài I, chán quá, bỏ học luôn...

 Tôi ngắt lời, nói một câu khá vô duyên:

- Thi rớt là chuyện thường. Đừng vội nản, nhất là mới rớt lần đầu. Tôi khuyên cô nên tiếp tục việc học. Nghề nữ huấn đạo ba chìm bảy nổi lắm, không có tương lai đâu. Trừ phi, sau này, nếu cô trở thành một ca sĩ hoặc diễn viên nổi tiếng.

 Nàng tỏ vẻ ngạc nhiên, đăm đăm nhìn tôi, rồi ngập ngừng hỏi:

- Trung uý nói thế có nghĩa là Trung uý không muốn nhận em?                                 

- Không đâu. Tôi không có quyền quyết định. Về dung mạo, riêng tôi đã chọn cô rồi, chắc Thiếu uý Cường đây cũng đồng ý với tôi. Về tài, thì cuối tuần này Trung đội sẽ tổ chức văn nghệ để các thí sinh vào thi phần hát. Tôi hy vọng cô sẽ có điểm cao.

Câu này, dĩ nhiên, tôi cũng đã nói với những cô thí sinh khác, trước nàng..

Buổi văn nghệ thuộc loại bỏ túi được tổ chức tại hội trường đại đội. Như thường lệ, tiếng đàn tiếng trống xập xình vừa trổi lên đã thu hút một số đông khán giả từ khu gia binh và đồng bào quanh vùng Bình Tân –nơi chúng tôi trú quân, không xa Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân bao nhiêu. Dưới ánh đèn màu lấp lánh, bốn nữ huấn đạo của đại đội bỗng biến dạng, son phấn điểm tô, đẹp lộng lẫy trong những chiếc áo dài thướt tha, sặc sỡ, thay cho bộ đồng phục thường ngày tôi đã quen mắt, quần jeans và áo so-mi+ trắng pha màu xanh xám nhạt. Sáu cô thí sinh cũng thế, cũng đều yêu kiều, lả lướt như tiên giáng trần. Nhận ai, bỏ ai, là cả vấn đề làm điên đầu! Y như thi hoa hậu bây giờ.

Tôi ngồi hàng ghế khán giả, bên cạnh Đại uý Đại đội trưởng 204 Phạm Văn Tải (hiện sống tại Portland), khoá 15 Thủ Đức, đã đi tu nghiệp Tâm lý chiến-Dân sự vụ ở Mỹ –một sĩ quan nổi tiếng bay bướm, chịu chơi hết mình, một đơn vị trưởng có tài lãnh đạo và tổ chức, từ thời còn ở Ban Mê Thuột, Kon Tum, ai cũng mến. Đặc biệt, ông còn là một nhạc sĩ hào hoa với ngón đàn dương cầm và phong cầm điêu luyện tại các vũ trường, sau giờ làm việc. Còn tôi, lúc ấy và hiện tại, vẫn là con số không to tướng về âm nhạc, thỉnh thoảng nổi hứng hát vớ vẩn vài bài, nhưng giọng faux quá cỡ và luôn sai nhịp, và nếu cực chẳng đã phải ra sàn nhảy tôi chỉ biết có hai điệu tủ: slow, mà tôi thích nhất, vì không hao sức, và rumba, mà tôi đã quên, vì thiếu thực tập. Nhưng không hiểu sao Đại uý Tải, cũng như Trung uý Phan Nhơn, đại đội trưởng 202 CTCT (Qui Nhơn), trước đó, lại bổ nhiệm tôi, một người mù tịt về văn nghệ văn gừng, trông coi trung đội Chính huấn. Sau này, mới vỡ lẽ, đó bởi vì các ông không muốn giao trứng cho ác, nghĩa là đặt tôi vào kỷ luật và trách nhiệm nặng nề của một ông “thần giữ cua”? giùm cho cha mẹ các nữ huấn đạo, đa số còn rất trẻ, theo giao ước bất thành văn với họ: tạo bầu không khí gia đình thân ái giữa các nhân viên và ca sĩ trong trung đội, nhưng đồng thời bảo vệ tối đa các cô khi đi công tác nhất là ban đêm, không để rủi ro nào xảy ra, không để sĩ quan và quân nhân thuộc đơn vị khác, hoặc ngay trong đại đội, đến ve vãn, dụ dỗ, gây tai tiếng.

Mỗi thí sinh sẽ hát hai bài tự chọn, một tình cảm, một hùng mạnh, và trước ngày thi, được phép đến tập thường xuyên với ban nhạc của Trung đội Chính huấn. Điểm số dựa trên phong cách trình diễn và nhất là giọng ca. Phong cách có thể tập luyện, nhưng giọng ca là thiên phú, cũng như hồn thơ và óc hài hước, như ai đã nói. Đêm ấy, cả sáu cô thí sinh đều rất xuất sắc. Hương Mai hát bản “Serenata”, nhạc Enrico Toselli, lời Việt Phạm Duy –bài ruột của tôi từ dạo được nghe dĩa thâu của Tino Rossi. Viens, le soir descend, et lheuré est charmeuse. Viens, toi si frileuse, la nuit dejá comme un manteau s'étend'... Lắng trong tiếng chiều ngân, nhạc dặt dìu ái ân... Nhạc và lời đã hay, và nàng diễn xuất tuyệt vời, như một ca sĩ chuyên nghiệp, với dáng điệu lúc tha thiết, si mê, lúc kiêu sa, hờ hững, với giọng buồn, trầm bổng, lên xuống cung bậc một cách tự nhiên, dễ dàng, theo tiếng kèn clarinette nức nở của Trung uý Quân Nhu, tên Nhuệ, một sĩ quan bạn, được mời đến tăng cường giúp vui. Tôi ngạc nhiên, sung sướng, nghe xôn xao bao nhiêu là mộng cũ và lời yêu gọi mời, giục giã. Cảm giác ngất ngây hiếm hoi đưa hồn xa rời cõi đời ô trọc và khói lửa chiến tranh, trở về những bến mơ thiên đường diễm ảo, cũng như mỗi lần nghe danh ca Kim Tước hát bản “Tiếng Thời Gian” của Lâm Tuyền và Juliette Greco ca bài “Les Feuilles Mortes”, phổ thơ của Jacques Prevert'. Tôi vốn yêu những ca sĩ, và thi sĩ, đích thực. Vì muốn hát, hoặc viết ra, những ngôn ngữ mượt mà, quý phái, trữ tình như thế, họ phải có một tâm hồn rất thanh cao, trong sáng, luôn hướng về cội nguồn Chân Thiện Mỹ từ trời phản chiếu xuống Nghệ Thuật trần gian.

Một tuần sau, Trung đội Chính huấn và Ban Giám khảo họp bàn về kết quả thi tuyển. Chỉ lấy hai trong sáu thí sinh, để thay cho hai cô nữ huấn đạo xin nghỉ vì lý do gia đình, nên việc chọn lựa không dễ. Hương Mai đứng nhất với số điểm tối đa, gồm phiếu của Đại đội trưởng, ban nhạc và tất cả sĩ quan và ca sĩ trong Trung đội Chính huấn.                                

2. Mấy tháng sau, nàng đã quen công việc. Như những nữ huấn đạo khác, mỗi ngày nàng đến đại đội tập dượt đều đặn, và không bao giờ vắng mặt vào những đêm công tác. Gặp tôi, nàng luôn chào hỏi vui vẻ, lịch sự, khác với Thiên Ân, một ca sĩ cơ hữu, cũng đẹp và hát rất hay, thấy tôi đâu là tìm cách né tránh. Thiếu uý Cường bảo tôi: “Cô ấy giận Trung uý vì đã cấm các cô không được giao du thân mật riêng lẻ với bất cứ ai trong khi công tác và tập duợt”+.

Trong buổi văn nghệ Tết của Đại đội, Thiên Ân lên hát một bản tình ca, và mắt hướng về phía tôi, nói: “Bài này em xin riêng tặng Trung uý Trung đội trưởng Chính huấn độc tài và hắc ám của lòng em”. Cả hội trường cười rộ. Tôi cũng bật cười theo.

Một lần, Hương Mai đến xin Đại uý Tải cho đi hát tại vũ trường Nha Trang Hotel ngoài giờ để kiếm thêm tiền. Ông chấp thuận, với điều kiện khi cần đi công tác là phải nghỉ. Còn tôi khuyên nàng không nên cho ai biết đang làm việc với Đại đội 204 và đổi tên khi hát cho vũ trường, bởi lý do an toàn cá nhân. Dần dần, cảm tình của tôi dành cho nàng tăng trưởng vì tính tình khả ái, tấm lòng chân thật, cử chỉ dịu dàng, cộng với tài nghệ, sắc đẹp tự nhiên và nét duyên dáng trong lời ăn tiếng nói đã làm nàng trở thành ca sĩ hoa khôi, ít ra là đối với lòng tôi. Nhưng may mắn, tôi đã dừng lại được ở đó. Quả vậy, tôi không phải là nhà tu hành cũng không đạo đức giả, mà vì đã lỡ tự đặt cho mình một nguyên tắc bất di bất dịch qua thời gian và cuộc đời thăng trầm, là tự cấm không bao giờ được tơ tưởng đến, huống chi là đem lòng yêu thương, các nữ sinh học trò của mình và ca sĩ dưới quyền. Lý do thật đơn giản: tôi còn trẻ, và họ là những đối tượng tương đối dễ chinh phục, đã đặt hết lòng tin và kính trọng vào tôi. Tôi không muốn lợi dụng vị thế của mình, làm thất vọng mọi người.

Hương Mai, cũng như Thiên Ân, không hiểu điều đó.

Một buổi chiều cuối tuần, để tưởng thưởng thành quả công tác Tâm lý chiến - Dân sự vụ tốt đẹp, sau khi tổ chức một tiệc vui chung cho cả Đại đội, Đại uý Tải mời riêng các sĩ quan và nữ huấn đạo ra quán Gió Khơi Số Một, lộ thiên, ở bãi biển Nha Trang ăn bò nhúng dấm chấm mắm nêm, món ngon nổi tiếng của quán. Hương Mai đến trễ, vẻ mặt buồn hiu. Tôi mang theo một chai rượu mạnh, đãi anh em. Nàng ăn ít, nhưng cứ nốc cognac của tôi, ly này sang ly khác, khiến tất cả ngạc nhiên, không ngờ tửu lượng của nàng cao như vậy, ăn đứt đám nam nhi, nhưng không ai dám cản, sợ bị hiểu lầm là kỳ thị nữ giới. Đến khi chai Courvoisier gần cạn và mặt nàng tái nhợt, Thiếu uý Cường mới giật lại ly rượu của nàng, không cho rót tiếp, và ôn tồn bảo:
 - Cô say rồi, nên ngưng là vừa.

Nàng không nghe:
- Không sao đâu, cho em một ly nữa! Em đang vui mà!

Cường và các cô lựa lời khuyên nhủ. Ai cũng đoán nàng thất tình hoặc buồn chuyện gia đình. Còn tôi nghĩ khác: một người đẹp như nàng khó thất tình lắm, trái lại làm người ta thất tình thì có. Chắc một chuyện gì kinh khủng đã xảy ra cho nàng. Khi chai rượu cạn sạch, nàng đứng dậy, lảo đảo đến bàn tôi, nói với tôi, như ra lệnh, tỉnh bơ:

- Trung uý đưa em đi tiểu!

Mọi người há hốc mồm kinh ngạc. Còn tôi không thể tưởng tượng Hương Mai bình nhật rất đoan trang hôm nay có rượu vào lại “chơi bạo”. đến thế. Sau mấy giây sửng sốt, các sĩ quan vỗ tay rào rào tán thưởng. Đại uý Tải thì cười cười, nhìn tôi chờ đợi.

Tôi vẫn ngồi yên, chưa biết phải làm sao. Thấy thế, Đan Tâm, cô ca sĩ trẻ nhất, chuyên hát nhạc kích động, đứng lên, nắm tay dắt nàng đi ra phía sau quán. Trở lại bàn, Hương Mai mệt lắm, tựa đầu vào vai Cường, lim dim mắt. Đại uý Tải nói tôi đưa nàng về trước, vì tối hôm ấy tôi lái xe nhà –chiếc Peugeot 203 của ba mẹ tôi cho mượn. Tôi bảo Thiên Ân, người rất kỵ tôi, theo cùng.. Hai cô ngồi băng sau. Tôi hỏi Hương Mai về đâu. Nàng đáp, giọng chán chường:

- Về đâu cũng được. Em khổ lắm. Em không muốn sống nữa!

Rồi thiếp đi trong tay Thiên Ân. Không ai biết địa chỉ nhà nàng. Thiên Ân đề nghị về khu gia binh Đại đội, bề nào cũng còn có sĩ quan trực trại và lính gác. Cô dìu nàng vào phòng tôi, hầu như trống trơn, chỉ có một bàn viết, vài quyển sách, và chiếc giường nệm –mà tôi chỉ đặt lưng xuống vào những đêm cấm trại thôi. Khi tôi ngỏ ý không nên để nàng ngủ một mình trong tình trạng đó tại một nơi xa lạ, nhưng đồng thời tôi cũng không thể ở qua đêm canh nàng, Thiên Ân nói:

- Em sẽ ở lại đây với Mai, vì em cũng sống một mình. Không sao đâu. Em sẽ ngủ trên chiếc ghế bố kia kìa.

Chờ đến khi các sĩ quan khu độc thân ồn ào kéo về, ghé thăm, tôi mới bàn giao hai cô cho ông phó Cường, đã có vợ hai con, cho chắc ăn. Lúc này Hương Mai đã ngủ mê, hơi thở mệt nhọc. Cường chu đáo lắm, lôi ở đâu ra được một lô mền gối, khăn mặt, ca cóng, bàn chải và kem đánh răng còn nguyên trong hộp, mang đến cùng với hai thùng nước lớn, và đặc biệt hai bộ pyjama đàn ông mới tinh, chắc là vừa trưng dụng được của anh chàng sĩ quan độc thân tốt số nào. Trong lúc giúp Thiên Ân căng ghế bố, Cường cười nói với tôi:

- Hôm nay tôi trực, ngoại trừ Trung uý, đứa nào muốn đụng đến hai cô phải bước qua xác chết của tôi. Trung uý cứ yên tâm về nhà.

Tôi và Thiên Ân cùng cười. Tôi bảo:

- Anh phải nói như thế này: kể cả Trung uý, đứa nào muốn đụng đến sẽ từ chết tới bị thương...      

Sáng hôm sau, tỉnh dậy, Hương Mai nhớ chuyện đã xảy ra, bèn đi xin lỗi mọi người. Riêng tôi, cho mãi đến bây giờ vẫn không biết chắc đêm ấy nàng buồn chuyện gì để đến nỗi “em không muốn sống nữa”.

Những quân nhân và nữ huấn đạo trong Trung đội Chính huấn hiểu rõ công việc của mình. Giúp vui cho binh sĩ tại những quân trường và những đơn vị tác chiến về hậu cứ dưỡng quân, trong đó thỉnh thoảng có cả lính Kam-pu-chia được gửi qua Việt Nam “hoc”., thời Lon Nol và Sirik Matak, đồng thời trau dồi cho họ kiến thức chính trị, hun đúc tinh thần chiến đấu, lòng yêu nước, thương dân, vv.... bằng những buổi “lên lop”+' ngắn, gọn, dễ hiểu do các sĩ quan trung đội đảm trách và chương trình mini văn nghệ gồm những bản hùng ca, vở hài kịch ngắn, màn ảo thuật, hoặc những trò chơi vui, lành mạnh được giao cho Trung sĩ trưởng ban văn nghệ sắp xếp. Đó là binh vận, tương đối dễ dàng và có kết quả mỹ mãn.

Đại đội 204 CTCT đôi khi được vài toán chính huấn từ Sài Gòn ra phối hợp công tác, trú ngụ trong doanh trại đại đội. Tôi nhận thấy những ông trưởng toán này còn “giữ ga”` kỹ hơn chúng tôi, hoặc “giấu nghe”^` thái quá, vì nói là phối hợp, mà chả bao giờ họ chịu cho các nữ huấn đạo tập dượt hay sinh hoạt chung, trao đổi kinh nghiệm với trung đội chúng tôi, làm Đại uý Tải vốn rất xã giao, bặt thiệp cũng phải lắc đầu, khó chịu. 

Công tác tại những đơn vị gần thành phố, như Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế, chúng tôi trở về nhà ngay trong đêm. Ở nơi xa, như Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ, phải ngủ lại. Những lần đi xa, tôi nhường xe jeep cho Cường và các sĩ quan, các quân nhân khác ngồi xe đoge, còn tôi lái Peugeot, chở theo được bốn cô nữ huấn đạo. Tất cả trang bị súng ống đầy đủ, để tự bảo vệ, khi cần. Đi ngang Ninh Hoà, Hương Mai thường xin ghé thăm nhà, gần quốc lộ. Đoàn xe dừng lại, vẫn nổ máy, trước nhà nàng chỉ độ năm, mười phút, nhưng khi trở ra, nàng lộ vẻ vui mừng, biết ơn, một lần còn giới thiệu mẹ nàng với tôi.

 3. Một tối, sau buổi sinh hoạt tại Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ, cả trung đội chúng tôi và toán Sài Gòn được chỉ định nghỉ đêm trong một phòng học rộng ở khu gia binh, trên những chiếc bàn lớn xếp lại với nhau. Riêng tôi, liên toán trưởng, được cấp một chiếc giường tại văn phòng trường. Vì lịch sự với khách, tôi định xin thêm ghế bố cho hai sĩ quan Trung ương, nhưng hai ông Thiếu uý trưởng toán từ chối, bởi không muốn xa rời các cô ca sĩ của mình. Tôi ngồi chuyện trò, uống trà với anh em trong trung đội cho tới nửa khuya. Lò mò về phòng, vén màn tính chui vào giường, tôi đụng phải một thân người mềm mại đang nằm chờ. Bật đèn pin lên thì hoá ra Hương Mai, trong bộ đồ ngủ, rất khêu gợi. Tôi giật mình, suýt kêu lên. Nàng bật ngồi dậy, lấy tay bịt miệng tôi, rồi mỉm cười, khẽ nói:

 - Suỵt... Em đây, chứ không phải ma. Đừng sợ. Anh cho em ngủ ở đây với anh đêm nay.      

Tôi đứng chết trân, á khẩu, nhìn nàng không chớp, căng mắt định thần xem có cái đuôi chồn liêu trai nào lấp ló sau lưng nàng không, hoặc nàng có say như tối nọ? Tình thế thật khó xử và nguy hiểm. Một đàng nỗi khát khao thèm muốn bị ức chế bấy lâu thôi thúc, một đàng danh dự và trách nhiệm của một sĩ quan chỉ huy đè nặng lên vai, không đùa được. Lại còn cái nguyên tắc bất di bất dịch của tôi! Lại còn Thơ Thơ và mảnh trăng thề bỏ lại ở Qui Nhơn! Sau mấy giây vật vã với chính mình, cuối cùng lý trí thắng.. Nhưng từ chối thế nào để nàng không bị tổn thương, tự ái, tri hô cho mọi người nghe? Đoán được sự dằn vặt trong tôi, nàng đứng lên, nắm lấy tay nhẹ nhàng kéo tôi xuống ngồi bên nàng. Và ôm tôi, thủ thỉ:

- Hãy hôn em đi, một lần thôi, cho em biết rằng anh cũng đáp lại tình yêu của em...

Tôi nói, thầm thì như năn nỉ:

- Tôi không thể làm gì được bây giờ, cô..., em hiểu cho. Tôi hứa sẽ yêu em, sẽ hôn em, hoặc nếu em muốn, sẽ van xin tình yêu em ở một dịp khác, một hoàn cảnh khác, hay một kiếp khác, biết đâu, khi em không còn là ca sĩ trong trung đội của tôi nữa. Bây giờ thì tôi không thể, em hãy hiểu giùm cho...

Một giọt nước mắt rơi nhanh xuống cánh tay tôi. Nàng thút thít:

- Anh càng trốn chạy tình yêu em chừng nào, em càng đuổi bắt anh chừng nấy, dù từ bên kia cõi đời. Em hiểu nỗi khổ và cái nguyên tắc kỳ quặc của anh. Nhưng anh đâu có hiểu nỗi khổ của em. Anh tàn nhẫn lắm, anh biết không? Thôi em đi, để Trung uý nghỉ.

- Không, em cứ ở đây. Tôi xuống lớp học.

Tôi đặt nàng nằm lại ngay ngắn trong giường, đắp chăn cho nàng. Rồi bước ra giữa trời khuya. Làn gió mơn man trên mặt, trên tóc, và tôi thấy người nhẹ thở hẳn. Bỗng nhiên, lại nghĩ đến chuyện anh mục đồng, trong truyện Les etoiles' của Alphonse Đauet, đã để cô chủ nhỏ xinh đẹp ngồi dựa vào vai anh ngủ vùi suốt đêm thâu trên núi, dưới bầu trời đầy sao, mà không dám động tĩnh gì hết. Tôi bước vào gian phòng của trung đội. Hạ sĩ Thảo còn thức. Thảo là một trong những hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc cấp dễ thương nhất của tôi, mà tôi không bao giờ quên, bởi thái độ hiền hoà, tinh thần trách nhiệm, và nhất là sự thuỷ chung -luôn dành cho tôi, trong mọi cảnh đời.

Thảo hỏi tôi, “Trung uý chưa nghỉ sao”? Tôi lắc đầu, và hỏi lại, rất khẽ, “Anh đi ngủ đi chứ! Các nữ huấn đạo nằm đâu”? Thảo chỉ tay về một góc phòng. Các cô chắc đã say giấc ngủ, màn buông kín mít. Cách đó không xa là ông phó Cường và hai ông bầu Sài Gòn. Cuối cùng, tôi nói với Thảo:

- Tôi đến ngủ với anh em cho vui.

Cả trung đội không ai để ý Hương Mai đêm ấy vắng mặt vì số ca sĩ của hai toán Nha Trang và Sài Gòn lên tới tám cô, một kỷ lục, và cũng không ai biết nàng đang nằm trong giường của tôi và chuyện gì đã xảy ra giữa hai người.

4. Ba tháng sau, nàng đột ngột xin nghỉ việc, lấy lý do muốn làm ca sĩ toàn thời gian cho nhà hàng Nha Trang Hotel. Lúc từ giã, nàng nói với tôi, có sự hiện diện của Cường và một số quân nhân:

- Bây giờ em không còn là ca sĩ của Trung đội nữa. Em sẽ nhớ nó lắm!

Chỉ một mình tôi hiểu câu nói ấy. Từ đó, nàng không bao giờ trở lại Đại đội dù để thăm bạn bè, và cũng chỉ một mình tôi hiểu vì sao. Rồi đầu năm 1973, tôi phải đổi về trường Đại Học CTCT Đà Lạt. Đêm cuối cùng trước khi rời bỏ Nha Trang, tôi đến vũ trường, tìm nàng. Trên sân khấu, Hương Mai đang hát bản Besame Mucho, lời Việt, giọng buồn não nuột, và phía dưới sàn nhảy, những cặp tình nhân đê mê dìu nhau vào cõi mộng. Xong bài hát, nàng tiến nhanh đến bàn tôi, cười tươi, nét mặt rạng rỡ, nhưng đôi mắt long lanh như có ngấn lệ, hỏi dồn:    

- Anh... Trên sân khấu, em thấy anh vào. Em chờ anh từ một thế kỷ rồi. Sao đêm nay anh mới đến? Anh đã quên em rồi sao?

Khi biết tôi đến từ biệt nàng đi xa, nàng nói sẽ xin nghỉ hát sớm để “sống với anh cho hết đêm nay”. Lên xe, tôi đề nghị ra biển. Chúng tôi ngồi trên bãi cát còn ấm nắng chiều, có bóng thuỳ dương hắt xuống từ những ngọn đèn đường, chở che, đồng loã. Sóng vỗ, tràn vào bờ, xoá hết dấu chân của những tình nhân chia cách, như lời thơ Prevert' ngày nào. Et la mer efface sur le sable les pas des amants desunis'. Trăng mơ chiếu những tia lẻ loi, vàng vọt trên biển vắng. Chân trời tối mờ, xa tắp. Nàng nhắc lại chuyện cũ, chuyện chai Courvoisier, chuyện “Trung uý đưa em đi tiểu”, và tự trách “sao bữa đó em... cà chớn dữ vậy”. Rồi cả hai cười vui. Rồi tựa đầu vào ngực tôi, như trong đêm Dục Mỹ, nàng khẽ nói, lời nhẹ tơ vương:

- Hãy hôn em đi, một lần thôi, cho em biết rằng anh cũng yêu em. Hãy ôm em nhiều, thật nhiều. Besame mucho. Mucho, mucho. Em đâu còn là ca sĩ trong trung đội của anh nữa mà anh phải sợ? 

Rồi từ đêm đó, tôi không còn gặp lại nàng. Vì bận bịu công việc và vài hình bóng khác len nhẹ vào đời, chiếm chỗ của nàng, tôi không về Nha Trang bao giờ nữa. Thỉnh thoảng nhớ Hương Mai và những kỷ niệm có nàng, tôi thở dài, lòng thấy xót xa và buồn vô hạn.

5. Cho đến sau năm 1983. Từ những trại tù cải tạo, tôi trở về quê cũ với mảnh đời vỡ nát và tâm hồn trống vắng. Đến Nha Trang Hotel tìm Hương Mai và dĩ vãng nào xanh như mắt em (Đinh Hùng) mới biết vũ trường đã đổi thành phòng trà, cà phê, có tên mới, chủ mới. Người ta không biết “ca sĩ Hương Mai trước 75, tóc có đường ngôi rẽ ở giữa” là ai. Một hôm, tình cờ, gặp lại Thiên Ân bán vải tại chợ Đầm. Trông cô vẫn còn trẻ đẹp, thách đố thời gian tàn nhẫn và cuộc đổi đời bi đát, nhưng trong đôi mắt cô  –cũng như các giai nhân Nha Thành một thời vang bóng còn kẹt lai–. tôi đọc được, ôi, mênh mông là nỗi u hoài khôn nguôi của những nàng tiên bị đoạ đày. Thiên Ân ôm chầm lấy tôi, khóc ròng, rồi kể lể:

- Từ ngày anh đi, bao nhiêu chuyện đã xảy ra. Em nghỉ làm ở Đại đội, hát cho Nha Trang Hotel được một năm thì mất nước. Sau 75, Phương Hoa lấy một dược sĩ quân y “nguy”. vừa ra trường, nghe nói bây giờ đang ở Mỹ. Đan Tâm vào Sài Gòn sinh sống. Mấy cô nữ huấn đạo khác thì mỗi người một ngả. Đại đội tan tác hết. Đại uý Tải, Thiếu uý Cường chắc cũng đi cải tạo, em không biết ở đâu. Đôi khi có việc đạp xe ngang qua Bình Tân thấy không còn dấu vết gì của Đại đội cũ, nhất là căn phòng ngủ trống trơn của ông “Trung uý độc tài và hắc ám của lòng em”, em buồn muốn rơi nước mắt. Em lập gia đình với một thiếu uý Lực Lượng Đặc Biệt, có một đứa con trai năm nay được mười tuổi. Chồng em tử trận trên đèo Khánh Dương hai tháng trước khi Nha Trang mất.

Thiên Ân kể đủ thứ chuyện, mà không một lời nhắc đến Hương Mai. Tôi sốt ruột lắm, nhưng tự chế, không hỏi. Cuối cùng, cô cũng nói:

 - Hương Mai chết rồi. Trong tay em...

Tôi hoảng hốt, ngắt lời:

 - Thật vậy sao?

- Chuyện dài lắm. Mời anh tối nay đến nhà em chơi, ăn cơm, em sẽ kể anh nghe...

Mấy tháng sau ngày anh lên Đà Lạt, Hương Mai cặp bồ với một thương gia giàu sụ, khách hàng thường trực của Nha Trang Hotel, có vợ con, vừa mập vừa hói vừa xấu, lớn hơn nàng gần hai mươi tuổi. Bà vợ chằn lắm, đã mấy lần đến bắt ghen tại vũ trường. Nhờ em và nhân viên an ninh can thiệp, Mai không việc gì, nhưng mang tai tiếng phải bỏ hát và bỏ luôn lão ta. Sau 75, nàng giấu kỹ lý lịch, đổi tên, đổi họ, được đi hát lại, và xin học lớp kịch nghệ, và trở thành một diễn viên sân khấu có hạng, rất được ái mộ. Thời gian này nàng chung sống với một nhà văn soạn kịch trẻ, đang lên, tên Lân, nghe nói là một Thiếu uý trường CTCT vừa mãn khoá đầu tháng tư 1975, mới đeo lon, nên trốn cải tạo, từ nơi khác đến Nha Trang mua được hộ khẩu ở Xóm Mới, khai là cựu sinh viên đại học Đà Lạt, ban báo chí, và như thế tưởng qua mặt được bọn Công an địa phương. Lân và Hương Mai không hề biết là họ bị theo dõi và canh chừng gắt gao. Nàng cũng không hay rằng Lân lén viết gửi ra ngoại quốc bài vở có nội dung chống Cộng.

Một lần tình cờ nàng bắt gặp anh ta đang loay hoay giấu một lô giấy tờ trên trần nhà. Lân biết bị lộ, nhưng rất tin tưởng nàng, nên ỷ y. Lúc này nàng ghiền sì ke, và vì say mê danh vọng và mong được đãi ngộ thêm, đã một lần phải trao thân cho tên Trưởng Ty Văn Hoá tỉnh cứ đeo đuổi, sách nhiễu nàng. Thấy tình thế đã chín muồi, Công an bắt đầu ra tay.

Đầu tiên, chúng gài bẫy bắt nàng về tội sử dụng ma tuý. Dùng lời ngon ngọt, chúng dụ dỗ nàng khai ra chỗ Lân giấu tài liệu, để đổi lại những ưu đãi dành cho các ca sĩ, diễn viên thượng thặng. Rồi đe doạ, nếu ngoan cố, nàng sẽ bị đuổi khỏi đoàn kịch. Cuối cùng, nàng chấp thuận làm cộng tác viên, khai hết, và lập tức được thả ra. Trưa đó, trở về, nàng thấy công an đứng chật nhà hai người, và một ô vuông gỗ trên trần bị tháo xuống, và Lân đang bị còng tay, mặt mũi sưng vù, ngước lên nhìn nàng, vẻ khinh bạc, không nói một lời. Nàng hiểu, và chạy bay ra khỏi nhà, lao vào chiếc xe vận tải đang phóng ngược chiều...

Trong cơn hấp hối, lúc tỉnh lúc mê, tại bệnh viện, Hương Mai thều thào nhờ em xin Lân tha thứ, nếu sau này còn gặp anh ta. Nàng thầm gọi tên anh, khóc nức nở, lo sợ một ngày anh biết được những chuyện tồi tệ nàng đã làm và sẽ hết yêu nàng. Vì, nàng nói, anh vẫn là tình yêu duy nhất của nàng. Trước đó lâu lắm, khi tụi em trở thành bạn thân, Hương Mai có kể em nghe chuyện đã xảy ra trong đêm công tác ở Dục Mỹ giữa anh và nàng. Nếu anh ở lại với nàng tối hôm ấy, thì mặc dù nàng tự dâng hiến, em tin rằng Hương Mai đã quên anh ngay, như một trong nhiều người đàn ông khác đi qua đời nàng sau này, mà nàng rất ghê tởm. Cũng như em, phải sau một thời gian dài cách xa  và sau bao giông tố và cạm bẫy trong cuộc đời, mới hiểu con người trung hậu của anh, qua vẻ ngoài mà anh cố tình làm ra nghiêm khắc và hiểu rằng tận đáy hồn em, nói ghét anh không có nghĩa là ghét anh. Phụ nữ tụi em bị quyến rũ ở người đàn ông bởi nhiều cái khác hơn, cao quý hơn vẻ ngoài, tiền tài, địa vị.. Đó là sức mạnh tinh thần, tâm hồn cao thượng, đối xử tế nhị, phong thái trượng phu, lưng thẳng như thân cây trúc, đồng thời sự khổ đau, dằn vặt, và nhất là dũng cảm, trước những chọn lựa khó khăn. Đối với Hương Mai và em, tình yêu như đoá hoa, hái xuống sẽ úa tàn đi, nhưng nếu được giữ lại trên cành, nó sẽ vĩnh viễn sống trong tim, dù qua bao gió mưa tơi tả. Anh đã giữ đoá hoa tình yêu của nàng còn mãi trinh nguyên. Nàng nói hẹn gặp lại anh để cùng anh sống nốt những ngày hạnh phúc dở dang ở cõi khác, chắc chắn tốt đẹp hơn cuộc đời này. Nói xong, nàng chết trong tay em, vẻ mặt rất thanh thản, không còn thấy đớn đau nữa. Bấy giờ là giữa mùa đông 1981, chắc anh còn đang bị lưu đày cải tạo ở nơi nào trên đất Bắc...

Thiên Ân ngừng kể, đưa mắt buồn rầu nhìn qua song cửa. Mưa rơi tự khi nào, giăng kín khung trời mờ tím. Đêm xuống càng thêm lạnh trong hồn người quả phụ –một cựu ca sĩ chính huấn tài sắc vẹn toàn một thuở. Tôi đứng lên từ biệt, hôn má Thiên Ân, ôm đứa nhỏ vào lòng, và ngậm ngùi nói:

- Cám ơn em thật nhiều đã kể cho anh nghe câu chuyện thương tâm này. Giống như Anna Karenine, nhân vật của León Tolstoi, chắc em còn nhớ, Hương Mai đã chọn cái chết để chuộc những lỗi lầm. Chắc nàng đã tìm được sự cứu rỗi, tha thứ và bình an ở bên kia thế giới, nơi không còn bất hạnh, hận thù, gian dối. Hôm nào, em hãy dẫn anh đến thăm mộ nàng.

 Anh mới là người cần được nàng tha thứ.

Portland, 253/2018
Kim Thanh
Chút Hư giữa Đời Thực
Ngô Thị Kim Cúc


Trong chuyến về thăm quê Vĩnh Long sau nửa thế kỷ lên Sài Gòn sinh sống, nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ đã tới làm lễ ở ngôi chùa giữ tro cốt của tri phủ Nguyễn Viết Liêm, ông nội của chị. Ngôi chùa này cũng là nơi ni cô Thích Nữ Diệu Tánh- pháp danh Nguyên Minh, người có công khai sơn chùa Sơn Thắng, đã gởi tro cốt trong ngôi tháp giữa sân.

Những độc giả của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ hẳn không quên một trong những truyện ngắn hay nhứt của chị: Lòng trần.  Đó là câu chuyện về một đào hát tài sắc đã khiến ông phú hộ say mê đeo đuổi rồi bỏ một phần tài sản chuộc cô về làm vợ bé. Cuộc sống ấm êm giàu sang vẫn không đủ sức dứt cô đào khỏi nghiệp trống chầu nên cô đã bỏ nhà trốn theo gánh hát cũ. Ông phú hộ lại bỏ hết cơ ngơi bám theo người đẹp, và sau bao năm tháng tận tụy chiều lụy ánh đèn sân khấu, ông đã viết được vở tuồng hay tới mức khiến cô đào sau khi diễn xong đã tự đoạn tuyệt với tiếng trống chầu, trở về nhà để làm vợ làm mẹ. Vậy mà trời xanh không thương, bắt cả chồng con cô đều chết thảm, khiến cô rốt cuộc lại phải bỏ nhà vào chùa nương bóng Phật.

Sau nhiều chục năm buộc mình tuân thủ cuộc sống tu hành khắc khổ, trong cơn suy sụp cuối đời, ni cô bỗng thấy lạt miệng, thèm khát van xin chút hương vị đậm đà của muỗng nước mắm… Thế nhưng hai người bà con, một làm nghề cho vay nặng lãi và một làm nghề bán phấn buôn hương, đã dứt khoát từ chối, bởi cho rằng bà đang bị ám bởi ma vương quỷ sứ…

Câu chuyện sẽ được hiểu tùy theo quan niệm và kiến tánh của từng người đọc, để nhận về những lời nhắn nhủ khác nhau. Và nếu độc giả biết rằng nó được gợi mở từ chính chuyện đời thật của ni cô Thích Nữ Diệu Tánh, những kiến giải sẽ trở nên tịch lặng hơn, tới gần hơn với chơn tâm nhà Phật.

Cũng ở ngôi chùa này, người bạn trai thời ấu thơ cùng ngồi dưới mái trường tiểu học với nhà văn Nguyễn thị Thụy Vũ, lúc tới tuổi quân dịch, đã mượn làm nơi lánh thân, trốn lính.. Vậy mà sau khi đọc được nhiều kinh sách, huệ nhãn được khai mở, ông đã toàn tâm toàn ý dứt bỏ lòng trần, thí phát quy y, trở thành trụ trì của ngôi chùa, là bổn sư của vị trụ trì hiện tại.

Buổi chiều, dưới cơn mưa nặng hạt và bầu trời lam đục, tiếng đại hồng chung ngân nga như đánh thức trong lòng người nghe chút gì đó rất thật giữa đời hư mà cũng rất hư giữa đời thật…

Còn một câu chuyện khác, về nghiệp văn của Nguyễn Thị Thụy Vũ: chuyện về những nhà văn không thích nịnh…

Năm 1970, Giải thưởng Văn học Nghệ thuật của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa có một điểm đặc biệt, không nhà văn nam nào có tên trong giải Văn, cả ba giải đều thuộc về các nhà văn nữ: Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nhã Ca. Ngày phát giải ở Dinh Độc Lập, với sự hiện diện của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nhà văn Nhã Ca đã không đến nhận giải. Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ được giải nhì, với số tiền thưởng 100.000 đồng , và một mề-đay sáng lóe có màu vàng.

Chỉ vài ngày sau, con trai bệnh nặng, chị Thụy Vũ phải đưa con tới chữa ở nhà thương đắt nhứt Sài Gòn của người Pháp lúc bấy giờ, tiêu hết sạch số tiền thưởng cho việc thuốc thang chỉ trong vòng mấy ngày. Chị cười cợt: “Đồng tiền thưởng này xui quá, nhứt định đội nón ra đi ngay, không chịu ở lại trong nhà tui”.

Thi sĩ Trần Tuấn Kiệt, một trong những tác giả nhận giải Thơ năm ấy, đã xúi chị Thụy Vũ: “Tui với chị đem hai cái mề-đay này ra tiệm cầm đồ đi”. “Đồ xi mà đem cầm sao được”, chị trả lời. “Thì đồ xi mình mới đem đi cầm, cho nó lòi chành là đồ xi, ầm ầm lên mới vui…”.

Nói thì nói vậy, tất nhiên chẳng ai trong số họ đem cầm vật mà mình đã được tặng. Tuy nhiên, chẳng những không cúi rạp mình “Biết ơn tổng thống, biết ơn chính phủ”, các nhà văn lại cứ nhăm nhăm tính chuyện chọc quê các quan chức.

Cái mề-đay đó chị Thụy Vũ vẫn còn giữ cho tới ngày nay, dù nó đã bị oxid hóa nghiêm trọng sau thời gian vạ vật gần nửa thế kỷ… Mặt trước của nó chạm hình hai con rồng uốn lượn quanh lá cờ với dòng chữ Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa ở vòng ngoài (vì trên quốc huy có hai con rồng nên báo chí Sài Gòn vẫn gọi dinh làm việc của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa là Phủ Đầu Rồng). Mặt sau chạm dòng chữ Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa- Nguyễn Thị Thụy Vũ, Giải Nhì Văn - 1970.


Sau năm 1975, ngôi nhà ở Làng Báo chí Thủ Đức là nơi năm mẹ con chị Nguyễn Thị Thụy Vũ nương náu trong thời gian khốn khó nhứt của họ. Vốn là người kiếm tiền khá dễ: cùng lúc viết mấy feuilleton ở mấy tờ nhựt báo với nhuận bút rất cao, chị Thụy Vũ cũng đồng thời là người tiêu tiền mà không hề đếm. Bốn đứa con được chị thuê hẳn bốn bà vú trông nom, để chị rảnh tay đi viết báo kiếm tiền. Sau năm 1975, mọi công việc của chị bị cắt phăng ngay lập tức, không biết làm gì cho ra tiền, cuộc sống của năm mẹ con phút chốc rơi vào bi kịch: bốn đứa nhỏ phải tự lăn lóc lem luốc chăn giữ nhau trong khi người mẹ xấc bấc xang bang lao ra đường để kiếm từng đồng xu lẻ.

Cùng lúc với chuyện không có công ăn việc làm, nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ còn phải đối phó với việc bị công an khu vực chăm sóc thái quá. Anh công an này, chẳng rõ được chỉ đạo hay bởi nhiệt tình tự thân, rất hay ghé nhà chỉ để vặn vẹo chị mỗi một chuyện: “Chị làm nhà văn là làm cái gì? Là làm công việc gì?”, khiến chị Thụy Vũ hết sức bất an. Mấy bản thảo đã viết xong chưa đưa nhà xuất bản nào, chị bèn đốt đi (giờ chị lại tiếc, sao hồi đó không đem đi gởi). Và cuối cùng, để thoát khỏi anh ta, chị đã bán rẻ ngôi nhà chỉ với giá mấy chỉ vàng, để tấp về ở nhờ nhà cha mẹ tại Lộc Ninh, nơi ông bà từng mở tiệm thuốc tây trước 1975.

Và nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ coi như đời văn của mình đã chấm dứt. Chị không làm bất cứ việc gì liên quan tới văn chương chữ nghĩa kể từ ngày đó.

Việc chi nhánh Nhà Xuất bản Hội Nhà văn và Phương Nam Books tái bản cùng lúc toàn bộ 10 tác phẩm là một bất ngờ quá lớn cho chị. Nhưng niềm vui ấy vẫn không khiến chị muốn dính dáng gì tới chữ nghĩa lần thứ hai trong đời. Chị vẫn sống ẩn dật ở Lộc Ninh với vợ chồng người con trai, ăn chay trường và không giao du với bất cứ ai trong giới cầm bút chính thống.

Vì vậy, khi có một lãnh đạo Hội Nhà văn từ Hà Nội gọi điện vào mời chị ra gặp mặt, chị đã rất ngạc nhiên. Chị kể: “Họ nói mời tui ra Hà Nội gặp mặt, chi phí máy bay khách sạn họ lo hết, tui chỉ xách va li đi thôi. Tui mới hỏi muốn gặp tui sao không vô Lộc Ninh gặp, tui rất hân hạnh được tiếp đón tại nhà, kêu tui ra Hà Nội chi cho phiền. Tui già quá rồi, chân lại đau, đi đứng rất khó khăn… Họ liền nói đừng lo, đi đâu cũng sẽ có người dìu đỡ tui, không phải lo gì cả. Tui mới nói mấy chục năm nay tui không biết họ, họ cũng chẳng biết tui, sao tự dưng giờ lại triệu tập tui ra ngoài đó để gặp… Họ liền giải thích rất dài dòng… Tui chờ họ nói xong mới trả lời: nhưng mà tui không ưng gặp họ, nên tui sẽ không đi…”.

Đó là việc đã xảy ra từ nhiều tháng trước, khi Hà Nội muốn tổ chức cuộc gặp gỡ với các nhà văn Sài Gòn cũ cả trong và ngoài nước, và nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ đã vinh dự có tên trong danh sách. Hình như cuộc gặp này sau đó đã không có được kết quả như những người tổ chức mong muốn.

Khi được hỏi vì sao khoảng cách Sài Gòn- Vĩnh Long chỉ mấy mươi cây số mà hàng nửa thế kỷ chị không về thăm quê, nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ đã trả lời buồn: 

“Vì nghèo quá. Muốn về quê phải có tiền để mua quà cho bà con ruột thịt lâu năm không gặp, mà mình thì túi luôn trống rỗng, không tiền. Cho nên phải đành chịu lỗi với quê hương…”.

Có vẻ như nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ sẽ không còn cơ hội để về thăm quê lần nữa, sau chuyến đi vào tháng 9/2017 vừa rồi. Chị đã bị phát hiện ung thư dạ dày và bác sĩ đã phải cắt bỏ 2/3 dạ dày của chị.. Sau thời gian nằm dưỡng bệnh ở nhà con gái út tại Cần Đước- Long An, chị đã trở về Lộc Ninh, trong ngôi nhà đã chở che mẹ con chị mấy chục năm nay.

“Dạ dày càng nhỏ thì càng đỡ tốn cơm… Mình cũng ngoài tám mươi rồi, có gì mà phải tiếc, phải sợ nữa”, chị nói và cười.

Câu nói nghe vẫn hóm hỉnh tuy rằng nụ cười thì không còn tươi như trước.

Một đời người, một đời văn… Một con người không biết chiều lụy ai, dù là với những người cụ thể có liên quan, hay ngay cả với chính số phận mình. Chị đã tự chọn con đường mình đi, tự quyết định số phận mình, đúng như một người phụ nữ độc lập, một nhà văn có suy nghĩ độc lập.

Năm mới, cầu mong cho sức khỏe nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ có thể ổn định, để những tháng ngày sắp tới của chị sẽ vẫn nhẹ nhàng qua, như cuộc đời chị đã trôi qua mà không vướng mắc quá nhiều phiền não…

Monday, April 2, 2018

ĐẢNG DÂN CHỦ LÀ ĐẢNG GÌ ? 

Tác giả : Vũ-Linh/Source: Việt Phố

Câu trả lời cho tựa bài viết tuần này hiển nhiên: đảng DC là một trong hai chính đảng của đại cường Cờ Hoa, là đảng có quan điểm thiên tả, có thể gọi một cách nhẹ nhàng hơn, là ‘cấp tiến’. Là đảng tự nhận phục vụ người dân… thấp cổ bé họng, như dân nghèo, dân da màu, dân lao động và dân tỵ nạn.
TT Thiệu đã nói một câu để đời, có thể áp dụng vào rất nhiều chuyện. Kể cả áp dụng vào đảng DC Mỹ: đừng nghe những gì họ nói, mà hãy nhìn kỹ những gì họ làm.
Năm 1992, có bầu tổng thống giữa đương kim TT Bush (cha) và thống đốc Clinton. Tôi gặp một bà cụ tỵ nạn, hỏi bà có tính đi bầu không?
– Có chứ, mình phải đi bầu để bảo vệ quyền lợi mình chứ.
– Thế cụ tính bầu cho ai?
– Thì bắt buộc phải bầu cho Clinton chứ gì nữa. Bầu mấy thằng Cộng Hòa của tụi trắng kỳ thị, nó cắt hết tiền trợ cấp, có khi còn đuổi về VN nữa, có điên không?
Câu chuyện tóm gọn vài huyền thoại lớn mà nhiều ông bà tỵ nạn ta cho đến nay vẫn ôm cứng trong đầu. Trong mấy thập niên qua, đảng DC phải nói là đã được xây dựng trên một mớ huyền thoại, mười phần thì phịa hết bẩy tám. Kẻ này đã viết không biết bao nhiêu lần trước đây, bây giờ viết lại vẫn không thừa thãi vì những huyền thoại vẫn còn đó.
ĐẢNG DC LÀ ĐẢNG CỦA DÂN NGHÈO?
Đây là hình ảnh quan trọng nhất, được nhiều người chấp nhận nhất. Nhưng cũng là huyền thoại lớn nhất. Nhìn vào thực tế thì thấy: các lãnh tụ DC như Obama, Clinton, Pelosi,… đều có gia tài bạc trăm triệu. Họ đều xuất thân bình thường như quý độc giả và kẻ này, đừng hỏi tại sao sau khi làm chính trị ‘phục vụ dân nghèo’, bây giờ lại giàu vậy. Ba thượng nghị sĩ giàu nhất Thượng Viện là Mark Warner, Richard Blumenthal, và Dianne Feinstein, đều thuộc đảng DC hết. Các đại tài phiệt giàu nhất Mỹ đều theo DC: Bill Gates, George Soros, Jeff Bezos, Warren Buffet, Mark Zuckerberg,…
Tại sao những người giàu nhất lại thường theo DC, ra vẻ tranh đấu cho dân nghèo, dân lao động? Một phần vì mặc cảm, một phần vì muốn che dấu những hoạt động kinh doanh, cách làm giàu mờ ám của họ.
Jeff Bezos, ông chủ của Amazon và Washington Post, là vua… giết tiểu thương và trung thương. Cách kinh doanh làm giàu của anh ta là giết hay nuốt các cơ sở thương mại bán lẻ nhỏ. Bill Gates là nhà từ thiện lớn nhất thế giới, nhưng anh ta đã làm giàu bằng những mánh mung kinh doanh xảo trá nhất mà Steve Jobs (Apple) đã từng vạch ra. Zuckerberg bán dữ liệu cá nhân của cả chục triệu người sử dụng Facebook cho các công ty nghiên cứu thị trường vì mục tiêu kinh doanh hay chính trị.
Trên căn bản, đúng là DC chủ trương giúp dân nghèo nhiều nhất, qua trợ cấp đủ loại, từ phiếu thực phẩm đến bảo hiểm y tế, trợ cấp đông con, tiền thất nghiệp, v.v… Những người nào mơ mộng những thứ này, nên ủng hộ đảng DC.
TT Obama đã hãnh diện khoe số người lãnh Medicaid, là bảo hiểm y tế của Nhà Nước cấp cho dân nghèo, đạt được kỷ lục cao nhất xưa nay. Một kỷ lục mà nhiều người hoan hô, nhưng là một tin đáng buồn hơn vui. Đúng vậy, trách nhiệm của người lãnh đạo là làm cho dân giàu nước mạnh, chứ không phải là làm sao cho càng nhiều người nghèo khổ, sống nhờ Nhà Nước càng tốt.
Trợ cấp trên căn bản là cần thiết, vì lý do nhân đạo, giúp những người kém may mắn và tránh bất ổn xã hội. Có những người thật sự có nhu cầu trợ cấp, Nhà Nước có tránh nhiệm giúp họ, chẳng ai trách gì họ. Nhưng nếu trợ cấp bị lạm dụng, nhiều người có thể tự lực cánh sinh nhưng vẫn lạm dụng trợ cấp, thì đó là những trường hợp khó thông cảm được.
Trợ cấp cũng có mặt trái: biến con người thành nô lệ. Một khi dính vào tròng trợ cấp, khó thoát ra, và càng ngày càng lệ thuộc trợ cấp, lệ thuộc vào đảng đã ban phát trợ cấp. Đâm ra ỷ lại vào trợ cấp, mất dần ý chí tự lập, sanh ra làm biếng luôn. Mà một khi đã lệ thuộc vào trợ cấp thì sẽ mãi mãi phải vật lộn với mức chi tiêu trong vòng trợ cấp, có nghiã là sẽ ngàn đời nghèo túng, không bao giờ có cơ hội khá hơn vì trợ cấp chỉ giúp sống qua ngày, không bao giờ giúp leo lên bực thang xã hội.
Đó có phải là phương thuốc lý tưởng nhất để giúp dân nghèo không? Tuyệt đối không! Cách giúp dân nghèo đúng nhất là giúp họ thoát ra khỏi vòng nghèo túng chứ không phải giam hãm họ trong vòng trợ cấp càng đông và càng lâu càng tốt.
Mà cách giúp hữu hiệu nhất là tạo công ăn việc làm qua tăng trưởng kinh tế, không phải qua tái phân phối lợi tức, chia lại những gì đang có, dựa trên việc tăng thuế nhà giàu chia lại cho dân nghèo. Nói cách khác, cần làm cho cái bánh lớn ra, tất cả mọi người đều có phần lớn ra, thay vì cứ giữ cái bánh như cũ rồi lo chia phần cho đều hơn. Trách nhiệm của Nhà Nước là bảo đảm khi chiếc bánh lớn ra thì phần của mỗi người, nhất là phần của người nghèo, cũng sẽ lớn ra, không bị mấy ông nhà giàu hay quyền thế cưỡng chiếm mất.
Trợ cấp đến một giới hạn nào đó là cần thiết và chính đáng. Nhưng thực tế chính trị ngày nay, đảng DC nhờ công của TT Obama, đã biến trợ cấp thành một hình thức hối lộ, mua phiếu cử tri không hơn không kém.
Sự khác biệt căn bản giữa CH và DC rất rõ ràng: CH tin ở tinh thần cầu tiến và khả năng thành đạt của cá nhân, giúp người nghèo tự mình vươn lên để thoát ra khỏi vòng nghèo túng, DC giúp người nghèo bằng cách lấy của nhà giàu chia lại cho người nghèo để họ mãi mãi thoi thóp trong nghèo túng, mãi mãi lệ thuộc vào trợ cấp và mãi mãi phải bầu cho DC. DC cho rằng dân ngu khu đen vĩnh viễn u tối, chỉ có lãnh đạo và công chức là ưu việt biết cách cứu nhân độ thế.
ĐẢNG DÂN CHỦ LÀ ĐẢNG CỦA TRỢ CẤP
Trong lịch sử cận đại Mỹ từ sau Thế Chiến Thứ Hai, đã có 6 tổng thống DC và 6 CH, không kể TT Trump. Trong tất cả 6 ông CH, đã có 3 ông cắt thuế, nhưng không có một ông nào cắt một xu trợ cấp nào của bất cứ ai. Trái lại, ngoài TT Johnson, chỉ có một tổng thống duy nhất đã tăng trợ cấp một cách quy mô: đó là TT Bush con của CH, với trợ cấp Medicare Part D, Nhà Nước bồi hoàn tiền mua thuốc cho các cụ lãnh Medicare. Vậy chứ mỗi lần bầu cử tổng thống là bài ca con cá vàng “CH cắt trợ cấp” lại được ban hợp ca DC hát lên với dàn nhạc TTDC, như cái đĩa hát rè của thập niên 40. Vẫn có người nghe và tin.
DÂN CHỦ LÀ ĐẢNG CỦA DÂN LAO ĐỘNG
Theo cơ quan thăm dò Gallup, hai năm sau khi Obamacare ra đời năm 2010, một nửa số doanh nghiệp tiểu thương đã đóng băng không thuê thêm nhân viên, trong khi một phần năm doanh nghiệp nhỏ đã sa thải nhân viên. Năm 2014 là năm đầu tiên Obamacare được áp dụng trọn vẹn, cũng là năm đầu tiên trong lịch sử Mỹ mà số doanh nghiệp tiểu thương ‘âm thầm đóng cửa’ cao hơn số doanh nghiệp ‘tưng bừng khai trương’. Tỷ lệ thất nghiệp leo lên tới 10%. Năm đó cũng là năm DC thất bại nặng nề nhất lịch sừ bầu cử quốc hội giữa mùa.
Thất nghiệp không phải là ưu tư của đảng DC. Càng nhiều người thất nghiệp càng tốt vì họ sẽ phải lệ thuộc vào trợ cấp, bắt buộc phải bỏ phiếu cho DC.
DC là đảng cổ võ cho nghiệp đoàn vì nghiệp đoàn bảo vệ quyền lợi nhân công. Chỉ tiếc là coi vậy chứ chưa chắc đã là vậy.
Những người tỵ nạn thời 75 hẳn còn nhớ hai hãng máy bay lớn nhất Mỹ thời đó là Pan American Airline và Eastern Airline. Rất nhiều dân tỵ nạn thời mới qua, những năm sau 75, đã làm việc cho hai hãng đó. Cả hai hãng đều đã không còn nữa. Phá sản dưới thời TT Carter, tất cả nhân công bị sa thải hết, hàng trăm ngàn người bị thất nghiệp khi đó. Tại sao? Vì chi phí lương nhân viên quá cao, không thể cạnh tranh được với mấy hãng máy bay không có nghiệp đoàn của các hãng nhỏ mới ra, hay hãng ngoại quốc. Lương cao là do kết quả tranh đấu của nghiệp đoàn. Nhìn cho kỹ, nghiệp đoàn chỉ có lợi ngắn hạn, trong cái nhìn thiển cận, nhưng đưa đến thảm họa phá sản trong đường dài.
Kỹ nghệ xe hơi của Mỹ cũng ở trong tình trạng tương tự. Không cạnh tranh nổi với Nhật, Hàn Quốc, và Âu Châu vì lương nhân công quá cao. Đáng lẽ đã xập tiệm nếu không có TT Bush và TT Obama bơm tiền vào cứu.
Nghiệp đoàn cũng đang tranh đấu đòi tăng lương tối thiểu lên tới 15 đô một giờ, và được đảng DC ủng hộ trong khi CH chống đối. Vấn đề phải nhìn cho kỹ.
Đối với những đại công ty như Wal-Mart (mà bà Hillary trước đây là thành viên Hội Đồng Quản Trị) mà các vị chủ tịch, tổng giám đốc lãnh lương bạc triệu hay chục triệu trong khi một số lớn mấy người bán hàng chỉ được làm bán thời, lãnh lương chết đói mà không có quyền lợi bảo hiểm y tế, nghỉ thường niên,… thì việc tăng lương tối thiểu cho nhân công là chuyện đáng làm và cần làm, nhưng lại không xẩy ra.
Nhưng đối với hàng triệu cơ sở kinh doanh tiểu và trung thương, tăng lương tối thiểu sẽ giết chết họ. Như cột báo này đã viết nhiều lần, thử hỏi ông chủ tiệm phở tại khu Bolsa, nếu bị bắt phải tăng lương tối thiểu lên 15 đô một giờ cho những người chạy bàn, rửa chén, quét dọn, thì ông sẽ phản ứng như thế nào? Vui vẻ tăng lương họ để rồi lỗ lã, phá sản? Hay là sa thải họ để đi thuê dân Mễ lậu, trả lương rẻ hơn? Như vậy tăng lương tối thiểu có giúp cho dân lao động tiểu thương không? Hiển nhiên là không. Cho dù đóng cửa hay sa thải đi thuê dân Mễ lậu thì kết quả là dân lao động Mỹ vẫn mất job, thay vì lương được lên 15 đô. Đó là quy luật kinh tế, không cần biết đảng nào đang nắm quyền.
Tăng lương tối thiểu không phải là giải pháp, chỉ có tăng trưởng kinh tế mới giúp mọi người khá hơn. Có tăng trưởng kinh tế thì tự động sẽ có tăng lương thực tế. Không có tăng trưởng mà chỉ muốn tăng lương thì mọi người sẽ mất việc, chưa kể sẽ có nạn lạm phát, đồng tiền mất giá để rồi tăng lương cũng như không.
ĐẢNG DÂN CHỦ LÀ TÚP LỀU LỚN ?
Túp lều lớn mang ý nghĩa đa dạng, bao dung, bình quyền, không kỳ thị, nhân ái… DC là đảng của đủ sắc dân, đủ tôn giáo, đủ khuynh hướng chính trị. Nghe quá hay.
Sự thật, cái lều DC bé như cái “lều chó con” -nói theo Hồng Y Dolan- chỉ chấp nhận những người cùng chia sẻ quan điểm cấp tiến. Một ông bảo thủ đắc cử tổng thống? ‘Not My President’, tìm đủ cách chống đối và lật đổ. Một nhà báo nói chuyện ‘phản động’ với sinh viên? Nhìn vào những bạo động tại đại học Berkeley thì biết. Bình quyền? Một thống đốc tuyên bố “All lives matter, not just black lives matter” bị bắt buộc phải xin lỗi và rút lời.
Đa dạng tôn giáo? ‘Phải đạo chính trị’ của DC là phải kính trọng … Hồi giáo như tôn giáo của hòa bình, nhưng cấm không được quảng bá Thiên Chúa giáo; cấm không được gọi khủng bố Hồi giáo là …’khủng bố Hồi giáo’, nhưng lại mau mắn gọi các sư Miến Điện là ‘khủng bố Phật giáo’.
Thế nào là nhân ái? Có phải là nhân đạo và bác ái không? Là quý trọng và bảo vệ mạng sống của con người không? Thế thì sao lại chủ trương phá thai tự do? Chỉ vì muốn bảo vệ quyền của phụ nữ ham vui thả giàn mà không muốn nhận trách nhiệm? Mạng của một bào thai không quan trọng bằng một đêm vui chơi thoải mái?
Rất ‘rộng rãi’ trong chính sách phá thai, nhưng lại chống đối kịch liệt án tử hình cho những tội đại hình. Sinh mạng của những bào thai vô tội có thể hủy tự do, nhưng sinh mạng của những tên tội đồ ghê gớm nhất thì lại phải bảo vệ bằng mọi giá.
ĐẢNG DÂN CHỦ LÀ ĐẢNG CỦA DÂN DA MÀU
Nội chiến Nam Bắc Mỹ xẩy ra vì tổng thống Abraham Lincoln của đảng CH chủ trương hủy bỏ chế độ nô lệ da đen bị khối DC miền nam nước Mỹ chống lại.
Ngay cả cho đến thời các TT Kennedy và Johnson, lúc đầu mấy ông này cũng chống lại những tranh đấu của dân da đen đòi bình quyền. Cho đến khi miền nam đại loạn, biểu tình, chống đối nổi lên khắp nơi dưới sự lãnh đạo của mục sư Martin Luther King thì TT Johnson bắt buộc phải nhượng bộ, ký luật nhân quyền, rồi đúng theo mô thức của chính trị gia, nhẩy ra vỗ ngực khoe công ‘giải phóng’ dân da đen! TT Johnson khi ký các đạo luật nhân quyền cho dân da đen cũng vẫn gọi họ là “mấy tên mọi” –f…cking niggers!
Ngày nay, DC là đảng được dân da màu ủng hộ thật. Một phần vì TT Johnson đã mang lại công bằng cho họ khi ra luật Civil Rights Act và Voting Rights Act (mở cửa cho việc ông Obama đắc cử tổng thống), nhưng đó là chuyện của nửa thế kỷ trước. Ngày nay dân da đen ủng hộ đảng DC chỉ vì là đảng ban bố trợ cấp rộng rãi nhất lịch sử Mỹ. Bất cứ ông bà nào ra tranh cử với danh nghiã DC sẽ được dân da màu (đen, nâu, vàng) nhiệt liệt ủng hộ ngay, vì trợ cấp.
Chính sách trợ cấp bừa bãi đã phá nát nền tảng gia đình trong khối dân da đen, khi hàng loạt phụ nữ không chồng mà vẫn đầy con nhờ Nhà Nước nuôi, chẳng biết đứa nào là con ai. Trong 10 đứa trẻ con da đen chạy long nhong ngoài đường, đã có 7 đứa không có bố chính thức. Đó có phải là chính sách ‘bạn’ với dân da đen không?
Trong vấn đề di dân bất hợp pháp cũng vậy, tất cả chỉ là chuyện đếm phiếu không hơn không kém. DC hô hào ân xá vì lý do nhân đạo, vì muốn bảo vệ trẻ con di dân, vì muốn di dân được đoàn tụ gia đình,… nhưng chỉ là ngụy biện thôi.
Trong hai năm 2009-2010, DC nắm Tòa Bạch Ốc, và kiểm soát cả thượng viện lẫn hạ viện, họ đã có thể ra luật ân xá toàn diện cả chục triệu di dân lậu. Nhưng họ không làm gì hết, vì đa số dân biểu nghị sĩ DC cũng không thực sự muốn ân xá. Hô hào ân xá bằng miệng thu được cảm tình và phiếu của cử tri gốc Mễ. Ân xá bằng luật thật sự sẽ mất hết phiếu của cử tri da trắng.
ĐẢNG DÂN CHỦ LÀ BẠN CỦA DÂN TỴ NẠN VIỆT
Đây là lập luận của những ông bà tỵ nạn Việt ủng hộ đảng DC. Nhiều dân HO nhớ ơn DC vì nghĩ TT Carter của DC đã là người mở rộng cánh tay đón HO vào Mỹ. Nhưng nhìn lại cho kỹ, coi dzậy mà hổng phải dzậy đâu, các cụ ơi.
Trước tiên, đảng DC là đảng đã bức tử VNCH, sau khi thanh toán TT Diệm để có thể áp đặt lính Mỹ vào miền Nam, để rồi vẫn thua VC, rồi ép TT Nixon phải bỏ miền Nam VN qua hàng loạt biện pháp khóa tay như cấm bành trướng chiến tranh qua Căm-Pu-Chia và Lào, cấm thả bom đường mòn Hồ Chí Minh, cắt giảm ngân sách, cắt giảm viện trợ kinh tế và quân sự cho Nam VN. Chuyện ‘Nixon bán đứng Nam VN cho Mao’ chỉ là chuyện đổ thừa chạy tội không có căn bản cũng chẳng hợp tình hay hợp lý mà cột báo này đã bàn quá nhiều lần.
Năm 1972, ứng cử viên tổng thống của đảng DC là George McGovern. Ông này chủ trương Mỹ rút quân ra khỏi Nam VN ngay lập tức, chỉ với một điều kiện duy nhất: CSBV trả lại tù nhân Mỹ. Chuyện miền Nam VN sẽ bị CSBV chiếm không phải là chuyện Mỹ phải thắc mắc hay điều đình gì hết. Năm 1975, ông McGovern kịch liệt chống việc TT Ford nhận dân tỵ nạn VN vào Mỹ. Cùng chống với ông, có hai tiếng nói hăng nhất là Jerry Brown, khi đó đã là Thống Đốc Cali và cựu PTT Joe Biden khi đó là thượng nghị sĩ.
Năm 1978 khi hàng triệu quân cán chính miền Nam còn chết dở sống dở trong tù cải tạo từ Cà Mau đến Sơn La, TT Carter, với hậu thuẫn của vài thượng nghị sĩ cựu quân nhân như John McCain, John Kerry,… gửi một phái đoàn qua Hà Nội thảo luận việc bỏ cấm vận và thiết lập bang giao nếu VC giúp tìm xác lính Mỹ. VC khi đó đang khủng hoảng kinh tế, trên bờ phá sản, lại cũng chuẩn bị đánh Căm-Pu-Chia và đối phó với Trung Cộng, nên ra giá sẽ cho phép Mỹ đến tìm xác lính Mỹ đổi lấy việc TT Carter nhận tù cải tạo qua diện HO, và nhận hàng vạn thuyền nhân bị VC trục xuất, để xả bớt ưu tư an ninh nội bộ (lo sợ chưa kiểm soát được khối quân cán chính ‘ngụy’, lo sợ dân Việt gốc Hoa nằm vùng cho TC) và gánh nặng kinh tế (bớt miệng ăn).
Những người nghĩ TT Carter đón nhận HO và thuyền nhân vì lý do nhân đạo, thương dân Việt, mang ơn Carter, chỉ là những người ngủ mơ. Ưu tiên của TT Carter là xác lính Mỹ để được bầu lại khi ra tái tranh cử. Nhận tù cải tạo và thuyền nhân là cái giá mà VC bắt TT Carter phải trả để VC cho phép tìm xác lính Mỹ.
Nhìn vào quan hệ Mỹ-Việt, ta thấy TT Carter là người đầu tiên bắc lại nhịp cầu với CSVN, TT Clinton là người thiết lập ngoại giao, bỏ cấm vận kinh tế với CSVN, cho CSVN gia nhập các tổ chức quốc tế, TT Obama là người bỏ luôn cấm vận quân sự với CSVN. Cả ba đều có chính sách thân thiện nhất với CSVN, và cả ba đều thuộc đảng DC. Dĩ nhiên, cả ba ông cũng đều lớn tiếng đòi nhân quyền cho VN. Chẳng có một kết quả cụ thể nào ngoài việc VC thỉnh thoảng thả một tù chính trị qua Mỹ cho Mỹ vui. VC thả một, bắt thêm một trăm.
Nhiều cụ tỵ nạn ta đã quên bẵng khối cấp tiến DC và TTDC đã là nguyên nhân lớn nhất khiến ta thua cuộc, phải vắt chân lên cổ bỏ xứ đi tỵ nạn, cũng quên luôn là đảng DC đã kịch liệt chống lại việc nhận chúng ta vào Mỹ năm 75.
Nói tóm lại, tất cả những chuyện Dân Chủ là đảng của dân nghèo, lao động, di dân, da màu, tỵ nạn, v.v… chỉ là những huyền thoại do đảng Dân Chủ tạo ra, rồi được truyền thông phe ta quảng bá. Nguyên tắc chỉ đạo của nghệ thuật tuyên truyền là cho dù là một điều không đúng sự thật, nhưng nói mãi cũng sẽ có người tin, càng về lâu về dài càng nhiều người tin.
---------- 
Ngôi sao của CNN, Jim Acosta, bị đả kích vì đã đặt những câu hỏi "thô lổ", "nóng rát" cho Trump trước mặt trẻ em (Brian Flood | Fox News)


.
Thông tín viên Jim Acosta của CNN tại Nhà Trắng đã bị đả kích hôm thứ Hai vì đã hét lên câu hỏi với Tổng thống Trump trong khi ông Trump đang tô màu cùng với trẻ em trong trò chơi Lăn Trứng Phục Sinh tại sân chơi của Nhà Trắng.


Trẻ em tham gia trò chơi "Lăn Trứng Phục Sinh" tại khuôn viên Nhà Trắng ngày 2 April 2018

Trò chơi Lăn Trứng hằng năm mang lại cho các gia đình trên khắp đất nước một ngày hội vui chơi trong mùa Phục sinh, đứa con trai 12 tuổi của Trump là Barron, và nhiều đứa cháu của ông cũng tham gia trò chơi này.


Nhưng Acosta thì không chung vui, trong khi tổng thống đang ngồi chơi với một nhóm thanh thiếu niên thì ông lại hét lên: "Ông Tổng thống, còn bọn trẻ DACA thì sao? Liệu chúng có phải lo lắng về những gì sẽ xảy ra với chúng hay không, thưa ông? "

Trump trả lời, nói rằng chính các đảng viên Dân chủ đã bỏ rơi những đứa trẻ DACA đó, và ông tiếp tục tô màu với lũ trẻ. Câu trả lời không làm cho Acosta vừa ý. Là phóng viên sáng chói của CNN, anh này là người thường xuyên đối đầu với TT Trump và những người đại diện của ông.

"Ông đã không giết bọn trẻ DACA hay sao, thưa ông? Ông không giết trẻ DACA à? "Acosta hỏi.

Phóng viên Benny Johnson của nhật báo Daily Caller đã đưa vụ nổ sảng của Acosta ra ánh sáng, đã bình phẩm về đoạn video quay cảnh ngôi sao CNN gây gián đoạn cho cuộc vui đề cao tâm tình gia đình đó. (xem video ở nguồn Fox News)


TT Trump và Melania điều khiển cuộc chơi

Jonathan Alpert, nhà tâm lý trị liệu và tác giả sách đã nói với Fox News rằng đạo đức nghề nghiệp báo chí "dường như là một điều của quá khứ" trong kỷ nguyên tin tức hiện đại bao suốt 24/7, nhưng ông nói "người ta mong đợi một mức độ tôn trọng và nhạy cảm khẳng định nào đó đối với một sự kiện có sự tham gia của trẻ em ". Ông giải thích rằng bé Barron Trump có thể đã quen với sự bình luận chống đối xung quanh cha mình, nhưng lời lẽ thô lổ đó có thể có ảnh hưởng xấu lên những đứa trẻ khác.

"Từ 'giết' có thể được xem như là hung hản và gây sưng bỏng trong tâm trí non nớt của những đứa trẻ tham dự," Alpert nói. "Đối với Jim Acosta của CNN, thì chỗ nào và thời gian nào cũng chèn mọi thứ của ông vào được, nhưng có lẽ Trò chơi Lăn Trứng Phục Sinh là dịp vui chơi có tinh thần gia đình, chứ không phải là nơi thích hợp để ông phun ra những câu hung hản".


Rất đông trẻ em tham gia

Brad Parscale, người quản lý chiến dịch tranh cử năm 2020 của Trump, đã gióng lên tiếng chuông nhắc rằng Nhà Trắng nên tước bằng báo chí của Acosta.

"Có lẽ đã đến lúc Jim Acosta phải bị đình chỉ vì đã phá vỡ thể thức lễ nghi. Ông này đang tiếp tục gây lúng túng cho mình và cho CNN" Parscale phê phán trên mạng Tweeter.

Acosta sau đó đã đáp trả lại ông Pascale rằng mình đang làm nhiệm vụ được Tu Chánh Án thứ nhất bảo vệ. Trong khi một số người ủng hộ Acosta thì cảm thấy câu hỏi của Acosta là thích hợp vì TT Trump vừa qua đã không tổ chức một cuộc họp báo truyền thống, thì những người khác lại chế riểu ông phóng viên CNN này.


"Jim Acosta thường hành động giống như một nhà hoạt động chính trị hơn là một nhà báo, thường xuyên biến minh và cơ quan ông làm việc thành trò hề", 

Brandon Morse của báo Redstate đã viết trong một đoạn chỉ rõ những toan tính thường có của Acosta nhằm bắt bí Trump trong phương pháp "gài bẩy để bôi lọ".
Đầu năm nay, Trump đã đá ngôi sao CNN này ra khỏi Văn Phòng Bầu Dục sau khi Acosta khuấy nhiểu Tổng thống bằng những câu hỏi mang tính kỳ thị chủng tộc. Acosta đã có thói quen châm chích và ngắt ngang lời khi Trump và các thành viên của chính quyền của ông nói trước giới truyền thông. Ông là một trong những người chỉ trích Tổng thống Trump bạo miệng nhất và là một thành phần quan trọng trong chiến lược sắp sẵn để chống Trump của ông Jeff Zucker.


TT Trump ngồi tô màu với trẻ em

Trump đã đặt cho CNN cái tên nổi tiếng là "tin giả tạo" (fake news) và chỉ trực tiếp vào Acosta, và trong quá khứ đã gọi anh ta là một tên ô danh. Tháng 12 năm ngoái, Acosta đã bị Bộ trưởng Báo chí Nhà Trắng, bà Sarah Sanders đóng cửa khi ông toan cướp quyền điều khiển một cuộc họp báo. Acosta nói với bà Sanders rằng các nhà báo đã làm "những sai lầm thật thà" nhưng điều đó không làm cho họ trở thành "tin giả mạo" trước khi thử đưa ra một câu hỏi. Bà Sanders nhanh chóng cắt ngang anh ta, nói rằng:

"Khi các nhà báo mắc phải những sai lầm tthật thà, thì họ nên nhớ giữ mình về những sai lầm đó. Đôi khi, và rất nhiều lần, họ lại không nhớ", bà Sanders đã nói thế và Acosta cố ngắt ngang.

"Tôi xin lỗi, tôi vẫn chưa nói hết," bà nói. "Có một sự khác biệt rất lớn giữa việc đưa ra những sai lầm thật thà với những sai lầm nhằm mục đích cố tình lừa dối người dân Mỹ ... ông không thể cho đó là một sai lầm thật thà khi ông cố tình đưa ra thông tin mà ông biết là sai."

Acosta cũng đã tham gia tranh luận đấu khẩu với các thành viên khác của chính quyền bao gồm Giám đốc Quản lý và Ngân sách Mick Mulvaney, Cố vấn Chính sách Cao cấp Stephen Miller và cựu Thư ký Báo chí Sean Spicer.

CÔ TIÊN


Ba tôi qua đời bất ngờ năm 1964, nhỏ em út còn trong bụng Má. Tôi phải nghỉ học ... tìm việc làm ngày đêm để phụ giúp Má tôi nuôi 6 đứa em còn nhỏ dại.

Đầu năm 1965, tôi được mời đến dạy kèm Toán cho cô con gái lớn một gia đình người Việt ở Nam Vang. Mỗi ngày 2 tiếng, từ 7 đến 9 giờ tối, từ thứ Hai đến thứ Sáu. Em học trường Providence, còn gọi là trường Bà Phước, lúc đó chỉ dành cho nữ sinh. Em nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng mới ở lại Cinquième, trong khi tôi đã đậu Brevet d’Études du Premier Cycle hai năm trước. Có lẽ vì là con gái nhà khá giả nên em hơi... làm biếng học, nhất là toán, Géometrie và Algèbre.

Lúc đầu, tôi hơi nản lòng vì.... em nhìn bài vỡ như thấy ma, tôi thường phải làm bài dùm em nhưng từ từ ... em nghe lời tôi khuyên, em chịu làm bài, chịu học bài, và được lên lớp mỗi năm. Đầu năm 1968, em học Troisième, chuẩn bị thi Brevet. Tôi kèm em từng môn, giúp em làm những bài vỡ mà đúng ra tôi không cần giúp. Em trả ơn bằng cách mời tôi ở lại ăn cơm tối.

Tôi cho em mượn những quyển sách mà tôi đã học qua nên một lần trả sách, em kèm theo tấm giấy chỉ viết một câu “cho moi làm amie intime của toi nha”. Tôi gật đầu vì sợ em giận, em không thèm học nữa. Từ đó, em hẹn tôi đi chơi cuối tuần, tôi cũng gật đầu với điều kiện là em phải xin phép Ba Má đàng hoàng và phải ráng học.. Tôi biết em thương tôi, tôi cũng thương em. Tôi gọi em là “cô Tiên” vì em có dáng dấp qua cầu gió bay, có bước đi lả lướt nhẹ nhàng như các nàng tiên nữ trong vũ khúc nghê thường, vì em đã mang đến cho tôi những gì mà người trần gian chưa từng cho tôi trước đó.

Những ngày mưa, không đi chơi được thì tôi ngồi hát em nghe bên mái hiên nhà ...

.... Một chiều cuối tuần mưa bay lất phất và mây trắng giăng giăng. Em đến thăm anh, vì trời mưa mãi nên không kịp về. Bên anh, em lặng nhìn bầu trời và ánh mặt mộng mơ. Sợ người yêu khóc, khe khẽ bên tai, anh kể chuyện ngày xưa ... 

.... Chuyện xưa kể rằng trên thiên giới ấy ngày vui kết hoa đăng. Thiên Quốc đang vui một nàng tiên nữ lỡ làm rơi ly ngọc ngà. Ðang say nên trời bèn đọa đày nàng xuống dưới trần gian. Làm người dương thế không biết bao lâu mới cho quay về trời ...

Em ơi ! nàng tiên ấy xuống dương trần một chiều mây bay nhiều. Và vì thương đời lính thương kiếp sống phong sương nên dù rằng một hôm. Thiên Quốc trời sai đem mây hồng làm xe đưa tiên về. Tiên nói dối ... tiên còn đang giận trời nên tiên chưa về đâu ... 

.... Nàng tiên giáng trần trong đôi cánh trắng và đang ngắm mây bay. Tiên đứng bên anh nguyện thầm mưa mãi cho tiên đừng về. Em ơi, nếu mà trời gọi về thì em có về không ? Mỉm cười em nói : “Tiên thích dương gian với chiều mưa thật nhiều....”

Nhưng tôi luôn nhớ mình là con trai nhà nghèo, chỉ có chiếc Mobylette cà tàng làm chân đi kiếm cơm mỗi ngày. Em là con gái nhà khá giả, đi học có xe đưa rước, về nhà không làm động móng tay vì đã có chị bếp, chị bồi, chị vú lo toan mọi việc. Nếu hai đứa thành vợ thành chồng, em cực thân là cái chắc.

Trong một lần kề vai nhau đi quanh công viên Chùa Tháp, trời bỗng dưng mưa. Tôi bật dù che hai đứa nhưng mưa càng lúc càng nặng hột ... em bỗng xoay người lại ôm hôn tôi dưới mưa. Tôi than thầm trong bụng “gặp oan gia truyền kiếp rồi”. 

Năm đó, em thi đậu Brevet và tôi nghỉ dạy vì vừa xin được cái job thư ký kế toán ở hãng L’UCIA, Nam Vang.

Lúc trước gặp nhau 5 ngày mỗi tuần, có nhiều thì giờ để nói với nhau những gì muốn nói. Giờ phải chờ đến cuối tuần mới được gặp nhau vài tiếng, nhớ ơi là nhớ. Tôi bắt đầu làm thơ “nhớ em” ....

Nhớ lúc xưa kia mới biết nhau
Rồi thương rồi nhớ suốt đêm thâu
Ðêm nào cũng vái cho mau sáng
Nhớ quá trời ơi ! Nhớ phát rầu.
Nhớ những chiều em qua phố vắng
Dáng hồng xen lẫn bóng hàng cau
Mân mê vạt áo, em e lệ
Những lúc anh nhìn, má đỏ au.
Nhớ lúc mình đan tay đếm bước
Em run run hỏi : - Sẽ ra sao ?
Anh cười, anh nói như đinh đóng :
- Anh sẽ yêu em đến bạc đầu !

Đưa bài thơ cho em, em bỏ túi nói sẽ về nhà đọc.

Tuần sau gặp nhau, em không nhắc gì về bài thơ của tôi mà hỏi tôi nghĩ gì về cuộc sống hai đứa sau này.

Tôi nói là nhà tôi nghèo, em nói em biết rồi, tôi phải đi làm giúp Má nuôi các em còn nhỏ, em nói em cũng biết rồi, nếu mình cưới nhau thì em sẽ cực thân hơn là sống với Ba Má em ...

Em trả lời làm tôi chưng hửng “ hiện nay ... cái khổ nhất mà moi phải chịu đựng hàng ngày là nhớ toi, cái cực nhất mà moi phải chịu đựng hàng ngày là làm sao để gặp toi sớm hơn, nên moi không sợ gì cả. Trời sanh voi sanh cỏ”. Tôi khuyên em nên kiên nhẫn, nói cho em hiểu lúc này là thời gian đẹp nhất trong cuộc tình hai đứa, cái nhớ cái thương bây giờ sẽ làm mình gắn bó nhau hơn sau này, v.v....

Em nghe lời tôi và chuyện hẹn hò của chúng tôi kéo dài cho tới đầu năm 1970.

Tướng Lon Nol lật đổ vua Sihanouk, tự phong là tổng thống xứ Kampuchea (Cao miên). Một số người Miên quá khích thừa nước đục thả câu, “cáp duồn” (nghĩa là chặt người Việt) lẻ tẻ. Đang đêm, họ đến gõ cửa nhà người Việt ở những vùng thôn quê hẻo lánh ... một số người Việt không may đã bị họ chặt đầu, xác thả trôi sông về tới Tân châu, Hồng ngự ... Nhiều người Việt có chút của ăn của để ở Cao miên bán tháo tài sản để về Miền Nam Việt Nam lánh nạn. Ba Má em cũng không ngoại lệ.

Em gặp tôi bàn chuyện này. Tôi đem việc này hỏi ý kiến ông giám đốc hãng L’UCIA. Ông giám đốc đưa hai đứa tôi về biệt thự do hãng mướn cho ổng ở trên đại lộ Norodom, ngay trung tâm thủ đô Nam vang. Ổng nói “nhà tao có 2 người bồi bếp, có 2 con chó Berger giữ nhà. Nhà có 5 phòng, tao ở chỉ một phòng. Nếu hai đứa thấy ở nhà mầy không an toàn thì đến đây ở với tao. Tao tin tưởng và cần thằng B. giúp tao giữ gìn sổ sách của hãng nên hai đứa mầy muốn ở phòng nào, muốn ở bao lâu cũng được”. 

Nghe vậy, chúng tôi yên tâm và quyết định ở Nam vang dù Ba Má em có về Sàigòn.

Em về xin Ba Má cho hai đứa làm đám cưới. Má em có cảm tình với tôi nên gật đầu. Ba em im lặng vì biết tôi nghèo, sợ con gái cưng của ông sẽ cực khổ khi về làm vợ tôi. Em nói với Ba Má em “nếu Ba Má không tổ chức đám cưới cho hai đứa con, tụi con sẽ tự lo. Con muốn làm vợ anh B. danh chánh ngôn thuận”.

Và hai đứa tôi tự tổ chức lễ cưới của mình. 

Sáng ngày 24/02/1970, Má tôi và tôi mang trầu cau và phẩm vật đến xin cưới em. Chúng tôi lạy bàn thờ tổ tiên nhà em, xin quý ngài chứng giám cho chúng tôi thành vợ thành chồng. Tôi mướn xe Mercedes để rước “cô Tiên” xuống trần ... Tối đến là tiệc cưới tại nhà hàng La Lune, đối diện State Olympic, với 200 quan khách, họ hàng và bạn bè nhà trai, nhà gái. Dĩ nhiên là có nhạc sống do mấy tên bạn tôi tự mang đồ nghề đến giúp vui ... Đêm đó, hai đứa tôi khiêu vũ và cụng ly với bạn bè gần tới sáng.

Khi kể lại chuyện tình của tôi và cô Tiên, từ ngày quen biết rồi yêu thương nhau đến khi thành vợ thành chồng, tôi nghĩ vậy là đủ rồi. Hổng dè bà con yêu cầu kể tiếp với hơn 300 cái likes. Thôi thì ... một liều ba bảy cũng liều, coi như đây là “chuyện cô Tiên tập 2” cũng là tập cuối.

Vô đề nha ...

Sau ngày chúng tôi thành hôn thì tình hình chính trị giữa hai nước Kampuchea và Miền Nam Việt Nam biến chuyển dồn dập. Ông bà nhạc tôi và gia đình bay về Sàigòn vài ngày sau đó. Vợ chồng tôi vẫn ở Namvang. Tôi vẫn đi làm ở L’UCIA.

Khi xác nhiều người Việt trôi về tới Hồng ngự, Tân châu, ông Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó là Phó Tổng Thống VNCH, ra lệnh cho Quân-đoàn 3 tràn qua biên giới, lấy cớ là để “bảo vệ kiều bào VN”. Trung tướng Đỗ Cao Trí nhận lệnh với lời tuyên bố làm chấn động chính phủ Cao miên : “Cho tôi 24 tiếng, tôi sẽ chiếm Nam vang”.

Ông Lon Nol nghe muốn té đái. Mới làm tổng thống có mấy ngày, nếu để QLVNCH chiếm Nam vang thì mất mặt bầu cua. Ông gọi điện năn nỉ chính phủ VNCH đừng chiếm Nam vang nên Quân-đoàn 3 dừng lại ở Neak Luong (người Việt mình gọi là Hố Lương), một bến phà chỉ cách Nam vang 60 cây số.

Nghe tin QLVNCH tràn qua biên giới, cả trăm ngàn kiều bào VN ở Cao miên, trong đó có vợ chồng tôi, bỏ tất cả tài sản, dắt díu nhau vào các trại tị nạn. Các sân trường trung học, chùa, nhà thờ bỗng trở thành những trại tị nạn khổng lồ. Vợ chồng tôi vào trường Seminaire, nơi tôi đã học năm cuối chương trình Tú tài Pháp hai năm trước.

Trong trại Seminaire, người ta chia ra nhiều nhóm, mỗi nhóm 10 gia đình, trước hết là để lãnh nước uống, sau là thức ăn, lúc đó chỉ có khô cá lóc do Red Cross cung cấp. Tôi làm trưởng nhóm 31.

Đầu tháng 5/1970, ông NCKỳ bay lên Nam vang, nói là thăm xả giao tướng Lon Nol nhưng thật sự là đi thanh tra các trại ty nạn. Tối đêm trước, tôi và các trưởng nhóm được lệnh phải thu tất cả những những gì có thể coi như là vũ khí gồm dao, gậy, v.v... và cùng nhiều người thức gần sáng đêm để dựng cái sân khấu dã chiến.

Khi ông Kỳ vào trại Seminaire, ông đến từng lều, bắt tay và hỏi thăm từng người. Điều làm mọi người chú ý là 2 anh đại-úy cận vệ. Họ cao hơn ông Kỳ 1 cái đầu, mặc đồ bay, mang súng ngắn dưới nách, nhưng không cản trở khi kiều bào đến bắt tay, thậm chí ôm hôn ông Kỳ.

Ông Kỳ lên sấn khấu, nói vài lời thăm hỏi xã giao rồi hứa : “Tôi sẽ đưa tất cả đồng bào về quê hương” ! Ông nhận được những tràng pháo tay như sấm động của mấy ngàn người trong trại Seminaire. Nhiều bà lão bò ra khoảng trống trước sân khấu lạy ông Kỳ như tế sao.

Vài ngày sau, chúng tôi được phát thịt heo lần đầu, dù không ai biết ai cho nhưng mọi người nghĩ là từ chính phủ VNCH. Tuần sau, một đoàn “tàu há mồm” của Hải quân VNCH cặp bến sông Mekong. 

Danh sách từng nhóm được gọi để rời trại xuống tàu về nước. Vợ chồng tôi thuộc danh sách thứ 31 nên gần cuối tháng 5/70 mới được rời trại. Sau 1 ngày lênh đênh trên sông Tiền (hay sông Hậu ?) thì về tới trại Đồng Tâm, Mỹ Tho, lúc đó là hậu cứ của Sư-đoàn 7 BB.

Vợ chồng tôi chỉ ở trại Đồng Tâm 5 ngày. Làm giấy tờ nhập cảnh xong thì Ba em lái xe xuống rước về Sàigòn.

Cuộc sống chúng tôi từ ngày về Sàigòn không còn ... tà tà như lúc ở Nam vang. Cũng như tất cả Việt kiều hồi hương lúc đó, tôi được hoãn dịch 18 tháng. Thời gian không nhiều nên tôi làm ngày làm đêm. Em cũng đi làm. Cuối tuần hai đứa đưa nhau đi ăn mì xào dòn, hay ăn nghiêu luộc.

Mỗi tối đi đàn về ... tôi chạy thẳng vô Chợ Lớn mua cho em cái bánh bao Ông Cả Cần của Bà Năm Sa-Đéc. Lúc này em không còn thơ thẩn, mà ngược lại ... em ăn rất bạo. Dù không nói ra, tôi biết em đang chuẩn bị cái bụng cho đứa con đầu lòng của chúng tôi ... dù không biết lúc nào nó sẽ tượng hình. Nhiều người trong gia tộc hai bên thường trề môi nói “thằng B. con nhà lính tính nhà quan, mới ở Nam vang về tay trắng mà vợ nó muốn gì được nấy” v.v... 

Mấy người này không biết là lúc còn độc thân, tôi đã đọc một câu định nghĩa “người phụ nữ lý tưởng” của 1 người đàn ông như sau : “Người phụ nữ lý tưởng của một người đàn ông là người bạn, người tình và là người vợ của người đàn ông đó”.

Hồi đọc câu đó, tôi chưa gặp cô Tiên nên tôi đã tự hỏi ngược lại là “tôi có thể vừa là người bạn, vừa là người tình, và là chồng của vợ tôi không” ??? Ông nào muốn biết cái vụ này nó khó cở nào cứ thử cua một cô bạn gái rồi cưới cổ về làm vợ thì sẽ hiểu câu ... “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”.

Nhưng khi gặp rồi thương yêu cô Tiên, cái định nghĩa xưa tự nó cho tôi lời giải đáp.

Lúc mới thương nhau, tôi thường kể em nghe chuyện bồ bịch của tôi lúc trước. Em chẳng những không ghen hờn, mà còn góp ý ... đôi khi rất tiếu lâm, rồi hai đứa cười hí hí. Lúc hai đứa đi chơi, gặp cô nào có “ngực tấn công, mông phòng thủ” là tôi hay quay lại nhìn, em im lặng nắm tay tôi, đợi cô đó đi khỏi tầm mắt mới hỏi “bộ toi hổng thấy cổ đi hai hàng hả ?”. Khi vào tiệm bán sách, tôi có cái tật (hổng biết xấu hay tốt) là đứng hơi lâu trước mấy cái đặc san người lớn như PlayBoy. Em im lặng đứng bên tôi, đến khi rời tiệm sách em mới phê bình .... “nhỏ này vú đẹp, cô kia mông teo, v.v...”. Chỉ khi đến kệ bày mấy cuốn Salut les Copains, em mới thò tay lựa cuốn mới nhất và tự ra quầy trả tiền. 

Em chưa bao giờ bắt tôi trả tiền những gì em mua cho riêng em. Em chưa bao giờ lớn tiếng hay dùng lời lẽ không lịch sự với bất cứ ai, dù đôi khi tôi hay ai đó vô tình hoặc cố ý làm em giận.

Ba em nói với em “Ba thấy nó đi nhảy đầm, tay trái một con, tay mặt một con”. Em trả lời “những gì ảnh làm lúc còn độc thân là quyền của ảnh ... con không cần biết (thật ra tôi đã kể em nghe hết rồi). Chỉ cần biết hiện giờ hai đứa con thương nhau thật lòng là được rồi”. 

Em có cách hôn, chỉ phớt nhẹ, làm tôi hồn phi phách tán. Khi thấy tôi buồn, em cầm tay tôi, xoa nhè nhẹ lên mu bàn tay, khiến tôi quên hết mọi phiền não. Sau này thành vợ thành chồng, em vẫn là người tình tuyệt vời. Em biết cách làm tôi quên những nghiệt ngã mà tôi đã trải qua trong ngày hôm đó. 

Em biết tiết kiệm, vén khéo với số tiền mà chúng tôi kiếm được. Em không se sua, dù luôn ăn mặc thanh lịch. Mỗi lần hai đứa ra đường là tôi phải ngó trước nhìn sau, coi có tên nào nhìn lén em không. Khi đứa con đầu lòng của chúng tôi chào đời năm 1972, em tự nguyện bỏ bớt chuyện mua sắm cho riêng mình, để có đủ tiền cho con chúng tôi bú sữa Guigoz 3 năm liên tục. 

Cô Tiên đã là một người bạn, một người tình và là người vợ tuyệt vời của tôi. Được một người vợ như cô Tiên, em muốn gì được nấy không có gì quá đáng. Bán nhà cho em cũng được, huống chi là ba cái lẻ tẻ.

Tháng 4/1972, tôi hết hạn hoản dịch, phải đi lính cho tới ngày tan hàng. 

Chuyện lính tráng sẽ kể quí vị nghe dịp khác ... nếu siêng. Chuyện lính của tôi có dính dáng tới cô Ngọc Đan Thanh, hiện giờ làm MC cho trung tâm Asia. Chuyện rất buồn nhưng bỏ qua rất uổng.

Trở lại chuyện cô Tiên,

Sau 75, có ngày hai đứa phải ăn sáng bằng ... cơm nguội, nhưng em luôn dành 1 hoặc 2 đồng cho con chúng tôi có gói xôi nóng hay tô cháo huyết. Cực nhất là lúc chúng tôi về quê tôi sống từ năm 1976 đến năm 1979 vì Má tôi nằng nặc biểu tôi phải về quê. Bà già biết tánh tôi ... “biết mà không nói là bất nhân, nói mà không nói hết là bất nghĩa”, mà tôi thì biết nhiều tội ác “trời không dung, đất không tha” của mấy ông đi mộ quân cho MTGPMN từ những năm 60 -70 ở Cao miên. 

Chính tôi và bạn bè tôi bị họ dụ nhiều lần, nhiều cách. Thường là tiền, có khi là gái. Nhiều thằng nhẹ dạ đã đi không về, có đứa về sau 75, hình hài te tua không giống con giáp nào hết, khi nhậu say chửi cán bộ lấy tàu xà-lúp chở. Tôi quay lưng với họ từ đầu nhờ Má tôi dặn “Theo mấy ổng, hổng có gạo ăn”. Bà già sợ tôi bực mình ... “phát ngôn bừa bãi” thì hậu quả khó lường.

Má tôi cho 2 công ruộng và nửa công vườn, đủ cho gia đình chúng tôi sinh sống, không cần phải đi làm mướn, làm thuê. Nhưng không may là hai năm 77-78, lũ lụt tràn vào ngập ruộng trước khi lúa chín. Nông dân vùng Tân châu đói thể thảm. May mà tôi cất nhà sàn, cao khoảng 1.5m, nên nước ngập lé đé sàn nhà.

Nhiều nông gia ở nhà đất, phải kê tủ giường lên cao, có người kê giường tới gần đụng nóc nhà. Mỗi ngày, cô Tiên ngồi trên sàn nước, miệt mài câu từng con cá chốt, cá sặc, cá lòng tong. Tôi không dám nhìn lâu. Đến bữa ăn chỉ có món cá kho thập cẩm vậy mà thằng con khen “má kho cá ăn ngon”. Tôi mắc nghẹn từng hồi. Rồi cũng qua.

Ở quê, em không cho con đi học, nói mấy ổng dốt mà dạy cái gì ! Vợ chồng tôi thay nhau dạy con nói và viết tiếng Việt, tiếng Pháp. Bài học tiếng Việt đầu tiên là bốn câu thơ của ngài Lý Thường Kiệt :

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Tiếng Pháp thì chúng tôi dạy con nói và viết những câu chào hỏi thông thường, không ngờ khi qua Úc nó học tiếng Anh nhanh hơn những bạn tị nạn khác nhờ tiếng Pháp và tiếng Anh có nhiều chữ giống nhau.

Qua năm 79, tôi trúng mùa. Bán mấy chục giạ lúa, thêm chút tiền dành dụm, mua được cái ghe nhỏ, tính chuyện lớn. Khoang ghe chỉ vừa đủ cho hai người lớn và một đứa nhỏ chen vai nhau ngủ. Tôi không biết chèo, tập cả tháng sau mới chèo được 2 chèo. Em không biết lội nhưng nhất quyết đòi đi đến những nơi có thể cho chúng tôi thấy được tương lai. Em nói “mình đã sống mấy năm ‘có miệng không nói lại câm, hai hàng nước mắt chan dầm như mưa’ ! Đủ rồi, phải đi tìm tương lai cho mình và cho con”.

Vậy là đi. Chèo từ Tân châu tới Long xuyên mất hai ngày. Nghỉ xã hơi một ngày rồi chèo tiếp tới Ô môn, Cần thơ, Ngã 7, Sóc Trăng, Hộ Phòng, Gành hào, và sau cùng là ngã 3 cây Tàn. Ở ngã 3 cây Tàn hơn 1 tháng vì có người mướn tôi đào ao nuôi cá. Đào ao 1 tháng được 2 giạ gạo và một mớ tiền. Chúng tôi trở ra Gành hào vì thấy nơi này là nơi lý tưởng để ra đi. Tôi giấu dưới khoang ghe cái máy đuôi tôm, thường ngày không dám xử dụng, sợ người ta dòm ngó, định khi nào đi mới xài. 

Ở Gành Hào đêm trước, thì đêm sau bị bão.

Mưa như trút nước, sấm chớp đầy trời. Chiếc ghe tôi lắc lư như người say rượu, nửa đêm đứt dây buộc sào trôi ra giữa sông. May là lúc đó nước lớn, nước từ ngoài biển đổ vô sông, nếu ngược lại thì có thể bão đã đưa chúng tôi qua Thái lan hay hổng chừng ... vô bụng cá. Tôi cột sợi dây quanh bụng, cố gắng lội vô bờ. 

Hình như ... lúc không còn cái gì để sợ nữa thì mình mạnh hơn bình thường nên tôi đã kéo chiếc ghe tới dưới dạ cầu chợ Gành hào. Buộc dây ghe lại đàng hoàng là tôi ngã lăn ra thở dốc, lạnh run cầm cập. Em lau mình cho tôi và đưa tôi cái bánh bía, hổng biết em mua lúc nào, đúng là cô Tiên. Ăn cái bánh bía đêm đó, hương vị thơm ngon còn phảng phất tới bây giờ.

Bye bye Gành hào, tôi gắn máy đuôi tôm chạy về Long Xuyên. Chúng tôi ở Long xuyên gần 3 năm. Tôi làm bất cứ chuyện gì, miễn là lương thiện, để có tiền nuôi vợ con. Có lúc đạp xe lôi, có lúc vác lúa gạo ở các nhà máy xây lúa, có lúc làm tạp nhạp.

Đến tháng 2/1982, em tìm được đường dây vượt biên vừa với khả năng của vợ chồng tôi lúc đó. Cái may là chúng tôi chỉ đi một lần là tới Mã Lai. Ở Bidong 1 tháng rưởi là được phái đoàn Úc nhận. Qua trại chuyển tiếp Sungei Besi 2, ngoại ô Kuala Lumpur để khám bệnh, bổ túc hồ sơ. 3 tháng rưởi sau là chúng tôi có list đi Úc.

Hy vọng bà con không yêu cầu tôi kể thêm chuyện gì nữa. 

Già rồi, gõ máy hoài ... mỏi tay quá ...
.......
Khi bắt đầu gõ “chuyện cô Tiên” tôi nghĩ ... nên chia sẻ với bà con cái quan điểm sống của bà xã tôi là “vouloir c’est pouvoir”. Em muốn làm là em làm, dĩ nhiên là làm những việc tốt cho tôi, cho em, cho gia đình tôi và bạn bè của chúng tôi, dù khó khăn tới đâu em cũng cố gắng làm tới nơi tới chốn.

Ví dụ như ... vài ngày sau khi đặt chân lên đất Úc, lúc đó chúng tôi chỉ biết tiếng Pháp chưa biết tiếng Anh.. Em nói với tôi “moi không thích nhờ thông dịch, nhà mình phải có một người giỏi tiếng Anh, toi phải đi học. Moi sẽ đi làm nuôi toi và con” ! 

Nghe ghê chưa ?

Mà em cũng không biết tiếng Anh thì đi làm cái gì ?

Em quên mình từng là một tiểu thơ được cơm bưng nước rót, em quên mình từng đi học có xe đưa rước, em quên mình là ... cô tiên của tôi ... nên ai mướn gì làm nấy. Quét dọn nhà cửa cho người Úc, chăm sóc con em của đồng hương, làm chả giò bán sỉ (không biết em học ở đâu mà làm chả giò và đổ bánh xèo ngon nhất Darwin).

Tôi cũng đi làm ban ngày, đi học ban đêm. Bảy năm ròng rã, tôi lấy được 2 cái Certificates về kế toán và quản trị địa ốc và xin được cái job “Security Administrator” tại trường đại học Charles Darwin University ở Darwin đầu năm 1985. Tôi làm việc tại CDU liên tục hơn 27 năm, đến khi nghỉ hưu cuối năm 2012.

Em không đi học tiếng Anh một ngày nào nhưng sau này ... lại làm thông dịch cho bạn bè, nhiều nhất là mấy cô lấy chồng Úc, mới qua Úc chân ướt chân ráo, tìm đến em nhờ giúp đỡ. Em chở họ đi làm hồ sơ nhập cư, điền đơn xin tiền ASXH, v.v... Bà xã tôi thương đồng hương nên ai nhờ thì giúp, cứ ăn cơm nhà vác ngà voi, không đòi hỏi ai phải trả đồng bạc nào dù biết làm thông dịch cũng được trả tiền. Mấy cô vợ Úc thương em lắm, cuối tuần là ghé nhà tôi xào xào nấu nấu ... thật vui.

Hỏi em mới biết ... em học tiếng Anh bằng cách theo dõi các chương trình Play School trên TV. Chương trình này dạy con nít Úc nói/viết tiếng Anh để chuẩn bị vô mẫu giáo. Em đọc báo tôi mang về mỗi ngày. Không hiểu chữ nào, đoạn nào thì em hỏi tôi hay tra tự điển.

Tiếu lâm nhất là khi bà hàng xóm nhờ em làm thông dịch. Bà này gốc Ý (Italy), có chồng gốc Tây Ban Nha (Spain). Bà ta đến Úc theo diện vợ chồng năm 1978 và không đi học ngày nào. Khi rảnh rỗi bà ta qua nói chuyện với bà xã tôi. Bà ta nói “broken english” với giọng Ý nên tôi và mọi người không ai hiểu cả.. Vậy mà bà xã tôi hiểu nên mỗi lần bà hàng xóm cần đi bác sĩ, hay bất cứ cơ quan công quyền nào ở Darwin là qua năn nỉ nhà tôi theo làm thông dịch.

Một năm sau ngày đến Úc, tôi được bầu làm tổng thư ký Hội Người Việt Tự Do tại Darwin, sau đổi tên thành CĐNVTD Bắc Úc cho tới bây giờ. Tôi dính với các sinh hoạt của CĐ mình cho tới năm 2017 mới rút chân ra được. Suốt thời gian này, bất cứ tôi làm cái gì đều có sự giúp đỡ, yểm trợ khi công khai khi âm thầm của cô Tiên.

Đứa con thứ hai của chúng tôi chào đời năm 1984 tại Darwin.

Nhìn em cho con bú, tắm rửa cho con, nâng niu thằng nhỏ như vàng như ngọc, tôi nhớ lại những ngày hai đứa mới thương nhau, mỗi lần bên nhau là bàn chuyện mai này ... tôi viết bài thơ tặng em ...

Một chiều lãng đãng ánh tà dương
Em kể anh nghe chuyện mộng thường
Đôi mắt em nhìn xao xuyến quá 
Như sao lấp lánh một trời thương.
Từ đó đời mình hết lẻ loi
Đan tay qua phố bước chung đôi
Em cười rạng rỡ như tiên nữ
Tiên nữ của anh - cũng được rồi.
Từ đó đời mình ươm ước mơ
Từng đêm anh cắn bút làm thơ
Mỗi dòng ôm ấp ngàn thương nhớ
Thương nhớ lớn theo nỗi đợi chờ.
Từ đó mình bàn chuyện lứa đôi
Mai này, mình có hai con thôi
Trưởng nam, phần nó lo hương hỏa
Em nó, cô Ba - có rượu mời.
Từ đó mình bàn chuyện cưới nhau
Anh giành chọn áo cưới cô dâu
Màu vàng, hoàng hậu lòng anh đó
Em nói : - Màu hồng, áo cô dâu !
Từ lúc về làm vợ của anh
Âm thầm mình kết mộng ngày xanh
Trưởng nam bật khóc, cưng như ngọc
Đứa kế trai luôn, quý tựa vàng.
Nhiều đêm nằm gác tay lên trán
Anh cám ơn Trời, cám ơn em
Bảy nổi ba chìm mình chẳng ngán
Vì em có anh, anh có em.

Từ năm 2005 đến năm 2015, chúng tôi tổ chức những bữa ăn cứu trợ Thương Phế Binh QLVNCH còn sống khổ sở nơi quê mình bằng cách ... tổ chức BBQ tại nhà tôi. Thức ăn do bà xã tôi và vài người bạn thân cùng chung sức nấu nướng, tôi bỏ tiền túi mua bia và nước giải khát. Ăn uống free. Tôi để 1 cái “Thùng Cứu trợ” trên bàn, ai cho bao nhiêu, tôi gởi về VN giúp anh em TPB bấy nhiêu, theo tiêu chuẩn mỗi người 100 Úc kim.

Vì số người Việt ở Darwin rất khiêm nhường, chỉ có vài trăm người, nên lúc đầu chỉ được vài ngàn. Từ từ, bà con tin tưởng nên khi có dịp đi ngang nhà tôi là họ bỏ tiền vô thùng thơ, không đợi đến Bữa ăn Cứu trợ.

Năm 2015, số tiền cứu trợ tôi nhận được trên 12,000 Úc kim, gởi giúp trên 120 anh em TPB ở VN.

Gõ máy tới đây, bỗng nhiên làm biếng ... không muốn gõ máy nữa, vì đang nhớ cô Tiên, nhớ quá xá nhớ ...

Tôi biết không có cái gì bí mật mãi với thời gian, nên xì ra phức cho rồi ... cho nhẹ lòng ...

Thưa bà con,

Cô Tiên của tôi đã về trời sau khi đã cùng sống chung với cha con tôi 43 năm, 3 tháng, 27 ngày hạnh phúc.

Em quy tiên sau một cơn bạo bệnh. Từ một người mạnh khỏe bình thường, đúng 5 tuần sau thành người thiên cổ.

Trong những ngày cuối của cuộc sống nơi dương thế, khi thấy hai con đứng nhìn em, nước mắt lưng tròng, em cầm tay con lắc lắc, mỉm cười nói : “Chúa cũng chết, Phật cũng chết, thì Má cũng chết. Má đã trả xong món nợ ân tình với Ba con và các con thì Má đi. Con trai khóc ... xấu lắm”. Con tôi quẹt nước mắt ... miệng cười méo xẹo.

Trong Hospice Hospital, nơi dành cho những bệnh nhân ... “terminally ill”, mỗi ngày có y tá đến đánh răng và lau mình cho em. Có một lần em cám ơn họ “Thanks so much for keeping my body clean. I know it’s shutting down”. Cô y tá người Úc trợn mắt nhìn em, rưng rưng nước mắt. Sau này, cô nói với tôi “Tao chưa thấy ai sắp chết mà còn lịch sự và tỉnh táo như vợ mầy”.

Khi biết mình sắp trả xong cái nghiệp ở dương gian, em nắm tay tôi dặn dò phải tổ chức tang lễ em như thế nào. Thỉnh vị tăng ni nào chủ trì tang lễ, xong phải hỏa thiêu và chỉ giữ tro cốt 100 ngày. Sau đó mang tro cốt em rải trên sông Parramatta, đoạn gần Opéra House ở Sydney, là nơi em thích đi dạo mỗi lần đi thăm con. Em nói nhỏ nhẹ như đang lo tang lễ của ai khác. Tôi chỉ biết im lặng gật đầu, ráng kềm cho nước mắt đừng chảy ra. Tôi đã làm đúng theo lời em dặn.

Từ ngày cô Tiên về trời, cha con tôi đứt ruột đứt gan, tan nát trong lòng. Tôi đã sống những ngày .... như người chết chưa chôn.

Nhưng nếu không nói ra chuyện buồn này thì bà con thúc tôi kể chuyện cô Tiên hoài ... 

Cô Tiên đã về trời, tôi đâu còn chuyện gì kể cho bà con nghe nữa ???

Xin mượn thơ ông Xuân Diệu, sửa vài chữ cho hợp với hoàn cảnh của tôi để chấm dứt “chuyện cô Tiên”...

Em đi ... một nửa hồn tôi chết.
Một nửa hồn kia bỗng ... khật khùng.

Chân thành cám ơn tất cả quý vị đã góp ý, chia vui, chúc tụng, v.v....

Khi có rảnh, tôi sẽ lần lượt trả lời những câu hỏi mà tôi có thể trả lời được, đặc biệt là các chiến hữu thuộc LĐ5/BĐQ. Khi nào siêng siêng, tôi sẽ viết lại chuyện tôi đi lính, dù chỉ có 3 năm ngắn ngủi nhưng cũng có nhiều giai thoại lý thú, buồn nhiều hơn vui.

Tạm biệt nha ... hu hu hu :

Buu Nguyen

Blog Archive