Saturday, April 29, 2023

30-04-1975, NGÀY BUỒN NHẤT ĐỜI TÔI


30-04-1975, Ngày Buồn Nhất Đời Tôi

Một bạn trẻ cắc cớ hỏi tôi, năm nay cụ đã ngoài tám mươi rồi, thì ngày nào mà cụ cho là ngày buồn nhất trong đời của của cụ? Tôi không do dự một giây nào cả và đã trả lời ngay rằng: “Ngày 30 tháng 04 năm 1975”. Thật vậy, cho đến lúc này, tôi đã bước qua ngưỡng cửa không phải là “thất thập cổ lai hy” mà là “bát thập cổ lai hy” một đoạn khá xa rồi, song mỗi khi suy ngẫm về những ngày buồn trong cuộc đời của tôi, tôi vẫn thấy ngày 30/04/1975 quả là ngày buồn nhất đời tôi. Tuy ngày ấy tính đến nay đã 46 năm qua rồi, song nó vẫn canh cánh trong tôi.

Ngày ấy tôi là một quân nhân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và đơn vị mà tôi phục vụ là Tiểu Khu Châu Đốc. Ngày hôm ấy cũng là một ngày khá đẹp trời ở Thị Xã Châu Đốc. Ánh nắng chan hòa trải dài trên dòng sông Hậu. Chim nhẩy nhót hát ca trong những chòm cây. Bướm lượn tung tăng trên những đám cỏ. Xe cộ tấp nập ngược xuôi trên con đường Gia Long song song với dòng sông Hậu, băng ngang qua Tòa Hành Chánh tỉnh, rồi xuyên vào khu phố chợ sầm uất nhất của Thị Xã.

Khoảng 9 giờ sáng hôm ấy, sau một đêm ứng chiến tại nhiệm sở, Trung Tâm Điều Hợp Bình Định và Phát Triển Tỉnh Tiểu Khu Châu Đốc, trong khuôn viên Tòa Hành Chánh Tỉnh, tôi trở về nhà riêng trong khu cư xá Gia Long để ăn sáng. Bước vào nhà là tôi mở ngay radio để nghe tin chiến sự; ít phút sau đó, Đài Phát Thanh Sài gòn thông báo:

“ Xin chú ý, xin chú ý, xin đồng bào chú ý! Tổng Thống Dương Văn Minh sẽ ngỏ lời cùng đồng bào, xin theo dõi.”

Dựa vào tình hình chiến sự lúc ấy, tôi phỏng đoán vị Tân Tổng Thống cũng là Tân Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ tuyên bố TỔ QUỐC LÂM NGUY, rồi nhân đấy kêu gọi toàn dân và toàn quân chiến đấu đến viên đạn và giọt máu cuối cùng. Ngồi vào bàn ăn, vừa ăn vừa chờ đợi đón nhận những lời “gang thép” ấy. Ít phút sau từ chiếc radio phát ra:

“ Tổng Thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố, chính quyền Saigòn từ trung ương đến điạ phương, trao lại cho chính quyền Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam.”

Thật không ngờ lại là lệnh buông súng đầu hàng, khiến tôi ngẩn ngơ, ngỡ ngàng, hụt hẫng, chới với. Miếng bánh mì đang nuốt, bỗng mắc nghẹn nơi cuống họng. Miệng tôi lẩm bẩm: “Không! không! không thể đầu hàng nhục nhã như thế được” rồi tôi đứng bật dậy, lảo đảo bước tới chiếc giường, thẩy mình lên đó, đau đớn, buồn bã, vật vã, rã rời.

Khi bố tôi mất vào năm 1957, mẹ tôi từ trần vào năm 1962, tôi rất buồn, buồn đến nỗi, ngày quên ăn, đêm quên ngủ, nhưng tôi chưa buồn đến nỗi muốn quyên sinh. Khi người tôi yêu lên xe hoa về nhà chồng, tôi cũng buồn man mác, nhưng chưa buồn đến nỗi “mua ngay thuốc chuột uống cho rồi đời”. Khi thi tú tài hay cử nhân luật tôi cũng hỏng thi nhiều lần, và mỗi lần hỏng thi tôi cũng buồn lắm, nhưng chưa một lần hỏng thi nào mà tôi coi là “đệ nhất buồn” trong đời như cụ Tú Xương:

“ Bụng buồn còn muốn nói năng chi
Đệ nhất buồn là cái hỏng thi
Một việc văn chương thôi cũng nhảm
Trăm năm thân thế có ra gì”

Song vào ngày 30.04.75, sau khi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh hạ lệnh buông súng đầu hàng, tôi buồn ghê gớm, chẳng những buồn đến nỗi tan tác cả cõi lòng, mà còn buồn đễn nỗi muốn quyên sinh nữa. Giá hôm ấy tôi ở nhà một mình, chắc tôi đã kết liễu đời tôi bằng một viên đạn súng Colt treo ngay tại đầu giường. Tôi có thừa can đảm cầm khẩu colt bắn một viên đạn vào đầu mình, nhưng lại thiếu can đảm làm công việc này trước mặt vợ và ba đứa con còn thơ ngây của tôi.

Không buồn làm sao được, khi thấy hàng trăm ngàn người sống ở miền Nam như tôi đã không tiếc xương máu, chiến đấu chống lại Cộng Sản Bắc Việt do ông Hồ và các đồng chí của ông lãnh đạo, để bảo vệ dân chúng miền Nam tiếp tục được sống trong tự do, dân chủ, hòa bình và no ấm. Cuộc chiến đấu cao cả của hàng triệu con người quốc gia ấy đã thất bại trong đắng cay, nhục nhã, tức tưởi, ngậm ngùi. Tất cả những công lao và sự hy sinh to lớn của những người này trong đó có tôi, bỗng tan biến vào hư không, như:

“ Dã tràng xe cát biển Đông
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”

Không buồn sao được, khi nhận ra rằng, cuộc sống của tôi, của vợ con tôi, của bạn bè tôi, của đồng đội tôi, của đồng bào miền Nam của tôi sắp sửa bước vào một giai đoạn cực kỳ bi thảm. Sở dĩ tôi nhận ra được điều đắng cay này, không phải vì tôi quá bi quan hay hoang tưởng với hiện tình miền Nam tự do đang sụp đổ trước mắt tôi, mà vì những gì chính tai tôi đã nghe, chính mắt tôi đã thấy, và chính gia đình tôi và thân nhân của tôi đã phải gánh chịu, trong suốt thời gian mười năm sống ở Liên Khu Bắc Việt, được gọi là vùng “kháng chiến” của ông Hồ và các đồng chí của ông ở miền Bắc trước năm 1954. Tôi đã thấy những gì trong thời gian mười năm ấy?

Vâng, tôi đã thấy, ngay sau khi cướp được chính quyền từ tay người Nhật, ông Hồ và các đồng chí của ông đã giết một cách không thương tiếc hàng ngàn người mà họ cho là chó săn của Nhật, tay sai của Pháp, tay chân của triều đình phong kiến. Trong số này, có những nhà văn, nhà báo, nhà giáo nổi tiếng như Phạm Quỳnh năm 1945, Tạ Thu Thâu năm 1945, Dương Quảng Hàm năm 1946, Khái Hưng năm 1947 v.v…

Vâng, tôi đã thấy ông Hồ và các đồng chí của ông bắt cóc và thủ tiêu hàng nghìn người mà họ coi là thành phần phản động trong vùng quê Phú Thọ của tôi, bằng nhiều hình thức vô cùng dã man tàn ác, như trói chân tay bỏ vào bao bố, hay cột vào một thanh tà-vẹt đường xe lửa rồi thả xuống dòng sông hay ao hồ.

Vâng, tôi đã thấy, ông Hồ và tay chân của ông bắt bớ, giam cầm và giết hại hàng trăm ngàn người được cho là đảng viên của các đảng phái quốc gia, và là một lực lượng cản đường ngăn lối họ xây dựng chế độ cộng sản ở Việt Nam, nên cần phải giết để trừ hậu họa.

Vâng, tôi đã thấy, sau khi giành được những thắng lợi to lớn về quân sự trên đất Bắc, ông Hồ và các đồng chí của ông tin rằng ngày chiến thắng cuối cùng đã gần kề, nên đã cho thực thi ngay cuộc Cách Mạng Ruộng Đất, ĐÀO TẬN GỐC, TRỐC TẬN RỄ thành phần TRÍ –PHÚ – ĐỊA – HÀO. Trong cuộc cách mạng “Trời Long Đất Lở” này, ông Hồ và đồng bọn đã giết khoảng hai trăm ngàn Trí, Phú, Địa, Hào và tịch thu hàng triệu mẫu ruộng của họ để chia cho nông dân nghèo. Song khốn nạn thay, chính những người dân nghèo được chia ruộng này, cũng bị ông Hồ và các đồng chí của ông lường gạt một cách cay đắng, vì số ruộng đất mà họ được chia và số ruộng ít ỏi mà họ có trước đó, chỉ một thời gian ngắn sau, họ phải dâng hiến hay cống nạp cho Hợp Tác Xã Nông Nghiệp. Người nông dân nghèo tay trắng lại trở về với trắng tay, rồi trở thành người làm công, làm thuê cho hợp tác xã, tính giờ trả công rẻ mạt, nên phải sống trong cảnh bần hàn đói rách hơn cả những ngày làm tá điền hay cấy rẽ cho địa chủ trước đây. Họ đã than thở việc đi làm thuê cho hợp tác xã bằng những lời lẽ vô cùng chua chát và cay đắng:

“ Đi làm hợp tác hợp te
Không đủ mua vải mà che cái lờ”

Vâng, qua những tên bộ đội cộng sản Bắc Việt bị bắt làm tù binh hay ra hồi chánh vào những năm đầu thập niên 1970, tôi được biết thêm rằng, ông Hồ và các đồng chí của ông đã áp dụng chế độ hộ khẩu khắc nghiệt trên toàn lãnh thổ miền Bắc để quản lý và kiểm soát khâu sản xuất và phân phối thực phẩm. Từ củ khoai lang đến củ khoai mì, từ hạt bắp đến hạt gạo, từ lạng muối tới cân đường, từ mớ rau đến ký thịt vân vân… đều do đảng và nhà nước nắm độc quyền phân phối và cung cấp cho từng đầu người trong mỗi gia đinh. Số lượng thực phẩm được cung cấp, hay phân phối, hoặc bán cho mỗi nhân khẩu hoàn toàn tùy thuộc vào sự định đoạt độc đoán của đảng và nhà nước chứ không tùy thuộc vào nhu cầu của của người tiêu thụ, vì thế gia đình nào không tuân thủ những mệnh lệnh và chỉ thị của đảng và nhà nước thì nhà nước không cung cấp và phân phối thực phẩm nữa và họ sẽ phải chết đói mà không có lối thoát nào khác.

Chế độ hộ khẩu đã trở thành một vũ khí vô cùng hữu hiệu trong việc ép buộc dân chúng miền Bắc phải triệt để tuân hành tất cả những gì mà đảng cộng sản muốn người dân phải làm, đảng gọi phải dạ, đảng bảo phải vâng. Một nhà văn miền Bắc đã ví von rằng, người miền Bắc vào những năm tháng ấy tương tự như những con chó ngoan ngoãn một mực tuân theo lời chủ: “Bảo vẫy đuôi, vẫy; bảo sủa, sủa; bảo cắn, cắn; bảo ăn cứt, ăn.”

Con cái đến tuổi nhập ngũ, chính quyền địa phương không cần nhắc nhở, bố mẹ của chúng tự động ép buộc con cái họ phải “hăng hái” lên đường đi làm nhiệm vụ, dù họ biết rõ rằng, con cái họ ra đi “đã mấy người trở lại”, song đó là chuyện “hạ hồi phân giải”. Còn chuyện trước mắt là nếu con cái họ không tuân hành mệnh lệnh của đảng và nhà nước thì cả gia đình già, trẻ, lớn bé sẽ chết đói, vì “sổ mua gạo” cho toàn gia đình bị cắt tức thì.

Vào ngày 30-04-1975, hầu hết những điều mà tôi đã thấy và đã nghe ông Hồ và các đồng chí cộng sản của ông thực thi ở miền Bắc sau năm 1945, lại một lần nữa lướt qua đầu tôi như một cuốn phim chiếu chậm. Hình ảnh, của cuốn phim chiếu chậm này đã thầm bảo tôi rằng, tất cả những đường lối và chính sách mà đảng Công Sản Việt Nam đã và đang thực thi ở miền Bắc sẽ được áp đặt lên đầu nhân dân miền Nam là điều chắc chắn như đinh đóng cột vào những ngày sắp tới.

Do đó tôi tin rằng, vào những ngày sau ngày 30-04-1975, sắp tới những người có dính líu hay liên hệ với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa như tôi và các bạn đồng ngũ của tôi sẽ bị thủ tiêu, giết hại hay bị tống vào những trại tù cải tạo cho chết dần chết mòn. Vợ con tôi và đồng bào miền Nam tôi sẽ khốn đốn ê chề và sẽ trở thành những con chó mới của đảng cộng sản Việt Nam. Nói một cách khác là, gia đình tôi và đồng bào miền Nam dưới vĩ tuyến 17 của tôi sẽ bắt đầu bước vào một giai đoạn khốn nạn nhất và đen tối nhất chưa từng có trong lịch sử trường tồn của dân tộc.

Sau ngày 30.04.75, không ít người từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu, vì nông cạn, ngây ngô, khờ khạo, đui mù, nên đã hồ hỡi, hân hoan, hớn hở, vui mừng đón chào ngày này như một ngày khải hoàn của dân tộc. Đối với tôi, đó là ngày CƯỜNG BẠO thắng CHÍ NHÂN, ngày PHI NGHĨA thắng CHÍNH NGHĨA, ngày NHÀ TAN và NƯỚC MẤT.

Ngày 30.04.1975, đối với những người có lương tri và hiểu biết không thể nào được coi là ngày mà toàn thể dân tộc Việt Nam, sau bao nhiêu năm hy sinh xương máu đã dành lại được độc lập và thống nhất, mà chỉ là ngày đảng Cộng Sản cướp được trọn vẹn nước Việt Nam từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu, sau bao nhiêu năm lợi dụng chiêu bài chống Mỹ để khai thác lòng yêu nước và vắt ép cạn kiệt xương máu của người dân Việt để hoàn tất cuộc cách mạng dân tộc và đưa Việt Nam vào quỹ đạo Cộng Sản Quốc Tế. Nói một cách khác, ngày 30.04.75 chỉ là ngày mà những tên Cộng Sản Việt Nam đã làm tròn được phân nửa bổn phận tay sai của chúng, đối với quan thầy Cộng Sản Nga-Tầu.

Ngày mà những tên Việt Cộng hồ hỡi, hân hoan dụ dỗ một đám con nít, và một đám người lớn “mù lòa” xuống đường phố hoan ca: “như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng” là ngày tôi đau đớn, đóng cửa ngồi khóc thầm cho số phậm hẩm hiu đen như mõm chó của cá nhân tôi, của gia đình tôi và của dân tộc tôi.

Kể từ ngày 30/04/1975 tới nay, tôi cũng đã trải qua khá nhiểu những nỗi buồn đau của cuộc đời và gần đây một nỗi buồn lớn đã đến với tôi, đó là sự ra đi vĩnh viễn vào ngày 05/09/2018 của nhà tôi, Lê Thị Nguyệt Hồng, sinh năm 1940 tại Cần Thơ, sau gần hai mươi năm can đảm chống chọi với căn bệnh Parkinson. Nhà tôi là người đã đồng cam cộng khổ với tôi hơn năm mươi năm trời, và đặc biệt là đã phải gánh chịu không biết bao nhiêu nhục nhã, đói khát, cay đắng trong thời gian năm năm tôi bị giam giữ trong những trại tù cải tạo từ miền Nam tới miền Trung và trong thời gian bẩy năm tôi phải sống lang thang bất hợp pháp trong cái gọi là nước Cộng Hòa Xã Chủ Nghĩa Việt Nam.

Nỗi buồn mất vợ vào ngày 05-09-2018 chỉ là nỗi buồn riêng rẽ của riêng cá nhân tôi thôi, nên không thể so sánh với nỗi buồn mất nước vào ngày 30-04-1975, vì ngày này chẳng những là một ngày buồn to lớn nhất chẳng những của cá nhân tôi mà còn là một ngày buồn to lớn chung của cả dân tộc. Tóm lại ngày 30-04-1975 thật sự là Ngày Buồn Nhất của Đời Tôi.

Huy Vũ

CÁI CHO NHÂN ÁI

Sau khi vượt biển thành công và tỵ nạn tại Thailand khoảng 6 tháng, tôi được nước Mỹ chấp thuận cho định cư. Lộ trình chuyến bay từ Bangkok đến San Francisco Hoa kỳ sẽ quá cảnh ở Tokyo, Nhật Bản.

Chuyện sau đây xảy ra khi đoàn chúng tôi già trẻ lớn bé… gần một trăm người tỵ nạn áo quần xốc xếch ngồi chờ 3 tiếng ở phi trường Tokyo đợi chuyển chuyến bay đi đến miền đất hứa.

Thời gian khá lâu nên bắt đầu cảm thấy đói. Tôi và vài người nữa trong đoàn bèn tới một gian hàng nhỏ bán bánh mì ngay trong phi trường gần đó mua.
Lúc trả tiền, người bán hỏi có phải Vietnamese refugees?
Tôi trả lời phải.
Họ nói khỏi trả tiền, lại còn tặng thêm mỗi người một lon nước.

Tôi trở về chỗ ngồi chưa kịp thưởng thức đã thấy hai người vợ chồng chủ tiệm khệ nệ khiêng ra một khay đầy bánh mì kẹp thịt và một bình nước lọc với ly giấy tới chỗ những người tỵ nạn đang ngồi tặng cả đoàn.

Khi đưa bánh thấy trong đoàn có một bé sơ sinh, họ bèn cho người đi mua thêm bình sữa.

Hình ảnh làm tôi nhớ mãi là có một bà cụ trong đoàn vì cảm kích lòng tốt của hai người chủ tiệm, bà theo lối Việt Nam cúi đầu chắp tay xá cám ơn thật sâu.

Hai vợ chồng họ bèn nghiêm trang đứng và cùng cúi đầu trước bà cụ xá lại để trả lễ.

Tôi khi đó vẫn còn nhỏ nên hơi ngạc nhiên về thái độ lịch sự của họ.

Càng lớn lên tôi mới hiểu không dễ gì có một tấm lòng như vậy.

Hai người này tuy là người cho, nhưng họ vẫn có tấm lòng kính trọng với người nhận. Một cái cho nhân ái, vô vị lợi, không phải là cái cho bố thí của một anh nhà giàu với một người ăn xin trên hè phố.

Mấy chục miếng bánh mì chắc không phải món tiền lớn đối với họ, nhưng vẫn là một số tiền đáng kể họ phải bỏ công làm mới có.

Họ biết rằng những người Việt tỵ nạn này vài tiếng nữa thôi sẽ đi về những miền xa xôi và chắc sẽ không có cơ hội gặp lại…

nhưng họ vẫn sẵn lòng giúp đỡ không hề nghĩ đến sự đền đáp.

Một lần nữa, dù rất muộn màng, xin nghiêng mình cảm tạ tấm lòng nhân ái của đôi vợ chồng người Nhật tại phi trường Tokyo năm nào./.

(A true story) ThaiNC

CHIẾC ÁO

Một hôm lái xe trên đường, tình cờ nghe trên radio đọc câu chuyện sau đây có tựa đề là:

“Chiếc Áo”… bèn kể lại, và không nhớ tên tác giả là ai!
…

“ Một tỉnh lỵ nhỏ, có chàng học sinh nọ con nhà khá giả, mỗi ngày đi học anh để ý một cô bán chè xinh xắn gánh chè bán dạo trên cùng quãng đường.

Trời mùa Thu gió se se lạnh nhưng cô bao giờ cũng chỉ manh áo đơn sơ oằn mình dưới gánh chè trĩu nặng làm anh thương hại đau xót, bèn về nhà xin mẹ một cái áo len, hôm sau lấy hết can đảm tặng cô bán chè đó.

Chỉ vậy thôi không một lời tỏ tình nào xa hơn nữa cả.

Sau đó chàng trai phải nhập ngũ tòng quân làm nghĩa vụ người trai thời chinh chiến, và đã ra đi biền biệt bốn phương trời.

Trải qua một thời gian thật dài, hai mươi năm sau, chàng trai đó tình cờ trở lại cố hương, bước đi trên quãng đường ngày xưa, bao kỷ niệm cũ trở về từ ký ức.

Anh lại thấy một cô bán chè tướng giống y như người xưa, và đặc biệt cô đang mặc đúng chiếc áo len mà anh đã tặng.

Nhưng không phải! Cô còn trẻ lắm, không thể là người xưa của anh.

Cô là con của cô bán chè năm xưa.

Cô bán chè thuở nọ, người mà anh tặng chiếc áo đã không còn nữa. Mẹ cô đã qua đời sau một cơn bạo bệnh. Mẹ cô cho cô chiếc áo len và nói đây là tình đầu của mẹ, mối tình thầm kín chất chứa bao nhiêu năm. Cô hỏi người đó là ai, mẹ cô lắc đầu nói ngày sau, khi con đang mặc cái áo này nếu có người đàn ông nào tới hỏi, tức là người đã tặng cho mẹ chiếc áo, là người mà mẹ đã thầm yêu mến trao trọn mối tình đầu.

Và hôm nay cô đã gặp được người đó.”

ThaiNC 
Ngày Quốc Hận: 30 Tháng 4

Thưa Quý Vị,

Cách đây 48 năm, ngày 30 tháng 4 năm 1975, cộng sản từ miền Bắc đã cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam và gây ra bao tang tóc thê lương cho dân tộc kể từ ngày ấy.

Việt Nam là một nước độc lập, tự chủ từ hàng ngàn năm trước, đã trải qua biết bao cuộc chiến tranh để xây dựng đất nước, giữ vững và mở rộng bờ cõi từ Bắc chí Nam, từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau.

Suốt thời gian dài hàng mấy nghìn năm đó, dân tộc ta từng bị xâm chiếm, từng bị nô lệ, nhưng bao anh thư, anh hùng đã tự vùng lên để lấy lại nước dù từng bị đánh bại, bị xâm chiếm lâu dài hay tạm thời.

Quê hương Việt Nam từng bị cai trị hà khắc bởi bọn giặc Tàu ở phương Bắc. Chúng nuôi tham vọng biến nước Việt Nam nhỏ bé thành quận huyện của chúng, nhưng dân Việt đã lập nên những triều đại rực rỡ của phồn vinh và hạnh phúc một thời. Có thời yếu nhược, có thời hùng mạnh, nhưng vua quan và dân chúng đa số đều yêu nước, dù cũng có một số ít người người phản bội tổ quốc.

Tuy nhiên, không thời đại nào mà nước Việt Nam của chúng ta có nhiều gian tế, nhiều kẻ cầu danh, ham lợi mà phản bội tổ quốc như thời đại cộng sản đang cai trị hiện tại.

Bọn được gọi là nhà cầm quyền ở Việt Nam hiện tại chỉ một bọn cướp! Chúng chẳng phải người Việt, chẳng phải là chính quyền của dân mà chỉ là một bọn chuyên phá, cướp và bán tất cả ruộng đất, sông núi, biển đảo của nước Việt Nam cho ngoại bang để làm giàu.

Chúng tôi tin răng có nhiều vị cao minh ở trong nước và ở Hải ngoại đang lập kế sách cứu nước, vì hầu như ai cũng biết chắc rằng bọn cộng sản Việt Nam đã cam kết sẽ dâng toàn nước Việt Nam cho giặc Hán.

Trong bài này, chúng tôi chỉ xin bàn riêng về ngày 30 tháng tư năm 1975, cái ngày oan nghiệt cho toàn dân Việt, ngày mà nhiều nước trên thế giới đã can dự vào, nhất là hầu như tất cả các nước hùng mạnh trên thế giới đều có trách nhiệm chung, không ít thì nhiều. Ngày mà người dân miền Nam (nước Việt Nam Cộng Hoà) đã gọi là Ngày Quốc Hận (dù không do một dự luật nào đặt tên mà do lòng dân uất hận cùng gào thét). Tên gọi quá chính xác! Bởi nó bắt nguồn từ một cuộc xâm lăng của Bắc Cộng, qua tay của giặc Hán, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc tạo ra. Sau lưng bọn Cộng Việt là Cộng Tàu, Cộng Nga và toàn khối cộng sản thế giới. Đó là một cuộc chiến tranh xâm lăng đích thực, chứ không phải là “nội chiến” hay “chiến tranh huynh đệ tương tàn” như bọn thiên tả đã đặt tên. Dân miền Nam không hề có ý định gây chiến tranh hay đem quân tiến chiếm miền Bắc, mà bắt buộc phải tự vệ khi bị xâm lăng. Đất nước đã bị chia đôi ngoài ý muốn của dân Việt Nam. Miền Bắc đã bị nô lệ trong tay Cộng sản từ trước 1975.

Hiểu đúng như trên, chúng ta sẽ càng thấm thía với 3 chữ Ngày Quốc Hận của toàn dân Việt Nam.

Sau ngày Cộng cưỡng chiếm 30/4/1975, hầu như toàn miền Nam đều bị phá hoại, bị cướp bóc từ một đám thổ phỉ khổng lồ miền Bắc tràn vào gây nên bao chết chóc, đớn đau cho dân chúng miền Nam. Với hàng ngàn năm xây dựng và giữ nước, chưa có ngày nào trong lịch sử, dân tộc ta lại bị bức tử một cách đê hèn và uất hận hơn ngày này. Tiếng kêu “Quốc Hận!” ai oán đã có từ gần nửa thế kỷ qua và sẽ mãi kéo dài cho tới khi chính chúng ta hay con cháu chúng ta đủ sức lấy lại tự do, hạnh phúc, phú cường cho Việt Nam.

Ý nghĩ đổi một cái tên khác, hay dùng một tên gọi khác cho ngày 30/4, chắc chắn không bao giờ có trong tâm tư người Việt Nam tỵ nạn cộng sản. Còn người dân trong nước cũng chẳng ai dám lạm bàn, ngoài thiểu số đảng viên đảng cộng sản muốn xóa bỏ để phi tang vì chúng rất sợ 2 chữ Quốc Hận hay những chữ gợi lại những gì liên quan đến tội ác của chúng.

Không phải chỉ riêng người dân Nam Việt Nam cảm thấy mối nhục Quốc hận, mà là cả dân Việt Nam sống ở Miền bắc trước 1975 cũng có cùng cảm giác, vì tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 và sau đó…đa số ngưởi dân ở Miền Bắc Việt Nam mới biết … bị công sản lừa bịp ra sao... và họ hận công sản biết bao, đã lừa họ, con cái họ tin vào những tuyên truyền xão trá để vào Nam chiến đấu với cái lệnh tử thần "Sinh Bắc Tử Nam".

Chúng tôi thử nghĩ

Các quốc gia trên thế giới nếu muốn, họ sẽ gọi ngày 30/4 là ngày gì cho thích hợp?

Trước hết chúng tôi bắt đầu bằng nước Thụy Điển:
Có lẽ phải gọi là Ngày Ô Nhục, vì Thụy Điển là một quốc gia tự do, dân chủ, nhưng trước sau đều ủng hộ Bắc Cộng, thậm chí còn ủng hộ cái quái thai được gọi là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” của Cộng Sản. Năm 1973, Thụy Điển đã trân trọng trao giải thưởng Nobel Hòa Bình cho hai tên đồ tể Lê Đức Thọ và Henry Kissinger mà Thụy Điển cho là rất cao quý không những ở quốc gia Thụy Điển, mà còn khắp trên thế giới. Mãi cho đến ngày 30/4/1975 Thụy Điển mới thấy rõ bàn tay đẫm máu của hai tên này, thì chẳng phải họ đã tạo vết nhơ ô nhục cho giải Nobel khi chọn những kẻ giết người hàng loạt để vinh danh là kẻ kiến tạo hòa bình hay sao? Vậy Ngày Ô Nhục đúng là ngày 30/4 của quốc gia Thụy Điển!

Một nước khác là Pháp, xin đặt là Ngày Vớt Vát.
Pháp từng độ hộ Việt Nam gần 100 năm và bị hất chân sau chiến tranh thế giới lần thứ hai vì yếu thế, vì không can trường chiến đấu, nhưng ngạo mạn sau khi quân Đồng Minh giúp cho nước Pháp chiến thắng… Cuối tháng 4/1975, Pháp thấy rõ nước Mỹ hoàn toàn rút chân khỏi Việt Nam, lại mon men tìm cách trở lại để khéo léo hợp tác với khối cộng sản, tìm một chỗ trong tương lai, nhưng đã thất bại. Đó là thái độ nước Pháp mong vớt vát chút đỉnh gì đó, với hy vọng đám cộng sản sẽ ban cho…

Với Nước Mỹ, ngày 30 tháng Tư của VN là ngày gì?
Thực sự rất có nhiều tên để những vị dân cử Mỹ đặt cho. Đúng nhất, phải là Tháng Tư Đen? Tên gọi do Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang California, Janet Nguyễn, đệ trình qua Nghị Quyết số 29. Dự luật được gọi là "Tưởng Niệm Tháng Tư Đen" (SCR-29 Black April Memorial Month.)

Tháng Tư năm 1975 đúng là tháng đen tối nhất của nước Mỹ, vì là lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, những chiến sĩ tham gia chiến tranh ở nước ngoài trở về bị dân chúng sỉ nhục rất thê thảm, những chiến sĩ mà lẽ ra phải xứng đáng được tuyên dương là anh hùng thì lại bị dân Mỹ gọi là “Losers”, là chữ dùng chê bai nặng nhất trong văn hóa Mỹ Quốc. Tháng tư năm 1975 và sau đó, từ chính quyền đến dân chúng Mỹ, chỉ thấy một màu đen tối cho dân tộc họ, vì bị thua trận nhục nhã, và trốn chạy cũng nhục nhã. Dù với âm mưu gì của chính quyền Mỹ đằng sau, thì với thế giới, nước Mỹ vẫn là nước thua cuộc, thua khối cộng sản, và thua cả cộng sản Việt Nam.

Vậy nước Mỹ không gọi là Tháng Tư Đen cho ngày 30/4 thì có chữ gì khác hay hơn?

Sau cuộc thua trận nhục nhã vào tháng 4 năm 1975, càng đen tối hơn cho nước Mỹ, cũng có một cuộc rút quân nhục nhã khác vào ngày 31 tháng 8 năm 2021, không theo một chiến lược, chiến thuật nào, không khác phải bỏ chạy sau trận chiến bị thất bại, để lại toàn bộ súng ống đạn được cho quân thù… không kịp phá hủy, chứ đừng kể là chuyển về hậu cứ…

Vì vậy, không những chỉ tháng Tư mà cả tháng 8 đều là dấu mốc đen tối nhất của nước Mỹ. Và không chừng, nếu chính quyền Mỹ vẫn hành xử với các nước nhỏ như thế thì nước Mỹ sẽ không còn ngày nào sáng sủa, đáng cho thế giới ngưỡng mộ.

Cuối cùng, chúng tôi xin nói về nước Canada, là nơi, từng ầm ỉ nhất bởi cái luật quái gở S-219 của Thượng Nghị Sĩ Canada gốc Việt trình lên Quốc Hội Canada, xin gọi ngày 30/4 là “Ngày Hành Trình Đến Tự Do.” Chúng tôi không nói về cái tên quái gở này nữa, vì đã có bài trước của chúng tôi và nhiều bài viết giá trị khác của Cộng Đồng đã phản đối và phân tích từ năm 2016,

Chúng ta thử nghĩ Canada có thể sẽ gọi Ngày Quốc Hận của chúng ta là ngày gì?

Nước Canada cũng là một trong những quốc gia từng tham chiến chung với Mỹ để giúp Việt Nam Cộng Hòa chống lại khối cộng sản, nhưng tới năm 1973 họ đã gần như trung lập khi tham gia cái gọi là “Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát Ngừng Bắn” từ cái hiệp ước bất lợi cho nước Việt Nam Cộng Hòa, gọi là “Hiệp ước Hòa Bình Paris”. Trong ủy ban này, 2 nước cộng sản vẫn luôn bênh vực những vi phạm của cộng sản Hà Nội, nhưng Canada thì hoàn toàn trung lập, không hề phê phán những vi phạm của cộng sản phía Bắc VN… vì thế đã tạo nhiều bất lợi cho Miền Nam VN.

Ngày 30/4, Canada hoàn toàn không giúp đỡ chút gì để tránh sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa, họ cũng không hề có ý đón tiếp thuyền nhân trốn chạy khỏi bọn ác quỷ cộng sản. Chính Quyển cả dân Canada hoàn toàn bàng quan như hàng trăm nước khác trên thế giới, chứng kiến nước Việt Nam Cộng Hòa bị xóa tên khỏi bản đồ thế giới.

Về sau này dù Canada có nhận nhiều thuyền nhân tỵ nạn cộng sản, nhưng cũng nhận luôn những kẻ bỏ Việt Nam từ miền Bắc, những nhóm sau này bỏ VN không vì sợ cộng sản mà là vì kinh tế, muốn kiếm miếng ăn ngon hơn là ở với cộng sản.

Những nhóm không hề là tỵ nạn này được chính phủ Canada cưu mang, giúp làm ăn ổn định y như dân Việt Nam Tỵ Nạn. Và rồi, hàng năm, những nhóm này vẫn làm lễ ca ngợi và tưởng niệm tên đồ tể Hồ Chí Minh và ngày 2/9, để vinh danh cái ác đảng đang làm thái thú cho giặc Tàu.

Chính phủ và người dân Canada nhận thuyền nhân, nhưng thờ ơ nghiên cứu và kiểm tra cẩn thận để biết những người đó có phải thực sự tỵ nạn cộng sản hay không… Vì vậy tôi nghĩ đến cái tên Ngày Thờ Ơ đáng đặt cho Canada.

Trên đây chỉ là phần phiếm luận cho vơi nỗi chua xót. *

Chúng tôi biết ơn tất cả người dân các nước, kể cả những nước đã kể trên, sau ngày 30/4, đã tỏ lòng nhận đạo nhận nhiều thuyền nhân thực sự là người tỵ nạn cộng sản, vượt biên bằng mọi cách, cũng như đi chính thức từ Việt Nam Cộng Hòa để tránh họa Tam Vô.

Chúng tôi trân trọng biết ơn những nước đã cho chúng tôi tỵ nạn tới nay, đã giúp chúng tôi và con cháu có được cuộc sống hiện tại.

Chúng tôi tỏ lòng biết ơn đó qua từng ngày, bằng cách hòa nhập vào quốc gia được định cư: chăm chỉ làm việc, sống đúng luật, đóng thuế đầy đủ như người dân bản xứ. Các nước đều đánh giá được lòng biết ơn này, và tôi cũng biết là dân chúng các nước này cũng chẳng bao giờ cần một cái tên cho ngày 30/4.

Và nếu, chúng tôi muốn cảm ơn người dân các nước đã cưu mang chúng tôi, chắc chắn chúng tôi không chọn ngày 30/4 mà sẽ chọn một ngày khác, đặt một cái tên thích hợp với từng quốc gia. Lẽ dĩ nhiên, không phải là cái tên theo kiểu phiếm luận như tôi vừa bàn, nhưng cũng không thể là cái tên mà người Canada chẳng hiểu gì như cái tên “Journey to Freedom Day” (Ngày Hành Trình Đến Tự Do)

*
Tóm lại, ngày 30.4.1975 trong dòng sử Việt và thế giới chỉ nên là ngày Ngày Quốc Hận mới diễn tả đầy đủ được tâm tư uất hận của người dân Việt!

Bất cứ người Việt nào có lương tâm và biết yêu chuộng tự do, độc lập đều không muốn thay đổi hay đặt thêm một cái tên mới nào khác ngoài hai chữ QUỐC HẬN.

Xin gìn giữ: ngày 30 Tháng 4 là Ngày Quốc Hận!

Bảo Trâm
Sống ảo

Vợ tôi còn 19 ngày, 9 tiếng nữa là gia nhập Hội người cao tuổi, nhưng mụ bảo không thích vào cái Hội ấy vì mụ nghĩ mình còn trẻ. Tôi và mụ đã có cháu nội, cháu ngoại, con dâu, con rể đầy đủ. Cả tôi và mụ cũng không còn trẻ trung gì, cả một đời mụ vất vả vì chồng con nên nhan sắc cũng tàn tạ theo tháng ngày…Vả lại mụ không phải là típ người giữ được dung nhan “vượt thời gian”, nhìn cũng thương! Con người ta có nhiều cách để níu kéo thanh xuân nhưng cách của mụ thì không thể chấp nhận được…

Mới đây, con gái tặng mụ một chiếc xờ-mát-phôn rất hiện đại, nó còn cài đặt cả phần mềm chỉnh sửa ảnh rất chuyên nghiệp, khỏi nói mụ vui như thế nào, mụ cười toe toét…Từ ngày có cái xờ-mát-phôn mới, mụ xao nhãng nhà cửa. Buổi sáng, mụ đi tập thể dục quanh hồ với hội bạn già đến tận trưa mới về vì các mụ bận seo-phì. Nhìn các mụ tạo hình, tạo dáng “diễn” như tuổi xì- tin phát gai cả mắt, nhưng không dám nói, tôi mà mở mồm là mụ “nhảy” vào thò chân ra ngay... Tôi bèn chặn trang của mụ kết bạn với mình để đỡ chướng tai gai mắt, nhưng mụ phát hiện và bắt nối lại, tôi đành phải nghe lời mụ cho êm cửa, êm nhà. Tôi còn phải tích cực “comment” thật ướt át nữa chứ không mụ lại chê tôi: Bụt nhà không thiêng. 

Các mụ chụp, rồi “post” ảnh lên, ngồi chat chit đợi “like, share, comment”…Nhờ cái công nghệ chỉnh sửa hiện đại ấy mà mụ nào nhìn cũng trẻ ra đến hai, ba chục tuổi. Tóc bạc, da mồi, răng xỉn… biến đi đâu mất chỉ còn những cô nàng ngoài 30 xinh tươi, nõn nà, đến ngay cả như thằng tôi mà còn không nhận ra người vợ “tay ấp đầu gối” của mình đâu nữa, nói gì đến Cộng đồng mạng. Các mụ làm quen với một nhóm trai trẻ, ngày nào cũng chat chit đến tận khuya…

Trưa hôm ấy, tôi và mụ đang cho thằng cháu nội ăn trưa, có tiếng chuông bấm cửa, tôi nhìn lên màn hình, thấy một chàng trai trẻ, liền hỏi:
- Cậu gặp ai? 

Câu ta trả lời :
- Cháu chào bác, cháu muốn gặp con gái bác, em Huệ!

Huệ là tên mụ ấy. Nick name là “White Huệ”…chết không kia chứ ! Tôi hiểu liền câu chuyện… Nhân lúc, mụ đang lúi húi cho cháu ăn, không để ý, tôi liền bấm cửa mở mời cậu ta vào nhà để “bóc phốt” mụ và “dạy” cho mụ một bài học. Chàng trai bước vào, thấy tôi và vợ, liền hỏi :

- Cháu chào bác trai! Chào bà! Em Huệ đi vắng ạ?

Lúc này, vợ tội không phải là cô nàng ngoài 30 nữa mà là một bà lão ngoài 60, đầu bù tóc rối, quần áo xộc xệch, da dẻ nhăn nheo… Mụ có vẻ bất ngờ và bối rối, nhưng trấn tĩnh được ngay và nhanh nhảu:

- Huệ nào? Cậu nhầm địa chỉ rồi. Tôi định mở mồm nhưng mụ đã đá vào chân tôi, ra hiệu im lặng, tôi chỉ cười không dám hó hé gì, không khéo, tí nữa khách ra khỏi cửa là lại phải “chịu trận” cuồng phong. Thôi, tốt nhất là im lặng cho lành ! Chàng trai ấy ngập ngừng:

- Chắc cháu lộn địa chỉ, nhà cô ấy không thuê người giúp việc! Tôi không nhịn được cười, phải giả vờ đưa tay nhổ râu…

Chàng trai vừa ra khỏi cửa mụ thốt lên :
- Gớm ! Tìm được đến đây cơ à !

Dại của các mụ giải trí chat, chit trên face lại cho địa chỉ thật của mình. Mà thôi như thế cũng may, để cho mụ vợ tôi xuống mặt đất, suốt ngày mụ ở trên mây, trên mạng, mệt lắm!

(sưu tầm)
QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ THẮNG HAY THUA TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM?

Cho đến nay vẫn có nhiều người cho rằng Quân Đội VNCH đã thua trong cuộc chiến Nam Việt Nam. Bọn VC vẫn trơ trẽn rêu rao những ngôn ngữ rẽ tiền của chúng cho rằng VNCH không có trong lịch sử Việt Nam mà chỉ có một chính phủ VN dân chủ công hoà

Phần đông sự tuyên truyền do bọn Việt Cộng tung ra và cho rằng chúng có chính nghĩa trong công cuộc giải phóng miền Nam Việt Nam, vì chúng có công thống nhất đất nước(sic).

Chúng tuyên truyền rằng đồng bào ta ở trong Nam đang bị đô hộ bởi Mỹ và ngụy quyền Nam Việt Nam, và chúng phải có bổn phận giải phóng đồng bào ra khỏi sự đô hộ của đế quốc Mỹ và Nguỵ quyền Nam Việt Nam

Sau khi dân Bắc vào Nam thì đã căm phẫn trước lời tuyên truyền láo khoét của bọn VC trước sự hào nhoáng văn minh trên đời sống tự do dân chủ của con dân VNCH

Sự lừa bịp đó không những làm con dân miền Bắc khinh rẻ chế độ Cộng Sản đã dần dần đưa đến sự khủng hoảng niềm tin của dân chúng và nhất là tinh thần hạ bệ thần tượng anh hùng cá nhân Hồ Chí Minh đã bắt đầu mọc mầm trong lòng người dân.

Sự thật đã quá rõ ràng trên dòng lịch sử Việt tộc. Ấy vậy bọn VC cho đến nay vẫn huyênh hoang cho rằng Quân Đội VNCH thua và một số người bị tẫy não cũng hùa theo chiêu bài tuyên truyền của chúng để bôi nhọ Quân Lực VNCH

Thắng hay thua chúng ta nhìn vào lịch sử sẽ rõ từ nguyên nhân cho đến kết thúc

Thập niên 50 trên bàn cờ quốc tế đang khởi sự một cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối Cộng Sản và Tư Bản

Trái với sự suy nghĩ của nhiều người trong thời gian này chiến tranh lạnh đã không kết thúc bằng một cuộc chiến tranh nóng hay là một cuộc chiến tranh nguyên tử tiêu diệt nhân loại . Hoa kỳ đã phải tỏ ra rất nhiều cố gắng và kiên nhẫn đã thành công thắng thế trong cuộc chạy đua vũ trang mang đầu đạn nguyên tử và Nga Sô đã phải chấp nhận thua

Ngày 4 tháng 10 năm 1957 Nga Sô loan báo sự thành công khi bắn vệ tinh sputnik nặng khoảng 85 kilos (184 lbs) vào quỹ đạo thì cả nước Mỹ giật mình trước sự thành công của vệ tinh Sputnik.

Như vậy đã chứng tỏ Nga sô đã dẫn đầu trong việc chạy đua vũ trang với hoả tiễn liên lục địa ICBM có thể mang theo đầu đạn nguyên tử . Tưởng rằng mình đã dẫn đầu trên vũ trang với hoả tiên liên lục địa vì thế Nga bắt đầu ra tay đàn áp nước Mỹ

Trong khi đó người Mỹ nghĩ rằng bọn Nga sô sẽ không từ bỏ tham vọng chiếm đoạt cả thế giới để làm bá chủ hoàn cầu qua chiến lược Domino khởi sự cuộc chiến tứ miền Nam VN

Sau khi nhà văn Bernard Fall tác giả cuốn "Street Without Joy" được thăm viếng miền Bắc qua sự gặp gở Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng. Ông Bernard Fall đã đóan ra được ý niệm xâm lăng của Nga qua tay sai Hồ Chí Minh khơi mào tại Nam Việt Nam

Từ đó, người Mỹ đã nắm hết tin tức tình báo là cuộc chiến tranh tại Nam Việt Nam sẽ mở màn trên cái tham vọng bành trướng xã hội chủ nghĩa của Nga đi từ Nam Việt Nam

Vì quyền lợi của người Mỹ nên Hoa Kỳ đã đưa quân vào Nam Việt Nam. Ban đâu Mỹ gặp rắc rối với Tổng Thống Nam Việt Nam lúc bấy giờ là Tổng Thống Ngô Đình Diệm. TT Ngô Đình Diệm đòi Mỹ phải ký Hiệp Ước Song Phương để phòng hờ không bỏ rơi Nam Việt Nam bất cứ một lý do gì. Nhưng người Mỹ không bằng lòng và cho TT Ngô Đình Diệm là trở ngại của Mỹ trong việc đem quân tới Nam Việt Nam

Sau cùng người Mỹ không chịu nhượng bộ và trả tiền cho một đám tướng tá của Quân Lực VNCH giết hai anh em TT Ngô Đình Diệm

Trong lúc chiến tranh VN đang đi vào thời điễm cao độ. Người Nga muốn kết thúc chiến thắng Nam Việt Nam sau khi lệnh Tổng Tấn Công toàn cõi Nam VN thất bại trong cái tết Mậu Thân 1968.

Nga nóng mặt không thắng nỗi Mỹ tại VN nên ngày 24 tháng 2 năm 1968 chiếc tầu ngầm mang đầu đạn nguyên tử k129 phát xuất từ cảng Hải Sâm Uy (Vladivostok) miền cực đông Nga Sô và hướng về phía đông Thái Bình Dương. Nhiệm vụ của chiếc tầu ngầm k129 là đến gần nước Mỹ nhất là quần đảo Hawaii thì càng tốt

Khi chiếc k129 trực chỉ hướng Đông thì toàn bộ quân lực Hoa kỳ báo động ngay. Họ theo dõi từng bước đi của K129. Khuyết điễm của K129 là mỗi ngày phải chạy trên mặt nước khoảng 12 tiếng đồng hồ để cho Dissel Charge các bình điện. Khi các bình điện đã được charge đầy đủ thì K129 có thể lặn sâu

Cho đến lúc chiếc K129 chạy cách bờ biển Hoa Kỳ khoảng 1,200 dặm về phía tây bắc Hạ-Uy-Di, 12 ngày sau khi xuất phát thì gặp tai nạn. Một tiếng nổ làm lủng sườn tàu và tàu chìm rất nhanh vào lòng biển sâu.

Vì tàu chìm xuống quá nhanh nên không kịp báo động hay cầu cứu. Bộ Tư Lệnh tối cao của Nga sô đã không biết chuyện gì xảy ra cho K129 trong khi người Mỹ cũng giữ im lặng như không biết đã có chuyện gì xảy ra .

Nga không biết một tin tức rõ ràng nào về K129 đã bị tấn công như thế nào?

Nga chờ đợi mãi nhưng bóng dáng k129 vẫn biệt tăm . Nga lập tức ra lệnh cho Đô Đốc Valentin Betz chỉ huy một hạm đội gồm 11 chiến hạm nhẹ theo con đường đi của K129 để tìm dấu vết. Sau hơn 6 tuần lễ K129 vẫn biền biệt vô tăm tích trước lòng biển sâu

Sau khi Mỹ thấy họ đã thắng trong cuộc chiến tranh thì sự hiện diện của họ tại Nam VN không còn cần thiết nữa. Vì thế Mỹ đề nghi một cuộc hoà đàm. Nga nhân thấy Mỹ đã thắng Nga trong cuộc chạy đua hoả tiễn liên lục địa nhưng lại xin hoà đàm tại Nam VN. Nga không biết Mỹ sẽ dùng chiêu gì nữa trên vùng Đông Nam Á nên nhất quyết không cho VC ngồi vào bàn Hội Nghị

Cuối cùng Mỹ mới đi với TC và hứa sẽ bán đứng Nam VN cho VC

Hoà đàm Paris ngày 27/01/1973 là một vở tuồng tháo chạy của Hoa Kỳ

Mực ký trên bản Hoà đàm chưa khô nhưng VC đã bất chấp sự thương thảo trong Hoà Đàm đã dùng xe tăng của Nga tấn công vào Saigon trong lúc Người Lính VNCH đã được lệnh ngưng bắn.

Người lính VNCH đã được huấn luyện trên tinh thần quân kỹ. Cho dù bị Mỹ bỏ rơi thiếu đạn dược, thiếu súng ống nhưng họ vẫn can đãm chiến đấu trước những loại khí giới tân tiến của Trung Cộng và Nga sô

Trong khi đã bị đồng minh bỏ rơi nhưng người Lính VNCH vẫn tiếp tục chiến đấu. Nếu không có lệnh buông súng của ông Dương Văn Minh thì Người Lính VNCH vẫn tiếp tục chiến đấu

Cuộc đấu tranh của Quân Lực VNCH đã được thế giới ngưỡng mộ cho một sự oai hùng, bất khuất và cho rằng đó là một cuộc chiến đấu chính nghĩa để bảo vệ tự do, dân chủ không những cho con dân Nam Việt Nam nói riêng mà của toàn thế giới nói chung

Cho đến nay, cho dù 48 năm qua nhưng có rất nhiều chính trị gia vẫn còn ca ngợi sự kiêu hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà như ông Lewis Sorley nguyên là Cố Vấn cho Tham Mưu Trưởng Westmoreland

Trong một cuộc Hôi Luận tại Thành phố St Peterburg ở Florida do Công Đồng Người Việt Quốc Gia Vùng St-Pete-Clearwater-Largo tổ chức vào ngày Quốc Hận 201 . Ông Lewis Sorbey đã kết thúc bài nói chuyện : ĐÁNH GIÁ LẠI QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ là: 

Trong kết luận, cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một cuộc chiến đấu của miền Nam Việt Nam và đồng minh của họ cho một mục đích đáng ngưỡng mộ. Những người quân nhân của Quân Lực VN Cộng Hoà đã chiến đấu với trái tim mạnh nhất của họ, và trong quá trình đó họ đã đến với sự thành công tạo điều kiện cho miền Nam Việt Nam để duy trì chính nó như là một quốc gia tự do và độc lập.

Một phóng viên nhận xét rằng Tướng Abrams là một người đàn ông xứng đáng có một cuộc chiến tranh tốt hơn. Tức khắc, con trai cả của ông, đã ngay lập tức trả lời: ". Ông không nhìn thấy nó như vậy. Ông nghĩ rằng người Lính VNCH có giá trị đó."

Đó là giá trị thành công của Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến VN.

Tôn Nữ Hoàng Hoa

Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận 30/4/1975
Viết để VINH DANH QLVNCH
30/4/2023
Như Bóng Mây


I.
Bây giờ các con, cháu đã về hết. Căn nhà rộng này dường như lại rộng hơn. Tụi nhỏ lao nhao nửa ngày ở đây, rồi lên xe về nhà để ngày mai còn đi làm, đi học, trả lại sự yên ắng cố hữu cho bà Sang. Bà trở vào nhà nhìn ly cà phê nguội ngắt pha từ sáng tới giờ trên bàn. Suy nghĩ vẫn vơ, con cháu về thăm, vui một chút đó thôi, chứ nỗi buồn của riêng bà làm sao cho vơi bớt được!?

Chỉ là vài tháng nay thôi, cuộc sống của bà đã đổi thay rõ rệt. Ngày trước, lúc nào cũng kề cận với chồng, giờ đây ông đã ra đi biền biệt. Nỗi buồn đau này biết có ai chia xẻ cho cùng!!?

Bà Sang thả người vào chiếc ghế bành rộng thênh, nhìn ra ngoài vườn, nắng chiều vàng còn đậu trên hàng cây bưởi, cây cam. Cây tắc năm nay ra nhiều trái hơn, bà cũng không buồn hái vô làm mứt như mọi năm, vì tâm trí bà còn vấn vương hình bóng người chồng, người thương đã năm mươi ba năm chung sống.

Trời ơi! Mới đó mà đã năm mươi ba năm, hơn nửa thế kỷ. Có thể gọi cuộc hôn nhân này là cuộc “hôn nhân thế kỷ” không, vì bà vừa tiễn đưa ông Đê trong ngày Giáng sinh năm ngoái.

…Ngày Chúa Giáng sinh, ngày lễ của thế giới, ngày sum hợp gia đình, một ngày của Cali hoa lệ.., nhưng với bà Sang lại là ngày chia ly thống khổ. Các con tề tựu đủ mặt cùng bà không phải tổ chức tiệc mừng, hoa, rượu…mà để quyết định rút ống thở của ông Đê -chồng bà- đang ở bệnh viện. Không có nỗi đau lòng, tuyệt vọng nào như hôm ấy. Bà Sang và các con nức nở, nghẹn ngào chào vĩnh biệt ông lần cuối trước khi nhờ Funeral Home lo hậu sự cho ông chu đáo…

Vạt nắng lụi dần. Trời sắp tối. Bà Sang ngồi một mình trong chiếc ghế bành này chắc là đã lâu lắm rồi. Trong bóng đêm chập choạng, bà tự nhiên lại nghĩ về đời mình. Cũng may hôm nay trời Cali hửng nắng, nên cái lạnh của những ngày mưa tầm tã mấy hôm trước cũng bớt đi phần nào. Thời tiết năm nay có phần lạ lẫm, vì Cali có bao giờ mưa dầm dề, lê thê như mấy tháng nay đâu!? Có lẽ đất trời cũng đồng cảm với nỗi buồn đau chưa dứt của bà, nên Cali nắng ấm xưa nay, lại là những ngày đêm ủ dột, xót xa.

Chiều đi lặng lẽ.
Thương nhớ muôn bề
Khi người yêu đã chết
Nhạc Thu chưa thấy về
…
Chiều đi lặng lẽ
Mộ chí hoa tàn
Ôi mầu hoa tang trắng
Liệm tình em nát tan.
(Chiều Tưởng Nhớ - Lan Đài)

Ngồi trong bóng mờ tối một mình, bà bỗng nhớ lại câu chuyện đời bà… hồi đó.

…Bà Sang người quê miền Tây sông nước Cần Thơ -gạo trắng nước trong, nơi nổi tiếng con gái xinh đẹp nhất miền. Và cũng là điều tất nhiên, bà đã là một cô gái thật trẻ trung, xinh đẹp. Lớn lên bà theo cha mẹ lên Sài Gòn, vì thân phụ của bà là công chức làm việc ở Quận Sáu – Sài Gòn. Năm mười bảy tuổi, song song với việc học ở trung học Gia Long, bà cũng đã đạt ưu hạng trong kỳ thi vào trường Quốc Gia Âm Nhạc. Mộng ước cuộc đời của bà sẽ trở thành diễn viên sân khấu.

Nhưng, cuộc đời bà đã qua một bước ngoặc nghiệt ngã vì sự ra đi tức tưởi của người cha yêu quí không lường trước của sự thù hận từ đối phương bên kia chiến tuyến đã cướp đi mạng sống ông chỉ vì ông là viên chức chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ông ra đi đúng vào những ngày đầu Xuân Mậu Thân 1968 ở tuổi bốn mươi ba tươi đẹp; bỏ lại người vợ trẻ, và tám đứa con thơ dại, đứa nhỏ nhất chỉ hơn hai tuổi. Và bà Sang phải bỏ học giữa chừng, vất vả đi làm phụ má nuôi em bữa đói, bữa no, ước mơ của bà đã không còn nữa, như cánh màn nhung sân khấu khép lại lạnh lùng sau buổi diễn. Lúc đó, bà không biết phải suy tính ra sao cho tương lai sắp tới, vì trước mắt là lo cơm áo cho đàn em nheo nhóc vừa mất cha, và người mẹ đau khổ vừa mất chồng khi tuổi tác hãy còn xuân sắc.

...Và ông Đê, một người lính trẻ Hải quân Mỹ, theo chân người chú họ, như cơn gió lành, đã đến với gia đình bà. Đúng ra tên của ông là Dave, người lính tình nguyện tham chiến ở Việt Nam, chỉ còn đôi tháng nữa là mãn hạn chiến đấu. Ông đã gặp bà Sang, như duyên phận định sẵn, bằng trái tim bồi hồi, rung động, bằng đôi mắt ngỡ ngàng pha lẫn yêu thương của ông trong buổi gặp đầu tiên. Ông đã bị đánh sập bởi vẻ đẹp “con gái Cần Thơ”, bởi đôi mắt thoáng buồn, gương mặt trái soan bầu bỉnh, bởi làn da con gái của miền “gạo trắng nước trong” tươi tắn của bà Sang… Một dấu hiệu khởi đầu cho một cuộc tình tuyệt đẹp!!

Chỉ một năm sau đó, 1969, bà Sang đã chấp nhận cuộc hôn nhân rất đổi tình cờ mà rất chân thật, ngọt ngào, trong tâm trạng hết sức ngỗn ngang, với ước mong thay đổi cuộc đời. Thôi, bà đã nghĩ rằng:

“Một liều, ba bẩy cũng liều
Cầm bằng như trẻ chơi diều đứt dây”

Thế là bà Sang bịn rịn rời quê mẹ, tạm biệt quê hương Việt Nam lấy chồng đi Mỹ với hai đứa em nhỏ nhất, 1969…

Một lần khép nép từ biệt Mẹ Cha
Phận em là gái như giọt mưa sa
Một lần e lệ bước lên xe hoa
Khép trang nhật ký đôi giòng viễn mơ.
Thôi chăn gối lẻ gửi lại giường xưa
…
Long lanh ngấn lệ, đôi má xuân thì
Hương trinh rờn rợn tà áo vu quy.
(Bài Thơ Vu Quy – Thơ Tuệ Mai, Nhạc Duy Quang)

Bao năm xa cách thương nhớ, bà trở về đón mẹ, cùng các em còn lại đi định cư vào năm 1972 theo chương trình đoàn tụ gia đình của chính phủ Mỹ, do ông Dave ký tên bảo lãnh.

Đó là lần trở về Việt Nam duy nhất của bà.

Ông Dave –chồng bà- không chỉ là người thương, người chồng mà còn là người ơn, người của ân sâu nghĩa nặng của bà. Ông đã tạo dựng một cuộc đời thật đáng sống cho bà, và gia đình đông đúc của bà. Trăm việc lớn, ngàn việc nhỏ. “Bổn phận sự, trách nhiệm vụ” này hiếm mấy ai nhiệt tình làm được như ông.

Như ông Bụt trong truyện cổ tích ngày xửa ngày xưa, với tấm lòng bác ái đối với đồng loại, với gia đình bà, với tình yêu vô bờ bến đối với bà, ông Dave là hiện thân của ông Bụt ngày nay đã dang tay cứu giúp gia đình bà đang khẩn cấp cần sự cứu giúp. Mang trong người dòng máu Mỹ nhưng ông Dave có trái tim Việt, tình yêu thuần Việt, nên đã thấu hiểu, thông cảm, yêu thương bà,và giúp đỡ gia đình bà hết lòng.

Làm sao nói hết nỗi gian truân của người vợ, người mẹ nơi xứ lạ quê người, bà Sang suốt một đời tần tảo, hết lòng hết dạ vì chồng con, vì gia đình, các em, một đời học tập, làm việc không ngừng nghỉ để hòa nhập vào đời sống mới, để đền đáp lại lòng tốt của ông Dave, đồng thời giữ được nếp nhà để làm gương cho các em, các con, nơi đã chọn là quê hương thứ nhì.
….
Cho nên khi ông Dave không còn, thì làm sao không để lại thương tiếc trong lòng mọi người biết ơn, yêu thương ông, nhất là trong trái tim thương tổn của bà Sang. Ông bỏ lại sân trước, vườn sau, nơi nào cũng có bóng dáng của ông, có bàn tay của ông chăm sóc. Để cho vợ bớt nỗi nhớ nhà ông đã làm một vườn hoa hình chữ S thật đẹp ở sân trước, ai cũng trầm trồ khen ngợi ông khéo léo khi có dịp ghé qua chiêm ngưỡng. Những thành phố trên bản đồ hoa, ông đều trồng hoa Hồng, hoa Cúc. Nơi được xem là thành phố Sài Gòn –nơi ông đã gặp tình yêu của ông - đặc biệt ông trồng những bụi Trúc xinh xinh.

Sau này, từ khi chồng mất, bà Sang ít khi ra vườn sau nhà, vì hễ vừa thấy bóng bà lúi húi quét lá vàng rơi, con két thú cưng thật đẹp của ông Dave nhảy cà tưng trong lồng treo bên chái nhà “guest house” cất giọng khan đục : Heh Xang, heh Xang! Đúng như cái giọng ông Dave kêu, khi bà khi có điện thoại cuộc gọi đến.

Con két đẹp quá bà không nỡ đem cho ai, nhưng ngặt một nỗi tối ngày cứ nghe giọng “Heh Xang heh Xang” của nó, bà không chịu đựng được nỗi nhớ thương người đà khuất núi.

Bà Sang sống giản dị, ảnh hưởng sâu đậm đời sống Mỹ. Ông Dave qua đời, bà, và các con không tổ chức lễ tang, không có service ở Funeral home như bao người khác, không có khăn tang, không có hoa tang, không có khách viếng, nghĩa là “Nothing”, không có gì hết.

Có đôi bạn thân thắc mắc về sự cô liêu quá lớn mà bà Sang dành cho chồng trong ngày tử biệt, bà chậm rãi nói:

“Mấy bồ nghĩ xem, tôi đâu nỡ đem chuyện buồn đau của mình chia sẻ với mọi người. Còn nếu là niềm vui, tôi muốn mọi người cùng vui với tôi, còn nỗi buồn, tôi xin ôm giữ một mình”.

Bạn bè thân quen không ai dám nhắc với bà về chuyện ông Dave. Mỗi lần gọi phone thăm, bà Sang vẫn khóc nức nở làm cho chúng tôi cũng đau lòng xót dạ. Có lần bà kể:

“Từ biệt ông Dave ở bệnh viện, mẹ con tôi giao ổng cho funeral home. Vài tuần sau họ giao cho mình lại hủ tro cốt. Thế thôi! Đó là tâm nguyện của Dave. Ông không muốn phiền muộn cho mọi người, kể cả vợ con”.

Trầm ngâm một lúc bà kể tiếp:

“Dave là cựu quân nhân, do đó, chính phủ sẽ lo giúp tang lễ cho ổng, nhưng vì trước lúc mất, ổng dặn dò tôi đừng nhận đặc ân đó. Ổng chỉ muốn ra đi thanh thản không muốn vướng bận chuyện gì hết”…

Bây giờ bóng đêm đã thực sự tràn ngập căn nhà, bà Sang dần bước tới bên tủ rượu, nơi đang đặt hủ tro cốt của chồng, thắp lên hai ngọn nến song song. Trong ánh nến lung linh, nụ cười của ông tỏa sáng trong bức chân dung ngày thời còn trẻ. Cũng nụ cười ấy, dáng dấp cao lêu nghêu làm bà nhớ lần đầu tiên hai đứa gặp nhau 1968, và bà trở thành vợ ông khi bà vừa tròn tuổi đôi mươi. Bà lặng lẽ mỉm cười hạnh phúc trong… lệ nhòa…,vì nhớ thương ông, hay vì khói nến đang trêu mắt bà.

Tiếng chuông điện thoại reo vang, bên kia đầu giây thằng em út của bà hỏi vọng:

“Chị Hai khỏe hôn? Chị bớt buồn đi nha. Má nhắc chị đó. Má nhắc chị sao không qua thăm má kìa!?”

“Ờ!,mấy hôm nay trời mưa hoài. Với lại, có tụi nhỏ về chơi. Thôi để ngày mai chị qua”. Bà Sang đáp. Thằng Út hỏi thăm qua loa rồi cúp máy.

Bà Sang thở dài âu lo. Phải mà, không lo sao được. Mẹ của bà sắp đến tuổi trăm, sức khỏe như đèn trước gió, đang ở với thằng con út, cách nơi bà nửa giờ lái xe. Thằng út đi Mỹ lúc chỉ hơn ba tuổi, giờ đã năm mươi ngoài. Vì còn quá nhỏ, nên đâu biết mặt cha. Nó cứ nghĩ Dave, người hoạn dưỡng là người thế vai cha nên cứ gọi tới gọi lui “Daddy, daddy”. Mấy chị em bà ai nghe cũng động lòng khóc mướt.

Bà Sang trở lại ghế bành, nhìn ánh nến lung linh xa xa bên di ảnh chồng, bà xúc động nói lầm thầm như để nói với ông:

“Honey à! Cái ghế này thằng con lớn nó mua cho ông để thay cái đã sờn rách. Nhưng, từ Health Care Center, Honey trở lại bệnh viện rồi… đi luôn. Honey chưa ngồi cái ghế này lần nào.”

Lầm thầm đến đây, bà Sang thực sự xúc động dữ dội, hai tay vịn vào thành ghế nghẹn ngào... Tự trấn tỉnh một lúc, bà lại nghĩ đến một câu thơ Truyện Kiều sao lại giống tâm trạng của mình bây giờ quá đổi:

“Nghĩ mình, mình lại thương mình xót xa”.

Bà Sang cũng lại nghĩ đến mẹ, không biết mẹ bà còn chống chọi được bao nhiêu ngày nữa khi sức lực ngày càng yếu dần; lúc mê lúc tỉnh. Bà Sang cũng đã chuẩn bị tinh thần cho “chuyến đi xa” của mẹ bà ấy rồi.

II.
Câu chuyện của bà Sang cứ lẩn quẩn trong tâm trí tôi, kể cả lúc ăn, lúc ngủ. Hình ảnh người phụ nữ Việt nam cả đời cực nhọc với gia đình, chưa nguôi ngoai nỗi buồn tang chế của chồng, lại sắp sửa chia tay với người mẹ yêu quí, góa bụa, âm thầm, sống chỉ vì con ở đất khách quê người. Nỗi đau buồn chồng chất trên vai khi tuổi đời không còn trẻ nữa, bà Sang đã qua tuổi bảy mươi, là tuổi “thất thập cổ lai hy” rồi, đáng lẽ phải hết mọi ưu phiền. Đằng này sao tâm tư bà vẫn còn trĩu nặng nhiều nỗi buồn thương!!?

Chúng tôi cứ băn khoăn mãi về cuộc đời của những người già ở Mỹ. Họ có được hạnh phúc không? Họ có thực sự “Quẳng gánh lo đi, và vui sống không” như tác giả Dale Carnegie viết từ lúc chúng ta còn trên ghế nhà trường tuổi mười lăm, mười bảy không, hay đang sống cuộc đời bất hạnh?

Người già ở Mỹ, cụ thể hơn là người Việt tị nạn ở Mỹ từ sau 1975, họ có đời sống tinh thần vật chất như thế nào? Chuyện này chưa có một thống kê nào hết. Nhưng qua cảm nhận của từng người, cuộc sống ấy cũng “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, không thể nói hết được cách sống nào hay hơn!

Khi các con đã trưởng thành, căn nhà sẽ rộng hơn, vì chúng đã có gia đình riêng không thể ở chung nhà với cha mẹ nữa. Người Mỹ gọi gia đình lúc đó là “empty nest” vì chim non đã rời xa tổ ấm mà chúng đã lớn khôn từ đó, chỉ còn lại cha già, mẹ yếu. Từ lâu, thế hệ trẻ đã không còn thích ở chung, ở với cha mẹ nữa. Có khi các cháu vừa xong trung học đã vào dorm ở đại học , hoặc chọn cách sống riêng với “boyfriend” hay “girlfriend”. Tuổi trẻ yêu chuộng tự do, không muốn bị quấy rầy dù đó là song thân của mình.

Các cháu ngày càng lớn khôn, ra trường đi theo công việc. Có khi các cháu không ở cùng bang với cha mẹ, sự viếng thăm ngày một thưa dần. Mỗi năm, con cái chỉ về chơi, thăm viếng cha mẹ một đôi lần vào dịp Lễ Tạ Ơn (Thanks Giving), hay Lễ Giáng Sinh (Noel) mà thôi. Ngày Tết truyền thống Việt được xem là ngày Tết sum vầy, vậy các cháu cũng đâu được ngày nghỉ. Những ngày holidays của Mỹ không bao gồm ngày Tết âm lịch, do vậy, cha mẹ già cũng ăn Tết “hiu hắt” cùng nhau.

Bây giờ, khi chúng ta sáu mươi lăm tuổi trở lên được gọi là “senior”, tức là người già rồi, được nghỉ hưu rồi, sẽ được nghỉ ngơi “thơ túi, rượu bầu” như người xưa hay được “khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên” (Kiều). Mà, mấy ai được là tri âm đến vậy?

Tuổi già được ấn định từ trên sáu mươi lăm, như vậy lằn mức tuổi từ bảy mươi đến tám mươi chúng ta phải có cuộc sống như thế nào mới gọi là vui sống?

Thời nay, nhà nào đa số cũng chỉ có hai người, thỉnh thoảng mới có con, cháu về thăm. Buổi sáng thức dậy thấy trời hửng nắng có chút vui, nếu gió lạnh căm, tuyết rơi dầm dề, đôi bạn già nhìn ra sân trước vườn sau… mới thấm thía cuộc đời hiu quạnh của chính mình đến dường nào.

Làm sao để tuổi già được an vui đây, thưa quí độc giả? Người viết xin không đề cập đến đời sống vật chất, về cơm áo gạo tiền vì ai cũng có được trợ cấp từ chương trình SSI, hay SSA, tức tiền già, hay tiền hưu bổng từ quỹ An sinh xã hội. Giàu, hay nghèo, hạnh phúc, hay bất hạnh tùy thuộc một phần vào suy nghĩ, quan niệm của từng gia đình, “biết đủ là đủ”, không so sánh, và không phiền trách ai, kể cả không đòi hỏi trách nhiệm từ con cái.

Mọi người chắc sẽ đồng ý với chúng tôi về điều này: Hạnh phúc trên hết của tuổi già là sức khỏe, không vướng vào những căn bệnh nan y. Tuổi già mà, như bóng xế đầu non, như cây khô thiếu nước, làm sao tránh khỏi “một thấp, ba cao”? Vì thế chúng ta phải thường xuyên tự lắng nghe cơ thể mình; phải thường xuyên lui tới bác sĩ gia đình, tập thể dục hằng ngày, và ăn uống điều độ.

Người viết cũng hiểu rằng điều quan trọng cho tuổi già là sự vui tươi, có thể nói là mỗi ngày tự tạo cho mình một niềm vui. Cả vợ, cả chồng không ai còn trẻ nữa. Tình yêu sôi nổi tuổi hai mươi, ba mươi đâu còn, hương đã phai, sắc đã nhạt rồi, chỉ còn lại tấm nghĩa ân. Lúc này, “phu phụ tương kính như tân”(Vợ chồng nể phục nhau như bạn) mới đúng nghĩa. Sự háo hức sôi nổi ngày trước đã héo tàn, tình đã vơi đi chỉ còn lại là cái nghĩa thủy chung, có trước có sau là như thế. Vợ chồng cũng là bạn, nhưng dài lâu, bên nhau chia sẻ ngọt bùi, cay đắng đủ mùi, nên người ta gọi là BẠN ĐỜI.

Đôi lúc, vợ chồng cũng có lúc cãi nhau vì chuyện con cái, vì đường kia lối nọ, vì không có cùng quan niệm, nhưng chắc chắn rồi cũng sẽ buông bỏ thôi, vì “lực bất đồng tâm” đã hết sức rồi, đã tận lực rồi, thời gian bên nhau đâu còn bao lâu nữa!?

Phải, thời gian không còn bao lâu nữa với chúng ta, người già trên dưới tám mươi này. Ai rồi cũng sẽ lên tàu, ra khơi. Vé đã mua xong rồi, chỉ chờ chuyến thôi… rồi “thuyền cũng ra cửa biển”. Vì thế, chúng ta nên dành vài phút hãy nghĩ về nhau đi. Ngày xưa, các lão gia cũng liệt oanh cung kiếm, bây giờ gối mỏi chân chồn, tóc điểm sương phai, bệnh tật rề rề nên tính tình thay đổi. Ngày xưa ngọt ngào đến thế, “gallant” đến thế, sao bây giờ bực dọc, than phiền nỗi nọ đường kia!? Danh lợi đã qua, chỉ còn lại tuổi già lãng đãng, sao cứ trách người phối ngẫu hơn nửa thế kỷ bên mình về cơm canh mặn lạt?

Chúng ta hãy quên bản thân mình một vài phút đi, để nghĩ về người đã phụng sự cả đời cho mình, cho các con. Người vợ, hay người chồng cũng thế. Họ còn ở bên mình bao lâu!? Chúng ta là chỗ dựa của nhau khi trái gió trở trời.

“Con cá làm nên con mắm
Vợ chồng già thương lắm mình ơi”(Ca dao)

Vì ngoài hai chúng ta, ai đỡ nâng ta khi vấp ngã, ai chia xẻ với ta chuyện nắng sớm mưa chiều. Về các con, ta phải thông cảm cho chúng. Chúng ta nuôi con, còn bây giờ chúng phải nuôi con của chúng nó. Thương con, nhưng đừng quá trông chờ, rồi chúng ta buồn thương, tuyệt vọng. Nếu già thêm chút nữa, không tự lo liệu cho mình thì nhà nước có chính sách giúp đỡ bằng cách gửi người đến chăm sóc. Nếu cùng cực phải vào nhà dưỡng lão, chúng ta cũng an nhiên chấp nhận mà thôi.

Phải cố suy nghĩ như vậy. Buông hết, bỏ hết. Vợ chồng tuổi này phải hết sức cảm thông, chín bỏ làm mười, thương nhiều hơn là trách cứ. Vợ chồng là BẠN ĐỜI, khi đời về già là bóng tối, là hoàng hôn, phải nhẫn nhịn,chia xẻ, THẤU HIỂU, cảm thông.

Tôi đã dặn lòng mình như thế, nhưng có thực hiện được không, tôi nào biết được!?

Ở những tiểu bang nắng ấm như Texas, Cali có đông người Việt quay quần, người già có được những niềm vui gặp gỡ đồng hương, tha hồ vui vẻ với hội hè, lễ lạc. Riêng chúng tôi, và những đồng hương sống ở những nơi xa xôi, mùa Đông có khi kéo dài bốn, năm tháng, tuyết phủ ngập đường ngập lối, người Việt sống rải rác, nên ít có dịp gặp gỡ, hàn huyên. Đời sống người già ở đây, do vậy, tẻ nhạt hơn người già ở những nơi nắng ấm nhiều lắm.

Bây giờ là cuối tháng Ba. Mùa Xuân đến rồi đó, nhưng tiết trời vẫn lạnh. Đâu đó, chúng tôi thấy sắc Xuân tràn về bên những luống hoa Tulip vừa mới trở mình. Tôi mong chờ tháng Tư với hoa Anh Đào nở rực rỡ sắc hồng suốt con đường dài ở Cherry Hill, hay mùa hoa Anh Đào cố hữu soi bóng nước hồ Potomac-Virginia, thủ đô Washington D.C vào những ngày đẹp nắng. Tôi mong chờ trời đất vào Xuân cũng như ước mong mọi điều tươi đẹp đến với nước Mỹ, xứ sở cưu mang chúng ta gần năm mươi năm nay.

Mượn trang viết này, tôi xin gửi đến những người già như tôi đã sống lưu vong có một đời đáng sống với TÂM AN, và sức khỏe ngày càng khá hơn, từ niềm vui tự tạo, và mang niềm vui đó đến với mọi người.

III.
Sáng hôm nay trời nắng đẹp dù nhiệt độ vẫn còn dưới 30oF. Định bụng sẽ kết thúc bài viết này rồi sửa soạn buổi điểm tâm cho “lão gia”, nhưng tin nhắn đã báo cho tôi biết mẹ bà Sang đã “về trời” từ giữa khuya (giờ Cali). Tôi bỗng thấy nhói trong ngực như có ai đó đang đè nặng trái tim mình, dù sự vụ này ai cũng tiên đoán được ngày bà mẹ đi không xa.

Tôi vẫn luôn trấn an mình, vì “Tuổi già, hạt lệ như sương” (Nguyễn Khuyến), tránh xúc động mạnh, ảnh hưởng đến sức khỏe, nhưng sao tôi vẫn nghĩ về bà Sang, bạn tôi. Rồi đây, bà ấy có tự vượt khỏi chính mình với nỗi buồn này không? Tang chồng chưa nguôi ngoai, lại lo tang mẹ. Ôi! Những mất mát thật to lớn trong đời chị ấy phải đối mặt khi tuổi đã ngoài bảy lăm, chệnh choạng đi về phía hoàng hôn, xế bóng.

Và, luôn thể, tôi lại nghĩ đến chính mình. Tôi hay nửa đùa nửa thật nói với bè bạn, anh chị em trong nhà rằng: “Thôi! Sống cho qua ngày, chờ ngày qua đời”. Quý bạn đọc nghĩ rằng tôi bi quan chán đời chăng? Không, tôi vẫn yêu quá cuộc đời này, và luôn yêu quí con người. Đến tuổi này rồi, phong ba đã từng, bão táp đã có, chúng ta còn lại gì thời gian ít ỏi này?

Tôi đã biết “Khi chúng ta không có điều mình thích, thôi thì hãy thích điều mình có” để luôn luôn an nhiên sống với con cháu, bè bạn xa gần. Tôi đã chăm chút, đong đếm từng chút hạnh phúc muộn màng, mong manh trong tuổi già, bên cạnh “lão gia” nhiều bệnh tật của mình đang gần đến tuổi bát thập.

Tất cả rồi sẽ qua đi. Tình yêu, công danh, sự nghiệp, tiền bạc… ngay cả đến sinh mệnh của mỗi người rồi cũng như bóng mây trời, bay đi, bay đi nhanh chóng.

Trang viết trước mặt vẫn còn đó. Hình như tôi đang có tiếng thở dài, dù rất nhẹ.

Song Lam.
Cherry Hill, Những ngày đầu Xuân,
cuối tháng 3/2023.

Blog Archive