Tuesday, March 1, 2016

Lỡ Đột Tử…




Được tin chồng của người bạn thân ở Việt Nam vừa qua đời đột ngột, tôi gọi về thăm.

Thu, cô bạn tôi kể lể:

- Mấy năm gần đây ảnh thường xuyên chơi thể thao, sức khỏe rất tốt, chẳng có triệu chứng bịnh hoạn gì nên ỷ y không đi khám sức khỏe tổng quát. Hồi đầu năm đi coi bói thầy nói số anh năm nay rất tốt. Ổng còn khen trái tai của anh dày và dài, tướng này rất thọ! Vậy mà đùng một cái anh ra đi đột ngột không thể ngờ được. Chẳng kịp trăn trối gì cả.

Tôi bảo:

- Hôm trước nghe tin dữ mà Thanh cũng điếng cả người. Kỳ về nước vừa rồi mới 2 năm chứ đâu, thấy anh Tân tướng tá khỏe mạnh và giọng nói sang sảng, mắt thì sáng ngời. Còn nghe ảnh khoe bận rộn thế nào đều dành thì giờ mỗi ngày chơi tennis. Ai mà ngờ!

- Sáng đó anh chở theo thằng Út ra sân tennis. Ảnh vừa chơi xong ra bàn ngồi nghỉ mệt thì đột ngột ngã xuống. Người bạn kêu xe chở cả hai cha con vào nhà thương và nhắn cho mình. Người ta đem ảnh vào phòng cấp cứu ngay nhưng rất tiếc không cứu được. Mình chạy vội tới nhà thương nhưng ảnh mất rồi. Anh mất vì trụy tim đột ngột, không tỉnh lại lúc nào từ lúc ngã xuống. Thằng Út cũng không được vào gặp mặt bố nó trước khi ảnh ra đi nữa.

Thu cho biết thêm:

- Lâu nay hai đứa mình mạnh đứa nào lo công việc đứa nấy, ai cũng đều bận rộn. Cứ vài tháng anh đưa mình một số tiền để lo chi phí gia đình, còn thì ảnh giữ để làm vốn kinh doanh mua cổ phiếu gì đó. Mình có nghe một đứa học trò của ảnh bảo là Thầy vừa trúng cổ phiếu nhiều lắm. Rồi một đứa học trò thân tín khác của ảnh nói là “Thầy có mua ba lô đất ở Tây Ninh năm ngoái hình như là nhờ người chị đứng tên. Vậy mà ảnh đâu có nói với mình. Giờ ảnh mất đi không kịp dặn dò trăn trối, mọi thông tin về công việc đầu tư của ảnh đều mất tiêu không thấy đâu cả.

Tôi ngạc nhiên:

- Sao kỳ vậy? Thu không biết gì về việc làm ăn của chồng à? Vợ chồng phải tâm sự nói chuyện với nhau chứ!

Thu tặc lưỡi:

- Hai đứa mình bận lắm, đâu có thì giờ. Tính ra làm quần quật mỗi ngày hơn 14 tiếng, về nhà mệt quá lo cho con cái chút xíu rồi lăn ra ngủ, đâu còn thời giờ tâm sự. Thôi mặc ai nấy lo công việc của mình cho rồi.

Vợ chồng bạn của tôi cùng là giảng viên trường Đại Học. Ngoài việc giảng dạy ở trường còn nhận làm công việc sổ sách kế toán cho rất nhiều công ty, bận rộn suốt ngày là phải. Nhưng vì công việc, vì đồng tiền mà mạnh ai nấy sống như vậy có nên chăng? Tình nghĩa vợ chồng kiểu này sao thấy lợt lạt khô khan cứ như người share phòng. Ở nước ta ngày nay, công chuyện làm ăn kinh doanh đều dính liền với ăn nhậu và gái. Liệu chồng của bạn tôi có thể tránh được những cám dỗ mà chung thủy với vợ không? Sao tôi nghi quá!

Nhưng tôi không dám nói lên suy nghĩ của mình sợ làm bạn đau lòng thêm mà chỉ nhắc:

- Nhưng nếu anh Tân có mua cổ phiếu, có mua đất đai thì cũng phải có giấy tờ ảnh cất dấu đâu đó trong nhà chứ. Còn không thì phải có thông tin trong computer. Thu có lục kỹ chưa?

Cô bạn nói:

- Có, lục hết trong phòng làm việc của ảnh, lục đủ chỗ chỉ tìm ra được 5 ngàn đô thôi. Không một thông tin gì cả về cổ phiếu, về đất đai. Còn 3 lô đất ở Tây Ninh mình hỏi bà chị của ảnh nhưng chị ấy chối bai bãi nói không biết gì.

Tôi cố vấn:

- Thường người ta dùng USB để cất thông tin. Bồ có tìm thấy không? Nghe nói trong hard drive của computer cũng có thể tìm ra những dữ liệu mà ảnh đã làm việc. Bồ nhờ ai giỏi Computer truy thử xem.

- Mình biết ảnh có 1 cái USB nhưng sao tìm hoài không ra, không biết có phải rớt mất lúc đưa ảnh đi nhà thương không? Hoặc mất trong phòng cấp cứu lúc người ta thay đồ cho ảnh? Làm tang ma cho anh xong mấy tuần sau mình mới tỉnh hồn đi tìm thì trễ rồi, chẳng còn gì. Còn computer mình có nhờ thằng em giỏi computer tìm kiếm dữ liệu trong hard drive nhưng cũng không thấy gì cả.

Tôi tài khôn đem kiến thức xem phim trinh thám ra nhắc:

- Rồi cái bàn làm việc của ảnh, có lục kỹ không? Có thể có một ngăn kéo bí mật nào đó. Hoặc có thể ảnh có một hộp thư kín trong ngân hàng để giữ giấy tờ. Bồ quen ai về ngân hàng nhờ tìm thử xem.

- Tìm trong hộc bàn làm việc chắng có giấy tờ nào cả. Đâu có biết nó có thể có ngăn kéo bí mật nào không nên người ta xin cái bàn mình cho nó rồi. Ngân hàng thì mình chưa nghĩ tới, không chừng có cũng nên. Mình có mấy đứa học trò làm ngân hàng, để nhờ tụi nó tìm thử xem có không.

Rồi bạn tôi sụt sùi:

- Vì mất thình lình không kịp trối trăn nên hình như ảnh không yên tâm ra đi. Mấy hôm làm ma chay có con bươm bướm thật to lạc vào trong nhà. Nó bay vòng vòng trên đầu mình và đầu 2 đứa nhỏ rồi bay lên đậu trên cái xe anh mới mua. Bà cụ nhà mình đuổi mà nó không chịu bay ra ngoài, cứ bay quần quần trong nhà hoài thôi. Rồi hôm bữa phòng thằng Út quên đóng cửa sổ, gió thổi vào lạnh lắm. Bỗng dưng nửa đêm điện thoại cầm tay của con chị nó reo lên mà tên người gọi trong phone là thằng em. Con Hai bắt phone hello hoài không nghe thằng Út nói gì nó bèn chạy qua phòng thằng Út thì thấy thằng em đang ngủ say mền đạp rớt xuống đất, cửa sổ thì mở tung. Cái phone tay của thằng em đang nằm trên bàn. Vậy thì ai dùng phone của nó để gọi con chị đây? Chắc là bố tụi nó thôi.

Những hiện tượng thần bí này làm sao mà lí giải. Tôi an ủi bạn nên giữ sức khỏe, ráng nguôi ngoai, đừng lo buồn mà lo cho gia đình và hãy đi chùa cầu siêu để người mất được an tâm siêu thoát. Đời người thật ngắn ngủi, cái chết nhiều khi đến quá bất ngờ chẳng ai lường được. Chết bất ngờ như anh ấy cũng khỏe thân, chỉ có điều công sức tiền của lại biến mất theo anh, vợ con không được hưởng thì cũng tiếc. Tôi kể cho ông xã nghe về bạn mình thì anh bảo:

- Nhiều trường hợp dấu của mà không nói với ai bị mất vô duyên lắm. Năm ngoái đọc báo nói bà nào đó được con gái tặng cái nệm giường mới. Để làm mẹ mình ngạc nhiên nên khi không có bà mẹ ở nhà cổ mới cho người đem cái nệm mới tới và chở cái nệm cũ đi quăng. Ai ngờ bà mẹ kêu trời chết điếng vì dấu mấy chục ngàn đô tiền mặt trong cái nệm cũ đó. Còn trường hợp Ông Ngoại của anh cũng vậy. Trước năm 75 ông bà có nhiều ruộng đất cho người ta thuê trồng lúa. Có tiền là mua vàng cất chứ không dám ăn xài. Ông bà và 6 cô con gái sống rất tằn tiện trong gian nhà nhỏ, ăn uống cực khổ. Khi bà Ngoại mất ông vẫn không lấy vợ khác vẫn giữ nếp sống như vậy cho đến khi các con gái lấy chồng ra riêng cả. Đến khi ông mất đi di sản mà ông để lại chỉ tìm thấy một mớ giấy tờ mua ruộng đất, và một xấp hóa đơn mua vàng. Còn vàng thì được chôn dấu đâu đó trong lòng đất, chẳng ai biết cả.

Tôi thắc mắc:

- Chứ khi ông Ngoại bịnh trước khi mất không có dì nào đến chăm sóc cho ông à?

- Nghe nói có vợ chồng dì Bảy ở gần ông nhất mỗi ngày đến lo cho ông. Nhưng dì dượng bảo không nghe ông nói gì về của cải cả.

- Thường thì người nhà quê hay chôn dấu tiền của dưới giường, đâu đó trong nhà. Cái nhà có tí teo thì phải tìm ra chứ.

- Anh đâu biết. Chỉ nghe nói là tìm thấy hóa đơn mua vàng thôi.

Tôi nghi ngờ:

- Theo em thì khi người ta dấu cái gì ở đâu thường hay để lộ sơ hở lắm, con mắt hay nhìn về chỗ đó. Nếu vợ chồng dì Bảy thường xuyên đến chăm sóc ông những ngày cuối cùng sẽ có cơ hội phát hiện thôi.

- Cũng có thể!

Tôi hỏi tiếp:

- Còn cái nhà và đất đai của ông thì ai hưởng?

- Đất đai vô hợp tác xã nhà nước lấy. Cái nhà thì không ai ở coi sóc nên được ít lâu cũng tiêu luôn chỉ còn cái nền nhà.

- Biết đâu chịu khó đào bới đâu đó trong nhà hoặc ngoài sân cũng có thể tìm ra chứ có hóa đơn mua vàng thì phải có vàng chứ. Chẳng lẽ nó bốc hơi? Có thể ông thấy Dì Dượng có công chăm sóc những ngày cuối đời nên để của cải lại cho họ. Mà cũng có thể hai người tìm ra rồi mà không nói ai biết để khỏi chia.

Chồng tôi gật gù:

- Cũng có thể vì năm sau nghe nói Dì Dượng trúng số độc đắc xây nhà lớn lắm. Nhưng mấy chị em bảo là nếu Dì Dượng tìm được thì tốt hơn là mất đi hoặc lọt vào tay người ngoài nên không ai truy cứu. Mấy chị em của Má ai cũng ở xa đâu có lo được cho ông Ngoại lúc cuối đời như vợ chồng dì Bảy nên nếu hai người có được hưởng cũng xứng đáng.

- Chỉ mong vậy. Nhưng tự nhiên em thấy có ý nghĩ không tốt về dì dượng Bảy vì thấy nếu thật họ tìm ra được mà dấu hết mọi người thì có hơi tham lam đấy. Mấy chị em khác ai cũng nghèo, nếu chia ra cho mỗi người một chút có phải tốt hơn không?

Chồng tôi giải thích theo suy nghĩ của anh:

- Lòng tham của con người mà em. Nếu em gặp trường hợp như vậy em có đem ra chia không? Thí dụ em cực khổ tìm được 6 cây vàng phải chia cho 6 anh chị em mỗi người một cây có đành không? Họ có tin là em chỉ tìm được có 6 cây hay sẽ nghi ngờ em tìm nhiều hơn mà dấu bớt? Anh thì chắc tính tới tính lui dấu quách cho xong, trước sau cũng sẽ bị nghi kỵ. Nếu sau này trời cho làm ăn khấm khá phát tài thì sẽ tìm cách đền bù giúp lại bà con sau.

Tôi cãi:

- Đã tham lại còn ngụy biện! Chắc gì sau này anh khấm khá phát tài mà còn nhớ đến bà con để chia xẻ đền bù cho họ. Túi tham nào cũng không đáy! Có người giàu nào mà biết đủ! Kiếm được bạc trăm thì muốn kiếm thêm cho đủ bạc ngàn. Có được bạc ngàn thì muốn kiếm thêm cho thành vạn… Chưa kể có nhiều tiền thì thường sinh tật sinh chứng vợ con cũng bỏ nói chi bà con! Nếu đã có lòng tốt và thương anh chị em thì không nên hẹn hò gì cả mà ít nhiều cũng phải chia ra.

- Bây giờ em không lâm vào hoàn cảnh đó nên nói ngon lắm. Con người thường hay tối mắt trước bạc vàng! Thằng Út nhà em đó, không thấy nó thay đổi một cách không ngờ sao. Nó là con người hiền lành, biết ăn biết ở mà giờ cũng trở mặt đó.

- Em nghĩ chắc nó hiền lành nên bị con vợ cầm cương xúi dục. Chị Hai và em vượt biên qua đây ráng cày cắc ca cắc củm gởi về cho Ba Má và con Tư thằng Út được sống dư dả sung sướng. Chị Hai bị tai nạn xe cộ lãnh tiền bồi thường được 80 ngàn không down mua nhà mà gởi hết về Việt Nam mua đất xây nhà lớn cho mọi người ở thoải mái. Em nhớ ngày tụi em về mừng thọ Ba, ông nói trước mặt mọi người căn nhà này là của chị Hai. Đến khi Ba Má qua đời vợ chồng thằng Út vẫn ở để lo chăm sóc con Tư bị bịnh tự kỷ cũng được đi, chị Hai đâu đành lấy lại cái nhà. Vậy mà giờ vợ chồng nó đành đoạn lén bán căn nhà được hơn 500 ngàn đô la không đưa cho chị Hai một xu. Lại còn gởi con Tư cho người khác nuôi nữa. Con Tư thiểu năng lớn xác nhưng tâm hồn như một đứa bé, không ở chung với người thân thấy thương quá. Em càng nghĩ càng giận nó.

- Có chắc thằng Út bị vợ xúi giục không? Nó cũng có ăn học và lớn rồi, đâu phải việc gì cũng nghe lời vợ mà không phân biệt thật hư. Dù con vợ xúi giục hay không thì nó cũng tệ quá. Gia đình chị Hai bên này cả nhà 5 người ở cái nhà nhỏ xíu hai phòng ngủ, tiền nhà còn nợ phải trả góp. Nếu thằng Út biết điều ít ra cũng đưa tiền cho chỉ trả hết nợ nhà chứ.

Tôi chắt lưỡi:

- Vậy mới tội chị Hai. Nó không đưa chẳng lẽ lại kiện nó à? Cái nhà hồi đó chị Hai bỏ tiền mua nhưng Ba Má đứng tên. Ba Má mất đi không để lại di chúc người thừa hưởng cái nhà nên vợ chồng nó ở, sang tên và chiếm luôn coi như nhà của mình. Nó âm thầm bán nhà không cho ai hay rõ ràng là muốn chiếm đoạt bỏ túi riêng rồi còn gì. Dạo này em thấy chỉ buồn và ốm hẳn. Chị ấy bảo lâu nay xem tiền tài là vật ngoại thân, đa phần tiền lương của chị gởi về Việt Nam lo cho gia đình bên đó đỡ khổ. Một mình anh rể cán đán sinh hoạt chi tiêu gia đình bên này. Anh ấy cũng tốt nên không nói gì. Nhưng dạo này kinh tế suy sụp, anh rể lại lớn tuổi và sức khỏe suy yếu không cày như xưa được nữa, con cái lại lớn phải vay tiền vào đại học, tiền nợ nhà còn thiếu như một gánh nặng nên chị Hai dự tính bán căn nhà bên Việt Nam mua một căn nhỏ hơn cho vợ chồng thằng Út và con Tư ở. Còn dư thì chị trả hết nợ nhà bên này và giúp cho các con khỏi phải vay tiền học. Vậy mà giờ trớt quớt! Nghe tin thằng Út bán nhà và gởi con Tư cho người ta chị có gọi về hỏi nó nhưng nó đã đổi số điện thoại không liên lạc được. Tụi em cũng gọi về cho bà con và bạn bè hỏi nhưng không ai biết nó dọn đi đâu cả.

- Kiểu này vợ chồng nó cố tình tránh mặt rồi, thật chán sự đời. Thời buổi này chuyện Việt Kiều về nước mua nhà đất nhờ người thân đứng tên rồi bị chiếm luôn xảy ra hà rầm, xưa như trái đất. Không ngờ lại xảy ra cho gia đình mình!

- Nếu Ba Má để di chúc cái nhà có tên chị Hai thừa hưởng thì thằng Út làm sao bán được.

- Luật lệ ở Việt Nam về quyền thừa kế anh nghe nói nếu Ba Má không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp thì theo luật các người con ở nước ngoài vẫn được hưởng thừa kế giá trị ngôi nhà dù có hay không có quốc tịch Việt Nam. Nếu chị Hai và em muốn kiện thằng Út cũng có thể.

Tôi phản đối liền:

- Chị em trong nhà ai lại đi kiện nhau. Chị Hai không bao giờ làm chuyện kỳ cục đó đâu.

- Nhưng nếu không nhờ luật pháp làm cho ra lẽ và trừng trị kẻ tham thì quá bất công và thiệt thòi cho chị Hai và gia đình.

Tôi cương quyết lắc đầu:

- Không cần nói anh cũng biết ngao cò tranh nhau ngư ông hưởng lợi mà. Nhất là luật pháp Việt Nam bây giờ từ trên xuống dưới đều bày vẽ để làm tiền. Lấy lại được cái nhà chắc chỉ còn viên ngói. Thôi coi như một bài học vậy. Chuyện gì cũng phải có giấy tờ làm chứng chứ không nói suông, và cha mẹ cũng nên để di chúc phân chia tài sản rạch ròi cho con cháu để khỏi xảy ra tranh chấp hoặc mất trắng.

Chồng tôi tán thành:

- Đúng rồi! Thời buổi này con người ta dễ ra đi đột ngột lắm vì tai nạn, khủng bố, trụy tim hoặc tai biến mạch máu…v.v. Đừng ỷ y mình còn trẻ có sức khỏe mà coi thường thần chết. Vợ chồng có gì cũng phải chia sẽ cho nhau hoặc dặn dò con cháu, người thân của mình. Tốt nhất nếu có tài sản nên làm di chúc sẵn tránh tranh chấp về sau.

- Vậy ngày mai mình tìm luật sư làm di chúc nhé. Và anh có quỹ đen hoặc bí mật gì nhớ nói cho em biết luôn đi.

- Quỹ đen tiền riêng thì không nhưng anh có một đứa con riêng đang ở với Má nó. Nếu anh chết thì cho mẹ con nó về nhà mình ở chung nhé.

Trời!

Thanh Mai
RFA bắt đầu điều tra – cần thêm thông tin

Lời Kêu Gọi Lần 3 – Ngày 29 tháng 2, 2016

Các thông tin mà tôi nhận được trong 3 tuần qua cho thấy Chương Trình Việt Ngữ của RFA đã bị lũng đoạn trầm trọng bởiViệt Tân, một cách trực tiếp và qua SBTN. Kết quả là sáng nay Văn Phòng Pháp Lý của RFA đã cho tôi biết là họ bắt đầu cuộc điều tra sâu rộng về những việc làm khuất tất và sai trái của Ông Nguyễn Văn Khanh cũng như một số nhân viên khác của RFA. Đây là thắng lợi đầu tiên trên con đường tìm công lý cho cha của tôi, cố ký giả Đạm Phong, và những đồng nghiệp bị hạ sát chỉ vì họ đã phê phán “Mặt Trận” về những sự lường gạt và hành động tàn ác.

Kể từ khi lên tiếng kêu gọi lần 2, trong tuần qua tôi lại đã nhận được thêm nhiều thông tin quan trọng và hữu ích về mối quan hệ giữa Ông Nguyễn Văn Khanh với Việt Tân và SBTN. Tôi xin cảm ơn vô vàn các người đã cung cấp thông tin. Nay tôi tiếp tục cần sự giúp đỡ của quý vị trong cộng đồng trong những việc như sau.

1. Xin quý vị nào có các thông tin, hình ảnh, v.v. về Khiêm Lê và Mặc Lâm (Phạm Thân)

2. Chuyến đi Úc của Ông Nguyễn Văn Khanh năm 2013 để thành lập SBTN –Úc Châu Tháng 6 năm 2013, Ông Nguyễn Văn Khanh đã đi Úc Châu với mục đích giúp thành lập bộ phận Úc Châu cho đài SBTN. Đây là một việc làm trái với chức năng của người chịu trách nhiệm Chương Trình Việt Ngữ của RFA. Xin quý vị nào có các thông tin, hình ảnh, v.v. về chuyến đi này của Ông Nguyễn Văn Khanh thì gởi cho tôi.

Ngoài ra tôi cũng cần thông tin và xác định về những nhân vật trong các tấm hình dưới đây, chụp chung với Ông Nguyễn Văn Khanh ngày 26 tháng 6, 2013 ở Úc. Người phụ nữ trong tấm hình thứ hai có tên là Tuyết cùng đến Úc với Ông Khanh từ Hoa Kỳ. Mọi thông tin về hoạt động và quan hệ của những người này với Việt Tân hay SBTN đều hữu ích cho cuộc điều tra mà tôi đang yêu cầu RFA thực hiện.

3. Những hợp tác của Ông Nguyễn Văn Khanh với các báo chí, chương trình truyền thanh, và chương trình truyền hình Việt ngữ
Thông tin mà tôi nhận được cho biết rằng Ông Khanh đã nhận thù lao để làm việc cho SBTN, SBTN-DC, Báo Người Việt, chương trình Radio Việt Nam Hải Ngoại, chương trình Radio Bolsa... Có thể Ông Khanh còn nhận hợp đồng làm việc cho nhiều nơi khác nữa. Đây là một vi phạm trầm trọng đối với điều lệ của RFA. Tôi mong đón nhận thêm thông tin về các hợp tác “đi đêm” của Ông Khanh với các báo đài Việt ngữ.
4. Những hợp tác với SBTN của các nhân viên RFA khác
Có nhiều dấu hiệu cho thấy một số nhân viên khác nữa trong Chương Trình Việt Ngữ của RFA cũng đã nhận thù lao để làm chương trình cho SBTN, một cách trái phép đối với điều lệ của RFA. Vì lợi ích cá nhân, có thể họ cũng bị mua chuộc để biến RFA thành phương tiện phục vụ cho Việt Tân. Tôi xin quý vị trong cộng đồng giúp cho tôi nếu có thông tin về những trường hợp như vậy.
5. Quan hệ giữa SBTN và Việt Tân
Càng ngày tôi càng nhận được nhiều thông tin cho thấy sự phối hợp ăn giơ chặt chẽ giữa SBTN và Việt Tân. Chẳng hạn, trong tấm hình về buổi huấn luyện ngày 26-28 tháng 6, 2015 cho thông tín viên của SBTN dưới đây, tôi được cho biết là lẫn với người của SBTN là một số đảng viên Việt Tân. Hoặc thông báo về chương trình Hát Cho Biển Đông ngày 6 tháng 7, 2014 cho thấy nó là một sự kiện do Việt Tân và SBTN đồng tổ chức


.

Xin quý vị nào có thông tin về sự hợp tác giữa Việt Tân và SBTN tương tự như trên thì gởi cho tôi qua email: damphong@hotmail.com.
Những thông tin như vậy sẽ giúp cho cuộc điều tra về sự thể Việt Tân mua chuộc nhân sự RFA qua những mối lợi tài chánh thông qua SBTN.


Tôi xin cam kết bảo mật mọi nguồn tin.
Trân trọng,             

Nguyễn Thanh Tú,
Con trai của một người cầm bút bị giết trong việc theo đuổi chân lý và công lý



Saturday, February 27, 2016

Người vợ siêu mẫu của ứng viên tổng thống Mỹ Trump

Sinh ra trong gia đình giàu có, biết 4 ngôn ngữ, Melania Trump có thể trở thành đệ nhất phu nhân sinh ở nước ngoài đầu tiên trong lịch sử hiện đại Mỹ, nếu Donald Trump đắc cử tổng thống.

Melania Knauss, 17 tuổi, làm mẫu chụp ảnh năm 1987. Ảnh: IPAK Images
Theo Bloomberg, Melania Knauss, sinh năm 1971 tại Svenica, Slovenia, là vợ ba của tỷ phú Mỹ Donald Trump, người đang tranh cử tổng thống Mỹ.

Bà sinh trưởng trong một gia đình giàu có, bố làm đại lý xe hơi và môtô, còn mẹ là nhà thiết kế thời trang. Melania bắt đầu sự nghiệp người mẫu lúc 5 tuổi.
Melania biết nói 4 thứ tiếng, tốt nghiệp Học viện thiết kế và kiến trúc ở thủ đô Ljubljana. Năm 18 tuổi, Melania ký hợp đồng với một công ty người mẫu ở Milan, Italy. Từ đó, cô đi lại giữa Paris, Milan, chụp hình cho nhiều tạp chí danh tiếng như Vogue, New York Magazine, Harper's Bazaar.


Năm 1996, Melania chuyển đến New York. Tại đó, năm 1998, trong một bữa tiệc, cô gặp Donald Trump, vị hôn phu tương lai.

"Đó là một bữa tiệc thời trang", Melania nhớ lại. Trump hỏi xin số điện thoại, nhưng Melania không cho. "Tôi không phải loại con gái gặp ai cũng cho số điện thoại. Tôi biết ông ấy là ai và tôi nói, 'Cho tôi số của ông, tôi sẽ gọi lại'".

Năm 2004, tỷ phú Donald Trump mua tặng Melania chiếc nhẫn đính hôn đính kim cương 15 carat ở cửa hàng trang sức nổi tiếng Graff tại London, Anh. Chiếc nhẫn trị giá khoảng 3 triệu USD. Ảnh: Pin it


"Ông ấy cho tôi số điện thoại cơ quan, điều đó cho thấy ông ấy không hoàn toàn có ý định nghiêm túc", NY Post trích lời Melania. "Nó cho thấy cách nhìn của một người đàn ông về một phụ nữ, và cách anh ta đối xử với phụ nữ".

Ba ngày sau, cô gọi lại, sau khi hoàn tất buổi chụp hình thời trang ở Caribe. Trump hẹn gặp cô ở Moombah, câu lạc bộ đêm nổi tiếng nhất New York. Một tháng sau, ông mời cô đi nghỉ một tuần trên chuyên cơ tới Palm Beach, Florida. Hai năm rưỡi sau, Trump đề nghị Melania chuyển tới ở cùng căn hộ trong tòa tháp Trump.

Đến năm 2005, Melania, 34 tuổi và Donald, 58 tuổi, tổ chức lễ cưới linh đình tại Palm Beach, Florida. Cô khoác lên người chiếc áo cưới lộng lẫy của hãng Christian Dior, chiếc áo cần tới hơn 1.000 giờ để hoàn thiện. Cô khoe chiếc áo trên trang bìa tạp chí Vogue trước lễ cưới. Ảnh: Pin It

Nhiều người nổi tiếng như Heidi Klum, Kathy Hilton, tổng biên tập tạp chí Vogue Anna Wintour cũng tới tham dự. Thậm chí, vợ chồng cựu tổng thống Mỹ Clinton cũng tới.


Vài tháng sau, đầu năm 2006, Melania một lần nữa xuất hiện trên tạp chí Vogue trong bộ bikini màu vàng kim, đứng trên bậc thang chiếc máy bay tư nhân của chồng với chiếc bụng bầu 7 tháng. Ảnh: Twitter


Melania đăng ảnh bế con trai Barron Trump. Cậu bé sinh vào tháng 3/2006. Ảnh: Twitter

Barron biết nói tiếng Slovenia, Anh, Pháp. Trang Twitter cá nhân của cậu bé không đăng bất kỳ bình luận hay bài viết nào. Cậu chỉ theo dõi một mình Twitter của mẹ, và không để tâm đến trang Twitter của bố.


Melania cho biết mặc dù là người cực kỳ bận rộn, nhưng tỷ phú Trump vẫn dành thời gian có ích cho Barron. Quan hệ hai bố con tràn ngập sự kính trọng và tình yêu thương. Ảnh: Splash News Photo

"Hai bố con chơi golf, vui vẻ bên nhau, ăn tối cùng nhau. Chúng tôi tận hưởng thời gian gia đình gần gũi. Đó là những giây phút đặc biệt. Anh ấy chưa từng thay tã cho con nhưng đối với tôi, điều đó chẳng thành vấn đề, tôi không để tâm chuyện đó".

"Điều quan trọng là biết được ta đang ở cạnh ai. Chúng tôi đều hiểu vai trò của mình. Tôi không muốn anh ấy thay tã hay dỗ Barron đi ngủ".


Melania trong buổi chụp hình cho tạp chí Harper's Bazaar năm 2005. Ảnh: Harper's Bazaar

Melania không phụ thuộc vào chồng, bà bắt đầu tự kinh doanh và tung ra sản phẩm riêng. Tháng 2/2010, bà ra mắt bộ sưu tập trang sức đầu tiên có thương hiệu "Melania Timepieces & Jewelry". Bộ sưu tập bán hết trong vòng 45 phút, và tỷ phú Trumph là khách hàng đầu tiên.

Melania tung ra những phiên bản rẻ hơn, với mong muốn "thích giúp phụ nữ không tiêu tốn quá nhiều tiền mà vẫn muốn mình trông thật mạnh mẽ, sang trọng và tinh tế ".

Hồi đầu năm ngoái, vợ chồng tỷ phú Trump kỷ niệm 10 năm ngày cưới. Melania cho biết trong công việc, chồng cô là một "ông lớn" nắm quyền điều hành, nhưng trong mối quan hệ vợ chồng, họ luôn bình đẳng. 

"Anh ấy là một người chồng tuyệt vời, thấu hiểu mỗi khi tôi cần ở một mình. Chúng tôi đều rất độc lập. Anh ấy làm việc ở văn phòng, còn tôi làm việc ở nhà, và anh ấy hiểu điều đó. Nếu tôi nói cần nghỉ ngơi, có nghĩa là tôi sẽ đi tắm hoặc mát xa, còn anh ấy rất ủng hộ".


Trump hôn vợ trong một chiến dịch vận động tranh cử ở Waterloo, Iowa. Ảnh:Reuters

Năm 1999, khi New York Times phỏng vấn Melania về vai trò của cô nếu Trump trở thành tổng thống Mỹ. Lúc đó Melania đang hẹn hò với tỷ phú, cô trả lời:

"Tôi là mẫu người truyền thống, như Betty Ford hay Jackie Kennedy. Tôi sẽ ủng hộ anh ấy hết mình".

Trong cuộc đua vào Nhà Trắng năm nay, bà Trump gần như im lặng trong suốt chiến dịch tranh cử của chồng. Tuy nhiên, hôm 24/2, lần đầu bà xuất hiện trước truyền hình lên tiếng bênh vực chồng.

Nếu ông Trump được bầu làm tổng thống Mỹ, bà Melania sẽ trở thành đệ nhất phu nhân sinh ở nước ngoài đầu tiên kể từ thời Đệ nhất phu nhân Louisa, vợ của John Quincy Adams, tổng thống thứ 6 của Mỹ.



"Người Vợ" là một vĩ nhân!

 Tràm Cà Mau
Vợ là vĩ nhân đúng 100%. Đang lúc vợ còn tại thế, người chồng xem thường công lao của VỢ. Lúc vợ mất rồi thì mới thấm thía nhận ra sự mất mát to lớn biết là chừng nào! Cám ơn tất cả các Bà vợ HIỀN.
BÀI VIẾT:
Có thời ông Tư thường hay đùa, trêu chọc bạn bè rằng: “Đời người đàn ông có hai lần sung sướng: Lần cưới vợ, và lần vợ chết.“ Bây giờ vợ chết, ông mới ý thức được cái câu đùa nghịch đó vô cùng bậy bạ và bất nhân, không nên nói. Có lẽ anh chàng nào nghĩ ra câu nầy là kẻ độc thân, chưa có kinh nghiệm chết vợ. Ông ân hận và tự giận mình.
Sau khi chết vợ, ông như mất hồn, lãng đãng, trí óc để trên mây. Nhiều lần, trên đường về nhà, ông đi lạc, lái xe qua khỏi nhà rồi, mà không biết. Ngày xưa, ông hay bực mình mỗi khi được bà nhắc nhở đi lối nầy, quẹo góc kia, và bà cũng nổi nóng la nạt ông mỗi khi đi lạc đường. Bây giờ, mong được nghe lời cáu kỉnh gây gổ đó, mà không có được. Ông thở dài và đau nhói trong tim như có vật nhọn đâm vào. Không thể ngờ vợ ông không còn trên đời nầy nữa. Bây giờ, bà nằm ngoài kia, nghĩa địa hoang lạnh âm u. Không còn chầm chập kiểm soát từng hành động của ông để mà phê bình sửa sai.
Mở cửa, bước vào nhà, ông nói lớn như khi bà còn sống: “Em ơi! Anh đi làm về.” Trước đây, nếu không nghe tiếng trả lời, ông chạy vụt lên lầu tìm vợ. Bây giờ, ông lẳng lặng đến thẳng bàn thờ, thắp ba cây nhang, lạy bốn lạy. Ông thầm nghĩ người ta chỉ lạy vợ khi vợ đã chết rồi, tại sao không ai lạy vợ khi vợ còn sống! Dù có gây nên tội lỗi tầy đình, cũng không ai lạy vợ bao giờ.
Ông nhìn tấm hình màu, ảnh bán thân của bà, có nụ cười thật tươi, hai vành môi uốn cong, đôi mắt sáng tinh anh, có ánh tinh nghịch. Ông thấy bà còn đẹp lắm, nét đẹp dịu dàng. Thế mà bao nhiêu năm nay, ông không hề biết, và chưa một lần nhìn ngắm kỹ cái nhan sắc của vợ. Sống lâu ngày bên nhau, thấy nhau, nhưng quên nhìn ngắm, chỉ thấy hình thể tổng quát của nhau. Cũng như nhiều ông có vợ thiếu nhan sắc, cũng không bao giờ biết vợ họ xấu. Những ông lấy được vợ đẹp, lâu ngày, cũng chẳng còn biết vợ mình là đẹp. Nhiều bà đi xâm môi, xâm lông mày xong, về nhà, ông chồng cũng không hề biết có sự thay đổi trên mặt vợ.
Ông Tư gieo mình nằm vật ra tấm ghế bành, hai tay ôm mặt khóc rưng rức như đứa bé đi về vắng mẹ. Tiếng khóc buồn bã vang dội trong căn phòng vắng. Ông ước sao chuyện thật hôm nay là một giấc mộng dữ để, khi ông thức dậy, thấy còn có bà bên cạnh. Có thể ông sẽ bị vợ cằn nhằn trách móc một điều gì đó như thường ngày, nhưng thà còn có những phiền hà của vợ, còn hơn là nằm đây một mình.
Ông đã khóc như thế cả tháng mấy nay, mỗi lần đi làm về. Bước vào căn nhà vắng vẻ lạnh lẽo, không còn bóng dáng người vợ thương yêu, làm trái tim ông se sắt, tâm trí ông trống rỗng mịt mờ. Nỗi đau cũng tan dần theo giòng nước mắt, rồi ông thiếp đi trong một giấc ngủ buồn, ngắn. Khi thức dậy, ông nhìn quanh, đâu đâu cũng có bóng dáng, có kỷ niệm với bà. Tất cả đều còn đó. Vật dụng, đồ đạc của bà trước khi chết, vẫn còn để y chỗ cũ, giữ nguyên trạng. Ông không muốn thay đổi chuyển dịch gì cả. Trên bàn trang điểm, vẫn còn chiếc lược nằm nghiêng nghiêng, thỏi son dựng đứng, hộp phấn, những chai thuốc bôi tay cho mịn da, tất cả đều không xê dịch, không sắp xếp lại. Ông tưởng như hương tay của bà còn phảng phất trên từng món vật dụng.
Mỗi bữa ăn, không còn ai thúc hối, hò hét dục ông ngồi vào bàn ngay, sợ cơm canh nguội lạnh. Bây giờ, ông tha hồ lần lửa, không tha thiết đến bữa cơm. Có khi chín mười giờ mới bắt dầu ăn, qua loa cho xong, miệng nhạt phèo. Thường ông để thêm chén dĩa đũa muỗng đầy đủ cho bà. Rồi thì thầm mời vợ ăn, tưởng như bà còn sống, ngồi đối diện và cùng chia vui hạnh phúc trong từng giây phút của thời gian. Ông có ảo tưởng như bà còn ngồi đối diện, đang lắng nghe ông nói. Hôm nay bà làm biếng phê bình, không mắng trách khi ông làm rơi cơm canh ra bàn. Với cách đó, ông tự dối lòng, để có thể nuốt trôi những thức ăn, mà vì buồn chán, ông không còn cảm được hương vị ngon ngọt.
Nhiều khi thức giấc nửa đêm, vòng tay qua ôm vợ, ôm vào khoảng trống, ông giật mình thảng thốt, chợt hỏi thầm: ''Bà đi đâu rồi?'' Khi chợt nhớ bà không còn nữa, ông chảy nước mắt, ướt cả gối. Có khi úp mặt khóc rưng rức, khóc cho đã, cho trái tim mủn ra, và thân thể rã rời. Chiếc giường trở thành trống trải, rộng thênh thang. Ông vẫn nằm phía riêng, bên kia còn để trống, dành cho bà. Ông ôm hôn cái gối, mùi hương của bà còn phảng phất gợi bao kỷ niệm của tháng ngày hạnh phúc bên nhau. Khi không ngủ được, ông bật đèn nằm đọc sách, bây giờ ông không sợ ai cằn nhằn, ngăn cấm đọc sách giữa đêm khuya. Trước đây, nhiều khi ông tha thiết thèm đọc vài trang sách trước khi đi ngủ, mà vợ cứ cằn nhằn mãi, làm ông mất đi cái thú vui nầy. Bây giờ, ông nhận ra vì thương chồng, sợ ngày hôm sau ông buồn ngủ, mệt nên bà ngăn cản, bảo là chói mắt không ngủ được.
Ông tiếc vợ chồng đã hay cãi vã những chuyện không đâu, chẳng liên quan gì đến ai, mà làm mất đi cái vui, cái hòa hợp của gia đình. Có khi chỉ vì tranh luận chuyện con khỉ bên Phi Châu, mà đi đến to tiếng, giận hờn, khóc lóc, làm vợ chồng buồn giận nhau, dại dột như hai đứa trẻ con ngu dại.
Tại sao phải gắt gỏng, đâu có được gì, mà làm nhau buồn. Bây giờ, muốn nói lời ân hận thì làm sao cho bà nghe được? Ông tự xét ông là con người tệ mạt, thiếu hiểu biết. Khi có hạnh phúc trong tay thì không biết trân trọng, để đến khi mất đi, mới ân hận, mà không còn kịp nữa.
Nếu được làm lại, ông sẽ đối xử với bà tử tế hơn, nói nhiều những lời êm ái dịu dàng. Sẽ không nổi giận khi bà làm chuyện ngang phè, sẽ nhường nhịn bà nhiều hơn, và sẽ phớt tỉnh mỗi khi bị bà chê bai, mai mỉa. Nhất là bày tỏ cái lòng ông, nói ông yêu thương bà, yêu thương lắm lắm. Đâu có gì ngăn trở, mà những ngày bà còn sống, ông không nói được những điều đó. Ông chợt nhớ có ngưòi viết rằng vợ chồng phải đối xử như ngày mai thức dậy sẽ không còn nhau. Vì chẳng ai được sống mãi, và cũng không biết chắc chuyện gì sẽ xảy ra trong giờ sắp tới, cho ngày hôm sau. Cuộc đời con người vốn bấp bênh trong định mệnh.
Lấy kinh nghiệm đó, nhiều lần nói với những người bạn mà vợ chồng còn được sống bên nhau, cho họ biết rằng họ đang có hạnh phúc quý báu, họ nên trân trọng giữ gìn, kẻo mai đây, khi chiếc bóng thì tiếc thương cũng đã muộn màng. Đa số có lắng nghe, và tin lời ông là đúng, nhưng họ quên phứt ngay sau đó, và không thực hành điều hiểu biết.
Mẹ ông mất trước vợ sáu tháng. Ông cũng buồn, thương. Nghĩ rằng mẹ già thì chết là chuyện thường tình. Nhưng khi mất vợ, ông cảm thấy đau đớn và buồn khổ vô cùng tận. Buồn hơn mất mẹ mười lần. Ông tự cảm thấy xấu hổ vì mất mẹ mà lại không đau buồn bằng vợ chết! Có phải ông đã thương vợ hơn thương mẹ chăng? Có phải ông là đứa con bất hiếu? Ông cũng không biết, và không so sánh được hai cái đau vì mất mát. Nhưng rõ ràng, ông đã ngã gục khi chết vợ.
Có khi quẩn trí, ông muốn chết theo bà. Sao cuộc sống vô vị quá chừng. Rồi mai mốt cũng già, bệnh, đâu có thoát được cái chết. Chết bây giờ, nếu còn linh hồn thì còn gặp lại vợ ngay. Nhưng ông sực nhớ nhiều lần bà nói không muốn gặp ông lại trong kiếp sau. Bà đâu có thù ghét ông mà nói câu đó nhỉ. Nói chi cho ông đau lòng lúc nghe, và còn đau cả đến tận bây giờ. Ông nghe nói, có một loài chim, khi một con chết đi, thì con kia ngày đêm kêu thương, bỏ ăn, bỏ ngủ, than gào cho đến chết. Chim còn chung tình đến thế, mà ông thì còn sống, còn ăn, còn ngủ, còn đi làm, còn giữ tiền bạc. Chẳng bằng được loài chim sao?
Trong căn nhà nầy, đâu đâu cũng có dấu vết của bà. Mở tủ đựng ly chén ra, ông đứng nhìn xem, bên trong sắp đặt thứ tự, gọn gàng. Có những thứ mà bây giờ ông mới thấy, và không biết công dụng nó là gì, khi nào thì dùng đến. Bà đã mua sắm, sắp đặt cẩn thận. Ông cầm một cái ly, biết vật nầy đã có bàn tay vợ đụng đến, ông ghé môi hôn, tưởng đang hôn bàn tay bà. Ba bộ ấm pha trà xinh xắn, bà mang về trong dịp đi du lịch bên Nhật, để cho ông thù tiếp bạn bè. Bà thương ông đến như vậy đó.
Hơn cả chục chai rượu nho, rượu mạnh trong tủ kiếng cũng do một tay bà mua. Bà không biết uống, nhưng hễ nghe ai khen rượu ngon, rượu quý thì bà cũng cố mang về cho chồng một vài chai. Ông thường dặn nếu không biết uống rượu thì đừng mua, vì khẩu vị của mỗi người khác nhau. Cũng như mình khen mắm nêm thơm ngon, nhưng cho Tây ăn thì họ bịt mũi mà oẹ ra. Bây giờ, đứng đây, đưa tay sờ vào những chai rượu màu nâu sẫm, lòng ông đầy ân hận, đáng ra lúc đó, ông phải nói những lời tử tế ngọt ngào cám ơn và bày tỏ cái hân hoan với tình thương chăm sóc của vợ. Những khi đó, ông đã nói những lời chân thật như đất ruộng, làm phụ tấm lòng yêu thương của bà. Ông định nhấp vài hớp rượu để tưởng nhớ đến ơn vợ, nhưng rồi đặt chai xuống và thì thầm hai câu thơ của Vũ Hoàng Chương: “Em ơi! lửa tắt bình khô rượu. Đời vắng em rồi say với ai?” Mắt ông cay cay, tim đập sai nhịp.
Tủ áo quần của bà còn nguyên vẹn đó. Những chiếc áo giản dị, màu sắc khiêm tốn. Bà phải chờ cho đến khi bán hạ giá thấp nhất mới dám mua. Bà cần kiệm, không dám hoang phí. Đi đám cưới, tiệc tùng, bà không cần phải thay đổi áo mới, kiểu nầy, kiểu kia. Bà nói: “Ngay cả ông chồng, còn chưa nhớ được kỳ trước mình mặc áo nào, màu gì, huống chi thiên hạ. Họ đâu có dư thì giờ mà vớ vẩn nhớ đến cách phục sức của cả trăm người trong bữa tiệc. Mà dù cho họ có nhớ đi nữa, cũng không sao, đâu có gì quan trọng. Chắc cũng chẳng ai chê mình không có áo quần mới khi tham dự tiệc tùng.” Cái đơn sơ giản dị chân thành của bà làm ông thương và mến phục.
Áo quần của ông, cũng do bà tìm tòi mua giúp. Khi thấy cái áo quần tốt, màu sắc trang nhã, giá cả tương đối được, bà hối hả kêu ông chạy gấp đến tiệm thử liền. Ngay cả áo quần lót, vớ, cà-vạt, cũng do bà mua cho ông. Bà đem áo quần đã cũ sờn vất đi, thay vào các thứ mới. Ông cứ tự nhiên dùng, chưa bao giờ biết kích thước đúng của chính ông. Đã có bà lo hết. Bây giờ không còn bà, ông mới thấy rõ ràng hơn những gì đã nhận được xưa nay mà vô tình không nghĩ đến. Cầm chiếc quần được lên lai trong tay, nhìn đường kim mũi chỉ cẩn thận, ông thấy rõ tình thương của bà gói ghém trong đó. Áo quần mùa đông, mùa hè của ông cũng được bà sắp xếp riêng từng ngăn cẩn thận. Bà đã cho giặt sạch, kỹ lưỡng trước khi được treo xếp vào ngăn tủ áo quần, để dành mặc vào mùa sau. Từ khi có bà trong đời, ông mất dần đi khả năng tự lo, tự lập mà ông vô tình không biết.
Ông nhớ những khi tham dự tiệc tùng, trong lúc ăn uống, khi có chút rau, thịt mắc vào kẽ răng, không dùng lưỡi cạy ra được, bà nhìn ông, biết ngay. Bà len lén mở ví, kín đáo chuyền tay cho ông một cây tăm bọc trong giấy. Ông xem đó như chuyện tự nhiên. Cũng có khi ông quay qua bà hỏi khéo: “Em còn cây tăm nào không?” Bà mở ví, đưa cho ông ngay. Trong lúc ăn, có món ngon vừa ý, bà thì thầm nhắc ông. Hoặc khi lấy thức ăn, bà chọn cho ông miếng ngon nhất. Những lúc đó, ông hơi ngượng, liếc mắt nhìn quanh bàn. Phần ông, thì cứ dặp đại, chưa bao giờ phân biệt miếng ngon, miếng dở. Gắp được cục xương không dính chút thịt cũng cứ vui. Trong bữa ăn, khi thấy ly nước của ông cạn, bà châm, thêm, ông hoàn toàn không quan tâm đến.
Bà biết rõ ông ưa thích món ăn gì, để mỗi ngày nấu nướng. Khi nghe ông khen món nào đó thì, hôm sau, bà nấu ngay cho ông ăn. Ông chỉ lờ mờ nhận ra hảo ý của bà, nhưng không biết nói một câu nịnh cho vui lòng vợ.
Nhiều lần ông bà rủ nhau đi du lịch xa, ông có nhiệm vụ lên mạng mua vé máy bay, đặt khách thuê sạn. Thế là xong. Phần bà lo cho tất cả các mục còn lại. Từ áo quần thường, áo lạnh, áo ngủ, đồ lót, vớ, giày phụ, dép, bàn chải răng, kem, kiếng phụ, tăm, thuốc cấp cứu, thuốc dùng ngừa bệnh, điện thoại di động, giây cắm điện thoại, máy hình, máy điện toán xách tay và các thứ phụ tùng cần thiết. Danh sách của bà đủ bốn mươi tám món. Bà cũng không quên mang theo một ít thức ăn khô, phòng khi lỡ đường. Nhiều khi thấy va-li căng kè, nặng nề, ông gào to: “Đi chơi chứ đâu phải là dọn nhà? Sao không mang theo cả cái tủ lạnh cho tiện?”
Một lần đi Âu Châu, cuộc đình công kéo dài, điện tắt và trời bão tố. Ông bà bình tâm nằm trong khách sạn, không chút nao núng, vì đã có sẵn một ít thức ăn khô mang theo. Thường trước khi đi, bà đọc kỹ và kiểm soát lại chuyến bay, lộ trình, các hãng đưa đón, khách sạn, ngày giờ của các ‘tua’ du lịch. Bà bắt ông xuất trình giấy thông hành, căn cước, thẻ tín dụng, tiền bạc, kiểm soát lại từng chút một để khỏi quên bất cứ vật gì. Ông cảm thấy khó chịu vì bị vợ xem như đứa trẻ con. Nhưng khi vợ mất rồi, ông đi xa mà để quên đủ thứ, nghĩ lại càng thương bà hơn.
Ông thường ham mê xem các trận đấu thể thao. Nhiều lần ông đang đi chơi với bạn, bà sợ ông bỏ mất trận đấu, kêu điện thoại nhắc nhở: “Anh nhớ chiều nay 5 giờ có trận chung kết bóng rổ đó nghe!” Ông cám ơn bà và thu xếp về cho kịp giờ khai đấu.
Từ khi có gia đình, ông phụ thuộc quá nhiều vào vợ. Không có bà, ông như rơi xuống một vực sâu, tối tăm mù mịt, ngày tháng tẻ nhạt. Không gian và thời gian dường như thành trống rỗng.
Mỗi chiều tan sở, ông bâng khuâng không biết đi đâu, về đâu cho đỡ thấy quạnh hiu. Khi vợ còn sống, phải lo về ngay, không dám ngồi quán cà phê lai rai, về nhà vợ hạch hỏi không dám trả lời thật. Có khi ông điện thoại cho bạn, hỏi chiều nay ông đến chơi được không, và xin được ăn cơm tối. Bạn biết ông đang buồn, đơn lẻ, nên thường niềm nở chấp nhận. Nhiều lần, ông mua một vài món ăn ở tiệm, đem đến nhà bạn góp vào mâm cơm chiều và sau bữa ăn, uống trà, cà phê. Ngồi trong ghế bành, đôi khi không nói gì, cầm tờ báo lật qua lật lại, thế mà thấy bớt cô đơn trong lòng yên ổn. Rồi cũng phải về cho gia chủ đi ngủ. Ông ra xe, nỗi buồn lại dấy lên thấm thía. Trời đất như rộng thênh thang. Đường về nhà hiu quạnh. Nghĩ đến căn nhà trống vắng, lòng ông rưng rưng.
Mỗi khi mở tủ lạnh tìm thức ăn, thấy trống không, chẳng có thứ gì ăn được. Vài ba cây trái đã đen điu, rữa thối. Mấy bó rau đã đổi màu đen, khô quéo. Chai nước lọc cũng cạn. Không còn gì. Trong nhà không có bàn tay đàn bà thì xem như chẳng còn có cái gì cả. Ông thầm thán phục những người bạn độc thân. Không biết làm sao họ có thể sống sót đến tuổi già, mà vẫn vui vẻ, yêu đời, nói cười. Họ đã làm gì cho tiêu tán quãng thời gian trống rỗng sau giờ tan sở nhỉ?
Như thói quen, những chiều tan sở, ông chạy thẳng ra nghĩa địa, thơ thẩn bên mộ bà. Trong nghĩa địa hoang vắng nầy, ông thấy bớt cô đơn hơn là về nhà một mình. Cắm vài bông hoa, thắp nén hương. Rồi ngồi trò chuyện như khi bà còn sống. Nói đủ thứ chuyện, nói nhiều hơn cả khi ông bà còn bên nhau. Ông độc thọai, và ông cứ tin ở dưới lòng đất, bà đang lắng nghe ông tâm sự. Khi có người lạ đi đến gần, ông hơi xấu hổ, nói nhỏ lại, chỉ thì thầm thôi. Ông sợ thiên hạ lần tưởng ông đau bệnh thần kinh. Rồi ông hát cho bà nghe. Hát những bài kỷ niệm, mà ngày trước, ông bà cùng song ca trong những buổi “Karaoke” tổ chức tại nhà bạn bè. Tai ông vẫn còn văng vẳng giọng bà thánh thót hoà lẫn với tiếng hát trầm ấm trên môi ông. Ông hát từ bài nầy qua bài khác đến khô ran cả cổ. Nhiều khi ông nằm dài trên cỏ, bên tấm bia mộ ngang bằng, nhìn lên trời cao mênh mông và tưởng tượng có bà đang thân thiết nằm bên cạnh. Nghe được cả hơi thở của bà. Hơi thở có mùi hương quen thuộc của ngày nào. Ông thèm nghe vài lời cằn nhằn trách móc của bà.
Khi bóng đêm bắt đầu phủ xuống trên nghĩa địa, ông mới uể oải đứng dậy ra về. Ông nấn ná không muốn khu mộ, nhưng vốn yếu bóng viá và sợ ma, không dám ở lại khi đêm đen bao trùm khu nghĩa địa hoang vắng. Ông thì thầm: “Ngày mai anh sẽ đến thăm em.” Có những chủ nhật, ông cứ mãi thơ thẩn quanh khu mộ. Ông nhận ra rằng, bây giờ, ông yêu thương yêu vợ hơn nhiều lần khi bà còn sống. Tình cảm ông tha thiết, nồng nàn hơn xưa rất nhiều.
Mùa đông mưa dầm dề, gió thốc từng cơn trên nghĩa địa trống trải, ông trùm áo mưa, ngồi co ro run rẩy trong buốt giá bên mộ bà. Ngày nghỉ, ông ngồi từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều. Tâm trí miên man mơ hồ vô định.
Chỉ mới một năm thôi, ông hốc hác, gầy rộc, vì mãi miết đắm chìm trong thương nhớ, khổ đau. Nhiều người khuyên ông nên đi bác sĩ tâm lý để điều trị, để tránh sa vào tình trạng suy sụp trầm trọng.
Ông nghĩ, bác sĩ cũng không giúp gì được khi trong lòng ông thương nhớ bà. Bác sĩ không thể làm bà sống lại, không thể làm phép lạ cho ông quên buồn.
Một buổi sáng, khi nắng vàng rực rỡ nhảy múa trên khu nghĩa địa, gió mát mơn man cỏ cây, tiếng chim kêu văng vẳng, ông Tư rầu rĩ mang bó hoa hồng đến đặt lên mộ bà, định than vãn vài câu cho bớt nỗi buồn thương không dứt được trong lòng. Ông ngạc nhiên thấy một tờ giấy cuộn tròn trong bình đựng hoa. Ông giật mình, ô kià, lạ chưa, có nét chữ của bà. Ông mở tờ giấy ra đọc. Một bài thơ của ai chép tay chữ viết giống hệt nét chữ bà. Những chữ h, chữ g và cả cách đánh dấu hỏi ngã. Ông run run đọc:
“Đừng đứng khóc lóc bên mồ em. Bởi em đâu còn dưới đó nữa. Em đang là ngàn gió bay cao trên đồng nội, là ánh dương quang lóng lánh giữa biển trời. Em đang tắm trong mưa thu mát dượi. Em đang trên cao, ngàn sao của giải ngân hà. Và một sáng mai kia, tiếng chim đánh thức anh. Thì hãy biết đó là tiếng em kêu anh. Thôi đừng khóc bên mồ em, chúng ta sẽ gặp lại nhau sau…”
Ông đọc đi đọc lại đến ba lần, và chợt nhớ ra đây là lời bản nhạc phổ từ bài thơ của bà Mary Elizabeth Frye viết trong cơn xúc động trên một mẫu giấy vụn. Trước đó bà Frye nẩy chưa hề bao giờ làm thơ. Bài thơ nầy về sau rất nổi tiếng, phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới, được phỏng dịch ra hàng chục ngôn ngữ khác nhau. Ông đã từng nghe trong các đám tang người Mỹ. Nhưng khi đó, ông chẳng hề để ý. Bây giờ được đọc lại, ông thấm thía và ngộ ra: Đúng. Bây giờ bà đâu còn nằm dưới đó nữa. Bà đang ở trên miền cực lạc. Bà đang sung sướng trong một thế giới khác, không có khó khăn, vất vả, không giận hờn ganh ghét, không có chiến tranh giành giựt, và không phải “Đổ mồ hôi trán mới có được miếng cơm vào mồm.” Thế thì, tại sao lâu nay ông phải âu sầu thương tiếc khóc lóc. Ông đã tự làm khổ ông, tự đọa đày trong vũng đau thương. Nếu bên kia thế giới mà bà biết được ông khổ sở rầu rĩ như thế nầy thì bà vui hay buồn? Ông tự hỏi, ông đau đớn vì thương bà hay tự thương mình? Bà đang hưởng lạc phúc, thì ông phải mừng, chứ sao lại sầu khổ? Nếu ông tự thương mình, thì phải chống tay đứng dậy, làm cho ngày tháng còn lại nầy được vui vẻ, hạnh phúc và lành mạnh hơn là chìm đắm trong tối tăm mịt mù. 

Ông đến trước bia mộ và thì thầm: “Đúng, em đâu còn nằm dưới lòng đất nầy nữa. Thân xác là cát bụi phải về với cát bụi. Không còn là em nữa. Em đã bay cao với gió trên mây vàng long lanh, đang rong chơi nơi thiên đường cực lạc. Anh phải biết mừng cho em. Phần anh, phải đi nốt tháng ngày còn lại trên hành tinh nầy với những bước chân vững vàng, vui vẻ và hạnh phúc cho riêng mình. Đó là bổn phận cấp thiết đối với bản thân.”
Ông lái xe ra về, lòng nhẹ thênh thang. Con đường có nắng vàng reo vui, cây cỏ xanh ngắt yêu đời. Tiếng nhạc vui rộn rã vang vang trong xe, ông đã tìm được ý nghiã cho tháng ngày vắng bóng vợ. Ông tin rằng, nếu chết là chưa hết, chưa vĩnh viễn tan biến, thì ông sẽ gặp lại bà trong tương lai, ở một nơi an bình hạnh phúc hơn ở cõi trần thế nầy. Nhưng nếu chết là hết, là xong, thì cũng khỏe. Bà đã khỏe, và mai đây ông cũng sẽ theo bước bà tan vào hư không.
Về nhà, ông ngồi vào bàn, lập một chương trình sinh hoạt mới cho ngày tháng còn lại. Trước đây, ông không dám về hưu vì sợ cô đơn, sợ không có việc chi làm bận rộn rồi sinh ra quẩn trí mà phát bệnh. Nhưng, bây giờ, ông đã có một chương trình năng động, phủ kín thời gian trong tuần, còn sợ không đủ thì giờ để thực hiện. Nhưng không sao, với ông thì thi hành được chừng năm mươi phần trăm cũng đã là thành công rồi.
Mỗi sáng, ông dậy sớm, đi đến phòng tập thể dục, chạy bộ trên dây, cử tạ, bơi lội, tập yoga, tắm nước nóng. Sau đó, họp bạn già uống cà phê, bàn chuyện trời đất thời thế. Về nhà đọc thư bạn bè, giải quyết các công việc lặt vặt. Rồi ngủ ngay một giấc ngắn. Tự nấu nướng lấy, mặc dù có thể đi ăn tiệm, hoặc mua thức ăn về. Ông học cách nấu ăn trong liên mạng vi tính. Đọc bốn năm bài dạy khác nhau, rồi chọn lựa, kết hợp, tìm ra cách nấu hợp với khẩu vị mà ông nghĩ là ngon nhất. Từ đó, ông ghiền xem truyền hình dạy nấu ăn, Ông nấu được những món ngon tiếp đãi bạn bè.
Có một bà góa ỡm ờ đề nghị: “Anh nấu ăn ngon thế nầy, mà ăn một mình cũng buồn và uổng quá. Hay là nấu cơm tháng cho em đi, mỗi ngày tới bữa em đến ăn. Hôm nào anh bận, thì báo trước, em sẽ đi ăn tiệm.”
Ông cười lịch sự đáp: “Cám ơn chị quá khen và đề nghị. Xin cho tôi suy nghĩ lại, xem có đủ sức phục vụ chị không, rồi sẽ trả lời sau.”
Ông bóng bẩy nhấn vào hai chữ ‘phục vụ” làm bà kia đỏ mặt e thẹn. Ông không thể tưởng tượng nổi có người nào đó thay thế được vợ ông. Mỗi khi nói chuyện thân thiết với bà nào đó, mà trong lòng ông có dấy lên một chút cảm tình, thì ông thấy như mang tội với người vợ đã khuất, ông đã thiếu chung thủy. Cứ áy náy mãi.
Ông tham gia các chương trình du lịch xa, đi chơi trên du thuyền. Ông gặp nhiều bạn bè, đàn ông, đàn bà, cùng vui chơi. Tham dự các trò đùa tập thể trên du thuyền. Nhiều bà góa thấy ông cô đơn, nhắm muốn tung lưới bắt mạng, nhưng ông cũng đủ khôn ngoan để né tránh. Ông nói với bạn bè rằng mình già rồi, khôn có lõi, không còn ngu ngơ dại dột như thời trai trẻ, để nhắm mắt chui đầu vào tròng.
Đôi khi ông cũng muốn có bạn gái, có chút chất “mái”, dù không làm gì được, nhưng mơ hồ thấy có sự thăng bằng nào đó trong tâm trí.
Ông đã cùng bạn bè tham gia các chuyến du lịch xa, Âu Châu, Ấn Độ, Phi Châu. Bây giờ còn đủ sức để đi, có điều kiện tài chánh thong thả, tham gia kẻo mai mốt khi yếu bệnh, khỏi luyến tiếc. Đi theo đoàn đông đảo bạn bè, thì giờ rất sát, eo hẹp, làm ông không kịp nghĩ, kịp buồn.
Trên du thuyền, gia đình người bạn giới thiệu bà Huyền cho ông, bà đẹp, duyên dáng, hơi trầm tư, đôi mắt mở to như khi nào cũng ngạc nhiên ngơ ngác, cánh mũi thon, môi hình trái tim chúm chím. Bà Huyền xa chồng đã hơn ba năm. Lòng ông Tư mơ hồ dấy lên chút cảm tình vì bà đẹp, hiền thục, ít nói. Mấy lần hai người ngồi gần nhau trong bữa ăn. Bà Huyền hé lộ một chút tâm sự riêng tư cho ông nghe, rằng bà may mắn chạy thoát đến Mỹ vào năm 1975, bà lặn lội thân cò nuôi chồng theo đuổi đại học trong bao nhiêu năm. Nhờ may mắn trong thương trường, tiền bạc có thời vô như nước. Gia đình vui vầy tràn đầy hạnh phúc. Rồi tai họa đổ xuống, chồng bà say mê một cô nhỏ tuổi hơn con gái ông, cô nầy làm công cho cơ sở thương mãi của gia đình. Ông chồng li dị bà để vui duyên mới. Bà nói rằng chẳng trách gì ông, một phần cũng lỗi tại bà không phòng xa để cho ông chồng và cô gái có dịp tiếp xúc thường xuyên. Lửa gần rơm thì phải cháy. Chia đôi gia tài, bà cho ông cơ sở kinh doanh, bà không cần làm nữa, tài sản có thể sống đến khi già chết.
Ông Tư cũng cảm mến bà Huyền vì cái giọng nói dịu dàng ngọt ngào, trái tim nhân áí, và tâm từ bi của bà cùng tấm lòng cao thượng. Khi nhắc đến ông chồng cũ phản bội mà không thù hận, không gay gắt giận hờn.
Bà Huyền biết kiên nhẫn lắng nghe, tôn trọng ý của người khác, dù có khi bất đồng quan điểm. Ông Tư cảm thương cho một người đàn bà biết điều như thế mà gặp phải hoàn cảnh không may. Cái tình cảm trong lòng ông đâm mầm nhú mộng êm ái. Đôi khi ông cũng giật mình, sợ trái tim ông yếu đuối, đổi cái quan hệ bạn bè với bà Huyền thành tình yêu. Ông không muốn mang mặc cảm phản bội bà vợ bên kia thế giới. Nhưng cũng là chuyện lửa gần rơm, mối giao hảo thân thiết của ông với bà Huyền càng ngày càng khắng khít. Đã có vài lần ông toan tính thổ lộ cho bà Huyền mối tình cảm chân thành của ông, nhưng rồi vốn nhát, nên lại thôi. Ông tự cười, đã chừng nầy tuổi, trên đầu tóc trắng nhiều hơn tóc đen, mà vẫn còn nhút nhát như thời mười sáu tuổi. Cuối cùng, chính bà Huyền đã mở đường dẫn ông vào cuộc tình già.

Khi ông đi gần đến quyết định mời bà Huyền về sống chung, thì bạn bè can gián, cho ông biết bà Huyền là một trong ba người đàn bà nổi danh đanh đá độc ác nhất của thành phố nầy. Ai cũng biết, mà chỉ riêng ông Tư không biết mà thôi. Ông không tin một vài người, nhưng phải tin khi nghe nhiều người khác nói. Ông quyết tâm tìm hiểu, và vô tình gặp ông Duẫn là người chồng cũ của bà Huyền trong một buổi họp mặt. Ông lân la đến làm quen. Thấy ông Duẫn hiền khô, không rượu, không trà, không cả cà phê thuốc lá, và nói năng lịch sự dịu dàng. Bạn bè lâu năm của ông Duẫn cũng xác nhận anh nầy là một ‘ông Phật đất’. Hoàn toàn không hề có chuyện gian díu với một người đàn bà nào. Bà Huyền cũng không nuôi ông Duẫn một ngày trong đời như bà nói, bà đã đặt chuyện, cứ nói mãi, nên tin là có thật.
Ông Tư mạnh dạn hỏi thẳng Duẫn: “Anh nghĩ sao, nếu tôi cưới bà Huyền, vợ cũ của anh?”
Ông Duẫn gãi đầu, và nói ngập ngừng: “Ô… ô, không nghĩ sao cả. Đó là chuyện riêng của bà ấy với anh. Tôi không can dự gì. Chúng tôi đã li hôn lâu rồi. Tại sao anh hỏi tôi câu đó?”
Ông Tư hạ giọng: “Không phải tôi xin phép anh, mà tôi muốn hỏi ý kiến của anh về bà ấy. Nhận xét của riêng tôi, thì bà Huyền là một người đoan trang, trinh thục, hiểu biết, có trái tim nhân ái. Nhưng theo nhiều người khác thì đó là một trong ba bà ác độc nhất của thành phố nầy.  Có thật vậy không?”
Ông chồng cũ của bà Huyền ngững mặt lên trời mà cười ha hả: “Khoan khoan, đừng nói thế mà tội cho người ta. Phần tôi, nếu không nói tốt cho bà ấy được, thì cũng không có quyền nói xấu. Tôi không dám có ý kiến gì cả. Có thể bà ấy không hợp với tôi, nhưng lại hợp với người khác. Có thể tại tôi bất tài, không tạo được hạnh phúc cho gia đình. Biết đâu, bà ấy với anh đồng điệu, hai người có thể tạo nên thiên đàng dưới trần thế nầy.”
Ông Tư ngại ngần và chùn chân, âm thầm lảng xa dần bà Huyền. Bà nầy biết được ý định, mắng ông Tư một trận nên thân, chưởi ông hèn nhát, bần tiện, keo kiết, không đáng xách dép cho bà. Ông Tư nghe xỉ vả chưởi mắng mà mừng húm. May mà chưa có cam kết gì với bà Huyền. Từ đó, ông đâm ra có thành kiến với bất cứ người đàn bà nào muốn tiếp cận với ông.
Ông Tư đã hết suy sụp tinh thần, tự tổ chức cho ông một đời sống có ý nghĩa, có nhiều niềm vui nhỏ nhặt trong đời sống, tránh xa mọi phiền toái của thế gian. Trong nhà ông treo một tấm biển lớn, chữ viết theo lối bút họa, ghi lời của một người bạn:
“Có thì vui. Không cũng vui. Được mất đều vui.”

Blog Archive