Saturday, February 27, 2016


Lá thư của Nhà văn Xuân Vũ gởi cho một nữ “Dũng sĩ” đất Củ Chi

Hoa Kỳ, ngày 24 tháng 8 năm 1991

Em Bảy Mô thân mến,

Bất ngờ anh bắt gặp một quyển sách tiếng Anh viết về địa đạo Củ Chi trong đó có đề cập tới em và hình em nữa. Xem xong quyển sách này anh cười phì vì nó hài hước và bịp bợm quá lẽ, anh không muốn nêu tên sách và tác giả ra đây vì họ không đáng cho anh gọi là nhà văn, mà họ chỉ đáng được gọi là những thằng bịp.  Nếu em đọc được tiếng Ăng-Lê thì anh sẽ tìm cách gởi về cho em xem. Và chắc em sẽ có cảm tưởng rằng tác giả của quyển sách nói về một chuyện giả tưởng trên mặt trăng hoặc dưới đáy biển. Anh tự hỏi tại sao tác giả quá ngây ngô để bị lừa một cách dễ dàng rồi trở lại lừa độc giả của họ một cách vô lương như thế. Nhưng cho dù họ bịp được toàn nhân loại đi nữa, họ cũng không lừa được anh và em, những kẻ đã từng đổ mồ hôi và máu trên mảnh đất này. Riêng anh thì đã tử thủ mặt trận: Hai ngàn ngày đêm, không vắng mặt chút nào. Để nói cho độc giả biết rằng:

Bọn Cộng Sản đã bày trò bịp thế gian một lần nữa, sau vụ “đường mòn xương trắng” và khuyên những người nhẹ dạ chớ có mắc lừa, anh quyết định viết quyển sách này.

Họ bảo rằng bề dài địa đạo là hai trăm dậm. Em có tin không? Sự thực Củ Chi có mấy khúc địa đạo còn tạm xài được trước khi Mỹ vô (1964)? Quận Củ Chi là một quận nhỏ gồm mươi lăm xã cách Sài Gòn hai chục cây số đường chim bay, nhưng nó là cửa ngỏ đi vào Sài gòn cho nên có hai bên Quốc Gia lẫn Cộng Sản đều tử chiến ở đây, một chiến trường khốc liệt nhất Miền Nam trong cuộc chiến tranh lần thứ hai của nước ta. Nếu tính bề châu vi thì quận Củ Chi đo được chừng năm mươi cây số. Như vậy bề dài của địa đạo ít nhất bốn lần chu vi Củ Chi. Họ còn viết rằng “địa đạo đã lập thành một vòng đai thép bao quanh căn cứ Đồng Dù và người cán bộ mặt trận có thể ở dưới địa đạo nghe nhạc đang đánh ở trên căn cứ này. Cụ thể là ông Năm Phạm Sang ngồi đàn dưới địa đạo mà nghe Bon Hope diễn kịch” ở trên đầu hắn.

Quyển sách ma này nói láo, nói bậy hoặc nói nhầm hầu hết về những gì đã xảy ra ở Củ Chi trong vòng năm năm (1965-1970) anh và em có mặt ở đó. Nhưng ở đây anh chỉ nhặt ra vài ba điểm quá ư ngu xuẩn của tác giả mà một người đã dám cầm bút viết nên “sách” dù kém tài đến đâu cũng không thể có được. Ví dụ họ viết rằng “anh Tám Lê và vợ là Thị Thắm mổ xẻ thương binh dưới địa đạo”. Xin hỏi: “Làm cách nào để đem thương binh xuống đó?

“ Nên biết rằng miệng địa đạo chỉ hẹp bằng cái khay trầu thôi. Người thường tuột xuống đó còn phải lách chứ không dễ dàng. 

Thương binh, nếu nặng thì nằm trên cáng, còn nhẹ thì băng bó đầy mình làm sao tụt xuống được? Và nếu có tụt xuống được thì nằm ở đâu, dụng cụ gì, đèn đóm nào dùng cho cuộc giải phẫu. Đó là chưa nói đến cái không khí ác độc ở dưới địa đạo. Người khỏe mạnh bất đắc dĩ phải xuống địa đạo thì chỉ trong vài tiếng đồng hồ là đã mệt ngất ngư rồi: vì không đủ dưỡng khí! Nếu bị kẹt vài giờ dưới đó thì con người đã trở thành miếng giẻ rách, còn khi bò lên được thì đã quên hết tên họ mình. Vậy sau khi được giải phẫu, thương binh phải sống dưới đó làm sao? Đó là chưa kể những việc lặt vặt khác như thương binh phóng uế hoặc thủ tiêu những băng đầy máu me. Những người chưa từng ở địa đạo nghe mấy vị này mô tả chắc sẽ nghĩ rằng cuộc sống dưới địa đạo khỏe khoắn như ở trong nhà lầu có máy điều hòa không khí. 

Xin thưa câu chuyện không đẹp tai cho lắm: Một lần nọ khi chui xuống địa đạo chúng tôi bị quân Việt Nam Cộng hòa chốt trên đầu không lên được. Rủi thay một nữ cán bộ có đường kinh. Nếu ở trên mặt đất thì dù không kịp dùng băng vệ sinh người đàn bà vẫn không toát ra mùi gì (xin lỗi) nhưng ở dưới địa đạo gặp trường hợp này mọi người đều ngặt mình như sắp chết vì cái mùi uế tạp kia. Người chưa từng ở địa đạo không thể biết rằng đánh một cái rắm dưới đó chẳng khác nào bỏ một trái bom nguyên tử.

Vậy ông “anh hùng Tám Lê” có lẽ là một Tề Thiên Đại Thánh mới có thể biến thương binh nhỏ lại bằng cái tăm để đem xuống địa đạo và nhổ lông khỉ của mình biến thành dụng cụ đèn đóm để giải phẫu chăng? Ông “Tám Lê quân y sĩ” giải phẫu thương binh thì có, nhưng bảo rằng ông ta giải phẫu thương binh dưới địa đạo là một chuyện nói láo bỏ sách vở và coi khoa học là một bãi phân chuồng cũng như ông đại tướng bần cố nông Nguyễn Chí Thanh đem hầm đất ra chống B52 để rồi bị chết thảm thương như vậy. Sức khoan phá của một quả bom đìa là mười một thước bề sâu.

Đây anh xin nhắc lại một câu chuyện mà hai anh em mình cùng chứng kiến: Lần đó anh bị thương miểng đạn M79, em và tổ nữ “dũng sĩ” của em đưa anh vào quân y của ông Tám Lê. Vừa tới nơi anh hết sức ngạc nhiên vì thấy một toán bộ đội rượt đánh hai vợ chồng Tám Lê chạy bò càng trong rừng. Kể cũng tội cho ông. Tiểu đoàn Quyết Thắng đánh ở Lộ 6 Gò Nổi bị thương nhiều quá. Chờ đến sáng mới đem thương binh về tới Rừng Lộc Thuận tức là căn cứ của ông Tám Lê thì bị ông từ chối. May có anh ở đó, anh rầy lính tráng và năn nỉ Tám Lê ráng giúp dùm, hòa giải xích mích.

Năm 1967, trong cuộc “càn Cedar Falls” của Mỹ anh phải điều động một đại đội tới khiêng thương binh chạy dưới mưa bom B52 sau trận đánh Cây Trắc đường I làng Phú Hoà Đông về tới Bến Chùa. Trên một trăm thương binh nằm dầy đặc một khu rừng như củi mục. Tiếng la ó, rên rỉ, chửi bới vang trời. Thương binh nằm phơi bụng dưới bóng cây. Những người may mắn thì được đặt dưới hầm giống như cái huyệt cạn, chờ họ chết là lấp đất rất gọn gàng chứ nào xuống được địa đạo địa điếc gì.

Chiến dịch đó vô cùng khủng khiếp phải không em? Nội vùng tam giác sắt trong vòng một tháng có đến 576 cán binh ra hồi chánh. Nếu có địa đạo như kiểu ông tác giả trên nói thì họ cứ rút xuống đó ăn hút chừng nào Mỹ đi thì bò lên chống Mỹ, lựa là hồi chánh chi cho mệt phải không em?

Những người chưa hề đào một tấc địa đạo nào cứ tưởng rằng đào địa đạo dễ như đào hang bắt chuột vậy. Đào một chốc là có cả chục thước ngay. Than ôi! Nào phải như vậy. Những vùng đất có thể đào địa đạo được phải là vùng đất cao để không bị ngập nước và đất phải cứng để không bị sụp lở cho nên đào một thước địa đạo phải hộc ra máu cục, phải mờ cả con mắt chứ đâu có dễ như ông tác giả vẽ trên giấy. Củ Chi có mười lăm xã, nhưng chỉ có năm xã đào được địa đạo mà thôi. Đó là các xã: Phú Mỹ Hưng, Anh Phú, An Nhơn, Nhuận Đức và Phú Hoà. Năm xã này nằm dọc theo bờ sông Sàigon, có lớp đất cao có thể trồng cây cao su mới đào được địa đạo. Ngoài ra mười xã kia là đồng ruộng làm hầm bí mật đã khó rồi.

Anh và em đã từng đào nên từng biết mỗi tấc địa đạo phải tưới bao nhiêu mồ hôi. Mười thanh niên khoẻ mạnh đào trong một đêm chỉ được chừng vài thước là cùng. Vậy muốn hoàn thành hai trăm dậm địa đạo phải mất bao nhiêu công? Và họ đào ở đâu, lúc nào mà được hai trăm miles. Ông tác giả lại còn phịa ra những chuyện ly kỳ là: “địa đạo hai tầng (như nhà lầu) và dưới đáy địa đạo lại có giếng để múc nước” (nấu nước trà uống chắc!). Chưa hết, ông ta lại còn bịa thêm rằng “dưới địa đạo có kho chứa hàng, có nơi nghỉ ngơỉ, có chỗ chứa thương binh”, và còn tài ba hơn nữa, tài nói láo, lại còn “có bếp Hoàng Cầm theo kiểu Điện Biên Phủ” (có đường dẫn khói luồng trong đất) và nào là “đường địa đạo thông ra bờ sông Sàigon…?”

Đây là một chuyện phản khoa học tại sao họ có thể viết được. Muốn cho một làn địa đạo có thể chui ra chui vào được và không sợ xe tăng cán sập thì nóc địa đạo phải cách mặt đất ít nhất chín tấc tây nghĩa là khỏi rễ cây ăn luồng, lòng địa đạo phải cao chín tấc và hình chóp nón nghĩa là đáy rộng chín tấc, nóc chỉ bảy, tám tấc, nếu địa đạo rộng hơn sẽ bi lở, sụp. Đôi khi rễ cây làm trở ngại rất nhiều, chặt đứt một cái rễ cây bằng cườm tay phải mất cả giờ đồng hồ. Như vậy muốn đào tầng địa đạo thứ hai ở dưới địa đạo thứ nhất phải theo công thức trên nghĩa là phải đào sâu xuống một mét tám tấc nữa rồi mới trổ ngang đào lòng địa đạo cao chín tấc. Như vậy từ mặt đất xuống tới đáy địa đạo thứ hai phải là: chín tấc cho nóc địa đạo I, chín tấc cho lòng địa đạo I, chín tấc cho nóc địa đạo II, chín tấc cho lòng địa đạo II, tổng cộng là ba mét sáu tấc. Tôi nói chi li ra như vậy để thấy rằng sự đào địa đạo không có dễ dàng, đơn sơ như ông tác giả kia tưởng tượng hoặc đã được Võ Văn Kiệt cho xem những hầm đào bằng máy để khoe với các ông ký giả ngây thơ. Nên nhớ rằng đào đất cứng dưới hầm nó khó khăn như gọt gỗ lim chớ không phải giang thẳng cánh mà cuốc như trên mặt đất.

Em đã từng đào địa đạo chung với anh, nhưng em nhớ lại thử xem chúng ta đã xuống đó bao nhiêu lần và mỗi lần ở dưới đó mấy giờ đồng hồ, ngoại trừ lần anh chết ngạt ở địa đạo Bến Mương khi anh được lôi lên, cô y tá Thu ở H6 ban Pháo Binh phải cứu cấp anh bằng nước tiểu. Anh không thể tưởng tượng được rằng họ đã bịa đặt đến thế được.

Em Mô thân mến,

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp em chưa ra đời, nhưng anh đã đi bộ đội. Năm 1950, anh xuống Miền Tây để học trường Lục Quân. ở dưới đó anh cũng bị mê hoặc về những “đường địa đạo chống giặc” ở quê nhà: Nào là “cả làng, cả nhiều làng xuống địa đạo”. Hơn nữa, “dân lùa cả trâu bò xuống địa đạo, giặc Pháp có biết được miệng hầm cũng không làm gì nổi”. Ra Hà Nội, anh có gặp “anh hùng Nguyễn Văn Song”. Anh ta trở thành “anh hùng quân đội” với huyền thoại “Với một chiếc lưỡi hái cùn, anh ta đã đào hàng ngàn thước địa đạo và cất giấu cả tiểu đoàn. “ Anh vẫn tin như thế. Và cho tới khi đặt chân trở lại Củ Chi năm 1965 anh vẫn còn tin như thế. Nhưng chỉ sau khi đi với em đào một đêm, thì anh mới dội ngửa ra. Anh nghĩ rằng với cái liềm cùn đó, anh Song phải chết đi sống lại mười lần mới có thể đào xong hàng ngàn thước địa đạo kể trên. Anh Song ra Bắc ở Sư Đoàn 338, trốn về Nam rồi biệt tích.

Tác giả quyển sách này đã không biết rằng từ sau khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam ta, hầm bí mật và địa đạo ở Củ Chi nói riêng và ở khu IV nói chung hoàn toàn mất tác dụng. Anh nhắc lại em nghe, nếu em quên, hồi đầu năm 1967, Mỹ mở một cuộc hành quân lớn vô An Nhơn. B52 vùi lấp cả một khúc địa đạo gần xóm trại Bà Huệ. Những kẻ sống sót không biết đâu mà moi móc, đành để nguyên như thế cho các nạn nhân yên lòng nơi chín sưối với nấm mồ tập thể trên hai chục người của văn phòng Tham Mưu quận.

Sau đó, một cuộc hội nghị Tham mưu gồm có Tư Hải, Sáu Phấn ở H6 và tiểu đoàn 8 Pháo Binh, bàn việc vận tải hỏa tiễn HI2/ĐKB để pháo kích Đồng Dù. Biệt kích tìm được miệng địa đạo, quăng lưu đạn chết không còn một mống. May mắn lần đó anh bận họp chấn chỉnh tiểu đoàn, nếu không, anh đến họp thì đã tiêu tùng rồi.

Còn ở Bến Súc, tại bờ Rạch Xuy Nô, Biệt kích Mỹ tìm ra miệng địa đạo của Ban Mật Mã điện đài Quân Khu. Họ tóm trọn ổ trên hai chục mạng, lấy vô số tài liệu và hai chiếc máy thông tin.

Kể từ đó địa đạo trở thành nỗi sợ hãi khủng khiếp đối với cán bộ và bộ đội. Ông Trần Đình Xu, tức Ba Định, Tư lệnh Quân Khu thấy tình hình giao động của cán bộ, bộ đội nên đã ra lệnh cho bộ đội không được xuống địa đạo nữa. Vì xuống dưới đó là bị động hoàn toàn không còn tinh thần đâu mà chiến đấu nữa. Kẻ nào bất tuân sẽ bị kỷ luật nặng.

Tuy ra lệnh gắt gao như vậy nhưng chính ông trong lúc cùng đường mạt lộ ông cùng ban tham mưu khu cũng phải chui xuống địa đạo. Chẳng may, Mỹ đóng chốt trên đầu. Cô Là, xã đội phó Phú Mỹ Hưng chạy vắt giò lên Trảng Cỏ tìm anh và yêu cầu anh đem quân về đánh giải vây cho ông ở Bàu Đưng. Nếu không có anh lần đó ông và cả ban tham mưu đã an giấc ngàn thu dưới lòng đất rồi. Nhưng thoát chết kỳ đó, sau mấy tháng, ông lại đạp mìn mà tan xác với chức “Thứ trưởng Quốc phòng” của Chánh phủ ông Phát.

Trong những người “anh hùng” mà ông tác giả kể ra, có ông “Thiếu tá Năm Thuận” nguyên là một tên du kích sọc dưa đã bỏ làng chạy qua Phú An (Bình Dương) để làm nghề câu tôm chờ ngày rước vợ ở Ấp Chiến Lược ra sống chung. Ông “Thiếu tá” này đã giác ngộ cách mạng cao nên đã trở lại Tiểu đoàn II thuộc Trung đoàn Quyết Thắng của anh. Lúc đó quân số Tiểu đoàn chỉ còn trên một đại đội nên Thuận mừng húm khi được anh nhận cho làm lính lãi.

Bên cạnh đó còn có một ông thiếu tá khác đặc sắc hơn. Đó là “Thiếu Tá Quợt” chính ông này bị B52 vùi lấp còn ló cổ lên và chính anh với em cứu sống ở rừng Bàu Nổ xã Thanh Tuyền. Ông ta chưa hề đào một nhát cuốc địa đạo thế mà được ông tác giả đề cao là “Anh hùng đã chiến đấu mười năm ở Củ Chi bằng địa đạo.” Chiến đấu bằng cách nào? Cái ông này nổi tiếng nhờ cái tật ỉa chảy và mang chứng bịnh mắc thằng bố nói nhãm kinh niên, người xanh mét gầy nhom như khỉ già, ngồi đâu như chết đó. Mỗi lần xuống hầm hoặc xuống địa đạo là ông ta són trong quần. Mọi người rất sợ phải chui chung với ông.

Còn nhân vật “chiến đấu” dũng cảm hơn hết. Đó là ông Võ văn Kiệt, tức là “Tư Kiệt Chính ủy Quân khu”. Ông được Năm Ngố “bí thư Huyện ủy” Nam Chi nhường cho một khúc địa đạo để nương náu qua ngày tại Phú Hòa Đông. Nhắc tới việc này, chắc em không khỏi nhớ tới em Lệ tức Tám Lệ, một nữ công tác thành của “Ban Quân báo quân khu”.

Lệ thường ra vào Sài gòn, Tây Ninh… và về báo cáo các công tác, ăn ở nhờ địa đạo của ông Năm Ngô. Do đó Lệ lọt vào mắt ông “Chính ủy khu”. Ông ta bèn biến cô Lệ thành liên lạc riêng của ông ta, rồi trở thành “bạn” thân thiết dưới địa đạo. Chuyện này chắc em không biết đâu. Để chốc nữa anh nói lý do tại sao anh biết cái chuyện ly kỳ này.

Em Mô thân mến,

Anh hiện nay là kẻ lưu vong, lòng luôn luôn hướng về đất nước. Nhưng không bao giờ mơ trở về đất nước, họa chăng có một biến thiên vĩ đại bất ngờ. Viết đến đây anh không cầm được nước mắt. Nếu như anh với em có duyên phần với nhau nhỉ? Nếu thế thì cuộc đời chúng mình sẽ không biết ra sao…

Thôi chuyện đã qua lâu rồi. Em đã có chồng có con cả bầy, còn anh cũng sắp sữa làm ông nội. Nhưng những kỷ niệm lửa máu thật khó quên. Anh không khỏi xót xa ngậm ngùi khi nhìn thấy hình em trên trang sách. Sao trông em sầu não tang thương quá đổi. Có chuyện gì không vui trong đời em sao vậy? Đôi mắt buồn thảm của em đang ngó tới nhưng chính tâm tư của em lại nhìn ngược về dĩ vãng xa vời phải không? Một cái dĩ vãng còn loe lói trong đầu một đứa con gái mười tám tuổi được tặng danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ” toàn Miền Nam và cô nữ “Dũng sĩ” ấy đã yêu một chàng... nhưng chuyện lại không thành mặc dù cả hai người vẫn yêu nhau.

Có một lần ở đâu đó trên đất Củ Chi rực lửa vào một buổi chiều, anh có nói với em một câu và trước đó em đã tặng anh một bài thơ lục bát. Đến nay anh còn nhớ bài thơ này. Anh vốn là một người nhận được rất nhiều tình yêu, từ Hà Nội đến Mã Đà, từ Suối Cụt, suối Tha La đến Củ Chi Trảng Bàng nhưng để rồi chẳng giữ được mối tình nào cả. Bởi vì anh đâu có đứng lại lâu ở một nơi nào để mà nhận lấy. Cái chết đối với anh như bỡn như đùa. Đánh cả trăm trận, bị thương ngót chục lần, chết đi sống lại vài ba lượt. Cái Tiểu đoàn mà anh chỉ huy đã mất ít nhất là ba Tiểu đoàn trưởng. Anh là người thử tư. Nhưng anh là kẻ “thọ” nhất trong các vị Chỉ huy và với anh, nó được mệnh danh là Tiểu đoàn Thép. Bây giờ nhớ lại anh mới thấy rằng cả anh lẫn em đều bị bọn Bắc Kỳ lợi dụng mà không biết. Chúng thí mình như những con chốt lót đường.

“Chiến thắng” xong rồi, dân Nam kỳ mình được gì?

Là một người dân lưu vong anh hằng mong đất nước phồn vinh, dân tộc Tự do và những bạn bè cũ của anh, trong đó có em, được hạnh phúc. Nếu như không nhìn nét mặt của em trong sách thì anh đã có thể quên hết Hai Ngàn Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi của anh, nhưng khổ nổi là anh đã gặp lại em quá ư đột ngột.

Anh đã có lần nói với em về Lệ rồi. Lệ yêu anh cũng đột ngột như em. Rồi xa anh cũng đột ngột như em xa anh vậy. Lệ làm liên lạc thành rồi bị ông Tư Kiệt bắt về làm thư ký cho ông ta. “Thủ trưởng” và nhân viên lại ở chung một hầm. Ông ta quá ư ẩu tả. Để đề phòng việc tệ hại nhất rất có thể xảy ra, Lệ đã dùng giấy pơ luya để bịt cửa mình. Lệ đã nói hết với anh ở Suối Cụt. Lúc đó anh cũng đã chán nản trước tình hình càng ngày càng xấu ra. Lệ bảo thật với anh đây là lần gặp anh cuối cùng. Và Lệ đã cùng anh sống một đêm vợ chồng bên bờ suối… Một trái pháo mồ côi đã nổ rất gần lều, suýt chút nữa là hai đứa rửa chân lên bàn thờ. Hôm sau Lệ đi công tác và không về nữa.

Chuyện Lệ đi, dù anh biết trước nhưng không cản ngăn một lời. Ông ta đã thế thì nàng phải thế. Và anh nữa, anh cũng phải thế. Chứ còn biết làm thế nào? Anh nói vậy chắc em hiểu mà. Và từ chuyện này em hiểu ra những chuyện khác.

Sau khi Lệ đi rất lâu, em theo du kích quận đánh đồn Thái Mỹ. Trước khi xuất quân, đáng lẽ em phải hỏi ý kiến “Tiểu đoàn trưởng “ chứ. Nhưng em đã đi đánh liều. Nghe súng trận nổ anh lập tức dắt tổ trinh sát chạy đến. Cũng vừa lúc du kích võng em về. Anh đã biết trước các em không đánh nổi mà. Anh chỉ còn biết băng vết thương trên ngực của em bằng tấm áo của anh và cả tấm lòng xót xa quặn thắt của anh nữa. Ngày nay mỗi lần nhìn tại vết sẹo trên da thịt em, chắc em nhớ lại lúc băng bó cho em, anh đã nói với em câu gì.

Sau đó ít lâu anh nghe tin em bị du kích Bàu Me ở Trảng Bàng bắt trói vì em đang mang AK trên đường ra Ấp Chiến Lược hồi chánh. (thì cũng như “anh hùng” Nguyễn văn Song trốn về Nam. ) Thế nhưng trong chương sách kể lể chiến công của “Nữ dũng sĩ gan góc” Bảy Mô ông tác giả đã giao cho nàng một “Công tác quan trọng ở vùng biên giới Việt Miên” cho đến khi hòa bình.

Đúng ra, em có đi công tác ở biên giới thật, nhưng là công tác cấp dưỡng đặc biệt cho “Bà Phó Tư lệnh” Ba Định. (Vì là một “Dũng sĩ” nên du kích không dám đụng tới em, chứ nếu là ai khác thì chúng đã bắn chết ngay rồi.) Chuyện Củ Chi dài quá em nhỉ! Định ngưng mấy lần nhưng ngưng chưa được.

Còn một “ông anh hùng” khác cũng bị nêu tên trong sách này. Đó là Nguyễn Thành Linh. Một tên Bắc Kỳ vô Củ Chi và chiến đấu bằng địa đạo trong vòng năm năm liền. Hắn được tác giả mô tả như một “kiến trúc sư của địa đạo chiến”. Vậy ra trước khi hắn vác mặt vô đây, dân Củ Chi không biết đào hầm hố hết? Nhưng địa đạo hay hầm bí mật đâu cần phải kiến trúc sư mới làm được. Cuộc sinh tồn mọi người đẻ ra sáng kiến để tự bảo vệ thôi: Anh ở Củ Chi năm năm có thấy tên nào Nguyễn Thành Linh đâu! Nhưng anh biết hầu hết tất cả địa đạo Củ Chi. Chỗ nào anh cũng biết miệng địa đạo, hoặc đã xuống địa đạo thử trước rồi. Anh đã lội nát Củ Chi không sót một mảnh rừng nào mà. Tất cả những tên làng, tên ấp tên người trong quyển sách này là thật. Đây là sự trần truồng không tiểu thuyết hóa một chút nào. Anh có thể điểm qua tất cả địa đạo trong quận Củ Chi cho em nghe: Bến Dược 200m, đồn điền Sinna 500m, Hố Bò 200m, Phú Hòa 200m, Lộc Thuận 200m. Gần đồn điền Sinna 150m, Trà Dơi 150m, Xóm Trại Giàn Bầu 100m, Xóm Bàu Hưng 300m, Xóm Thuốc 200m, 200m, Xóm Chùa 200m, ấp Bến Mương 100m, Góc Chàng 500m, Cây Điệp 150m, Nhuận Đức 100m, 100m, Bầu Tròn 100m. Bào Cạp 100m, 50m, Bầu Diều 100m, Ba Gia 100m, Bên Cỏ 100m, Đường làng II 100m, 50m. Hoàn toàn không có cái vòng đai sắt nào chung quanh hoặc dưới đít Đồng Dù cả. Ông Phạm Sang chỉ có thể nghe Bob Hope hát ở Đồng Dù từ trong hang ếch của ông ta và trong trí tưởng tượng thôi.

Sở dĩ có danh từ vòng đai thép bao bọc Đồng Dù, như em đã biết là do ông Tám Quang, “trưởng phòng chính trị quân khu” bịa báo cáo về R cùng với sự thành lập đội nữ du kích Củ Chi của tụi em với Bảy Nê, Út Nhớ chẳng qua để quay phim, chụp hình và “đài giải phóng” tuyên truyền mà em đã cười khi ngồi tâm sự với anh lúc mới quen nhau. Chớ đội nữ có đánh chát cái gì. Toàn do ông Tám Quang sáng tác và “đài giải phóng” phóng đại.

Nếu như có một hệ thống địa đạo Củ Chi thôn liền thôn, xã liền xã thì tại sao khu ủy khu IV chạy tuột lên tận Preyveng để ăn hút. Me xừ Tư Kiệt còn sống sờ sờ đó hãy bớt nói phét để khỏi bị cô Tám Lệ nhét mồm bằng giấy… pơ luya.

Chúng ta hãy cùng nhau cúi hôn mảnh đất Củ Chi đau khổ của chúng ta hiện nay đang nhục nhã vì bị bọn Cộng Sản đem ra làm trò bịp thế gian.

Cộng Sản nghĩa là đại bịp. Chúng bịp nhân dân, bịp thế giới và tự bịp chính mình. 

Anh muốn tự ngưng bút ở đây nhưng thấy còn nhiều sự thực bị bưng bít nên viết tiếp. Hai ngàn trang sách mà anh viết ra đây sẽ vạch trần bộ mặt láo toét kinh hoàng của bọn Cộng Sản Hà Nội mà cả anh lẫn em đều là nạn nhân. Anh muốn nhắc chúng nó rằng: Thời kỳ Mỹ đóng chốt Đồng Dù, Củ Chi chỉ là một bãi tha ma không một bóng người thấp thoáng, không một gốc cây còn đứng nguyên, không một tiếng chó sủa gà gáy. Tất cả xã ủy đều chết, bị bắt, hồi chánh hoặc ngưng hoạt động. 

Ông Út Một Sơn bí thư đầu tiên Củ Chi bị pháo Đồng Dù bắn lắp hầm chết ở Bàu Lách Nhuận Đức năm 1966. Chắc em còn nhớ chớ? Nếu địa đạo Củ Chi nối liền thôn xã (theo ông tác giả ngốc này mô tả thì nó chỉ kém đường xe điện ngầm ở Mạc Tư Khoa chút thôi) thì sao quận Củ Chi lại cắt ra làm hai: Nam Chi, Bắc Chi? Là vì cán bộ không đi lại được giữa hai phần đất này. Người ở đâu nằm chết ở đó. Mỗi sáng lóng ngóng chờ “chụp dù, nhảy dò, xe tăng càn” để lũi. Nhưng cũng không có đất lũi. Chỉ còn một cách độc nhất là làm hầm. Mỗi ông bà có một cái hầm bí mật (nên nhớ hầm bí mật chỉ là một cái hang ếch chứ không phải địa đạo và không có hầm bí mật nào ăn thông ra địa đạo cả ). Sư sợ hãi chết chóc làm tê liệt mọi ý chí. Cán bộ chỉ mong bị bắt sống cho khỏe thân. Cho nên họ ngồi trên miệng hầm ngụy trang với vài cành lá sơ sài như những người câu tôm câu cá ở bờ sông vậy. Do đó có danh từ “ngồi thum. “ Nhưng ngồi thum trong vùng căn cứ cũng không an toàn vì bị máy bay trực thắng cá rô hay quạt hoặc bị ăn pháo bầy dọn bãi trước khi Mỹ đổ chụp. Nên các bà Năm Đang, Hai Xót, khu ủy, quận ủy mới ra tá túc nhà dân ở Ấp Chiến Lược để “chạy lan” như chuột mất hang. Chạy lan có ngày cũng chết như trường hợp của cô Tư Bé, quận đội phó bị lính Mỹ bắn chết ở Đồng Lớn. Hay ông Tám Châu bí thư quận bị pháo bắn mất đầu ở Bố Heo.

Chắc em biết rõ sự chia cắt của các xã trong quận vì tình trạng “ngồi thum” và “chạy lan”. Xã Trung Lập đẻ ra Trung Lập thượng, Trung Lập hạ, An Nhơn nứt thành An Nhơn Đông, An Nhơn Tây, Phú Hòa cắt thành Phú Hòa Đông, Phú Hòa Tây v. v...

Tội nghiệp cho Madeleine Riffaud, Wilfred Burchett và mấy ông Giáo sư Liên Xô đã vượt hiểm nguy vô tận đất Củ Chi và rừng Con Mên để coi “giải phóng đánh Mỹ”! Tội nghiệp, vô tới đây họ chỉ ăn bom và lũi như chuột đến nổi đòi về ngay không biết cái địa đạo là gì. Cũng may cho bọn anh lúc đó. Nếu cặp ký giả ba sồn này ở lại lâu hơn và họ đòi đi nghỉ mát dưới địa đạo ngay ở đít Đồng Dù thì rắc rối to cho các anh rồi.

Đến nay mụ đầm già không biết gì kia đang ở đâu, sao không trở lại xem địa đạo Củ Chi do kiến trúc sư Nguyễn Thành Linh mới vừa xây dựng năm 1985? Nhớ tới W. Burchett anh không khỏi phì cười. Lão ta nằng nặc đòi xuống địa đạo và xem các dũng sĩ bố trí địa đạo chiến cho hắn quay phim. Anh và Tư Linh hồn vía lên mây. Địa đạo ở đâu mà coi? Kể từ năm 1965 trở đi, sau khi Củ Chi ăn dưa hấu B52 vài trận, ai cũng thấy những lỗ bom sâu từ sáu thước đến mười một thước cho nên không ai dám cho rằng địa đạo là bất khả xâm phạm nữa. Cực chẳng đã mới chui hầm bí mật thôi.

Tư Linh vốn là cán bộ địch vận, nhanh trí bảo Burchett: “Người đồng chí hơi to, vậy để chờ vài hôm tôi cho làm nắp rộng để đồng chí xuống mới lọt. “ Sau đó khất lần rồi cho qua luôn. Còn vụ xem “địa đạo chiến” thì anh cho “đội dũng sĩ” của em bịp hắn một cú thần tình, nhớ không? Hắn rất phục “đội dũng sĩ”. Đến nay hắn đã chết rồi, hắn vẫn chưa biết địa đạo là cái gì.

Em Mô thân,

Chuyện Củ Chi, chuyện anh và em nhiều vô số kể. Nhắc chuyện này lại nhớ chuyện kia. Nhắc Hố Bò nhớ Góc Chàng, nhắc Bến Mương nhớ Suối Cụt, nhắc Thái Mỹ nhớ Đồng Dù, toàn những kỷ niệm máu lửa không thể quên được. Nhớ cảnh nhớ người khôn xiết. Ba bốn lần anh bị thương ở Củ Chi đều có em băng bó hoặc tới y xá săn sóc. Anh đã tựa đầu vào vai em, anh đã nằm trên xuồng do em bơi qua sông Sài Gòn, anh đã cùng em ngồi ở rừng Lộc Thuận ngắm pháo sáng tua tủa trên nền trời Củ Chi. Anh và em đã từng hái những trái sầu riêng trong vườn sau nhà em và ngồi ở bậc đá bên con suối nhỏ. Anh thì ăn sầu riêng còn em đàn bản Đứt Đường Tơ cho anh nghe. Anh bảo em: “Tơ đâu có đứt mà đàn bản ấy.”


Chẳng ngờ đó là bản đàn định mệnh của chúng ta. Bây giờ “Tơ đã đứt” và không phương nối lại, đàn một nơi dây đàn một ngả.

Anh chúc em hạnh phúc. Hy vọng một ngày rất gần, chúng ta sẽ gặp lại nhau và sẽ về thăm lại Củ Chi dưới một khung trời mới.

Viết xong lúc tượng con quỷ chúa Lenin bị giật sập ở Mút-cu-oa

Dương Đình Lôi
Hoa Kỳ, ngày 24 tháng 8 năm 1991



 

(Trích: Nhà văn Xuân Vũ - 2000 Ngày đêm trấn thủ Củ Chi: 1-5)

Quà Xuân



Sáng thứ bảy nhưng Hạnh vẫn dậy sớm như những ngày đi làm. Nàng không có thói quen ngủ nướng, một nếp gấp thành hình từ thuở còn bên quê nhà. Mỗi sáng, đúng năm giờ khi chuông nhà thờ rộn rã ngân vang, mẹ nàng đánh thức mọi người dậy đi lễ. Mẹ muốn cả nhà cầu bình an cho bố đang miệt mài trên những trận địa xa xăm.

Tung chăn ra khỏi giường, Hạnh bắt đầu công việc đầu tiên trong ngày, pha cà phê, như một nghi lễ không thể bỏ. Hạnh mới dọn đến đây chưa được một năm. Nàng rất hài lòng mua được căn condo có hai ban công, một nhìn ra biển, một nhìn xuống courtyard. Bốn dãy nhà ba tầng được xây cất theo kiến trúc Địa Trung Hải. Hạnh rất thích địa thế khu chung cư và phải chờ một thời gian khá lâu để làm chủ một căn ở đây.

Cầm ly café Hạnh ra ban công nhìn xuống courtyard. Giờ này, bên kia sân, phía tay trái của Hạnh, cũng có một khung cửa sổ sáng đèn.

Ông Đạt, chủ nhà, cũng có thói quen dậy sớm như Hạnh. Ông có một dáng dấp phong lưu, đi đứng khoan thai, ăn nói từ tốn. Thỉnh thoảng Hạnh gặp ông ngoài bãi biển và trao đổi vài câu chuyện vu vơ.

Chuông điện thoại reo vang. Hạnh vội vào trả lời. Tiếng Thái, cô em nàng bên Florida:

- Hạnh ơi, "mợ" đang làm gì đó?

Chị em Hạnh thường xưng hô mợ mợ tôi tôi với nhau. Vừa có vẻ đú đởn bạn bè, vừa gần gũi thân tình.

- Mới bảy giờ sáng- Hạnh trả lời- bảnh mắt ra mợ gọi tôi làm gì vậy?

- Bên đây là mười giờ của người ta rồi. Gọi để báo cho mợ hay năm nay tôi và Kevin sẽ về thăm bố mẹ từ hôm 28 tết. Mợ đã nghĩ ra món quà gì để biếu ông bà "via" chưa?

- Tôi nghĩ mãi mà chưa ra. Khó thiệt. Hay là bọn mình "triều cống" bì thư để các ngài tùy nghi xử dụng? Nhất cử lưỡng tiện, mợ nghĩ sao?

- Cũng được.

Quen thói bông lơn chọc ghẹo, Thái cười to:

- Chia ra làm hai, cân đong cho đều kẻo lại kiện cáo.

Hạnh phì cười:

- Con khỉ. Mợ lúc nào cũng bỡn cợt.

Hạnh cho Thái hay năm nay nàng sẽ không về nhà cha mẹ để cùng làm bánh chưng với gia đình, một tục lệ hàng năm, vì nàng phải tham dự bữa tiệc tất niên do nhân viên Á Châu trong sở tổ chức. Tuy nhiên, Hạnh sẽ về Little Saigon ăn tân niên.

Gia đình Hạnh sang Mỹ từ những ngày cuối cùng của Sàigòn. Lúc đó bố Hạnh - một công chức cao cấp - mang theo vợ và năm người con theo sự dàn xếp của các cố vấn Mỹ. Di cư từ Bắc vô Nam, rồi từ Nam sang Mỹ, ông Quang, bố Hạnh, đã phải chấp nhận nhiều thay đổi lớn lao, nhưng có một điều ông không thích thay đổi, đó là chuyện ông cứ muốn con cái gọi ông và vợ bằng danh xưng "thầy mẹ". Dạo còn bên quê nhà Hạnh cho danh xưng đó quá "lỗi thời", không hạp với những tiếng "ba mẹ" hay "papa ma măng" thường nghe qua cửa miệng bạn bè cô. Nhưng vì ông cương quyết nên chị em Hạnh phải răm rắp tuân theo. Khi đã ổn định trên quê hương mới, và tôn trọng sự riêng tư của cha mẹ nên mấy chị em Hạnh hùn nhau mua biếu ông bà một căn nhà tương đối rộng rãi tại thành phố Irvine, California. Căn nhà đủ chỗ cho con cháu về tụ tập trong những ngày giỗ, tết hay tiệc tùng này nọ. Thái và Kevin sống ở Florida. Hương, Kỳ, Thi đều ở gần cha mẹ, chỉ cách một giờ lái xe. Hạnh làm việc tại San Francisco với chức giám đốc một chi nhánh ngân hàng.

Mười năm trước Hạnh yêu và kết hôn với Thuận, một sĩ quan không quân Hoa Kỳ. Ông Quang không mấy thích cái mác lính tráng của Thuận vì ông đã quá chán ngán chiến tranh và đời lính. Nhưng ông mừng là Hạnh lấy chồng người Việt, trong khi Thái làm ông bực bội một thời gian dài lúc cô quyết định lập gia đình với Kevin, một người Mỹ. Đám cưới Thái ông không tham dự lấy cớ ốm đau làm cả gia đình buồn phiền. Ai ngờ sau này Kevin lại là người ông thương và quí mến nhất trong những người rể và dâu. Vì anh con rể Mỹ chịu học tiếng Việt, chịu học đánh mạt chược để đấu với ông.

Chẳng may cho Hạnh, hai năm sau, Thuận đã tử nạn trong một lần không tập. Nàng chao đảo một thời gian dài sau cái chết của chồng. Nhưng rồi công việc và những chuyến công tác thường xuyên làm Hạnh nguôi ngoai dần. Hạnh đã gặp gỡ nhiều người đàn ông có địa vị tương xứng. Nhưng theo nàng, những người đó có lối suy nghĩ và cuộc sống quá thực tế và vật chất, không thích hợp với tâm hồn nhạy cảm của nàng. Họ tìm đến nàng vì nàng là sự an tâm trong những bài toán kinh tế. Sau mấy cuộc hẹn hò tẻ nhạt, Hạnh chỉ muốn thu hẹp cuộc sống cho riêng mình, tuy vẫn mong chờ một tâm hồn đồng cảm. Nàng không đánh giá người đàn ông trên những thành công vật chất.

Đầu bên kia, như chợt nhớ, Thái hỏi Hạnh:

- À, người tình không chân dung của mợ lúc này tới đâu rồi?

- "Vẫn không chân dung". Hạnh cười nhỏ. "Nhưng tình hết biết. Mai mốt gặp nhau tôi sẽ báo cáo đầy đủ".

- Công nhận mợ lãng mạn không ai bằng. Đú đởn với một anh không mặt mũi mà tình thì tôi không hiểu tình cách chi?

Họ vừa nói đến một người đàn ông Hạnh quen trên internet mấy tháng nay.

Người đó là Nguyên Thủy.

Hạnh mĩm cười nghĩ đến những gì đang diễn ra giữa nàng và người đàn ông tài hoa. Một hôm Chúa Nhật không bận rộn, bạn bè không kêu réo, Hạnh lên internet dạo chơi trong mấy websites xem có gì lạ. Trong lúc đảo lượn, nàng tình cờ "chạm trán" Nguyên Thủy và làm quen. Từ việc làm quen Hạnh tìm tòi thêm về ông, và rất thích thú với lối viết sâu sắc của ông trong nhiều đề mục Hạnh quan tâm. Truyện ông viết rất lạ, rất phóng khoáng. Ông có lối viết mới, gọn gàng, đưa người đọc đến những tình tiết biến chuyển linh động tài tình. Hạnh thích lối viết không thừa chữ nhưng thừa sức truyền đạt của ông. Nguyên Thuỷ cũng là một nhà bình luận có tầm nhìn sâu sắc và lập luận vững vàng. Hạnh biết danh Nguyên Thủy vì ông đã nổi tiếng từ lâu. Nhưng chưa bao giờ gặp mặt. Đơn giản là nàng không quen ai trong thế giới thơ văn.

Khi biết Nguyên Thủy vừa xuất bản cuốn tiểu thuyết mới, Hạnh liền đặt mua. Nhận được sách, Hạnh đọc xong chỉ trong một cuối tuần. Rồi Hạnh email cho ông.

- Thưa ông, tôi là một "fan" rất hâm mộ cuốn Người Vợ ông vừa ra mắt. Kết cuộc buồn quá. Ông đã "giết" người chồng thay vì cho anh ta được sống phần cuối đời với mối tình vừa tìm lại. Đọc xong tôi buồn suốt ngày. Ông thích thê thảm hóa cuộc đời?

Nguyên Thủy trả lời:

- Cảm ơn cô đọc sách và cho tôi lời bình luận. Rất tiếc truyện làm cô buồn. Về kết cuộc của "Người Vợ", tôi thích tạo những cái bất thường, nhưng không phi thường. Nếu người chồng sống, thì chuyện quá bình thường, không có gì cho độc giả phải suy nghĩ. Cô sẽ không buồn suốt ngày và sẽ không có thư cho tôi. Mong cô cho phép tôi được tiếp tục trao đổi quan niệm với cô trong những ngày sắp tới.

- Tôi nhận xét là những người đẹp trong truyện của ông thường là những người phụ nữ có làn da trắng và đôi chân dài.

Hồi âm:

- Thưa cô, chưa ai nói cho tôi biết tôi bị "cầm tù" bởi những người? đàn bà như thế. Không ai thay đổi cảm quan của mình nhanh chóng, nhưng tôi hứa sẽ không lộ liễu những chi tiết này trong những tác phẩm sắp tới.

- Tôi không dám mong ông thay đổi cảm quan hoặc lối viết, vì đó là đặc tính rất quyến rũ của ông. Nhưng theo tôi, người đàn bà đẹp ngày nay ngoài đôi chân dài, nàng nên có một làn da rám nắng khỏe mạnh.

- Có lẽ tôi chưa gột bỏ được con người cũ kỹ của mình. Có quá khả ố không nếu tôi muốn được biết thêm về cô, một độc giả đã thực sự đọc tôi như lời cô nói?

Hạnh "mở đường":

- Tôi có một điều kiện. Khi ông tiết lộ một chi tiết cá nhân ông, tôi sẽ đáp lại một chi tiết tương tự.

- Xin khai lý lịch: Năm nay tôi 62 tuổi. Đã có vợ và hai con, một trai một gái. Nhưng bây giờ một mình.

- Đọc văn của ông, tôi nghĩ ông trẻ hơn.      

- Cám ơn cô, Xin cô "match" câu trả lời. Trò chơi của cô đang bắt đầu hấp dẫn, thưa cô.

- Tôi kém ông mười hai tuổi. Góa phụ. Sanh ở Sàigòn nhưng quê Hà Nam. Không phải Hà Đông.

- May quá! Tôi đang vẽ tranh Tố Nữ. Mong cô giúp tôi vẽ xong phần còn lại. Tôi vẽ nàng như một tiểu thư đài các, đôi mắt thoáng buồn mùa thu. Tố nữ đẹp như tiên, dù tôi chưa thấy tiên bao giờ.

Hạnh biết Nguyên Thủy đang tán, một sự tán tỉnh kín đáo khôn ngoan.

- Tôi cũng chưa thấy tiên bao giờ.

Sau đó, Hạnh không email cho ông một tuần lễ vì bận đi công tác xa. Hôm về nhà, nàng gửi ông một email, nhưng dùng sai font. Nguyên Thủy hồi âm:

- Cả một tuần lễ mong thư cô, lúc nhận thư thì cô lại viết tiếng Nga. Làm ơn viết lại thư khác. Tôi rất thích đọc thư cô, thưa cô Hạnh Phúc.

Hạnh thích thú được ve vãn.

- Ông thưa gửi làm tôi cảm thấy già.

- Cô" là danh xưng một người anh gọi em gái của mình. Tôi có được cái vinh hạnh "nhận vơ" một người em là cô hay không?

- Hạnh rất vui có người anh nổi tiếng như ông. Trong thư "tiếng Nga" Hạnh hỏi ông đã vẽ xong tranh tố nữ chưa?

- Tôi, à không, anh vừa vẽ xong. Tố nữ đẹp lắm. Khôn ngoan bảo anh cứ để nàng trong tranh, nhưng lòng tham lại bảo anh mời nàng ra khỏi tranh vẽ. Tham lam là "passion" bản chất con người trong lúc khôn ngoan chỉ là thái độ dè dặt, learned behavior, học được từ kinh nghiệm.

Hạnh thú vị với cái trò chơi internet giữa nàng và Nguyên Thủy. Không nhìn thấy nhau, không biết nhau là ai, người ta trở nên bạo dạn và buông thả hơn trong lúc diễn đạt tư tưởng. Nguyên Thủy khéo léo đi từ "tôi và cô" đến "anh và em" một cách trôi chảy. Cứ như vậy những giòng email con thoi đã đem Hạnh lại gần Nguyên Thủy hơn. Ông bảo từ ngày "quen" Hạnh, ông thấy như mình đi ngược thời gian mười năm. Ông tâm sự:

- Anh đang được hưởng những giờ phút rất thơ mộng tưởng không bao giờ còn tìm lại được. Anh mong và thèm thư Hạnh như người ghiền nhớ thuốc. Anh đang tán em nhưng lại lọng cọng như một anh giáo làng. Anh yêu tâm hồn nhạy cảm mong manh của em. Em đã cho anh thấy những rung động thầm kín của một thiếu phụ học thức.

Cứ như vậy, Nguyên Thuỷ dùng sợi dây chữ nghĩa cột cổ tay kéo nàng lại gần ông từng ngày.

Một hôm, Hạnh lên online tìm mua một cuốn sách tiếng Pháp nhưng không một website nào có sẵn. Buổi tối, Hạnh email cho Nguyên Thủy về cốt truyện, và khoe là nàng đang kiếm mua nguyên bản.

Ông trả lời:

- Anh cũng chưa đọc, nhưng quen một người bên Pháp. Để anh nhờ mua rồi mình cùng đọc.

*
Chiều cuối năm, Hạnh ra biển đi dạo. Nàng mặc quần jean đen, áo sweater mầu rượu chát. Mái tóc bồng bềnh phủ trên bờ vai thon gọn. Nhiều cặp mắt nhìn theo, nhiều cái đầu quay lại lúc nàng đi qua. Hạnh biết mình đẹp.

Mặt trời đang đắm mình xuống biển xanh từ chân trời ngũ sắc phía xa. Hạnh yêu vô cùng những khoảnh khắc ngắn ngủi của hoàng hôn lúc mặt trời vụt biến vào lòng biển, để lại một màn trời tím thẫm ửng đỏ. Theo Hạnh, đó là một bức tranh tuyệt vời của tạo hóa, giữa ngày và đêm, giữa sáng và tối, giữa mênh mông và sâu thẳm.

Đi ngang một hàng dừa Hạnh thấy ông Đạt ngồi đọc sách trên chiếc ghế đá. Nhìn thấy nàng, ông mỉm cười, gật đầu chào. Hạnh cười đáp lễ. Thấy cuốn sách ông vừa đặt xuống ghế, nàng đứng lại và nhìn ông bối rối. Đạt lên tiếng:

- Chào Meggie. Lâu quá không có dịp nói chuyện với cô. Cô vẫn khỏe?

- Cám ơn ông. Tôi vẫn thường. Sắp tết rồi, năm nay ông ăn tết ở đâu?

Đạt ngồi xích qua một bên nhường chỗ cho nàng. Mắt ông thoáng buồn, giọng ông ẩm ướt:

- Tôi sẽ ở nhà, chờ các con về thăm. Họ cũng vẫn phải đi làm bình thường. Còn cô?

- Tôi sẽ về Little Saigon ăn tết với thầy mẹ tôi.

Đạt nhìn Hạnh, vẻ ngạc nhiên thích thú:

- Cô vẫn gọi ông bà thân sinh bằng thầy mẹ? Tôi thích hai tiếng đó lắm. Nghe rất "Bắc", rất Hà Nội.

Thấy nàng liếc nhìn cuốn sách trên ghế, ông bảo:             

- Tôi đang đọc cuốn tiểu thuyết của một nhà văn Pháp.

Hạnh bào chữa cho thái độ lộ liễu của mình:

- Tôi thấy hình bìa trình bầy khá lạ. Lâu quá tôi không đọc tiếng Pháp, không biết có còn nhớ gì không.

Đạt sốt sắng:

- Tôi có thể cho cô mượn. Tôi mua một cuốn cho người bạn, một cuốn cho tôi.

Tim Hạnh đập mạnh. Nàng cố giữ vẻ bình thản. Nàng tin chắc mình đã có chân dung của người đàn ông "không chân dung".

Cố giấu niềm vui, Hạnh nhìn Đạt qua ánh mắt ấm áp.

- Vâng, khi nào ông đọc xong vui lòng cho tôi mượn. Bây giờ xin phép ông cho tôi tạm từ giã. Hy vọng được gặp ông vào ngày đầu xuân để chúc tuổi và nhận tiền lì xì.

Hai người cùng cười, tiếng cười dòn tan.

Hạnh bước những bước chân chim về nhà, náo nức với một ý tưởng vừa đến trong đầu.

Tối đó, Nguyên Thủy email cho nàng:

- Sách đã về. Anh làm quà tết cho em. Tố Nữ cho địa chỉ để anh gửi tặng.

- Tố nữ sẽ đến nhận quà, anh không cần gửi.

- Hy vọng em không cho anh tranh vẽ.

- Em không phải họa sĩ nên không biết vẽ. Chỉ sợ Tố nữ sẽ làm anh thất vọng.

- Dù Tố Nữ có xấu như ma lem thì anh cũng đã bị nàng chinh phục từ lâu. Em thừa biết vì sao.

- Vậy Tố Nữ sẽ ra khỏi tranh để đón giao thừa với anh.

- Hạnh, em nói thật, hay anh mơ?

- Anh không mơ. Nhưng mơ cũng là một phần đời thật, phải không anh?

- Cứ cho là anh đang sống trong thế giới Bồ Tùng Linh. Nhưng Tố Nữ hóa thân thế nào?

Hạnh bảo Nguyên Thủy cho nàng số điện thoại cell rồi căn dặn:

- Em sẽ gọi anh khi em sẵn sàng.

- Em làm anh hồi hộp vô cùng. Từ đây tới giờ hẹn, bao nhiêu giây là bấy nhiêu lần anh van vái cho mộng thành thật.

*
Trong lúc chờ đợi, Nguyên Thủy như sống lại bốn mươi năm về trước. Ông dọn dẹp nhà cửa cho tươm tất, ông mua hoa về chưng. Ông chẳng viết được gì, vì đầu óc ông không còn chỗ trống cho chữ nghĩa.

Đêm ba mươi tết rồi cũng tới sau bao nhiêu khắc khoải mong chờ. Tim ông nhảy lỗi nhịp khi chiếc cell phone ông luôn mang trong người réo rắt điệu nhạc vui tươi. Một con số lạ hiện trên màn hình. Hồi hộp, ông lên tiếng, rất nhẹ nhàng:

- Nguyên Thủy.

Giọng Bắc thánh thót bên tai ông:

- Tố Nữ đang chờ anh.

Nguyên Thủy run giọng:

- Em ở đâu?

Hạnh thì thầm:

- Em đang ở gần anh. Rất gần. Anh xuống courtyard đón em. Em sẽ chờ anh bên hồ Vệ Nữ. Nhớ giữ cell phone để "nhận lệnh".

Không chậm trễ, chỉ vài phút ông đã xuống đến sân, cell phone bên tai như lời dặn. Mấy ngọn đèn đêm soi rõ hồ nước. Ông đảo mắt kiếm tìm. Hoàn toàn im lặng. Ông bước đến bên hồ Vệ Nữ như kẻ mộng du. Tiếng Hạnh êm ái:

- Anh nhìn ra hướng biển và quay lại khi em gọi.

Nguyên Thủy ngoan ngoãn nghe lời.

Ngoài kia, biển mù đen, thấp thoáng ánh đèn nhấp nháy của những con thuyền bồng bềnh xa xa. Ông lắng nghe và chờ đợi những bước chân. Mùi hương ngọc lan phảng phất đâu đây. Ông nhớ có lần Hạnh bảo nàng rất yêu loài hoa mộc mạc đó.

Tiếng Hạnh thỏ thẻ trong phone:

- Anh đang nghĩ gì?

- Anh nghĩ em lạ thường và thi vị.

- Tắt phone và quay lại với em.

Nguyên Thủy vội vã quay mình. Dưới anh đèn đêm mờ ảo, một dáng người mảnh mai trong chiếc váy dài mầu nhạt từ từ tiến lại phía ông. Ông bước nhanh về phía nàng.

Mùi hoa ngọc lan từ nàng bay đến quấn vào người ông như những giải lụa vô hình. Nàng dừng lại cách ông chừng bốn bước, đủ để cho ông nhìn rõ mặt nàng. Ông kêu lên nho nhỏ:

- Meggie?

- Tố nữ. Đừng gọi em là Meggie.

Hạnh lao đến vòng tay ông mở rộng.

Nguyên Thủy ôm chặt nàng trong tay, thì thào trong nhịp tim rộn ràng:

- Tạ ơn em, món quà quí báu nhất trên đời.

Hạnh ngước nhìn ông, đôi mắt lấp lánh niềm vui. Ông đặt lên môi nàng nụ hôn trân trọng. Mùa xuân vừa đến.

Trong lòng người.

Và không gian bao la.

Huyền Thoại Thịnh Hương

Blog Archive