Tuesday, November 3, 2026

Chiến dịch "Bảo vệ lá phiếu"

Bộ Tư pháp Mỹ hôm nay thông báo mới bắt giữ thêm sáu cá nhân không phải là công dân Mỹ vì hành vi bỏ phiếu trái phép tại tiểu bang California. Tổng số người bị bắt trong chiến dịch "Bảo vệ lá phiếu" hiện đã lên tới 34 trường hợp.

Theo luật liên bang, nhóm người này hoàn toàn không có quyền ghi danh hoặc được quyền bỏ phiếu bầu cử. Họ bị cáo buộc đã gian lận khi tích vào ô khai báo là công dân Mỹ và tiến hành bỏ phiếu bất hợp pháp trong các kỳ bầu cử trước.

Như vậy chính quyền California đã làm ngơ cho họ vi phạm luật, họ chỉ bị bắt khi Bộ Tư pháp Hoa Kỳ ra tay.

FB Uyen Vu
Thành tích của FBI trong giai đoạn từ ngày 1/1/2025 đến 30/09/2026 dưới thời Giám đốc Kash Patel, so sánh với giai đoạn 21 tháng trước đó:

Các chỉ số an ninh và giảm tỷ lệ tội phạm

• Giảm 30% tỷ lệ giết người trên toàn quốc.
• Giảm 19% số ca tử vong do quá liều chất kích thích/thuốc phiện (Opiate).
• Giải quyết dứt điểm tồn đọng mẫu thử DNA: Từ 1.8 triệu mẫu về mốc 0 (ZERO).
Thống kê số lượng bắt giữ tội phạm
• 71,650+ tội phạm bạo lực bị bắt giữ (tăng 114%).
• 47,071 tội phạm bạo lực và thành viên băng đảng bị bắt giữ (tăng 67%).
• 6,002 tội phạm xâm hại trẻ em và kẻ buôn người bị bắt giữ (tăng 13%).
• 2,811 tội phạm lừa đảo bị bắt giữ.
• 6 tên tội phạm lừa đảo nằm trong danh sách "Truy nã gắt gao nhất" (Most Wanted) bị bắt giữ, với tổng thiệt hại do lừa đảo gần 2 tỷ USD.
• 10 tội phạm bỏ trốn trong danh sách "10 tên bị truy nã gắt gao nhất" của FBI bị tống giam (tăng 150% so với 4 năm thuộc chính quyền tiền nhiệm).

Giải cứu nạn nhân và thu giữ tang vật
• 4,616+ kg chất độc Fentanyl bị thu giữ (tăng 32%), lượng chất độc này được thống kê là đủ để cướp đi sinh mạng của hơn 350 triệu người Mỹ.
• 24,351 vũ khí được thu hồi (tăng 47%).
• 13,000+ trẻ em là nạn nhân được xác định danh tính hoặc tìm thấy vị trí giải cứu (tăng 62%).

Xã hội đã an toàn hơn nhờ các nỗ lực này

FB Uyen Vu


Tòa phúc thẩm Liên bang Khu vực 9 (Ninth Circuit) vừa ra phán quyết về vấn đề cử tri đi bầu cử không phải là công dân Mỹ, với tỷ lệ bỏ phiếu 6-5.

Đây là vấn đề liên quan đến nỗ lực của Bộ Tư pháp, nhằm điều tra và ngăn chặn khả năng người không phải công dân Mỹ bỏ phiếu trong bầu cử liên bang 2026, đặc biệt tại California và Washington.

Bộ Tư pháp đã gửi danh sách khoảng 20.000 người ở California và hơn 400 người ở Washington bị định danh là không phải công dân Mỹ cho quan chức bầu cử các tiểu bang, yêu cầu họ tách riêng phiếu bầu của những người này để kiểm tra quốc tịch trước khi kiểm phiếu.

Một số quan chức bầu cử từ chối hợp tác.
Một thẩm phán liên bang ở San Francisco đã ra lệnh tạm thời cấm Bộ Tư pháp tiếp tục gây sức ép và đe dọa truy tố các quan chức bầu cử nếu họ không tuân theo.

Diễn biến tại Tòa phúc thẩm Liên bang Khu vực 9 hôm nay cho biết:

Một hội đồng 3 thẩm phán đã huỷ bỏ lệnh cấm của thẩm phán cấp dưới (có lợi cho Bộ Tư pháp).

Toàn thể Tòa sau đó nhanh chóng hủy quyết định của hội đồng 3 thẩm phán và phục hồi lệnh cấm.

Ngay sau đó, đa số thẩm phán toàn thể Tòa (tỷ lệ biểu quyết là 6-5) đã bỏ phiếu phục hồi lại quyết định của hội đồng 3 thẩm phán.

Bộ Tư pháp hiện tiếp tục yêu cầu quan chức bầu cử hợp tác và đe dọa có thể truy tố nếu họ từ chối việc điều tra về phiếu của những người không phải công dân.

FB UYen Vu

Legacy Imigra

13 người hiện đang đối mặt với các cáo buộc liên bang trong một cuộc điều tra gian lận liên quan đến Legacy Imigra, công ty bị cáo buộc đã trục lợi hàng triệu đô bằng cách lợi dụng những người nhập cư đang tìm kiếm tư cách pháp lý hợp pháp tại Hoa Kỳ.

Các thám tử thuộc Văn phòng Cảnh sát trưởng Quận Orange (OCSO), Florida phối hợp cùng Cơ quan Điều tra An ninh Nội địa (HSI) để triệt phá đường dây này. Công ty này bị cáo buộc đã hứa hẹn cung cấp luật sư di trú và các dịch vụ pháp lý cho khách hàng, trong khi thực tế họ không có khả năng thực hiện những cam kết đó.

Hôm nay, Công tố viên Liên bang Gregory Kehoe đã công bố các bản cáo trạng liên bang liên quan đến tội gian lận qua phương thức điện tử, gian lận thị thực và gian lận hôn nhân.

Cảnh sát trưởng John Mina cũng chia sẻ một thông tin quan trọng: Chúng tôi đã thu hồi được gần $1.7 triệu đô thuộc về khoảng 200 nạn nhân. Số tiền này hiện đang nằm trong quy trình tịch thu tài sản, với mục tiêu cuối cùng là hoàn trả lại cho các nạn nhân.

Hàng trăm nạn nhân đã được xác định, và chúng tôi tin rằng con số này có thể còn cao hơn nữa. Nếu quý vị hoặc người quen của quý vị từng là nạn nhân của Legacy Imigra hay các công ty con của đơn vị này, xin hãy liên lạc với đường dây không khẩn cấp của OCSO qua số điện thoại (407) 836-4357.

Theo HSI, 13 công dân nước ngoài (đến từ Brazil và Cuba) hiện đang đối mặt với các cáo buộc liên bang từ Bộ Tư pháp Mỹ (DOJ) vì điều hành một công ty luật giả mạo mang tên Legacy Imigra Solutions LLC tại Orlando, Florida. Doanh nghiệp này bị cáo buộc đã trục lợi hơn $20 triệu ĐÔ bằng cách lừa đảo và tống tiền những người nhập cư đang tìm kiếm tư cách pháp lý hợp pháp tại Hoa Kỳ.

Theo bản cáo trạng liên bang do Công tố viên Hoa Kỳ Gregory W. Kehoe công bố, các tình tiết cốt lõi của vụ án gồm:

• Âm mưu lừa đảo qua mạng (Conspiracy to commit wire fraud) và Lừa đảo qua mạng.
• Lừa đảo thị thực (Visa fraud).
• Lừa đảo kết hôn (Marriage fraud) nhằm hợp thức hóa giấy tờ.
• Sử dụng lao động nhập cư bất hợp pháp.

Legacy Imigra Solutions LLC tự quảng cáo là một văn phòng luật chuyên nghiệp có các luật sư và chuyên gia nhập cư có trình độ. Trên thực tế, công ty này không hề có luật sư nào hợp pháp.

Họ đưa ra các lời khuyên pháp lý sai lệch, cố tình điền sai hoặc làm giả các tài liệu nhập cư (như đơn xin tị nạn) để trục lợi từ khách hàng. Mỗi nạn nhân bị tính phí từ $2,500 đến $26,000.

Nhóm này tự ý lập email dưới tên của nạn nhân mà không có sự đồng ý, sau đó giữ các giấy tờ nhập cư quan trọng và đe dọa ép buộc họ phải nộp thêm tiền, nếu không sẽ khiến họ bị trục xuất khỏi Mỹ. Phần lớn nạn nhân là những người di cư đến từ Brazil đang cố gắng làm thủ tục một cách hợp pháp.

Vụ án là kết quả phối hợp giữa Văn phòng Cảnh sát Quận Orange (OCSO) và Cục Điều tra An ninh Nội địa (HSI). Sau đợt bắt giữ ban đầu vào tháng 4, cuộc điều tra mở rộng đã dẫn đến bản cáo trạng liên bang đối với 13 cá nhân. Cảnh sát hiện đã đóng băng và mới thu hồi khoảng $1.7 triệu tiền mặt thuộc về khoảng 200 nạn nhân với mục đích hoàn trả lại cho họ

FB Uyen Vu

Một người Nhật sống dưới gầm cầu hỏi tôi có cô đơn không?

Có một câu hỏi tôi đã trả lời rất qua loa, dù người hỏi lại là người tôi muốn gặp lại nhất trong những ngày ở Tokyo. Ông là một người vô gia cư sống dưới gầm cầu bên sông Sumida. Tối đó, ông hỏi tôi có cô đơn không. Tôi bảo cũng có chút chút. Ông cười, không hỏi thêm.

Mãi về sau tôi mới nhận ra, trong 2 người ngồi dưới gầm cầu hôm ấy, chưa chắc ông đã là người cô đơn hơn.

Dạo ấy tôi vừa từ chức, quay lại Tokyo, tự cho mình 2 tuần để nghĩ xem tiếp theo sẽ làm gì. Mấy ngày đầu khá dễ chịu. Sáng ngủ tới khi tự thức, đói thì ghé quán quen, ăn xong đi bộ loanh quanh. Tôi vốn ít nói, cũng quen đi một mình. Tôi có vài người bạn Nhật, lâu lâu gặp nhau uống bia, dần dần không còn bạn người Việt.

Đã lâu rồi tôi không ngồi nói tiếng Việt với ai cho ra một câu chuyện. Có những buổi tối, tôi nhận ra cả ngày mình chưa nói một câu tiếng Việt nào. Tôi mở máy tính viết đôi dòng, chuyện mình từng gặp, có khi là một ý nghĩ còn dang dở. Tôi viết cho mình, chẳng có ai chờ đọc. Có những chuyện để trong đầu mấy ngày vẫn chưa rõ, tới khi viết xuống mới biết vì sao mình cứ nghĩ hoài về nó.

Buổi tối cuối tháng 12 ấy, tôi đi dọc bờ sông Sumida. Tokyo đã lên đèn, gió từ mặt sông thổi lên lạnh đến mức tôi phải đút cả 2 bàn tay vào túi áo khoác. Dưới chân cầu, một người đàn ông ngoài 60 đang cúi buộc lại góc tấm bạt che chỗ ngủ. Mấy thùng giấy được kê cao khỏi mặt đất, đôi giày đặt ngay ngắn bên cạnh. Tôi đi ngang một đoạn, thấy máy bán nước tự động nên mua 2 lon ca cao nóng, đem một lon lại cho ông. Ông ngẩng lên, chỉ vào ngực mình, hỏi 俺に? (Cho tôi hả?). Tôi gật đầu. Ông nhận bằng cả 2 tay, áp lon nước lên má rồi cười. Tôi ngồi xuống bậc bê tông gần đó.

Ông từng lái xe tải gần 30 năm, từ Hokkaido xuống tận Kyushu. Nhắc tới một quán mì ở Niigata, ông còn nhớ bà chủ hay cho cánh tài xế thêm một quả trứng. Kể tới một khúc cua trên đường tuyết, ông đặt lon nước xuống, đưa 2 tay ra xoay vô lăng cho tôi coi rồi tự bật cười. Tôi thích nghe ông kể mấy chuyện như vậy. Lúc mới đi ngang, tôi chỉ thấy một người đàn ông đang sửa chỗ ngủ. Ngồi thêm một lát, tôi mới được thấy dáng ông hồi còn ngồi sau tay lái, nghe ông kể về những con đường mà có lẽ cả đời tôi cũng chưa đi hết.

Tôi hỏi ông sống ở đây bao lâu rồi. Ông ngẫm nghĩ, bảo chắc cũng 3 năm. Mới ngồi có một lát, hơi lạnh từ bậc bê tông đã thấm qua quần tôi. Ông vẫn chưa khui lon nước. Tôi hỏi sao không uống lúc còn nóng, ông cười, bảo cứ cầm thêm chút nữa. Hai bàn tay ông ôm lon nước như người ta ôm một cái lò sưởi nhỏ.

Hồi con gái còn nhỏ, những hôm được nghỉ, ông hay cho con bé leo lên ghế phụ, chở đi một đoạn rồi ghé trạm nghỉ mua kem. Trên đường về, có khi quay qua đã thấy nó ngủ gục, đầu nghiêng sang một bên, tay vẫn ôm món đồ chơi đem từ nhà theo. Trong ví ông còn tấm hình con bé hồi chừng 5 tuổi, mặc áo khoác đỏ, đứng cạnh chiếc xe tải màu trắng của ba. Tấm hình được bọc trong túi nhựa, một góc đã gập.

Ông lấy ra cho tôi coi, bảo hồi đó nó thích đi theo ông lắm. Có lần ông phải chạy chuyến xa, nó khóc đòi theo, ông hứa khi nào về sẽ chở đi ăn kem. Chuyến ấy kéo dài hơn dự tính. Lúc về, ông mua kem thật, nhưng con bé đã giận, nhất định không chịu ăn. Ông kể tới đó thì cười, nói trẻ con mau giận mà cũng mau quên.

Về sau ông nhận những chuyến xa hơn, về tới nhà thì con thường đã ngủ. Có bữa còn thức, nó kéo ghế ngồi cạnh bàn ăn, kể chuyện ở trường. Ông mệt quá, con nói gì cũng ậm ừ. Chuyện học hành của nó đã có vợ lo, hôm nào có chuyện cần biết, bà sẽ nói lại. Sau một chuyến dài, ông thường ngồi trong xe hút hết điếu thuốc mới vào nhà. Có hôm đèn đã tắt, ông mở cửa thật khẽ vì sợ đánh thức vợ. Bây giờ nghĩ lại, biết đâu mấy đêm đó bà vẫn còn thức. Sống với nhau chừng ấy năm, chuyện nhỏ vậy mà ông chưa từng hỏi.

Có một lần con gái gọi điện khi ông đang chạy xe. Ông bảo đang bận, lát nữa gọi lại. Tối hôm đó ông quên. Mấy ngày sau nhớ ra thì lại nghĩ chắc chẳng có chuyện gì quan trọng, nếu có thì nó sẽ gọi thêm lần nữa. Ông không nhớ cuộc điện thoại ấy vào năm nào, chỉ nhớ lúc đó con gái đã lớn, giọng nói không còn giống con bé ngồi ghế phụ ngày xưa.

Tôi hỏi ông có nhớ lần cuối cùng 2 cha con ngồi ăn cơm với nhau là khi nào không. Ông nhìn tấm hình, nghĩ một hồi rồi lắc đầu. Tôi hỏi thêm lần cuối ông đưa con đi chơi. Ông cũng không nhớ. Nhưng ông vẫn nhớ rất rõ quán mì ở Niigata, nhớ một khúc cua trên đường tuyết, nhớ cả chỗ đậu xe nào ở Hokkaido có nhà vệ sinh sạch sẽ. Ông nhìn tôi rồi cười ngượng, bảo trí nhớ mình dạo này kém quá.

Vợ ông mất sau một thời gian bệnh. Lần cuối 2 cha con gặp nhau là ở đám tang bà. Khi ấy con gái đã sống ở Osaka, có chồng và một đứa con nhỏ. Nó muốn ông về sống gần gia đình, nhưng ông từ chối. Ông còn căn nhà cũ, còn sức khỏe, nghĩ mình ở vậy cũng được. Sau này nghỉ lái xe, tiền dành dụm hết dần. Ông rời căn nhà ấy, ở nhờ vài nơi trước khi tới chân cầu này.

Tôi hỏi sao bây giờ ông không tìm con. Một chiếc xe tải chạy qua phía trên, tiếng động cơ vọng xuống khiến 2 người phải ngừng nói một lúc.

Đợi xe đi khuất, ông mới cất tấm hình vào ví, bảo 迷惑をかけたくないんだ (Tôi không muốn làm phiền nó).

Tôi hỏi ông có chắc con gái sẽ thấy phiền không. Ông không trả lời. Tôi nói nếu còn nhớ địa chỉ, tôi có thể giúp tìm cách liên lạc. Ông lắc đầu. Tôi tưởng ông đã quên, nhưng ông bảo vẫn nhớ cả tên ga gần nhà con gái.

Cách đó không lâu, ông đã tới Osaka. Ông dành dụm tiền, mua vé tàu, tìm đến khu phố con gái sống. Ông đứng bên kia đường nhìn căn nhà một lúc lâu. Trước cửa có chiếc xe đạp trẻ con, trên ban công phơi mấy bộ quần áo nhỏ. Ông không biết đứa cháu ngoại mình từng thấy trong ảnh bây giờ đã lớn tới đâu, cũng không biết con gái có còn ở căn nhà ấy không. Địa chỉ đó đã cũ mấy năm rồi.

Tôi hỏi ông có bấm chuông không. Ông lắc đầu. Tôi hỏi tại sao. Ông bảo lúc đứng trước căn nhà, ông chợt nghĩ nếu người mở cửa là con gái, ông sẽ nói gì với nó. Rằng ba đã hết tiền, không còn nhà để ở, mấy năm nay ngủ dưới gầm cầu? Hay rằng ba chỉ ghé thăm, lát nữa sẽ đi? Ông đứng đó tới khi trời tối, rồi quay về Tokyo.

Tôi hỏi ông có thấy con gái bước ra không. Ông bảo không. Có khi nó đã chuyển nhà rồi, ông nói thêm, như thể điều đó khiến chuyến đi đỡ khó xử hơn.

Suốt buổi tối, ông kể về những chuyến xe dài hàng ngàn cây số bằng một giọng rất tự nhiên, đôi lúc còn cười lớn. Vậy mà chuyện đứng trước cửa nhà con gái, ông kể nhỏ tới mức tôi phải nghiêng người mới nghe rõ. Tôi hỏi nếu được quay lại hôm đó, ông có bấm chuông không. Ông nghĩ rất lâu rồi nói không biết. Sau đó ông hỏi ngược tôi, nếu là cậu thì sao.

Tôi không trả lời được.
Tôi đã tính nói rằng ông nên tìm con, rằng biết đâu cô ấy vẫn đang chờ. Nhưng tôi chưa từng là người cha đứng trước cửa nhà con gái mình sau nhiều năm xa cách, trong túi không còn gì ngoài một tấm hình cũ. Tôi cũng không biết cô ấy đã sống những năm ấy ra sao. Biết đâu cô vẫn thương ba. Biết đâu cô đã giận ông từ rất lâu.

Ông lấy tấm hình ra thêm lần nữa. Tôi nhìn con bé mặc áo khoác đỏ đứng cạnh chiếc xe tải trắng, tự hỏi liệu người phụ nữ ở Osaka bây giờ có còn giữ một tấm hình giống vậy không.

Một lúc sau, ông hỏi tôi tại sao lại ở Tokyo một mình. Tôi kể mình vừa nghỉ việc, có 2 tuần để nghĩ chuyện làm gì tiếp theo. Tôi nói về những dự định còn chưa rõ ràng, những nơi có thể đến, những công việc có thể bắt đầu. Ông nghe chăm chú, thỉnh thoảng gật đầu.

Rồi ông hỏi 仕事を辞めて、寂しくない? (Nghỉ việc rồi, cậu có thấy cô đơn không?). Tôi bảo cũng có chút chút.

Ông kể hồi mới nghỉ lái xe, sáng nào ông cũng thức dậy rất sớm. Có bữa đang ngồi uống trà, nhìn đồng hồ thấy trễ, ông giật mình vì nghĩ người ta đang chờ mình giao hàng. Mất một lúc mới nhớ ra mình đã nghỉ việc. Những ngày đầu ông vẫn giữ thói quen kiểm tra thời tiết, xem đường nào có tuyết, đường nào dễ kẹt xe. Có hôm nghe tiếng xe tải chạy ngoài đường, ông còn ngẩng lên nhìn theo. Tôi hỏi rồi ông có quen được không.

Ông cười, nói そのうち、誰も待ってないことにも慣れるよ (Rồi từ từ cũng quen với chuyện chẳng còn ai chờ mình nữa).

Ông hỏi tôi có người thân ở Việt Nam không. Tôi bảo có. Ông hỏi vậy sao không về. Tôi nói mình còn vài chuyện muốn làm, cũng chưa biết sẽ ở đâu lâu dài. Ông gật đầu, không hỏi nữa.

Tôi có thể nói tiếng Nhật, ngồi uống bia với bạn bè, trao đổi công việc, kể chuyện đi đây đi đó. Nhưng có những điều tôi không biết phải nói với ai, mà nếu nói ra cũng chưa chắc người ta hiểu mình đang muốn nói gì. Tôi nhớ những đêm mở máy tính viết bằng tiếng Việt, viết xong lại đọc, sửa vài chữ rồi đóng máy. Có những chuyện mình muốn kể rất dài, nhưng không biết bắt đầu với người nào.

Ông hỏi tôi có nhớ nhà không. Tôi nói lâu lâu cũng nhớ. Ông bảo hồi còn chạy xe, có những chuyến ông chỉ mong về tới nhà, được tắm nước nóng rồi nằm ngủ trên tấm nệm quen. Bây giờ nghĩ lại, ông nhớ cả tiếng vợ đi lại trong bếp, nhớ tiếng con gái mở tivi, những âm thanh hồi đó ông thường thấy phiền vì muốn ngủ.

Đến lúc đứng dậy, tôi thấy 2 chân đã tê vì lạnh. Ông hỏi tôi còn ở Tokyo bao lâu. Tôi bảo chắc thêm ít ngày. Ông nói vậy hôm nào rảnh thì ghé chơi. Tôi gật đầu, bảo được. Trước khi đi, tôi hỏi ông có cần mua thêm gì không. Ông lắc đầu, chỉ giơ lon ca cao lên, nói cái này đủ rồi. Lon nước đã nguội bớt. Tôi chợt nhận ra từ lúc nhận tới giờ, ông chỉ mới uống vài ngụm.

Tôi đi được một đoạn thì quay lại nhìn. Ông đang cúi sửa tấm bạt, đôi giày vẫn đặt ngay ngắn cạnh chỗ ngủ. Phía trên cầu, xe cộ chạy qua không ngớt. Chắc vài tiếng nữa, khi những chuyến tàu đầu tiên bắt đầu hoạt động, người ta sẽ lại đi làm, đi học, đi gặp những người đang chờ mình ở đâu đó.

Những ngày sau đó, tôi bận thu xếp vài chuyện rồi rời Tokyo. Tôi không quay lại như đã hứa.

Một thời gian sau, có dịp trở về, tôi đi dọc đoạn đường ven sông ấy. Dưới chân cầu vẫn còn mấy tấm bạt, vài chiếc xe đạp cũ và những thùng giấy được xếp sát vào nhau. Tôi đi chậm qua từng chỗ, tìm chiếc áo khoác xanh đã bạc vai, nhưng không thấy ông. Tôi hỏi một người đàn ông đang ngồi gần đó, miêu tả ông già từng lái xe tải. Người ấy bảo có nhiều người tới rồi đi, ông không biết tôi đang tìm ai.

Tôi không biết ông đã chuyển sang chân cầu khác, đã về Osaka, hay đã xảy ra chuyện gì.

Đi ngang máy bán nước tự động, tôi mua một lon ca cao nóng. Cầm lon nước trong tay, tôi nhớ cách ông áp nó lên má rồi cười, nhớ tấm hình con bé mặc áo đỏ, nhớ cả lời ông bảo hôm nào rảnh thì ghé chơi.
Tôi đã không ghé.

Ngày ấy, tôi nghĩ mình có thể quay lại bất cứ lúc nào. Ông vẫn ở đó, Tokyo vẫn ở đó, con đường ven sông vẫn ở đó. Cũng như ông từng nghĩ con gái còn nhỏ, những chuyến xe rồi sẽ kết thúc, về nhà lúc nào chẳng được.

Tôi không biết ông có còn nhớ người thanh niên đã mua cho mình một lon ca cao nóng. Có lẽ chỉ là một người khách qua đường, một buổi tối tình cờ giữa rất nhiều buổi tối ông đã sống dưới chân cầu. Nhưng sau bao nhiêu năm, giữa những người tôi từng gặp, những thành phố tôi từng sống, tôi vẫn nhớ một người đàn ông không rõ tên, không biết địa chỉ, cũng chẳng có cách nào tìm lại.

Ông từng lái xe gần 30 năm, thuộc lòng những con đường từ Hokkaido tới Kyushu, nhưng không dám bước qua con đường trước nhà con gái. Còn tôi, tối hôm ấy đã hứa sẽ quay lại, rồi cứ nghĩ mình còn nhiều thời gian.

Đến giờ tôi vẫn không biết, nếu hôm đó tôi quay lại, liệu ông có còn ngồi dưới gầm cầu chờ một người tới nói chuyện hay không.

Và nếu ông thực sự đã về Osaka, liệu có ai mở cửa cho ông?

lu minh tri

Thuyền trưởng Ole

Năm 1988, khi đã ở Mỹ, tôi ngồi viết một lá thư. Gửi cho một người thuyền trưởng tên Ole. Người đã cứu tôi và 136 thuyền nhân khác giữa biển năm 1984.
Lá thư bị trả về. Người nhận đã chuyển đi.
Tới giờ, ở Mỹ, tôi vẫn chưa tìm lại được ông.

Ở phần 1, tôi đã kể tới lúc chiếc ghe 137 người bị hải tặc đập thủng, đang chìm. Thuyền trưởng tàu Panama đã từ chối cứu hai lần. Người ta khiêng tôi, một cô giáo Anh văn gần như bất tỉnh, lên thang dây…

Lên tới sàn tàu, bác sĩ với thủy thủ xúm lại cho tôi thở oxy, cho uống thuốc. Khoảng 15 phút sau tôi tỉnh lại. Tôi xin gặp thuyền trưởng.
Ông tên Ole.

Tôi kể hết bằng tiếng Anh. 137 người. 5 ngày trên biển. Một em bé chết khát. 5 cô gái bị bắt đi. Một chiếc ghe bị đập thủng đang chìm.
Ông buồn bã lắc đầu: "Tôi rất tiếc, tôi không thể cứu quý vị được."
Tôi nhìn xuống chiếc ghe. Tôi biết quay lại đó là đi vào chỗ chết.
Tôi nhìn thẳng vào mắt ông, nước mắt chảy ròng: "Nếu ông cương quyết từ chối, tôi xin thay mặt hơn 100 người kính chào vĩnh biệt. Giờ phút tôi trở về chiếc ghe đó, tất cả chúng tôi sẽ chết dưới lòng biển. Xin vĩnh biệt thuyền trưởng."
Ông đứng sững. Rồi ông hỏi trên ghe có bao nhiêu phụ nữ và trẻ em. Ông nói: "Chúng tôi chỉ cố gắng cứu phụ nữ và trẻ em. Còn đàn ông thanh niên xin tiếp tục lên đường."

Thủy thủ đưa được 50 phụ nữ và trẻ em lên tàu.
Dưới ghe, những người cha, người chồng đứng vẫy tay. "Ba ráng bảo trọng." "Tạm biệt anh." "Tạm biệt con."
Tôi đứng trên tàu nghe tiếng khóc mà không chịu nổi. 50 người chỉ chiếm một góc nhỏ xíu trên con tàu khổng lồ đó.
Tôi lại tới, quỳ xuống trước mặt ông: "Xin ông tha thứ cho tôi. Tôi đội ơn ông đã cứu mạng tôi. Nay xin ông cứu luôn những người còn lại. Chúng tôi không cần đồ ăn, không cần quần áo. Chúng tôi chỉ cần một chỗ để được sống. Chiếc tàu của ông là đất sống, chiếc ghe kia là cõi chết."
Ông lặng người. Rồi ông gật đầu.
Cả chiếc ghe vỡ òa. 137 người lần lượt leo lên thang dây. Thủy thủ lấy búa chặt đứt sợi dây buộc ghe.
Điểm danh vừa đủ 137 người. Vài phút sau, một cơn bão ập tới. Sóng tràn lên boong, thủy thủ phải cột chúng tôi vô cột tàu. Chiếc ghe trống chở chúng tôi suốt 5 ngày bị sóng nuốt mất, chìm luôn xuống biển.
Nếu chậm vài phút thôi…

Đêm đó tụi tôi được tắm, được phát quần áo, mền ấm, chén súp nóng. Đó là giấc ngủ yên nhất đời tôi.
Sáng hôm sau, thuyền trưởng Ole dẫn tôi lên boong. Trước ánh bình minh, ông quỳ xuống làm dấu thánh giá. Ông nói: "Cám ơn Thượng đế đã nhờ cô cho tôi cơ hội cứu được 137 người."
Ông chở thẳng chúng tôi về trại tị nạn. Trước khi chia tay, ông viết tay tên và địa chỉ đưa cho tôi.

Chiều 30 tháng 9 năm 1984, tôi bước chân trần lên bãi cát trắng đảo Pulau Bidong. Mã số tị nạn MB244.
Cái địa chỉ ông viết tay hôm đó, là địa chỉ tôi ghi lên lá thư năm 1988. Và lá thư đó đã bị trả về.
Mấy chục năm nay, các con tôi lên mạng tìm ông. .Vẫn chưa tìm được.
Tôi chỉ là một cô giáo dạy Anh văn. Nhưng có một buổi chiều năm 1984, mấy câu tiếng Anh của tôi đã đổi được 137 mạng người.
Còn tấm lòng của thuyền trưởng Ole, là món nợ cả đời tôi không trả hết.

NHÓM MÓC TÚI CHUYÊN NGHIỆP TỪ TRUNG QUỐC VÀ ĂN TRỘM TỪ VIỆT NAM ĐỔ XÔ VÀO NƯỚC NHẬT HÀNH NGHỀ!

Cảnh sát Nhật Bản cho biết một nhóm đàn ông từ Trung Quốc đã bay vào Nhật Bản với một kế hoạch: Móc tiền trong túi người khác trên các chuyến tàu hỏa đông đúc - và khi đã no đủ, họ sẽ tìm cách bay về nhà.

Một trong số họ (khi bị bắt) đã nói với các điều tra viên bằng những từ ngữ rất đơn giản, và "ngây thơ":

"Mục đích của tôi khi vào Nhật Bản là du lịch và trộm cắp". Và hắn ta khai thêm rằng: đã đến Nhật với "mấy người bạn cùng nghề".

Tay móc túi chuyên nghiệp này bị truy tố tội trộm cắp có chủ mưu, và chỉ trong tuần sau, cảnh sát đã bắt giữ thêm một người bạn mà hắn đã khai ra.

Kẻ móc túi này là Zhang Dongdong, 36 tuổi, quốc tịch Trung Quốc. Zhang bị cáo buộc là đã móc ví của một phụ nữ 42 tuổi trên chuyến tàu Odakyu Line đang di chuyển, và lấy đi chiếc ví của cô ấy, với khoảng 15.000 Yen (khoảng 110 Úc kim) bên trong.

Zhang đã ở trong cùng một khách sạn với người đàn ông đã thú nhận là đồng bọn.

Cảnh sát Nhật Bản hiện có một cái tên cho việc này: "trộm cắp du lịch". Có nghĩa đó là những nhóm người vào Nhật Bản chỉ dành hết thời gian để "làm việc" trên các chuyến xe lửa đông đúc trong vài ngày, và rời đi trước khi bị ai đó nhận ra.

Những chuyến xe đông đúc trong giờ bận rộn của Nhật, nơi không ai quan tâm đến túi, ví của họ - và cũng chẳng có ai nghĩ rằng mình sẽ bị trộm, khiến mọi việc trở nên dễ dàng hơn.

Nước Nhật là một quốc gia an bình, vì khi bạn để quên điện thoại ở bàn cà phê, hay túi xách tại ga xe lửa - thì bạn vẫn còn cơ hội đến lấy lại nó ở các trạm cảnh sát, với mọi thứ vẫn còn nguyên bên trong.

Sự tin tưởng đó chính là điều mà những đội ngũ "móc túi" này đang dựa vào để hành nghề. Cũng như nhà cửa ở Nhật thường không khóa chặt, khiến các tên trộm dễ vào vơ vét hơn.

Cùng lúc đó có tin một số người Việt tại Nhật công khai rao bán thịt chó, khoe cảnh trộm heo của người bản xứ, giết rồi đem bán.

Theo loạt hình chụp màn hình được chia sẻ hôm 29.10, danh khoản của một người Nhật cảnh báo về việc một nam thanh niên Việt Nam ăn trộm chó cảnh làm thịt, rồi rao bán trên mạng xã hội và viết tránh đi là thịt "gâu gâu".

Danh khoản "mancity-018" cho biết: "Một cặp vợ chồng người Việt tại Nhật đang gây sự phẫn nộ lớn trong cộng đồng người Việt và cả người Nhật. Họ rao bán bẫy thú trên mạng, bán thịt thú rừng trái phép. Tệ hơn nữa là buôn bán và tiêu thụ cả những chú chó bị đánh cắp của người Nhật".

Đáng nói, cặp vợ chồng này bị cho là "ngang nhiên thách thức cả những người đồng hương góp ý và lên án về hành vi trái pháp luật của mình". Vợ chồng được nhắc đến trong cáo buộc nêu trên có danh khoản là "Mèo's Hâm'ss" và "Nguyễn Văn Trung", quê Quảng Bình và Hà Tĩnh. Trang cá nhân của hai người này được nhìn thấy với lời rao: "Chuyên cung cấp bẫy thú rừng 24/7, lợn (heo) rừng, lợn sữa, nai rừng, chồn, lươn, cá tại Nhật".

Trong lúc cộng đồng mạng đang truy tìm danh tính và nơi sinh sống của cặp vợ chồng này trên đất Nhật, danh khoản "Nguyễn Văn Trung" được nhìn thấy đưa ra lời thách thức những người tố cáo rằng "báo cảnh sát Nhật nhanh đi chứ, tao kiếm nhiều tiền quá rồi, đang muốn về Việt Nam đây!"

Danh khoản maki-zzz777 bình luận bên dưới một bài đăng: "Các bạn qua đất nước người ta chỉ được phép ở tạm để lao động, chứ đừng ảo tưởng đó là một vùng đất đẹp đẽ nhưng không luật lệ mà gây ra những tội ác đáng lên án".

Đây không phải là lần đầu tiên có tin phi pháp liên quan đến người Việt đến Nhật như vậy.

Nguyen Tuy



Blog Archive