SAO NHIỀU THÍCH TRÍ QUANG QUÁ VẬY?!
J Kiên Trung
Ai cũng biết câu tục ngữ: ‘Chiếc áo không làm nên thầy tu”. Nhưng biết là một chuyện; tỉnh táo, can đảm để không bị huyễn hoặc, bị lầm lạc là chuyện khác. Không cần nói chuyện xa xưa, bài học về những kẻ “xanh vỏ đỏ lòng”, đội lốt tu hành để mưu đồ đen tối vẫn hằng tiếp diễn. Bài học máu xương dai dẵng đó có giúp mọi người tỉnh táo, sáng suốt cho chặng đường hiện tại và tương lai không? Không! Giặc cộng vẫn tiếp tục khai thác và ta vẫn tiếp tục bị động trong sự kiêng dè, mặc cảm trước những chiếc áo thầy tu!
Địch dùng tôn giáo như một mũi nhọn khi tấn công, và như một tấm khiên hay một cái áo giáp chắc chắn che đỡ khi bị phản kích, bị tố cáo…
Ta thì kiêng dè tôn giáo. Kiêng dè quy cũ, kiêng dè cái tốt, cái hay thì nói làm gì; đằng này, kiêng dè cả những kẻ hung ác đội lốt; kiêng dè cả những sai trái mang mặt nạ tôn giáo (Tôn giáo và Từ thiện là 2 mặt trận quan trọng được giặc Cộng triệt để khai thác!!). Có khi kiêng dè vì tin tưởng theo ki ểu u mê. Cũng có khi kiêng dè vì sợ bị chụp mũ:”Kỳ thị tôn giáo”?!
Một trong những sách lược tinh quái của cộng phỉ Hà Nội dùng để phá hoại công cuộc chiến đấu bảo vệ tự do của VNCH trước đây và công cuộc đấu tranh giành tự do,dân chủ, nhân quyền của dân tộc VN hiện nay là xâm nhập và biến những bộ phận tôn giáo thành công cụ phục vụ cho chúng. Thực tế, sách lược lợi hại này đã rất thành công. Đã thành công mỹ mãn trong quá khứ là ngày 1/11/1963 tạo tiền đề dẫn đến đích điểm 30/4/1975 thì không lý do gì giặc cộng không đẩy mạnh chiêu thức này trong hiện tại và tương lai. Điểm đặc biệt là khi hoạt động “tôn giáo vận”, cán bộ Việt gian CS rất hiệu quả khi núp dưới chiêu bài Phật giáo! Phải chăng do tôn giáo này lỏng lẽo trong tổ chức và yếu kém về tinh thần đề kháng…n ên d ễ bị khuynh đảo?!
Trước đây, người ta mù mờ về Thích trí Quang, một gương mặt trí trá, với chiếc đầu trọc và chiếc áo vàng mượn danh tôn giáo, nhận tiền bạc ngoại bang và sức lực CS đã góp phần phá sập một nền dân chủ còn non trẻ nhưng đầy sức sống của Đệ I VNCH!
Những trò xách động biểu tình, dàn cảnh sát hại dân thường, dàn cảnh tự thiêu…chỉ là những bề nổi che dấu âm mưu cấu kết với ngoại bang Mỹ v à CS để triệt hạ những nhà lãnh đạo nhiệt thành thương dân yêu nước…Họ là ai?
_ Họ là những kẻ u mê thù ghét Đệ I CH , là một trong 4 thành phần nhúng tay vào tội ác:
1) Mỹ (chủ mưu)
2) CS (cấu kết vì cùng thù ghét TT Diệm)
3)Nh ững kẻ lấy danh nghĩa Phật giáo gian phản (gian ác lợi dụng áo cà sa, vừa ăn tiền Mỹ, vừa làm tay sai CS!)
4)Tướng tá phản bội phản phúc (ăn tiền Mỹ phá hoại đất nước!)
Những kẻ u mê vẫn tiếp tục giọng điệu bôi bác cũa 4 thành phần gây tội ác...! Cả 4 THẾ LỰC GIAN ÁC NÀY VẪN TUNG NHỮNG LUẬN ĐIỆU BỊP BỢM ĐỂ CHỐI TỘI, BẰNG CÁCH NÓI XẤU ĐỆ I CỘNG HÒA. NHỮNG NGƯỜI CÓ LƯƠNG TRI CẦN CAN ĐẢM NÓI LÊN SỰ THẬT ...
Hãy suy tư về sự thật khi ta biết những ý kiến của những nhân vật nổi danh nói về TT Ngô Đình Diệm, cho chúng ta cái nhìn chính xác về ngài:
1)TT Tưởng giới Thạch đau buồn khi hay tin TT Diệm bi lật đổ:" Trong vòng 100 năm nữa VN cũng không kiếm ra một người tài đức như vậy!"
2)TT Lý thừa Vãn (Nam Hàn):" Chế độ Cộng Hòa của TT Diệm là hào quang của vùng Á Châu"
3)TT Suharto(Indonesia):" Tôi khâm phục sự tiến triễn vượt bậc của VNCH dưới sự lãnh đạo của ông Diệm. Riêng ông Nhu thật sự là một lý thuyết gia là một nhà tư tưởng kiệt xuất..."
4)TNS Mansfield(Mỹ):" Nếu ông Diệm bỏ đi hay bị lật đổ...HCM có thể đi bộ vào và chiếm đất nước VN không có bất cứ khó khăn nào!"
NGAY CẢ KẺ THÙ CS CŨNG BÁI PHỤC TT DIỆM:
Khi nghe tin TT Diệm bị lật đổ:
_ HCM xoa tay khoan khoái cho rằng:" Thế là ta đã mất đi một địch thủ lợi hại nhất...!"
_ Võ nguyên Giáp thì bảo:" Thật là món quà quý giá nhất mà người Mỹ tặng cho chúng tôi. Tôi không hiểu tại sao người Mỹ có thể ngu đến như vậy!"
_Nguyễn v Linh thì nói:"Luật 10/59 còn lợi hại và đáng sợ hơn cả B52..." Cũng trong cuốn:" Về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước"; NV Linh tiết lộ:" Với Ấp Chiến Lược, 75% cán bộ cs ở miền Nam đã bị tiêu diệt...!"
KẺ THÙ CỦA SỰ THẬT LÀ BỌN VẤY MÁU DÂN TỘC VN: MỸ+ CS+BỌN SƯ SẢI GIAN MANH ĐỘI LỐT+ TƯỚNG TÁ BẤT TÀI ĂN TIỀN NGOẠI BANG!!!
Sau khi phá sập nền Đệ I CH, những kẻ núp dưới cái áo vàng lên mặt hống hách , vênh váo coi sân khấu chính trị miền Nam như chổ không người. Chúng liên tục khuynh đảo, làm loạn với các trò xuống đường , biểu tình…Nào là lập ra Đoàn “Phật tử Quyết tử!!!”, nào là tung tiền ra thuê mướn du côn, xã hội đen …tấn công vào nhà dân chúng, vào những nơi phượng tự của tôn giáo khác…Huy động những kẻ u mê chưa đủ, bọn khoác áo tu hành l ại kích động “ Phật xuống đường”…! Người ta được dịp chứng kiến biết bao bàn thờ Phật nằm giữa đường ngăn chận giao thông, và rồi sau đó bao nhiêu tượng Phật bị quăng lên xe thu gom vào kho bãi, bao nhiêu tượng Phật nằm lăn lóc trên vệ đường hay tủi thân hơn nằm vương vãi trong các bãi rác thành phố…! Ôi biết bao trò nhố nhăng làm đau lòng Phật, buồn lòng tín đồ chân chính…!
Ở miền Trung , dưới danh nghĩa “Phật giáo đấu tranh”, đ ám đội lốt sư sải liên kết với các tên gian phản như Nguyễn Chánh Thi, Đàm quang Yêu… đòi “Miền Trung ly khai”!
Mỹ tung tiền ra xử dụng PG như con bài trong âm mưu lật đổ TT Di ệm, nhưng đến lúc này đã quá chán ngán “bọn sư chính trị” nên không ngó ngàng tới , không chi đô la nữa. Phong trào PG nổi loạn như bong bóng bị xì hơi!
Nhưng không ồn ào trên bề nổi, những kẻ này vẫn âm thầm hoạt động. Họ dựa vào thế lực mà quân dân Miền Nam đang trực diện chiến đấu để sinh tồn! Ai là chiến sĩ VNCH mà không từng biết không ít những ngôi chùa chứa đầy mã tấu, chất nổ…, và biết bao nhiêu đồng đội, đồng bào đã gục ngã vì những tràng đạn AK phát xuất từ những nơi bí hiểm ấy!
Một điển hình khác là sư Thích Đôn Hậu! Người ta cũng mù mờ, hoặc úy kỵ sợ bị gán là “kỳ thị tôn giáo” nên dù biết rất rõ cũng không dám đụng chạm đến Thích Đôn Hậu, kẻ đã ngang nhiên đứng vào hàng ngũ của cái gọi là Liên minh dân tộc Dân Chủ và Hòa Bình do CS Hà Nội dựng lên ngày 01/2/1968 chung với các tên đồ t ể Lê văn Hảo,Tôn thất dương Tiềm, Hoàng phủ ngọc Tường, Hoàng phủ ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân…; Nghĩa là hàng ngũ những tên vô lại, phản bội phản phúc, nhúng tay thảm sát đ ồng bào Huế dịp Tết M ậu Thân! Sau đó, núp dưới áo cà sa, Thích Đôn Hậu lại huy đ ộng nh ững ngư ời mê muội cấu kết cùng giặc cộng gây ra chướng ngại cho cu ộc phản kích của quân đ ội VNCH. Thích Đôn Hậu là tên tội đồ gây ra cái chết của Trung tá Lê minh Hằng v à 100 chiến sĩ Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên TQLC…(Với công lao theo Cộng phá hoại đất nước, Thích Đôn Hậu đã được CS Hà Nội ban thưởng Huân Chương cao quý của chúng là Huân Chương Hồ chí Minh!!!)
Những con rối Thích trí Quang, Thích nhất Hạnh, Thích thiện Minh, Thích đôn Hậu, Thích Minh Châu, Huỳnh Liên v.v… liên tục diễn ra những hành vi làm “mất máu” mi ền Nam, góp thêm công trạng cho giặc thù phương Bắc …
Đỉnh điểm của sự lộ mặt những kẻ đội lốt tôn giáo là suy tôn tên gian tặc Dương văn Minh dẫn đ ến ngày 30/4/75! Giữa lúc quân dân miền Nam tột cùng đau thương thì Thích trí Quang cùng phe cánh hân hoan lập công với giặc cộng. Ai ở Sài gòn thời điểm ấy đều tận mắt chứng kiến đoàn lũ sư, ni mang cờ quạt biểu ngữ ra tận ngoại ô đón rước những cánh quân thổ phỉ vào thành phố để khởi đầu cho mọi nghèo hèn , nhục nhã, máu đổ xương rơi, nhân phẩm nhân quyền bị hủy diệt…! Khi nhận diện được Thích trí Quang và bè đảng thì đã quá muộn…Nước mất, nhà tan…
Sau 1975 cánh Giáo hội PGVN Thống Nhất(GHPGVNTN) tức Phái Ấn Quang trước đây hoạt động dưới bóng Mặt trận giải Phóng Miền Nam bị CS Hà Nội gạt ra rìa thì bực tức trở thành phái đối kháng! Vì thế, năm 1981 giặc cộng lập ra cái gọi là Giáo Hội Phật Giáo VN làm công cụ Quốc doanh nhằm gây phân hóa hàng ngũ PG. Từ đó, trong nước và cả hải ngoại, người bình thường khó phân biệt Chùa nào, sư sải nào kh ô ng th â n c ộ ng ho ặ c sư sải nào thân cộng(hoặc CS chính tông do Công An giả dạng!);!
Hình ảnh những vị chân tu đạo cao đức trọng có lẽ đã đi vào huyền thoại. Đến như một Phật tử thuần thành như nhà văn nữ Dương thu Hương phải phát thệ là không bao giờ đến chùa nữa vì những quyền lực “thổ phỉ”làm cửa thiền bị nhơ nhớp:
“Quyền lực nào áp chế những người tu hành và thả lũ lợn bẩn thỉu vào khắp chùa chiền xứ sở? .... Chẳng có gì bí mật cả, "bên trên" là A 25 Cục bảo vệ văn hóa thuộc Tổng cục 1 Bộ Nội vụ. A 25 có nhiệm vụ đào tạo sư sãi để "yểm" Hội Phật giáo Việt Nam, để trấn giữ hệ thống chùa toàn quốc.Nhiệm vụ của họ là "khống chế hội phật giáo" biến chùa chiền toàn quốc thành hệ thống pháo đài của quyền lực, rình mò theo dõi tư tưởng dân chúng và ....điều này nữa, các tín đồ của Marx không quên: tận thu nguồn lợi béo bở từ đám chúng sinh "mê tín" kia. Vậy là đội quân "sư nhà nước" được hình thành. Nguồn đào tạo chính là C 500 (đại học ngành an ninh). Thêm nữa, sinh viên tuyển lựa từ các đại học khác như Tổng hợp, Sư phạm, Ngoại ngữ ... có thành phần cơ bản (lý lịch đáng tin cậy) được vũ trang bằng lý thuyết giai cấp của Marx-Lénine và một thứ chủ nghĩa duy vật hạ đẳng. Sau đó, lớp người này được "tráng men" bằng lý thuyết đạo Phật và trước hết các phương pháp niệm kinh, hành lễ để "vào nghề".
Như thế nhà nước cộng sản đã tạo nên một đội ngũ "tôi tớ trung thành" được quyền thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất và nhục thể dựa trên sự đầu cơ trục lợi "những khát vọng tâm linh" của dân chúng. Các ông sư bà sư áo quần phấp phới cưỡi xe vù vù đi "họp kín". Họp kín ở đây tức là họp "giao ban" ngành dọc A 25. Họ báo cáo rành mạch mọi thành tích. Riêng những cọc tiền thu được từ các hòm công đức là "không thể rành mạch" vì các sư còn phải mang về quê xây nhà tầng và lo cho các con học đại học trong nước và ngoài nước. Sư hành nghề ở Thái Nguyên, Hà Bắc thường có quê quán gia thất tại Thanh Hóa, Nam Định và ngược lại .... So với các nghề khác trong Bộ Nội vụ, "nghề làm sư" là béo bở, chỉ thua kém "Cục buôn lậu ma túy" thôi. “ (Theo DTH, bài “ Tôi là Phật tử theo cách riêng của tôi”)
Hiện trạng: “sư hổ mang”, “thầy chùa lửa”… từ chổ gian ác theo xu thế tự phát, dưới sự đào tạo, dìu dắt của đảng thổ phỉ cs, đi dần đến chổ “sư quốc doanh”, “sư nhà nước”, “sư công an”…gian ác có hệ thống , có bài bản…trên quy mô lớn!
Những cái tên “quậy phá” nền Tự Do dân chủ của VNCH như Thích trí Quang bị cho “ra rìa”, Thích Thiện Minh vì ”xôi hỏng bỏng không” tỏ ra bực tức thì bị chủ CS Hànội đập đầu chết thảm ở Xuân Lộc, Thích trí Thủ bị bức tử v.v…Những chổ trống được thay thế bởi các tay đầu trọc khác. Có khi mang danh Sư Quốc Doanh như Thích Thanh Tứ, Thích Thanh Từ… Có khi ẩn dưới nhãn hiệu: “S ư Ô ng”Th ích nh ất H ạnh+”Sư B à “Ch ân Không Cao Ngọc Phượng…Có khi khoác áo “Phái Thân Hữu Già Lam” như Thích tuệ Sĩ, Thích trí Siêu (Lê Mạnh Thát),Thích Quảng Liên, Thích nhật Từ… hay “Nhóm tăng ni hải ngoại” như Thích quảng Ba,Thích Bổn Đạt,Thích Giác Nhiên v.v…Nhưng dù mang chiêu bài nào, những thành phần này đều góp phần làm hại đạo pháp và là trợ thủ đắc lực cho giặc cộng hủy diệt nhân sinh, nhân quyền của dân tộc VN!
Tinh thần tinh túy của đạo Phật là tinh thần Bi_ Trí_Dũng bị hạng “đầu cơ tôn giáo” hủy hoại. Thay vào đó, họ chú mục chăm chăm vào việc khuếch trương hình thức ngôi chùa, khuếch trương cơ ngơi cho bản thân và “gia đình”, mưu cầu tiền tài, danh vọng…
Ở trong nước, những hiện tượng sư cỡi xe chạy vù vù tán gái trên đường phố l à thường xuyên. Sư ăn nói tục tằn thô lỗ không còn hiếm thấy. Người ta cũng biết đến các sư thuyết pháp giống “y chang” bài bản của nhà cầm quyền . Nghề “sư, ni” là một nghề béo bở, khó có nghề nào sánh bằng. Vừa an nhàn, vừa danh vọng lại có nhiều nguồn thu nhập: Từ bá tánh, từ bỗng lộc nhà nước, từ mánh mun làm ăn…!
Ở hải ngoại,cảnh sư ăn nhậu giữa chùa mà trên tường treo đầy tranh ảnh khỏa thân được mọi ng ư ời biết qua các trang mạng. Lộ mặt hẳn thì có Thích Pháp Châu( chùa Việt Nam ở Cali) đặt hẳn Đài Phát thanh tuyên truyền cho chủ nhân Bắc bộ Phủ. Và trong dư luận Cộng Đồng Hải ngoại, ai cũng biết “Nghề lập Chùa” mau giàu hơn cả nghề Bác Sĩ, Kỹ Sư…!
Các ngôi chùa đề bảng hiệu:”Giáo hội Phật Giáo Việt nam”thì đích thị là Giáo Hội Quốc Doanh, do CS tạo lập. Các tăng ni nhất nhất được Cộng sản tuyển chọn và đào tạo theo bài bản :”Công An đầu trọc” thì khỏi phải nói ai cũng biết bản chất và hành vi của hạng này là gì…
Đi ều đau lòng là trái v ới danh xưng v à sự mong đợi của tín đồ, phái Ấn Quang tức GHPGVNTN chỉ thống nhất trên bảng hi ệu chứ không thống nhất trong tổ chức, đ ường lối, hành động. Mỗi tự viện đều có đường hướng riêng. Mỗi vị trụ trì cát cứ một cơ ngơi tại một địa bàn. Mọi sinh hoạt , mọi diễn biến tốt xấu của nơi phượng tự xem chừng tùy thuộc vào yếu tố hên sui, may rủi…! Vì thế không lạ khi cùng l à GHPGVNTN mà vị sư này khác tư tưởng vị sư kia, thậm chí thù địch nhau…!
Sự kiện quan trọng là gần đây, Đức Tăng Thống Huyền Quang ban hành Giáo chỉ số 9 đã ” nhận định:«Vì nhiều lý do nội tại hay khách quan,vô tình hay cố ý một số chư Tăng, Phật tử rời bỏ con đường cao rộng của Chánh pháp, đem thân phục vụ thế quyền làm biến tướng Bát chánh đạo và làm nghiêng ngửa Giáo hội” và « một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đướng hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế”.
Số Tăng ni, Phật Tử chủ trương :”Trá hàng Việt Cộng để làm văn hóa, hoằng pháp”(?!) rộ lên. Dĩ nhiên, chủ tr ương “Trá hàng” hay “Đầu hàng” này đã có từ lâu, chứ không phải mới đây:
“Sau 2 lần “hợp đồng đi đêm” với nhà nước XHCNVN vào những năm 2005 rồi 2007 để mở rộng Tăng thân theo đó nhóm Sư ông Nhất Hạnh, sư bà Chơn Không giúp XHCNVN “đánh bóng chế độ” trước ống kính truyền thông quốc tế và ngược lại nhà nước Xã nghĩa “hứa hẹn” (cũng là hứa hẹn, 60 năm qua họ Hồ đã hứa + hẹn bao lần rồi !) chiếc ghế Quốc sư Xã nghĩa dành cho Sư ông Nhất Hạnh ; Ghế Tăng thống PG dành cho Hoà thượng Thích Trí Quang ; Ghế Viện trưởng dành cho Hoà thượng Thích Tuệ Sĩ và phần còn lại “điều phối tổng hợp” giáo hội dành cho Ông Lê Mạnh Thát”(Thư tố cáo của TT Thích Chơn Tâm _An Giang_ ngày 30/4/08)
Hóa ra, những vị tu hành cao cấp nhất lại là những vị “Tham , Sân, Si “ nhiều nhất chăng?! Cơ hội để quý tăng ni thăng tiến “công danh phú quý “là những chiếc ghế kể trên kèm theo là bao nhiêu lợi lộc. Do vậy,Thích tuệ Sĩ, Thích trí Siêu(Lê mạnhThát)… hoạt động ráo riết ở trong nước …Thích Quảng Ba _con át chủ bài ở Úc_lãnh trách vụ vận động , kết phe kết cánh ở Hải ngoại. Trong , ngoài chung một mưu đồ phá nát GHPGVNTN bằng cách loại bỏ 2 vị HT Thích Huyền Quang Và Thích Quảng Độ…! Thật đau lòng khi giữa lúc xã hội suy đồi, văn hóa bị hủy diệt, đạo đức tiêu trầm …dưới ách CS phi luân, phi nhân thì tôn giáo _ nhất là Phật giáo, với số đông tín đồ_ là niềm hy vọng lại đang rơi vào “ma chướng”!
Ngày nay, cái gọi là GHPGVN là do CS tạo lập và sai khiến thì hy vọng vào cái gì ?!
Còn GHPGVNTN tức Phái Ấn Quang thì do chia rẽ bị phân hóa trầm trọng, bản thân còn chưa giữ được làm sao là chổ để mọi người ngóng mong !
Một cơ hội lớn mà CS đang nắm bắt để thao túng PG và đánh bóng chế độ là Đại Lễ Phật Đản LHQ 2008 tổ chức ở Hà Nội, mà ở đó sự việc đều do cán bộ CS điều phối. Điển hình là từ khâu khai mạc Đại lễ (do Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đọc diễn văn khai mạc) ,bế mạc Đại lễ (do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đọc diễn văn bế mạc). Mọi chi tiết do Trưởng Ban Tôn Giáo Nguyễn thế Doanh sắp đặt…nhất nhất đều do nhà nước cộng với “Công An đầu trọc”độc quyền kéo màn trình diễn…
TT Thích Chơn Tâm cũng vạch trần:”Thông qua Phật Đản Liên Hiệp Quốc 2008 tại Việt nam, Ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng Ban tôn giáo nhà nước “rao hàng” “nâng cấp” GHPG quốc doanh trước cộng đồng Phật giáo thế giới nhằm che đậy đàng sau nó một âm mưu dùng GHPG quốc doanh như một tổ chức phi chính phủ. Đây là một chiến lược nhằm vô hiệu hoá GHPGVNTN trên diễn đàn quốc tế cho mục đích chính trị như điều họ đã làm mà chưa làm được qua cái gọi là Tổ chức Gia đình Phật tử Việt nam trên thế giới 2006 vừa qua. Qua đó nhà nước XHCN càng lộ rõ bản chất thâm độc “dùng GH đánh GH” ; “dùng sư đánh sư” như họ đã làm suốt 30 năm qua với GHPGVNTN.
Như vậy, Phật Đản Liên Hiệp Quốc 2008 tại Việt nam do nhà nước XHCNVN dàn dựng, đây là trò gian manh chính trị trong tôn giáo ; Phật Đản 2552 (2008) lại về với bao người con Phật khắp hoàn vũ. Thế nhưng che giấu sau “bức màn” Phật Đản Liên Hiệp Quốc 2008 tại Việt nam do nhà nước XHCNVN dàn dựng là cả một trời tang thương, máu lệ với hơn 80 triệu đồng bào mình. Những ai tiếp tay, cổ võ cho Phật Đản XHCNVN 2008 tại Việt nam là đồng loã với tội ác.”
THAY LỜI KẾT:
Có một ý kiến của bạn đọc Quang Trần(Pháp)góp ý vào mục diễn đàn Đàn Chim Việt khá hay: “Nếu vạch mặt tên VC Thích trí Quang hoặc Thích nhất Hạnh ...mà bị coi là:"Bôi nhọ PG"???!!! thì hóa ra Phật Giáo chỉ là 2 tên VC này ư?!
Tôi là người đạo Phật đây, nhưng tôi không thể chấp nhận luận điệu ĐỒNG HÓA BẤT CỨ CÁ NHÂN NÀO VỚI ĐẠO GIÁO! ĐỒNG HÓA KIỂU NÀY THÌ KHI T T QUANG HOẶC THÍCH NHẤT HẠNH LÀM BẬY, LÀM CHUYỆN XẤU XA THÌ ĐẠO PHẬT CŨNG XẤU HAY SAO !
BÊNH VỰC ĐẠO CỦA MÌNH THÌ CŨNG PHẢI THÍCH HỢP. THEO TÔI, ĐẠO PHẬT CẦN XA LÁNH NHỮNG ÔNG SƯ LEM NHEM , ĐEN TỐI NHƯ T T QUANG, T N HẠNH THÌ ĐẠO PHẬT CỦA MÌNH MỚI KHÁ ĐƯỢC .CÀNG A DUA THEO KẺ XẤU THÌ CÀNG KHIẾN NHỮNG NGƯỜI KHÁC NHÌN ĐẠO CỦA MÌNH KHÔNG RA GÌ!
Mong mọi người cẩn thận...
Trong chính trị, T T Quang theo sự sai khiến của cs làm những gì có lợi cho chúng. Việc phá hoại đệ nhất cộng hòa là do các âm mưu đen tối (MỸ+ cs+ TƯỚNG PHẢN+ MỘT SỐ SƯ CỠ T T Q ,T N H...)gây ra. Cái bi thảm ngày 30/4/75 chưa làm mình sáng mắt ra hay sao?”( Bài 40 năm cuộc bội phản”)
Lần giở lại trang sử cũ, ta thấy vua Quang Trung thực là vị minh quân. Ngoài những chiến công lừng lẫy, ngài còn sáng suốt trong việc cai trị. Thời ấy,nhận thấy giới tăng lữ quá đồi bại, hư hỏng nên ngài ra lệnh đuổi chúng ra khỏi chốn thiền môn; đồng thời mở khoa thi tuyển chọn người có tư cách đạo đức vào tu học... để chấn hưng Phật Giáo…
Ngày nay, PG rơi vào thời mạt pháp, tiếc là chúng ta không có vua Quang Trung để khôi phục sự tốt đẹp...
Vì thế, không có cách gì khác hơn là mọi người phải tỉnh táo để phân biệt đúng sai, chân giả. Can đảm nhìn thẳng sự thật theo tinh thần :”Không có đề tài nào là cấm kỵ”;”Không có sự thật nào không được phô bày”và can đảm cắt bỏ những ung bướu ẩn tàng trong cơ thể.
Các tôn giáo cũng cần thanh tẩy, để không còn ô uế . Cấp bách nhất là Phật giáo. Có thế ánh đạo vàng mới phát huy được uy lực giữa nhân gian…
Tuesday, May 27, 2008
Nguyên Nhân Mỹ Tham Chiến Ở Việt Nam
Quốc Huy
* Những nguyên nhân chính mà Mỹ nhảy vào Việt Nam là:
Chấm dứt và thay thế chế độ thực dân cũ là Anh và Pháp. Vì 2 nước này có nhiều thuộc địa nhất trên thế giới. Xin đi xa hơn một chút để mọi người thấy rõ tình hình trên Thế Giới. Sau Đại Chiến thứ nhất, Đức thua trận nên phải bồi thường chiến phí cho những nước thắng trận, dân Đức rất phẫn nộ vì tinh thần dân tộc. Thế giới rơi vào thời kỳ Khủng Hoảng Kinh Tế (recession). Đức phát triển mạnh về kỹ thuật, dân Đức vẫn hậm hực vì phải bồi thường tiền chiến phí. Một đế quốc non trẻ nổi lên trên thế giới đó là Mỹ. Nhưng làm thế nào để có thể dành được những vùng trên thế giới đã thuộc về Anh và Pháp?. Chiến tranh. Người Mỹ không muốn ra mặt gây chiến và chịu đựng cuộc chiến vì sẽ tiêu hao nhân, vật lực, nguyên khí quốc gia. Họ cần những động lực để thúc đẩy sự bùng nổ của chiến tranh trên thế giới để làm thay đổi vị trí các nước cường quốc.
Sau cuộc nổi loạn của đám thủy thủ Nga thành công, Mỹ và Đức đã giúp cho Lênin từ Đức trốn về Nga để thành lập phong trào Bolsevich lật đổ Nga Hoàng (lúc đó, nước Đức và Nga đang có chiến tranh, thù ghét nhau). Khi Bôn Sê Vit (tiền thân của Cộng sản) thành công ở Nga thì Europe cũng khá lo vì cộng sản chủ trương (chiêu bài) giải phóng các thuộc địa, nhưng lúc đó thực dân cũ (Anh, Pháp) coi thường tiềm lực của Cộng sản. Lúc này Mỹ đã âm thầm tài trợ cho chủ nghĩa Phát Xít ở Đức phát triển. Chính các tỷ phú Mỹ (Rockerfeller ...) đã giúp tiền cho Hitler từ 1 anh thợ sơn leo lên lãnh đạo đảng Phát Xít và nắm chính quyền ở Đức.
Khi Phát Xít Đức thành hình thì Anh và Pháp muốn để Phát Xít chọi với Cộng sản vì vậy họ thản nhiên khi Đức xua quân chiếm Ba Lan, sau đó là Tiệp. Stalin tuyên bố ủng hộ Phát Xít Hitler. Anh và Pháp chờ để Hitler đánh Nga. Nhưng Hitler đã tấn công chiến lũy Magino và chiếm Pháp.
Ở Á Châu, Nga ủng hộ Tưởng Giới Thạch, Mỹ ủng hộ Mao và đã nhiều lần cứu Mao thoát chết, khi thì báo tin cho Mao biết quân của Tưởng sẽ tấn công, khi thì Mỹ ngăn cản Tưởng xua quân truy sát đoàn quân Vạn Lý Trường Chinh của Mao. Nhiều người đồng chí (đ/c) Cộng sản của Mao không tin là họ có thể sống sót trong cuộc chạy trốn, và họ càng không tin rằng Cộng sản có thể chiến thắng và chiếm trọn Trung Hoa. Như vậy Trung Cộng (TC) thành công chiếm được nước Tàu là nhờ Mỹ trợ giúp (thực tâm giúp thì khác hẳn với chuyện giúp Việt Nam Cộng Hòa).
Tại hội nghị Yalta , tổng thống Mỹ Eisenhower đã cùng Stalin, Churchill phân chia lại vị trí trên thế giới. Pháp, De Gaulle bị hất ra rìa, không được mời tham dự hội nghị này. Liên Xô trong đệ nhị thế chiến nhờ Mỹ lập cầu Không, Hải vận tiếp tế ngày đêm ... hàng đoàn tàu đạn, thực phẩm, vũ khí được chuyên chở tới Nga và phát tới tay Hồng quân, nhờ vậy mới có thể giữ chân nhiều quân đoàn của Phát Xít Đức ở mặt trận miền Đông, để Đồng Minh đổ bộ lên Normandie thành công mở đầu cho chiến dịch giải phóng Europe. Tuy nhiên sau chiến tranh, Liên Xô thiệt hại nặng nhất và cũng chết nhiều người nhất. Liên Xô lúc đó hoàn toàn kiệt quệ, nên nhớ Mỹ chỉ tham chiến vào cuối cuộc chiến nên nguyên khí của Mỹ vẫn còn nguyên. Nước Mỹ không hề bị bom đạn tàn phá, các tiềm năng kỹ nghệ vẫn còn nguyên, trái lại kinh tế Mỹ lại vô cùng phát triển vì sản xuất vũ khí cho chiến tranh và dân Mỹ đã nhờ cuộc chiến mà không có ai thất nghiệp.
Sau thế chiến thứ 2, Europe hoang tàn, kinh tế sụp đổ, thực dân Anh và Pháp trở thành đàn em của Mỹ. Mỹ trở nên một cường quốc số 1 trên thế giới về kinh tế cũng như quân sự. Mỹ cũng là nơi thu hút nhân tài, chất xám trên thế giới đổ về. Những nhà Bác học lớn của Đức như Von Braun, Einstein, ..v.v.. đều vào tay Mỹ. Sau đệ nhị thế chiến, Mỹ không nhân dịp này tấn công Liên Xô mà trái lại họ còn để cho Liên Xô bắt rất nhiều bác học Đức để “Liên Xô phát triển kỹ thuật” để Mỹ có kẻ đối đầu. Mỹ phát triển kinh tế với kế hoạch Marshall, nông dân, trại chủ Mỹ sản xuất chăn nuôi dư thừa, không thể nào tiêu thụ hết các nông phẩm, chính phủ (c/p) Mỹ phải trả tiền bù lỗ cho nông dân, vì không muốn bị phá giá nên c/p Mỹ đã đem bột mì, lúa mạch, ngũ cốc đổ ra biển, bò, cừu, dê bị bắn đem chôn. Lúc này tướng Marshall đề ra kế hoạch viện trợ cho Europe thực phẩm, những thứ phải đem đổ ra biển hay chôn, nay đem viện trợ cho dân Europe có nơi tiêu thụ, nông dân Mỹ tăng gia sản xuất, dĩ nhiên là khi Mỹ viện trợ cho Europe thì họ phải thu cái lợi khác, đó là nắm kinh tế và chính trị của Europe trong tay.
Tuy nhiên, chế độ thực dân cũ vẫn còn, các thuộc địa vẫn nằm trong tay Anh và Pháp. Lúc này con bài Cộng sản được xử dụng với phong trào giải phóng thuộc địa. Cộng sản Việt Nam (CSVN) nổi lên và nhờ vào TC cung cấp vũ khí, người CSVN đã có thể công khai đối đầu với thục dân Pháp. Tới đây, thì chúng ta thấy Mỹ tính thế cờ rất xa cả chục năm. Lúc đầu Quốc Huy, tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao Mỹ nó lại giúp Mao, Lênin, Stalin trong khi tụi nó chủ trương diệt Cộng sản?. Cộng sản Việt Nam chắc chắn không thể nào đánh thắng Pháp nếu không có TC giúp người, vũ khí, và ngay cả chỉ huy các trận đánh cũng là các tướng của Tàu, Võ Nguyên Giáp chỉ đứng tên (việc này được bật mí khi TC đánh VN, Mỹ và Pháp không hề tiết lộ điều này).
Tướng Navarre của Pháp mở trận Điện Biên Phủ (ĐB) để ép Cộng sản lộ mặt đánh địa chiến với Pháp. Tướng Navarre đặt kế hoạch sẽ dụ Cộng sản vào khu lòng chảo Điện Biên Phủ và dùng máy bay thả bom tiêu diệt Việt Minh (tiền thân của vc). Mỹ hứa giúp Pháp về Không quân nhưng sau đó Mỹ lờ đi. Quân Pháp ở Điện Biên Phủ không có tiếp tế, không có máy bay oanh tạc, quân Việt Minh vây chặt quân Pháp đông như kiến, trong khi đó pháo của Trung Cộng ở trên các mỏm núi bắn xuống khu lòng chảo dữ dội. Navarre không muốn lính Pháp hy sinh vô ích nên ra lịnh đầu hàng Việt Minh. (tới đây, Quốc Huy tôi thấy lính Pháp đánh dở như hạch thế mà cả thế giới cứ ca tụng trận Điện Biên.
Trận chiến An Lộc (Bình Long) còn tàn bạo hơn Điện Biên gấp chục lần, mỗi mét vuông của An Lộc phải chịu hơn 2000 quả đạn pháo đủ loại, nên nhớ là vũ khí thời An Lộc có sức tàn phá hơn thời Điện Biên gấp chục lần, quân Việt Nam Cộng Hòa trú phòng ở An Lộc hết lương thực, đạn, thuốc men, lại bị Cộng sản đánh bất ngờ (chứ không phải như Điện Biên, là Pháp đã có kế hoạch để dụ Việt Minh ra mặt), bên ngoài Việt Cộng vây chặt đông đen như kiến với 5 sư đoàn, mỗi ngày Việt Cộng mở hàng chục đợt tấn công cường tập. Nhiều nơi trên tuyến phòng thủ bị Cộng sản phá vỡ, xe tank T54 của Cộng sản và bộ binh tùng thiết đã nhiều lần tràn vào trong thị xã An Lộc, và nhiều lần ngụy quân Cộng sản chạy trên nóc hầm bộ chỉ huy quân trú phòng An Lộc. Tướng Lê Văn Hưng người hùng tử thủ An Lộc luôn giữ trong tay 1 trái lựu đạn M26 để nếu khi Cộng sản tràn vào thì ông sẽ rút chốt lựu đạn để cùng chết với chúng.
Đại tá Hồ Ngọc Cẩn cương quyết đánh tới chết không chịu đầu hàng mặc dù lương thực, đạn dược đã hết. Sau này, viên cố vấn Mỹ của đại tá Cẩn còn nhắc lại chuyện này và ông nói trong khi mắt rơm rớm lệ: “rất tiếc là không được ở lại cùng chiến đấu với đại tá Cẩn phút cuối cùng và để đại tá Cẩn bị Cộng sản giết ...”, tướng Lê Nguyên Vỹ thủ sẵn khẩu súng để nếu bị thua sẽ tự sát chứ không chịu đầu hàng Cộng sản. Các nhà quan sát, tướng lãnh quốc tế đều nói rằng: “An Lộc chỉ chịu đựng tối đa là 1 tháng là phải thua ...”, thế mà quân đội Việt Nam Cộng Hòa ở An Lộc đã chịu hơn 3 tháng và Cộng sản đã thua.
Thế nhưng hầu như thế giới chẳng ai biết đến trận đánh này, Quảng Trị, Sa Huỳnh, Tống Lê Chân, Đức Huệ, Đỗ Xá, ... và nhiều trận đánh khác rất lớn vì mức độ tham dự lên cấp trung, sư đoàn. Mỹ chỉ nói về cuộc chiến đồi Hamburger (nhưng trận đánh này chính binh lính Việt Nam Cộng Hòa là đoàn quân đầu tiên lên ngọn đồi Hamburger chứ không phải lính Mỹ), hoặc Platoon (1 trận đánh tưởng tượng nhưng được phù thủy truyền thông Do Thái ở Mỹ thổi phồng) và mới đây là: “We are Soldier” do Mel gibson thủ vai chính, đây là một trận có thật. Nhưng so với lực lượng Dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt Động quân của Việt Nam Cộng Hòa, lính Mỹ vẫn còn thua xa, bởi vì lính Mỹ nhiều anh GI lớ ngớ và nghe súng nổ thì co rúm lại sợ hãi, chưa kể là lính Mỹ đánh ở đâu thì được Pháo binh, Không quân Mỹ yểm trợ tối đa, hoả lực của Mỹ cũng mạnh hơn quân Việt Nam Cộng Hòa gấp 3 lần. Phim “Metal Jacket” thì hư cấu nhiều đoạn cốt bôi nhọ quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Trong trận Mậu Thân đâu phải chỉ có Thủy quân Lục chiến Mỹ đánh với Cộng sản (VC), điều này ở Việt Nam ai cũng biết, chỉ có thế giới là không biết và đã bị lừa).
Trở lại thời Pháp, sau khi Pháp thua và rời Việt Nam, thì chế độ thực dân cũ cũng tiêu tan, các thuộc địa của Pháp đều tan rã (Algérie, Tunisie, Maroc, Martinique, Bắc Phi, Congo, Haiti ..v.v.. đều độc lập), Anh cũng trao trả độc lập cho các thuộc địa và lập ra Liên Hiệp Anh và Common Wealth. Mỹ hất cẳng Pháp ra khỏi Việt Nam và nhờ Việt Nam Mỹ đã chấm dứt hệ thống thực dân cũ.
Sau đó cả thế giới đều sợ nạn Cộng sản xâm lăng nên đều bám vào Mỹ nhờ che chở. Mỹ nhận lời bảo vệ thì phải có lợi cho Mỹ chứ? Đúng vậy, Mỹ đã thao túng các nước trên thế giới về chính trị, kinh tế và cả văn hoá Mỹ cũng tràn lan khắp nơi. Nên biết, trước năm 1950, và ngay cả đến bây giờ nhiều người Mỹ vẫn cho rằng Paris là nơi văn vật, cái gì của Paris đều được cho là sang trọng, Chic, Elegant nhất là văn hoá, nghệ thuật, thời trang, mỹ phẩm ai sành xài đồ có mark thì biết điều này. Thời đó người ta đã gọi Paris là kinh đô của ánh sáng, các văn nhân, nghệ sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia trên thế giới muốn nổi tiếng thì phải quy tụ ở Paris. Chúng ta thấy điều đó đúng vì các nhà danh hoạ như Van gogh, Monet, Manet, Pissaro, Degas, Picasso, Delaunay, Kadinsky, Chagal, Suzuki, rồi Hemingway, Fritzerald, Georghiu, Pastenak đều tới Paris . Mỹ lúc đó bị coi khinh là anh nhà quê. Nhưng kể từ sau đệ nhị thế chiến, nếu muốn nổi tiếng, thành công thì phải tới New York city, New York city cũng là nơi trung tâm, đầu não của nền kinh tế, tài chánh của nước Mỹ. Người Do Thái là ông vua không ngai ở New York city. Các sắc dân khác đều phải quy phục người Do Thái ở đây.
Nhờ chiến tranh Việt Nam, Liên Xô chạy đua vũ trang với Mỹ, nên Mỹ đã sản xuất và bán được nhiều vũ khí cho các nước sợ Cộng sản xâm chiếm. Các tài nguyên, mỏ quặng của các nước trên thế giới Mỹ cai thầu luôn, mấy anh European bị dẹp ra rìa.
Nhờ chiến tranh Việt Nam kinh tế khu vực các nước ở Á Châu phát triển, mà vốn của Mỹ nắm phần lớn ở đó, vì vậy Mỹ đâu có muốn dẹp tụi Cộng sản nên chiến tranh mới kéo dài 30 năm, Mỹ chơi cái trò mèo vờn chuột. Nếu so sánh chiến tranh Việt Nam với Đệ nhị thế chiến khi Mỹ đánh với Đức thì thấy khác nhiều lắm. Mỹ đâu có chơi cái trò vừa đánh vừa “giỡn” như đã làm với Cộng sản Hà Nội, nói giỡn cũng đúng lắm. Bởi vì máy bay Mỹ được lịnh không ném bom những xe chuyên chở của Cộng sản Bắc Việt trên đưòng mòn hồ chí minh, nếu những xe này đậu ở lề đưòng máy bay Mỹ không được phép tấn công, những dàn tên lửa của Nga chế tạo viện trợ cho Bắc Việt nếu không thấy có dấu hiệu nguy hiểm, có nghĩa là không chỉa lên trời nhắm vào máy bay Mỹ. Cứ coi Mỹ đánh Iraq chỉ trong vòng có 1 tháng là xong?. Cộng sản kéo dài 30 năm, phi lý. Vì vậy khi Mỹ bỏ miền Nam Việt Nam cho Cộng sản thì cả thế giới chưng hửng, vì từ trước tới nay Mỹ đâu có bao giờ thua. Không đúng. Mỹ đã thua Cuba trước đó. Và cho tới nay Cuba cứ nghèo và bị cấm vận và cũng chính Mỹ “chuyên” mua đường dùm Cuba, để Cuba có phương tiện để thở, ngáp ngáp nhưng chưa chết và lâu lâu đem hỏa tiễn của Liên Xô ra dọa bắn qua Mỹ làm dân Mỹ teo dái và khi chính quyền Mỹ tăng ngân sách quốc phòng, thì dân Mỹ im ru không dám biểu tình, thế là các tài phiệt Mỹ hốt bạc.
Mỹ cũng không cho phép đánh ra ngoài Bắc để giải quyết gọn Cộng sản Bắc Việt. Có người nêu ra nguyên do: “vì Mỹ sợ Trung Cộng tham chiến nếu Mỹ cùng Việt Nam Cộng Hòa tấn công chiếm miền Bắc. Điều này không đúng. Vì sao mà không đúng?. Chúng ta lấy cái ví dụ Iraq thì thấy, Mỹ nó có coi Trung Cộng, Liên Xô, Đức, Pháp ra cái quái gì. Saddam Hussein tính đánh Do thái bị Mỹ cấm vận nên chỉ chơi với Trung Cộng, Liên Xô, Đức, Pháp. Saddam bán dầu hoả cho 4 nước này đổi lại vũ khí, lương thực. Đáng lẽ ra thì Saddam cũng chưa đến nỗi chết nhưng chỉ vì Saddam tính đánh Do Thái nên Do Thái ra lịnh cho Mỹ chiếm Iraq, chính thủ tướng Sharon công khai nói điều này trên truyền hình và được truyền đi khắp các đài ở Âu Mỹ, mà tại sao Mỹ lại phải nghe lịnh Do Thái?. Bởi vì Do Thái là chủ các nhà bank, thị trường chứng khoán, chủ nhân các công ty, các nhà sản suất phim, chủ các tòa báo ở Mỹ, tài chánh kinh tế của Mỹ ... Do Thái nắm trong tay, vì vậy Mỹ phải “tuân lời” Do Thái.
Theo tin của báo Pháp (Le Monde) thì lúc đó Đức đã viện trợ cho Iraq loại súng đại bác có thể bắn từ Iraq tới Israel . Đức còn viện trợ cả vũ khí hóa học cho Iraq nữa. Do Thái biết được điều này thì sợ lắm, bởi vì vũ khí hóa học có thể giết cả chục ngàn người như chơi với 1 đầu đạn có chất độc. Ngoài ra, Đức còn xây cho Iraq những hầm trú ẩn, lô cốt rất kiên cố có thể chống cả bom khinh khí, nguyên tử nữa. Liên Xô thì bán cho Iraq loại Mig tối tân nhất, và cả hỏa tiễn đầu đạn nguyên tử, cùng tank mới nhất. Pháp thì bán cho Iraq những chiếc máy bay Mirage loại mới nhất, và một số các thiết bị quân sự, liên lạc, radar tối tân nhất của Pháp. Trung Cộng thì cung cấp các loại vũ khí cộng đồng, xây dựng đường xá ..v.v..
Khi Mỹ đánh Iraq, thì Trung Cộng, Liên Xô, Pháp, Đức đều phản đối vô cùng dữ dội, bởi vì các nước này đã bán chịu hàng hoá, vũ khí cho Saddam Hussein mỗi nước mấy chục tỷ dollars mỹ. Bốn (4) cường quốc này biết nếu Saddam Hussein có mệnh hệ gì thì mấy chục tỷ dollars cho nợ sẽ tiêu tan thành mây khói, vì vậy Chirac, Putin, thủ tướng Đức, và cả Hồ Cẩm Đào đều to tiếng phản đối Mỹ đánh Iraq, thế mà thằng Mỹ nó coi 4 ông ra cái gì? Mỹ ngụy tạo ra bằng chứng “mass destruction weapon” (võ khí giết người hàng loạt) cho Iraq và mới đây Mỹ đã phải xin lỗi. Rồi Mỹ còn gán cho Saddam dính líu tới Al Quada, bây giờ lòi ra cũng không phải vậy, thì Mỹ lấy lý do gì đánh chiếm Iraq ? Vì chủ Do Thái chứ còn cái gì nữa. (hãy suy nghĩ, suy tư một chút đừng để tụi truyền thông nó cứ xỏ mũi mãi như vậy, nó dắt mình đi đâu thì chẳng lẽ mình cứ đi theo mãi sao?) Mỹ cứ đánh, nó cứ bỏ bom, rồi nó chiếm Iraq, nó bắt được Saddam Hussein, nó chiếm các mỏ dầu rồi nó lôi Saddam ra xử tử, bốn (4) ông cường quốc chỉ dám đánh võ miệng được vài tháng cho đỡ ức sau đó các ông Pháp, Đức, đành làm hòa với mỹ, rồi cả Europe đưa quân mò tới Iraq đóng quân giúp Mỹ. Thế giới đã quên chuyện cũ, dòng đời vẫn tiếp tục.
Thế thì chúng ta thấy cái luận điệu trên “Mỹ nó sợ Trung Cộng” láo quá phải không nào?. Nhất là thời gian đó, Trung Cộng còn nghèo, khoa học, kỹ thuật, quân sự lạc hậu lắm chứ đâu được tân tiến như bây giờ, nói là tân tiến chứ so sánh với vũ khí của Mỹ hiện nay thì theo các nhà chuyên viên quân sự ước tính “Trung Cộng muốn được bằng Mỹ hiện nay thì ít nhất phải mất 25 năm 'hiện đại hoá quân đội' ... (sic)”. Cứ thử làm bài toán, Trung Cộng tiến thì Mỹ cũng phải tiến chứ, trong 25 năm đó thằng Mỹ nó đâu có ngồi chờ Trung Cộng “hiện đại hóa quân sự” để bằng nó như một số người Việt Nam ta tin vào mấy thằng tay sai Việt Gian Cộng sản Hà Nội dụ “chúng ta đừng làm gì cả, tranh đấu chi cho mệt, cứ ngồi chờ Cộng sản tự nó xụp đổ, bất chiến tự nhiên thành mà”.
Mỹ nó đâu có sợ Trung Cộng, chính nó giúp Mao, giúp Cộng sản chiếm Trung Hoa kia mà, nhờ vậy Cộng sản Hà Nội mới có chỗ dựa để đánh nhau với Pháp chứ, và cũng chính thằng Mỹ đã đưa các tài liệu chế bom nguyên tử cho Trung Cộng sau khi biết Liên Xô không chịu giúp Trung Cộng chế bom nguyên tử. Mao vì cớ này mà giận Liên Xô đó. Mỹ đã cho mời một giáo sư đại học về nguyên tử của Trung Hoa tới Trung Tâm Nguyên Tử Lực lớn nhất của Mỹ làm việc, và Mỹ đã “vô tình” để cho ông giáo sư Tàu này “chôm” tài liệu chế bom nguyên tử trốn về Tàu trót lọt, qua cổng phi trường mà không hề bị khám xét, FBI, an ninh, mật vụ ở đâu sao không theo dõi sát ông Gs Tàu này, mà để cho ông ta phom phom chạy về Tàu dễ dàng như vậy?. Sau đó một thời gian Mỹ mới “chợt nhớ tới” ông Gs Tàu này, thì lúc đó mới biết ông ta đã trốn về Tàu cùng với công thức chế bom nguyên tử (đóng kịch dỡ quá há, scenario thuộc loại hạng F), lúc đó Mỹ mới hô hoán lên là ông Gs tàu làm gián điệp đã ăn cắp tài liệu “tối mật để làm bom nguyên tử” (sic), thì đã quá trễ, bởi vì Trung Cộng đã biết cách chế bom nguyên tử rồi và có lẽ cũng đã thử tới quả bom thứ hai.
Khi Nixon cùng đoàn bóng bàn qua Bắc Kinh giao đấu hữu nghị, Nixon và Mao bắt tay nhau, thì nhiều người Việt Nam đã biết thằng Mỹ sẽ chơi đểu Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ nhắm vào cái thị trường tiêu thụ hơn 1 tỷ người của Trung Cộng và đã thành công. Qua cầu thì rút ván, công tác đã hoàn thành, ông chủ Do Thái đã ra lịnh Mỹ bỏ Việt Nam để tập trung vào Trung Đông giúp Israel (Do Thái) đối phó với khối Ả Rập, Ai Cập. Kissinger thi hành ý của Do Thái đi đêm với Bắc Kinh, Cộng sản Hà Nội bức tử Việt Nam Cộng Hòa trong hội nghị Paris 1972. Mỹ tuân lịnh Do Thái rút khỏi Việt Nam . Mỹ ngưng viện trợ để bức tử Việt Nam Cộng Hòa. Cộng sản Hà Nội chiếm miền Nam Việt Nam chấm dứt chiến tranh, nhưng lại mở đầu cho thời đại nô lệ dân tộc Việt. Mỹ bỏ miền Nam Việt Nam đâu có lỗ gì?. Sau khi Mỹ bỏ Nam Việt Nam , thì các nước trên thế giới bám vào Mỹ để xin Mỹ bảo vệ khỏi bị họa Cộng sản xâm lăng. Các đơn đặt hàng vũ khí của Mỹ tăng vô kể. Ngân sách quốc phòng tăng không ai dám phê bình. Uy tín Mỹ trên thế giới lại tăng. Để cho người dân Mỹ bớt uất ức vì mang tiếng thua trận (chỉ là cái tiếng thôi chứ sự thực nó không phải như vậy). Mỹ cho ra phim Rambo cho dân Mỹ coi đỡ tức. Đồng thời, Do Thái, Mỹ sợ thế giới khám phá ra cái trò chơi bẩn, phản bội Việt Nam Cộng Hòa nên đã bỏ tiền ra thuê mướn các nhà báo, văn sĩ, cựu chính trị gia, viên chức, một số trí thức viết sách, báo, làm phim bôi nhọ, đổ tội bất tài, vô khả năng lên đầu quân lực Việt Nam Cộng Hòa chỉ để che dấu sự thực, cả thế giới đã bị phù thủy Do Thái, Mỹ dùng truyền thông lừa bịp. Chẳng khác gì trước đây Mỹ đã từng làm phim về người Da Đỏ là tàn ác, hiếu chiến chuyên tấn công cướp bóc người da trắng để che dấu cái tội ác diệt chủng, cướp đất người Da Đỏ, nhưng đã có những người Mỹ, European chính trực, can đảm đã dám đứng ra làm phim, viết sách nói lên sự thực về người Da Đỏ ở Mỹ.
Mỹ nuôi dưỡng Cộng sản để Cộng sản Liên Xô, Tàu chạy đua vũ trang cho kinh tế Mỹ phát triển. Không có mấy thằng gian ác, bad guys, côn đồ cộng sản cầm dao, súng đứng ở các ngõ hẻm rình rập hay xông vào nhà ăn cướp thì đâu có ai nhịn ăn, học, thuốc men mà đi mua vũ khí, phải không?. Cuối cùng, khi Gorbachev một tay trí thức, Gs đại học, lên làm tổng bí thư cộng sản Liên Xô, khám phá ra ngân khố và kinh tế Liên Xô đang trên bờ vực thẳm vì đã cạn kiệt, nếu cứ tiếp tục chạy đua vũ trang với Mỹ chẳng chóng thì chày sẽ xụp đổ, vì vậy ông ta mới quyết định “đổi mới” để củng cố lại hệ thống, không ngờ bị đám Yeltsin nhảy ra làm “Cách Mạng”, thế là cộng sản Liên Xô đi bán muối kéo theo khối Varsovie. Cộng sản Hà Nội mất chỗ dựa Liên Xô đành phải về xin bái Trung Cộng làm thầy để tiếp tục vơ vét, ăn cướp, bóc lột dân nô lệ Việt Nam.
Thấy Mỹ đầu tư làm ăn nhiều ở Tàu, Việt Gian Cộng sản cũng mon men muối mặt quỳ lạy để năn nỉ xin Mỹ bang giao, xin Mỹ bãi bỏ cấm vận. Từ đó Việt Gian Cộng sản trở thành một tên tay sai của nước ngoài chuyên đàn áp, bóc lột, bắt dân Việt Nam làm nô lệ, các mỏ dầu ở ngoài biển Đông tốt nhất, có trữ lượng dầu lớn nhất Mỹ khai thác, Việt Gian Cộng sản dễ bảo vì chúng là quân ăn cướp, buôn dân, bán nước, chúng chỉ biết tổ quốc của chúng là Liên Xô, Trung Cộng, đảng Cộng sản Việt Gian. Ngoại bang cho chúng một ít tiền bảo gì chúng cũng làm, công nhân thời Việt Nam Cộng Hòa còn đình công đòi quyền này quyền kia, Nghiệp Đoàn thời Việt Nam Cộng Hòa còn đòi chủ Mỹ phải xin lỗi nếu nhục mạ công nhân, bắt chủ phải thu hồi công nhân nếu bị đuổi vô cớ, bị tai nạn lao động thì bắt chủ phải bồi thường, chu cấp cho gia đình nạn nhân.
Thời Việt Gian Cộng sản bọn chủ nhân nó là ông Trời, chúng nọc công nhân ra đánh, lột trần truồng nữ công nhân ra khám xét trước khi tan sở, bắt làm việc nhiều hơn 8 tiếng/ngày, không được hưởng lương phụ cấp con cái, không tiền bồi thường tai nạn lao động, chủ muốn đuổi lúc nào thì đuổi, con gái Việt Nam đứng xếp hàng không quần áo để tụi ngoại quốc nó mua về làm “vợ” như mua con vật, nô lệ Việt Nam “xuất khẩu ra ngoài” bị hành hạ, bóc lột, bị chết cũng chẳng sao. Nông dân thời Việt Nam Cộng Hòa thì được chia ruộng đất trong chương trình “Người Cày Có Ruộng”, thời gian đó về miền Tây gia đình nào cũng sống sung túc, con cái học hành đàng hoàng, lễ phép. Chỉ bị cái nạn Việt Cộng đánh phá, nếu không thì là cảnh miền quê trù phú, hạnh phúc. Ngày nay đa số nạn nhân cho những ổ điếm con nít, vợ Đài Loan, Đại Hàn là người miền Tây nam bộ. Miếng đất nào ông chủ nước ngoài muốn thì bảo thằng cai thầu nô lệ Việt Gian Cộng sản một tiếng thì nó sẽ cho công an, bộ đội hốt hết tụi dân nô lệ Việt Nam đi chỗ khác, để đất cho ông chủ mở sân đánh golf, sòng bài, du hí, đú đỡn. Có ai để ý thấy rằng những người con gái bị làm nô lệ tình dục cho ngoại bang là người miền Nam, con nít bị đi làm điếm ở Cao Miên, Thái, Mã Lai cũng là người miền Nam, những nô lệ xuất khẩu bị rơi vào những chỗ khổ, tồi tệ nhất, cũng là người miền Nam. Thời Việt Nam thì đâu có thể làm như vậy được. Tội ác của Cộng sản Hà Nội trong thời chiến đối với dân tộc Việt Nam và trong thời gian chúng cai trị ở miền Bắc. Bằng chứng dâng đất biển cho Trung Cộng, giấy bán còn rành rành ra đó không thể nào chối cãi, thế mà vẫn có những tên bưng bô, xách dép cho Việt Gian Cộng sản vẫn có thể nguỵ biện cho việc này. Vô liêm sỉ, chỉ có thời Việt Gian Cộng sản mới có những kẻ vô liêm sỉ như vậy. Nước Việt hiện nay có độc lập không?. Câu hỏi để mọi người tự trả lời.
Đối với Mỹ, với người nước ngoài thì bọn Việt Gian Cộng sản quàng vai, quàng cổ chụp hình thân thiết, trong khi đó đối với người dân, cán bộ, binh lính, sỹ quan Việt Nam Cộng Hòa (kể cả bộ đội thương binh của chúng) thì chúng hành hạ, sỉ nhục, phân biệt, kỳ thị. Ngay cả những nấm mộ của những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống, Việt Gian Cộng sản cũng đâu bỏ qua, chúng rào lại cấm người thăm viếng, có phải là hình thức cầm tù người chết như trước đây mộ của Tả Quân Lê Văn Duyệt bị xiềng xích?. Sau đó chúng lại làm tiền bằng cách đòi dời những nấm mộ này đi. Cộng sản Hà Nội cứ nói người Việt nam Cộng Hòa thù dai. Nhưng hãy coi hành động của chúng mỗi năm ăn mừng ngày 30/4, kỳ thị người miền Nam, chế độ cũ, như vậy hòa hợp hòa giải ở đâu?. Ai là người nuôi dưỡng hận thù?. Người Việt ở hải ngoại chỉ nói lên sự thực, còn Việt Gian Cộng sản thì hành động đày ải con người. Tư bản đỏ cộng sản Hà Nội càng lúc càng nhiều tiền là do ăn cướp, bóc lột người nô lệ Việt Nam chúng mới thành giàu có. Thực sự thù hận là ai chắc mọi người đã rõ.
Tuy nói Cộng sản chống Mỹ nhưng ngày nay văn hóa, lối sống Mỹ nó tràn ngập ở Việt Nam, với quyết tâm đào tạo con người xã hội chủ nghĩa, bọn Việt Gian Cộng sản đã đào tận gốc trốc tận rễ những truyền thống văn hoá Việt Nam, để ngày nay ở Việt Nam có những việc như thanh niên chuyên hiếp dâm bà già, ông già chuyên hiếp dâm con nít, thày giáo ngoài giờ đi dạy thì đi làm ăn cướp, hoặc quấy nhiễu tình dục nữ sinh nếu không được sẽ đánh rớt nạn nhân, thi cử thì toàn là bịp bợm, bằng giả, bằng mua, thuê. Công an đi trấn lột, hiếp dâm dân, cán bộ cộng sản tham nhũng, thụt két, bộ đội, công an công khai tổ chức những đường dây ăn cắp, buôn lậu. Ăn cắp, ăn cướp, hối lộ, tham nhũng, thụt két, nói láo, lừa bịp là điều phải có trong xã hội chủ nghĩa của Cộng sản. Đó có phải là đạo đức của Cộng sản?. Dĩ nhiên ở những nước khác trên thế giới cũng có những tệ trạng này, nhưng thủ phạm đã bị trừng phạt hay phải nghỉ việc, và lại càng không phải chính sách (quốc sách) của chính quyền. Không như ở Việt Nam hiện nay, cán bộ đảng viên cộng sản phạm tội vẫn nhởn nhơ tiếp tục nắm quyền, vẫn tiếp tục phạm tội. Họ đứng trên luật pháp bởi vì họ đẻ ra luật pháp?. Thằng ăn cướp nắm quyền không thể xử chính chúng được, vì vậy các thủ phạm tham nhũng, ăn cướp cứ ngồi vững trên ngai vàng và tiếp tục ăn cướp.
Nói tóm lại thời Việt Gian Cộng sản thì chỉ có dân tộc Việt Nam khổ vì làm thân nô lệ, còn tụi ngoại quốc thì chúng nó tới Việt Nam oai vệ hơn thời Thực Dân, nó thí cho Cộng sản chút tiền, thì Việt Gian Cộng sản ngoan ngoãn làm tay sai cho chúng đàn áp, bóc lột người dân. Cộng sản Hà Nội đã làm rất tốt công việc của thằng tay sai cho ngoại bang, cai nô lệ bản xứ. Đâu phải các ông chủ Nhật, Đài Loan, Hongkong, Đại Hàn, Mỹ, Pháp tới Việt Nam làm ăn vì thương người Việt Nam. Họ tới đó vì lợi nhuận đấy, mà có lợi cho họ thì người dân Việt Nam phải chịu thiệt, điều đó ai cũng biết. Một nước được đánh giá có tiềm năng kinh tế hay giàu có thì phải coi tiềm năng kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hoá, cấu trúc hạ tầng, chỉ số GDP hàng năm, chứ không phải là những hotel, sân golf hay những khu du lịch, xòng bạc casino. Tới đây chắc mọi người cũng đã hiểu phần nào tại sao Mỹ nó bỏ miền Nam rồi chứ?.
Cho đến ngày nay, Do Thái, Mỹ, Cộng sản Hà Nội vẫn bỏ tiền ra cho truyền thông báo chí ngoại quốc (nhất là báo chí Mỹ) thuê người viết sách làm phim đánh bóng Việt Gian Cộng sản, cũng như thoá mạ, bôi nhọ, nguỵ tạo sự thật về quân lực Việt Nam Cộng Hòa, chúng ta thấy rõ trong những film Mỹ nói về chiến tranh Việt Nam có bao giờ có người lính Việt Nam Cộng Hòa trong đó. Trong khi đó thì hơn 200,000 người lính Việt Nam Cộng Hòa tử trận và hơn 1 triệu người bị thương tật. Nếu chiến tranh Việt Nam chỉ có Mỹ đánh với Cộng sản Hà Nội, thì Mỹ phải tới Việt Nam bao nhiêu người mới đủ để phụ trách các nơi?. Đấy! chỉ là sự lừa bịp trên truyền thông.
Chúng ta đừng để bị Mỹ, Do thái, Việt Gian Cộng sản lừa bịp suốt đời nhé. Người Việt Nam bây giờ và các thế hệ sau này cũng sẽ phỉ nhổ lên hành động dơ bẩn này, nếu các Ác Thế Lực không biết dừng lại mà vẫn tiếp tục gieo thêm tội ác lên trên con người Việt Nam cũng như chà đạp nỗi thống khổ của con người Việt Nam và gây thêm tội ác trên đất nước Việt Nam. Chúng ta phải bằng mọi cách phải lưu truyền lại sự thực này cho đời sau biết rõ, dù chỉ là truyền miệng.
Quốc Huy
* Những nguyên nhân chính mà Mỹ nhảy vào Việt Nam là:
Chấm dứt và thay thế chế độ thực dân cũ là Anh và Pháp. Vì 2 nước này có nhiều thuộc địa nhất trên thế giới. Xin đi xa hơn một chút để mọi người thấy rõ tình hình trên Thế Giới. Sau Đại Chiến thứ nhất, Đức thua trận nên phải bồi thường chiến phí cho những nước thắng trận, dân Đức rất phẫn nộ vì tinh thần dân tộc. Thế giới rơi vào thời kỳ Khủng Hoảng Kinh Tế (recession). Đức phát triển mạnh về kỹ thuật, dân Đức vẫn hậm hực vì phải bồi thường tiền chiến phí. Một đế quốc non trẻ nổi lên trên thế giới đó là Mỹ. Nhưng làm thế nào để có thể dành được những vùng trên thế giới đã thuộc về Anh và Pháp?. Chiến tranh. Người Mỹ không muốn ra mặt gây chiến và chịu đựng cuộc chiến vì sẽ tiêu hao nhân, vật lực, nguyên khí quốc gia. Họ cần những động lực để thúc đẩy sự bùng nổ của chiến tranh trên thế giới để làm thay đổi vị trí các nước cường quốc.
Sau cuộc nổi loạn của đám thủy thủ Nga thành công, Mỹ và Đức đã giúp cho Lênin từ Đức trốn về Nga để thành lập phong trào Bolsevich lật đổ Nga Hoàng (lúc đó, nước Đức và Nga đang có chiến tranh, thù ghét nhau). Khi Bôn Sê Vit (tiền thân của Cộng sản) thành công ở Nga thì Europe cũng khá lo vì cộng sản chủ trương (chiêu bài) giải phóng các thuộc địa, nhưng lúc đó thực dân cũ (Anh, Pháp) coi thường tiềm lực của Cộng sản. Lúc này Mỹ đã âm thầm tài trợ cho chủ nghĩa Phát Xít ở Đức phát triển. Chính các tỷ phú Mỹ (Rockerfeller ...) đã giúp tiền cho Hitler từ 1 anh thợ sơn leo lên lãnh đạo đảng Phát Xít và nắm chính quyền ở Đức.
Khi Phát Xít Đức thành hình thì Anh và Pháp muốn để Phát Xít chọi với Cộng sản vì vậy họ thản nhiên khi Đức xua quân chiếm Ba Lan, sau đó là Tiệp. Stalin tuyên bố ủng hộ Phát Xít Hitler. Anh và Pháp chờ để Hitler đánh Nga. Nhưng Hitler đã tấn công chiến lũy Magino và chiếm Pháp.
Ở Á Châu, Nga ủng hộ Tưởng Giới Thạch, Mỹ ủng hộ Mao và đã nhiều lần cứu Mao thoát chết, khi thì báo tin cho Mao biết quân của Tưởng sẽ tấn công, khi thì Mỹ ngăn cản Tưởng xua quân truy sát đoàn quân Vạn Lý Trường Chinh của Mao. Nhiều người đồng chí (đ/c) Cộng sản của Mao không tin là họ có thể sống sót trong cuộc chạy trốn, và họ càng không tin rằng Cộng sản có thể chiến thắng và chiếm trọn Trung Hoa. Như vậy Trung Cộng (TC) thành công chiếm được nước Tàu là nhờ Mỹ trợ giúp (thực tâm giúp thì khác hẳn với chuyện giúp Việt Nam Cộng Hòa).
Tại hội nghị Yalta , tổng thống Mỹ Eisenhower đã cùng Stalin, Churchill phân chia lại vị trí trên thế giới. Pháp, De Gaulle bị hất ra rìa, không được mời tham dự hội nghị này. Liên Xô trong đệ nhị thế chiến nhờ Mỹ lập cầu Không, Hải vận tiếp tế ngày đêm ... hàng đoàn tàu đạn, thực phẩm, vũ khí được chuyên chở tới Nga và phát tới tay Hồng quân, nhờ vậy mới có thể giữ chân nhiều quân đoàn của Phát Xít Đức ở mặt trận miền Đông, để Đồng Minh đổ bộ lên Normandie thành công mở đầu cho chiến dịch giải phóng Europe. Tuy nhiên sau chiến tranh, Liên Xô thiệt hại nặng nhất và cũng chết nhiều người nhất. Liên Xô lúc đó hoàn toàn kiệt quệ, nên nhớ Mỹ chỉ tham chiến vào cuối cuộc chiến nên nguyên khí của Mỹ vẫn còn nguyên. Nước Mỹ không hề bị bom đạn tàn phá, các tiềm năng kỹ nghệ vẫn còn nguyên, trái lại kinh tế Mỹ lại vô cùng phát triển vì sản xuất vũ khí cho chiến tranh và dân Mỹ đã nhờ cuộc chiến mà không có ai thất nghiệp.
Sau thế chiến thứ 2, Europe hoang tàn, kinh tế sụp đổ, thực dân Anh và Pháp trở thành đàn em của Mỹ. Mỹ trở nên một cường quốc số 1 trên thế giới về kinh tế cũng như quân sự. Mỹ cũng là nơi thu hút nhân tài, chất xám trên thế giới đổ về. Những nhà Bác học lớn của Đức như Von Braun, Einstein, ..v.v.. đều vào tay Mỹ. Sau đệ nhị thế chiến, Mỹ không nhân dịp này tấn công Liên Xô mà trái lại họ còn để cho Liên Xô bắt rất nhiều bác học Đức để “Liên Xô phát triển kỹ thuật” để Mỹ có kẻ đối đầu. Mỹ phát triển kinh tế với kế hoạch Marshall, nông dân, trại chủ Mỹ sản xuất chăn nuôi dư thừa, không thể nào tiêu thụ hết các nông phẩm, chính phủ (c/p) Mỹ phải trả tiền bù lỗ cho nông dân, vì không muốn bị phá giá nên c/p Mỹ đã đem bột mì, lúa mạch, ngũ cốc đổ ra biển, bò, cừu, dê bị bắn đem chôn. Lúc này tướng Marshall đề ra kế hoạch viện trợ cho Europe thực phẩm, những thứ phải đem đổ ra biển hay chôn, nay đem viện trợ cho dân Europe có nơi tiêu thụ, nông dân Mỹ tăng gia sản xuất, dĩ nhiên là khi Mỹ viện trợ cho Europe thì họ phải thu cái lợi khác, đó là nắm kinh tế và chính trị của Europe trong tay.
Tuy nhiên, chế độ thực dân cũ vẫn còn, các thuộc địa vẫn nằm trong tay Anh và Pháp. Lúc này con bài Cộng sản được xử dụng với phong trào giải phóng thuộc địa. Cộng sản Việt Nam (CSVN) nổi lên và nhờ vào TC cung cấp vũ khí, người CSVN đã có thể công khai đối đầu với thục dân Pháp. Tới đây, thì chúng ta thấy Mỹ tính thế cờ rất xa cả chục năm. Lúc đầu Quốc Huy, tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao Mỹ nó lại giúp Mao, Lênin, Stalin trong khi tụi nó chủ trương diệt Cộng sản?. Cộng sản Việt Nam chắc chắn không thể nào đánh thắng Pháp nếu không có TC giúp người, vũ khí, và ngay cả chỉ huy các trận đánh cũng là các tướng của Tàu, Võ Nguyên Giáp chỉ đứng tên (việc này được bật mí khi TC đánh VN, Mỹ và Pháp không hề tiết lộ điều này).
Tướng Navarre của Pháp mở trận Điện Biên Phủ (ĐB) để ép Cộng sản lộ mặt đánh địa chiến với Pháp. Tướng Navarre đặt kế hoạch sẽ dụ Cộng sản vào khu lòng chảo Điện Biên Phủ và dùng máy bay thả bom tiêu diệt Việt Minh (tiền thân của vc). Mỹ hứa giúp Pháp về Không quân nhưng sau đó Mỹ lờ đi. Quân Pháp ở Điện Biên Phủ không có tiếp tế, không có máy bay oanh tạc, quân Việt Minh vây chặt quân Pháp đông như kiến, trong khi đó pháo của Trung Cộng ở trên các mỏm núi bắn xuống khu lòng chảo dữ dội. Navarre không muốn lính Pháp hy sinh vô ích nên ra lịnh đầu hàng Việt Minh. (tới đây, Quốc Huy tôi thấy lính Pháp đánh dở như hạch thế mà cả thế giới cứ ca tụng trận Điện Biên.
Trận chiến An Lộc (Bình Long) còn tàn bạo hơn Điện Biên gấp chục lần, mỗi mét vuông của An Lộc phải chịu hơn 2000 quả đạn pháo đủ loại, nên nhớ là vũ khí thời An Lộc có sức tàn phá hơn thời Điện Biên gấp chục lần, quân Việt Nam Cộng Hòa trú phòng ở An Lộc hết lương thực, đạn, thuốc men, lại bị Cộng sản đánh bất ngờ (chứ không phải như Điện Biên, là Pháp đã có kế hoạch để dụ Việt Minh ra mặt), bên ngoài Việt Cộng vây chặt đông đen như kiến với 5 sư đoàn, mỗi ngày Việt Cộng mở hàng chục đợt tấn công cường tập. Nhiều nơi trên tuyến phòng thủ bị Cộng sản phá vỡ, xe tank T54 của Cộng sản và bộ binh tùng thiết đã nhiều lần tràn vào trong thị xã An Lộc, và nhiều lần ngụy quân Cộng sản chạy trên nóc hầm bộ chỉ huy quân trú phòng An Lộc. Tướng Lê Văn Hưng người hùng tử thủ An Lộc luôn giữ trong tay 1 trái lựu đạn M26 để nếu khi Cộng sản tràn vào thì ông sẽ rút chốt lựu đạn để cùng chết với chúng.
Đại tá Hồ Ngọc Cẩn cương quyết đánh tới chết không chịu đầu hàng mặc dù lương thực, đạn dược đã hết. Sau này, viên cố vấn Mỹ của đại tá Cẩn còn nhắc lại chuyện này và ông nói trong khi mắt rơm rớm lệ: “rất tiếc là không được ở lại cùng chiến đấu với đại tá Cẩn phút cuối cùng và để đại tá Cẩn bị Cộng sản giết ...”, tướng Lê Nguyên Vỹ thủ sẵn khẩu súng để nếu bị thua sẽ tự sát chứ không chịu đầu hàng Cộng sản. Các nhà quan sát, tướng lãnh quốc tế đều nói rằng: “An Lộc chỉ chịu đựng tối đa là 1 tháng là phải thua ...”, thế mà quân đội Việt Nam Cộng Hòa ở An Lộc đã chịu hơn 3 tháng và Cộng sản đã thua.
Thế nhưng hầu như thế giới chẳng ai biết đến trận đánh này, Quảng Trị, Sa Huỳnh, Tống Lê Chân, Đức Huệ, Đỗ Xá, ... và nhiều trận đánh khác rất lớn vì mức độ tham dự lên cấp trung, sư đoàn. Mỹ chỉ nói về cuộc chiến đồi Hamburger (nhưng trận đánh này chính binh lính Việt Nam Cộng Hòa là đoàn quân đầu tiên lên ngọn đồi Hamburger chứ không phải lính Mỹ), hoặc Platoon (1 trận đánh tưởng tượng nhưng được phù thủy truyền thông Do Thái ở Mỹ thổi phồng) và mới đây là: “We are Soldier” do Mel gibson thủ vai chính, đây là một trận có thật. Nhưng so với lực lượng Dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt Động quân của Việt Nam Cộng Hòa, lính Mỹ vẫn còn thua xa, bởi vì lính Mỹ nhiều anh GI lớ ngớ và nghe súng nổ thì co rúm lại sợ hãi, chưa kể là lính Mỹ đánh ở đâu thì được Pháo binh, Không quân Mỹ yểm trợ tối đa, hoả lực của Mỹ cũng mạnh hơn quân Việt Nam Cộng Hòa gấp 3 lần. Phim “Metal Jacket” thì hư cấu nhiều đoạn cốt bôi nhọ quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Trong trận Mậu Thân đâu phải chỉ có Thủy quân Lục chiến Mỹ đánh với Cộng sản (VC), điều này ở Việt Nam ai cũng biết, chỉ có thế giới là không biết và đã bị lừa).
Trở lại thời Pháp, sau khi Pháp thua và rời Việt Nam, thì chế độ thực dân cũ cũng tiêu tan, các thuộc địa của Pháp đều tan rã (Algérie, Tunisie, Maroc, Martinique, Bắc Phi, Congo, Haiti ..v.v.. đều độc lập), Anh cũng trao trả độc lập cho các thuộc địa và lập ra Liên Hiệp Anh và Common Wealth. Mỹ hất cẳng Pháp ra khỏi Việt Nam và nhờ Việt Nam Mỹ đã chấm dứt hệ thống thực dân cũ.
Sau đó cả thế giới đều sợ nạn Cộng sản xâm lăng nên đều bám vào Mỹ nhờ che chở. Mỹ nhận lời bảo vệ thì phải có lợi cho Mỹ chứ? Đúng vậy, Mỹ đã thao túng các nước trên thế giới về chính trị, kinh tế và cả văn hoá Mỹ cũng tràn lan khắp nơi. Nên biết, trước năm 1950, và ngay cả đến bây giờ nhiều người Mỹ vẫn cho rằng Paris là nơi văn vật, cái gì của Paris đều được cho là sang trọng, Chic, Elegant nhất là văn hoá, nghệ thuật, thời trang, mỹ phẩm ai sành xài đồ có mark thì biết điều này. Thời đó người ta đã gọi Paris là kinh đô của ánh sáng, các văn nhân, nghệ sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia trên thế giới muốn nổi tiếng thì phải quy tụ ở Paris. Chúng ta thấy điều đó đúng vì các nhà danh hoạ như Van gogh, Monet, Manet, Pissaro, Degas, Picasso, Delaunay, Kadinsky, Chagal, Suzuki, rồi Hemingway, Fritzerald, Georghiu, Pastenak đều tới Paris . Mỹ lúc đó bị coi khinh là anh nhà quê. Nhưng kể từ sau đệ nhị thế chiến, nếu muốn nổi tiếng, thành công thì phải tới New York city, New York city cũng là nơi trung tâm, đầu não của nền kinh tế, tài chánh của nước Mỹ. Người Do Thái là ông vua không ngai ở New York city. Các sắc dân khác đều phải quy phục người Do Thái ở đây.
Nhờ chiến tranh Việt Nam, Liên Xô chạy đua vũ trang với Mỹ, nên Mỹ đã sản xuất và bán được nhiều vũ khí cho các nước sợ Cộng sản xâm chiếm. Các tài nguyên, mỏ quặng của các nước trên thế giới Mỹ cai thầu luôn, mấy anh European bị dẹp ra rìa.
Nhờ chiến tranh Việt Nam kinh tế khu vực các nước ở Á Châu phát triển, mà vốn của Mỹ nắm phần lớn ở đó, vì vậy Mỹ đâu có muốn dẹp tụi Cộng sản nên chiến tranh mới kéo dài 30 năm, Mỹ chơi cái trò mèo vờn chuột. Nếu so sánh chiến tranh Việt Nam với Đệ nhị thế chiến khi Mỹ đánh với Đức thì thấy khác nhiều lắm. Mỹ đâu có chơi cái trò vừa đánh vừa “giỡn” như đã làm với Cộng sản Hà Nội, nói giỡn cũng đúng lắm. Bởi vì máy bay Mỹ được lịnh không ném bom những xe chuyên chở của Cộng sản Bắc Việt trên đưòng mòn hồ chí minh, nếu những xe này đậu ở lề đưòng máy bay Mỹ không được phép tấn công, những dàn tên lửa của Nga chế tạo viện trợ cho Bắc Việt nếu không thấy có dấu hiệu nguy hiểm, có nghĩa là không chỉa lên trời nhắm vào máy bay Mỹ. Cứ coi Mỹ đánh Iraq chỉ trong vòng có 1 tháng là xong?. Cộng sản kéo dài 30 năm, phi lý. Vì vậy khi Mỹ bỏ miền Nam Việt Nam cho Cộng sản thì cả thế giới chưng hửng, vì từ trước tới nay Mỹ đâu có bao giờ thua. Không đúng. Mỹ đã thua Cuba trước đó. Và cho tới nay Cuba cứ nghèo và bị cấm vận và cũng chính Mỹ “chuyên” mua đường dùm Cuba, để Cuba có phương tiện để thở, ngáp ngáp nhưng chưa chết và lâu lâu đem hỏa tiễn của Liên Xô ra dọa bắn qua Mỹ làm dân Mỹ teo dái và khi chính quyền Mỹ tăng ngân sách quốc phòng, thì dân Mỹ im ru không dám biểu tình, thế là các tài phiệt Mỹ hốt bạc.
Mỹ cũng không cho phép đánh ra ngoài Bắc để giải quyết gọn Cộng sản Bắc Việt. Có người nêu ra nguyên do: “vì Mỹ sợ Trung Cộng tham chiến nếu Mỹ cùng Việt Nam Cộng Hòa tấn công chiếm miền Bắc. Điều này không đúng. Vì sao mà không đúng?. Chúng ta lấy cái ví dụ Iraq thì thấy, Mỹ nó có coi Trung Cộng, Liên Xô, Đức, Pháp ra cái quái gì. Saddam Hussein tính đánh Do thái bị Mỹ cấm vận nên chỉ chơi với Trung Cộng, Liên Xô, Đức, Pháp. Saddam bán dầu hoả cho 4 nước này đổi lại vũ khí, lương thực. Đáng lẽ ra thì Saddam cũng chưa đến nỗi chết nhưng chỉ vì Saddam tính đánh Do Thái nên Do Thái ra lịnh cho Mỹ chiếm Iraq, chính thủ tướng Sharon công khai nói điều này trên truyền hình và được truyền đi khắp các đài ở Âu Mỹ, mà tại sao Mỹ lại phải nghe lịnh Do Thái?. Bởi vì Do Thái là chủ các nhà bank, thị trường chứng khoán, chủ nhân các công ty, các nhà sản suất phim, chủ các tòa báo ở Mỹ, tài chánh kinh tế của Mỹ ... Do Thái nắm trong tay, vì vậy Mỹ phải “tuân lời” Do Thái.
Theo tin của báo Pháp (Le Monde) thì lúc đó Đức đã viện trợ cho Iraq loại súng đại bác có thể bắn từ Iraq tới Israel . Đức còn viện trợ cả vũ khí hóa học cho Iraq nữa. Do Thái biết được điều này thì sợ lắm, bởi vì vũ khí hóa học có thể giết cả chục ngàn người như chơi với 1 đầu đạn có chất độc. Ngoài ra, Đức còn xây cho Iraq những hầm trú ẩn, lô cốt rất kiên cố có thể chống cả bom khinh khí, nguyên tử nữa. Liên Xô thì bán cho Iraq loại Mig tối tân nhất, và cả hỏa tiễn đầu đạn nguyên tử, cùng tank mới nhất. Pháp thì bán cho Iraq những chiếc máy bay Mirage loại mới nhất, và một số các thiết bị quân sự, liên lạc, radar tối tân nhất của Pháp. Trung Cộng thì cung cấp các loại vũ khí cộng đồng, xây dựng đường xá ..v.v..
Khi Mỹ đánh Iraq, thì Trung Cộng, Liên Xô, Pháp, Đức đều phản đối vô cùng dữ dội, bởi vì các nước này đã bán chịu hàng hoá, vũ khí cho Saddam Hussein mỗi nước mấy chục tỷ dollars mỹ. Bốn (4) cường quốc này biết nếu Saddam Hussein có mệnh hệ gì thì mấy chục tỷ dollars cho nợ sẽ tiêu tan thành mây khói, vì vậy Chirac, Putin, thủ tướng Đức, và cả Hồ Cẩm Đào đều to tiếng phản đối Mỹ đánh Iraq, thế mà thằng Mỹ nó coi 4 ông ra cái gì? Mỹ ngụy tạo ra bằng chứng “mass destruction weapon” (võ khí giết người hàng loạt) cho Iraq và mới đây Mỹ đã phải xin lỗi. Rồi Mỹ còn gán cho Saddam dính líu tới Al Quada, bây giờ lòi ra cũng không phải vậy, thì Mỹ lấy lý do gì đánh chiếm Iraq ? Vì chủ Do Thái chứ còn cái gì nữa. (hãy suy nghĩ, suy tư một chút đừng để tụi truyền thông nó cứ xỏ mũi mãi như vậy, nó dắt mình đi đâu thì chẳng lẽ mình cứ đi theo mãi sao?) Mỹ cứ đánh, nó cứ bỏ bom, rồi nó chiếm Iraq, nó bắt được Saddam Hussein, nó chiếm các mỏ dầu rồi nó lôi Saddam ra xử tử, bốn (4) ông cường quốc chỉ dám đánh võ miệng được vài tháng cho đỡ ức sau đó các ông Pháp, Đức, đành làm hòa với mỹ, rồi cả Europe đưa quân mò tới Iraq đóng quân giúp Mỹ. Thế giới đã quên chuyện cũ, dòng đời vẫn tiếp tục.
Thế thì chúng ta thấy cái luận điệu trên “Mỹ nó sợ Trung Cộng” láo quá phải không nào?. Nhất là thời gian đó, Trung Cộng còn nghèo, khoa học, kỹ thuật, quân sự lạc hậu lắm chứ đâu được tân tiến như bây giờ, nói là tân tiến chứ so sánh với vũ khí của Mỹ hiện nay thì theo các nhà chuyên viên quân sự ước tính “Trung Cộng muốn được bằng Mỹ hiện nay thì ít nhất phải mất 25 năm 'hiện đại hoá quân đội' ... (sic)”. Cứ thử làm bài toán, Trung Cộng tiến thì Mỹ cũng phải tiến chứ, trong 25 năm đó thằng Mỹ nó đâu có ngồi chờ Trung Cộng “hiện đại hóa quân sự” để bằng nó như một số người Việt Nam ta tin vào mấy thằng tay sai Việt Gian Cộng sản Hà Nội dụ “chúng ta đừng làm gì cả, tranh đấu chi cho mệt, cứ ngồi chờ Cộng sản tự nó xụp đổ, bất chiến tự nhiên thành mà”.
Mỹ nó đâu có sợ Trung Cộng, chính nó giúp Mao, giúp Cộng sản chiếm Trung Hoa kia mà, nhờ vậy Cộng sản Hà Nội mới có chỗ dựa để đánh nhau với Pháp chứ, và cũng chính thằng Mỹ đã đưa các tài liệu chế bom nguyên tử cho Trung Cộng sau khi biết Liên Xô không chịu giúp Trung Cộng chế bom nguyên tử. Mao vì cớ này mà giận Liên Xô đó. Mỹ đã cho mời một giáo sư đại học về nguyên tử của Trung Hoa tới Trung Tâm Nguyên Tử Lực lớn nhất của Mỹ làm việc, và Mỹ đã “vô tình” để cho ông giáo sư Tàu này “chôm” tài liệu chế bom nguyên tử trốn về Tàu trót lọt, qua cổng phi trường mà không hề bị khám xét, FBI, an ninh, mật vụ ở đâu sao không theo dõi sát ông Gs Tàu này, mà để cho ông ta phom phom chạy về Tàu dễ dàng như vậy?. Sau đó một thời gian Mỹ mới “chợt nhớ tới” ông Gs Tàu này, thì lúc đó mới biết ông ta đã trốn về Tàu cùng với công thức chế bom nguyên tử (đóng kịch dỡ quá há, scenario thuộc loại hạng F), lúc đó Mỹ mới hô hoán lên là ông Gs tàu làm gián điệp đã ăn cắp tài liệu “tối mật để làm bom nguyên tử” (sic), thì đã quá trễ, bởi vì Trung Cộng đã biết cách chế bom nguyên tử rồi và có lẽ cũng đã thử tới quả bom thứ hai.
Khi Nixon cùng đoàn bóng bàn qua Bắc Kinh giao đấu hữu nghị, Nixon và Mao bắt tay nhau, thì nhiều người Việt Nam đã biết thằng Mỹ sẽ chơi đểu Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ nhắm vào cái thị trường tiêu thụ hơn 1 tỷ người của Trung Cộng và đã thành công. Qua cầu thì rút ván, công tác đã hoàn thành, ông chủ Do Thái đã ra lịnh Mỹ bỏ Việt Nam để tập trung vào Trung Đông giúp Israel (Do Thái) đối phó với khối Ả Rập, Ai Cập. Kissinger thi hành ý của Do Thái đi đêm với Bắc Kinh, Cộng sản Hà Nội bức tử Việt Nam Cộng Hòa trong hội nghị Paris 1972. Mỹ tuân lịnh Do Thái rút khỏi Việt Nam . Mỹ ngưng viện trợ để bức tử Việt Nam Cộng Hòa. Cộng sản Hà Nội chiếm miền Nam Việt Nam chấm dứt chiến tranh, nhưng lại mở đầu cho thời đại nô lệ dân tộc Việt. Mỹ bỏ miền Nam Việt Nam đâu có lỗ gì?. Sau khi Mỹ bỏ Nam Việt Nam , thì các nước trên thế giới bám vào Mỹ để xin Mỹ bảo vệ khỏi bị họa Cộng sản xâm lăng. Các đơn đặt hàng vũ khí của Mỹ tăng vô kể. Ngân sách quốc phòng tăng không ai dám phê bình. Uy tín Mỹ trên thế giới lại tăng. Để cho người dân Mỹ bớt uất ức vì mang tiếng thua trận (chỉ là cái tiếng thôi chứ sự thực nó không phải như vậy). Mỹ cho ra phim Rambo cho dân Mỹ coi đỡ tức. Đồng thời, Do Thái, Mỹ sợ thế giới khám phá ra cái trò chơi bẩn, phản bội Việt Nam Cộng Hòa nên đã bỏ tiền ra thuê mướn các nhà báo, văn sĩ, cựu chính trị gia, viên chức, một số trí thức viết sách, báo, làm phim bôi nhọ, đổ tội bất tài, vô khả năng lên đầu quân lực Việt Nam Cộng Hòa chỉ để che dấu sự thực, cả thế giới đã bị phù thủy Do Thái, Mỹ dùng truyền thông lừa bịp. Chẳng khác gì trước đây Mỹ đã từng làm phim về người Da Đỏ là tàn ác, hiếu chiến chuyên tấn công cướp bóc người da trắng để che dấu cái tội ác diệt chủng, cướp đất người Da Đỏ, nhưng đã có những người Mỹ, European chính trực, can đảm đã dám đứng ra làm phim, viết sách nói lên sự thực về người Da Đỏ ở Mỹ.
Mỹ nuôi dưỡng Cộng sản để Cộng sản Liên Xô, Tàu chạy đua vũ trang cho kinh tế Mỹ phát triển. Không có mấy thằng gian ác, bad guys, côn đồ cộng sản cầm dao, súng đứng ở các ngõ hẻm rình rập hay xông vào nhà ăn cướp thì đâu có ai nhịn ăn, học, thuốc men mà đi mua vũ khí, phải không?. Cuối cùng, khi Gorbachev một tay trí thức, Gs đại học, lên làm tổng bí thư cộng sản Liên Xô, khám phá ra ngân khố và kinh tế Liên Xô đang trên bờ vực thẳm vì đã cạn kiệt, nếu cứ tiếp tục chạy đua vũ trang với Mỹ chẳng chóng thì chày sẽ xụp đổ, vì vậy ông ta mới quyết định “đổi mới” để củng cố lại hệ thống, không ngờ bị đám Yeltsin nhảy ra làm “Cách Mạng”, thế là cộng sản Liên Xô đi bán muối kéo theo khối Varsovie. Cộng sản Hà Nội mất chỗ dựa Liên Xô đành phải về xin bái Trung Cộng làm thầy để tiếp tục vơ vét, ăn cướp, bóc lột dân nô lệ Việt Nam.
Thấy Mỹ đầu tư làm ăn nhiều ở Tàu, Việt Gian Cộng sản cũng mon men muối mặt quỳ lạy để năn nỉ xin Mỹ bang giao, xin Mỹ bãi bỏ cấm vận. Từ đó Việt Gian Cộng sản trở thành một tên tay sai của nước ngoài chuyên đàn áp, bóc lột, bắt dân Việt Nam làm nô lệ, các mỏ dầu ở ngoài biển Đông tốt nhất, có trữ lượng dầu lớn nhất Mỹ khai thác, Việt Gian Cộng sản dễ bảo vì chúng là quân ăn cướp, buôn dân, bán nước, chúng chỉ biết tổ quốc của chúng là Liên Xô, Trung Cộng, đảng Cộng sản Việt Gian. Ngoại bang cho chúng một ít tiền bảo gì chúng cũng làm, công nhân thời Việt Nam Cộng Hòa còn đình công đòi quyền này quyền kia, Nghiệp Đoàn thời Việt Nam Cộng Hòa còn đòi chủ Mỹ phải xin lỗi nếu nhục mạ công nhân, bắt chủ phải thu hồi công nhân nếu bị đuổi vô cớ, bị tai nạn lao động thì bắt chủ phải bồi thường, chu cấp cho gia đình nạn nhân.
Thời Việt Gian Cộng sản bọn chủ nhân nó là ông Trời, chúng nọc công nhân ra đánh, lột trần truồng nữ công nhân ra khám xét trước khi tan sở, bắt làm việc nhiều hơn 8 tiếng/ngày, không được hưởng lương phụ cấp con cái, không tiền bồi thường tai nạn lao động, chủ muốn đuổi lúc nào thì đuổi, con gái Việt Nam đứng xếp hàng không quần áo để tụi ngoại quốc nó mua về làm “vợ” như mua con vật, nô lệ Việt Nam “xuất khẩu ra ngoài” bị hành hạ, bóc lột, bị chết cũng chẳng sao. Nông dân thời Việt Nam Cộng Hòa thì được chia ruộng đất trong chương trình “Người Cày Có Ruộng”, thời gian đó về miền Tây gia đình nào cũng sống sung túc, con cái học hành đàng hoàng, lễ phép. Chỉ bị cái nạn Việt Cộng đánh phá, nếu không thì là cảnh miền quê trù phú, hạnh phúc. Ngày nay đa số nạn nhân cho những ổ điếm con nít, vợ Đài Loan, Đại Hàn là người miền Tây nam bộ. Miếng đất nào ông chủ nước ngoài muốn thì bảo thằng cai thầu nô lệ Việt Gian Cộng sản một tiếng thì nó sẽ cho công an, bộ đội hốt hết tụi dân nô lệ Việt Nam đi chỗ khác, để đất cho ông chủ mở sân đánh golf, sòng bài, du hí, đú đỡn. Có ai để ý thấy rằng những người con gái bị làm nô lệ tình dục cho ngoại bang là người miền Nam, con nít bị đi làm điếm ở Cao Miên, Thái, Mã Lai cũng là người miền Nam, những nô lệ xuất khẩu bị rơi vào những chỗ khổ, tồi tệ nhất, cũng là người miền Nam. Thời Việt Nam thì đâu có thể làm như vậy được. Tội ác của Cộng sản Hà Nội trong thời chiến đối với dân tộc Việt Nam và trong thời gian chúng cai trị ở miền Bắc. Bằng chứng dâng đất biển cho Trung Cộng, giấy bán còn rành rành ra đó không thể nào chối cãi, thế mà vẫn có những tên bưng bô, xách dép cho Việt Gian Cộng sản vẫn có thể nguỵ biện cho việc này. Vô liêm sỉ, chỉ có thời Việt Gian Cộng sản mới có những kẻ vô liêm sỉ như vậy. Nước Việt hiện nay có độc lập không?. Câu hỏi để mọi người tự trả lời.
Đối với Mỹ, với người nước ngoài thì bọn Việt Gian Cộng sản quàng vai, quàng cổ chụp hình thân thiết, trong khi đó đối với người dân, cán bộ, binh lính, sỹ quan Việt Nam Cộng Hòa (kể cả bộ đội thương binh của chúng) thì chúng hành hạ, sỉ nhục, phân biệt, kỳ thị. Ngay cả những nấm mộ của những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống, Việt Gian Cộng sản cũng đâu bỏ qua, chúng rào lại cấm người thăm viếng, có phải là hình thức cầm tù người chết như trước đây mộ của Tả Quân Lê Văn Duyệt bị xiềng xích?. Sau đó chúng lại làm tiền bằng cách đòi dời những nấm mộ này đi. Cộng sản Hà Nội cứ nói người Việt nam Cộng Hòa thù dai. Nhưng hãy coi hành động của chúng mỗi năm ăn mừng ngày 30/4, kỳ thị người miền Nam, chế độ cũ, như vậy hòa hợp hòa giải ở đâu?. Ai là người nuôi dưỡng hận thù?. Người Việt ở hải ngoại chỉ nói lên sự thực, còn Việt Gian Cộng sản thì hành động đày ải con người. Tư bản đỏ cộng sản Hà Nội càng lúc càng nhiều tiền là do ăn cướp, bóc lột người nô lệ Việt Nam chúng mới thành giàu có. Thực sự thù hận là ai chắc mọi người đã rõ.
Tuy nói Cộng sản chống Mỹ nhưng ngày nay văn hóa, lối sống Mỹ nó tràn ngập ở Việt Nam, với quyết tâm đào tạo con người xã hội chủ nghĩa, bọn Việt Gian Cộng sản đã đào tận gốc trốc tận rễ những truyền thống văn hoá Việt Nam, để ngày nay ở Việt Nam có những việc như thanh niên chuyên hiếp dâm bà già, ông già chuyên hiếp dâm con nít, thày giáo ngoài giờ đi dạy thì đi làm ăn cướp, hoặc quấy nhiễu tình dục nữ sinh nếu không được sẽ đánh rớt nạn nhân, thi cử thì toàn là bịp bợm, bằng giả, bằng mua, thuê. Công an đi trấn lột, hiếp dâm dân, cán bộ cộng sản tham nhũng, thụt két, bộ đội, công an công khai tổ chức những đường dây ăn cắp, buôn lậu. Ăn cắp, ăn cướp, hối lộ, tham nhũng, thụt két, nói láo, lừa bịp là điều phải có trong xã hội chủ nghĩa của Cộng sản. Đó có phải là đạo đức của Cộng sản?. Dĩ nhiên ở những nước khác trên thế giới cũng có những tệ trạng này, nhưng thủ phạm đã bị trừng phạt hay phải nghỉ việc, và lại càng không phải chính sách (quốc sách) của chính quyền. Không như ở Việt Nam hiện nay, cán bộ đảng viên cộng sản phạm tội vẫn nhởn nhơ tiếp tục nắm quyền, vẫn tiếp tục phạm tội. Họ đứng trên luật pháp bởi vì họ đẻ ra luật pháp?. Thằng ăn cướp nắm quyền không thể xử chính chúng được, vì vậy các thủ phạm tham nhũng, ăn cướp cứ ngồi vững trên ngai vàng và tiếp tục ăn cướp.
Nói tóm lại thời Việt Gian Cộng sản thì chỉ có dân tộc Việt Nam khổ vì làm thân nô lệ, còn tụi ngoại quốc thì chúng nó tới Việt Nam oai vệ hơn thời Thực Dân, nó thí cho Cộng sản chút tiền, thì Việt Gian Cộng sản ngoan ngoãn làm tay sai cho chúng đàn áp, bóc lột người dân. Cộng sản Hà Nội đã làm rất tốt công việc của thằng tay sai cho ngoại bang, cai nô lệ bản xứ. Đâu phải các ông chủ Nhật, Đài Loan, Hongkong, Đại Hàn, Mỹ, Pháp tới Việt Nam làm ăn vì thương người Việt Nam. Họ tới đó vì lợi nhuận đấy, mà có lợi cho họ thì người dân Việt Nam phải chịu thiệt, điều đó ai cũng biết. Một nước được đánh giá có tiềm năng kinh tế hay giàu có thì phải coi tiềm năng kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hoá, cấu trúc hạ tầng, chỉ số GDP hàng năm, chứ không phải là những hotel, sân golf hay những khu du lịch, xòng bạc casino. Tới đây chắc mọi người cũng đã hiểu phần nào tại sao Mỹ nó bỏ miền Nam rồi chứ?.
Cho đến ngày nay, Do Thái, Mỹ, Cộng sản Hà Nội vẫn bỏ tiền ra cho truyền thông báo chí ngoại quốc (nhất là báo chí Mỹ) thuê người viết sách làm phim đánh bóng Việt Gian Cộng sản, cũng như thoá mạ, bôi nhọ, nguỵ tạo sự thật về quân lực Việt Nam Cộng Hòa, chúng ta thấy rõ trong những film Mỹ nói về chiến tranh Việt Nam có bao giờ có người lính Việt Nam Cộng Hòa trong đó. Trong khi đó thì hơn 200,000 người lính Việt Nam Cộng Hòa tử trận và hơn 1 triệu người bị thương tật. Nếu chiến tranh Việt Nam chỉ có Mỹ đánh với Cộng sản Hà Nội, thì Mỹ phải tới Việt Nam bao nhiêu người mới đủ để phụ trách các nơi?. Đấy! chỉ là sự lừa bịp trên truyền thông.
Chúng ta đừng để bị Mỹ, Do thái, Việt Gian Cộng sản lừa bịp suốt đời nhé. Người Việt Nam bây giờ và các thế hệ sau này cũng sẽ phỉ nhổ lên hành động dơ bẩn này, nếu các Ác Thế Lực không biết dừng lại mà vẫn tiếp tục gieo thêm tội ác lên trên con người Việt Nam cũng như chà đạp nỗi thống khổ của con người Việt Nam và gây thêm tội ác trên đất nước Việt Nam. Chúng ta phải bằng mọi cách phải lưu truyền lại sự thực này cho đời sau biết rõ, dù chỉ là truyền miệng.
Monday, May 26, 2008
Tí Diện Nhân Lý Kiến Cắn
Lục Cốc Đào Tiên
(bài viết về Lý Kiến Trúc, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút nguyệt san Văn Hóa, được đăng trên Việt Weekly trong năm 2004, VietweeklyOnline đã lấy xuống khỏi Net)
Lý Kiến Cắn tên thật là Hùng Quần Dzin, nguyên quán: Nước Bắc, nguyên trú quán: chợ trời Tạ Thu Thâu (tội nghiệp nhà cách mạng Cộng sản Đệ tứ), Sài Côn. Từ ngày xây dựng lại cuộc đời mới với tên Lý Kiến Cắn, chàng ta cương quyết quên đi quá khứ dỏm của mình nên không bao giờ chịu nhận tên Hùng Quần Dzin ấy cả. Có lần chàng gặp lại người bạn thuở còn bôn ba ở chốn chợ trời, người bạn hớn hở gọi ngay tên cúng cơm ấy ngày xưa, thế là chàng chơi một phát tình vờ, coi Hùng Quần Dzin là người nào đó hoàn toàn xa lạ, không hề dính dáng gì đến mình cả. Người bạn mắc cở quá đâm giận, đành chửi thề cho hả.
Lý Kiến Cắn dáng người nhỏ thó, gượng mặt choắt cheo, giống hệt một con chuột nhắt. Chốn giang hồ gọi chàng là Tí Diện Nhân quả không sai… tí nào. Thời Tông Tông Thiệu, Lý Kiến Cắn cũng đường đường là một đáng sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị như ai, trấn đóng ở vùng cao nguyên Quảng Đức, chuyên môn xách đàn guitar đi tán đàn bà con gái. Đi lao cải về, chàng thẳng bước tới chợ trời. Nhờ tài lanh lẹ, lòn lách như chuột nhắt nên chẳng mấy chốc chàng tậu được nhà lầu và trổ tài ăn thánh nói tướng. Đầu thập niên 90, khi định cư tại Cam địa thành, chàng có ý định phát triển nghề chạy mánh nhưng không thành công, nên đành xin vào làm cho cho báo Người An Nam. Chàng đeo máy chụp ảnh đi tứ tung, lang thang từ Cam địa thành đến Thiên Thần thành sang Thung Lũng Thiếu Tình Yêu, gặp gì chộp nấy. Mác Ký… giả thiệt giúp chàng làm quen với một mụ nạ dòng đang làm viện chủ một Neo Học Viện tại Thung Lũng Thiếu Tình Yêu, đó là Đầm Lầy Bà Bà.
Đôi giòng nói về Đầm Lầy Bà Bà, một mụ nạ dòng mập mạp, đen đúa, vòng số hai to nhất trong ba vòng, chân tay tuy ở Mỹ khá lâu mà vẫn chưa sạch nước phèn. Nguyên tên cúng cơm của bà mang sắc hương của một loài hoa không mấy qúi phái, sẵn dịp dang tới Ngoại bang đã đổi lấy tên Đầm Lầy Bà Bà cho nó giống Ngoại một tí. Thung Lũng Thiếu Tình Yêu là tên chữ do người Nước Huế gọi là Bồ Mô Nà Va Lầy, nghĩa là không có bồ đâu, tức là thiếu tình yêu… Đầm Lầy Bà Bà ở Thung Lũng Thiếu Tình Yêu nên tình yêu không hề có, gặp được Tí Diện Nhân Lý Kiến Cắn thật phỉ nguyền, không khác chi cá gặp nước, giống như truyện Kiều “Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau”. Đầm Lầy Bà Bà khá giàu, có tí của dư của để, nên Tí Diện Nhân bám ngay như chụp lấy cơ hội tiến thân. Chàng trổ tài ký giả, thuyết phục Đầm Lầy Bà Bà xuất đô la làm một chương trình phát thanh và một tờ báo không phải tên Giăng Tơ mà là “Văng… Hóa” để quảng cáo viện của Bà Bà và để chàng làm… chủ. Ngoài ra chàng còn xúi Đầm Lầy à Bà lập thêm Nhà Văng Hóa cho nó giống Cung Văng Hóa… của đảng Mafia Mít. Chỉ một thời gian ngắn sau đó Lý Kiến Cắn gỉa vờ tạo gay cấn để chia tay Bà Bà, thế là chàng nghiễm nhiên trở thành chủ nhiệm kiêm chủ bút thật đường bệ như chàng mơ ước. Để cho hách hơn nữa Lý Kiến Cắn ghi thêm sau tên mình là Cử Nhân Văn Chương. Thiên hạ tò mò théc méc: Học hồi nào vậy cà? Bí tị chàng ta đáp đại là sau “giải phóng”. Chuyện này được mọi người ghép vào thiên hạ sự, bàn tán mãi, chàng lộ tẩy nói dóc nên vội xóa mau “tái tồ” ông Cử.
Lúc này, Lý Kiến Cắn không còn ăn mặc xuềnh xoàng như trước nữa, mà bất cứ nơi nào, bất kể ở đâu, chàng cũng chịu khó thắng bộ chải chuốt, cà vạt, vét tông chạy rông nói dóc. Đi đêm gặp ma, Tí Diện Nhân đụng độ Đông Phương Sóc nhiều phen vì nghề nghiệp. Một hôm Đông Phương Sóc cho qúi tử đi theo hộ vệ, mai phục cạnh Đại Hải Cao Lâu chờ Lý Kiến Cắn xuất hiện là bất ngờ tấn công. Kết quả là chàng Lý bị một trận chí tử, mang đầu máu la làng. Sau đó Lý Kiến Cắn đi xin chữ ký của các nhà báo, nhà văn để ủng hộ chàng ta kiện Đông Phương Sóc. Mọi người rất lấy làm thương hại bèn ký rất nhiều, tưởng phen này giúp được người ký giả cô thế. Nhưng ngày qua ngày tháng qua tháng, câu chuyện cứ thế, im ru bà rù, Đông Phương Sóc vẫn bình chân như vại. Làng báo chí thị phi lại théc méc, có người không biết lấy đâu ra nguồn tin, mà giải thích ẩu(?) rằng: Hai cao thủ này cùng xuất thân từ một môn phái bí mật nên không biết nhau, đến chừng xin chỉ thị cấp trên về việc đã xảy ra, mới hay là cùng một nhiệm vụ nên huề vốn.
Lý Kiến Trúc quả tình là một tay có bản lĩnh. Tuy là chủ nhiệm kiêm chủ bút của tờ Văng Hóa nhưng chàng ta không hề viết cho báo của mình. Việc chàng làm là đặt chủ đề mỗi số báo cho thật kêu (nhiều khi không cần ý nghĩa” còn bài vở cứ lang thang trên Net lấy xuống, hoặc chôm ở báo nào đó mang về, thảng hoặc đi xin bài của một vài tác giả, rồi làm thinh không ngó ngàng nhớ nhung gì đến tiền nhuận bút, vậy là xong một số báo. Lý Kiến Cắn còn giở trò ma mãnh là quảng cáo tưới hột sen cho ai đó rồi mang báo đến xin ủng hộ. Cũng nhờ vậy mà chàng được Lệch Khẩu Giáo Chủ (nói nôm na là giáo chủ miệng méo) cưng, vừa cho tiền vừa cho rờ váy. Bị chốn giang hồ đả kích, Lý Kiến Cắn bèn biện luận rằng chàng chỉ là một chủ nhiệm quèn mà thôi.
Cứ con đường… lòn, Lý Kiến Cắn tiến lên. Chàng năn nỉ ỉ ôi Phạm Củ Sắn, một đàn em thân tín của Cà Chớn Tướng Quân, giới thiệu để xin phỏng vấn ông tướng nầy. Vậy mà chàng ta đi vênh váo đi rêu rao đầu làng cuối xóm là Tướng Cà Chớn tin tưởng là tờ Văng Hóa là một tờ báo có uy tín, thanh thế rất lớn nên đã trả tiền cho chàng để được phỏng vấn. Quen thói bợ đỡ một cách rất ư cà chớn, nên Tí Diện Nhân đã gọi Cà Chớn Tướng Quân bằng Ngài. Bị thiên hạ mỉa mai, chàng Lý chơi mặt lì giải thích rằng chàng xưng hô với Cà Chớn Tướng Quân là Ngài có nghĩa là phân biệt ông ta khác giới tuyến. Lý Kiến Cắn giải thích như vậy mà quên rằng trước đó không lâu trên báo Văng Hóa, chàng đã phỏng vấn Râu Dê Tướng Quâ và cũng gọi ông tướng này bằng Ngài, nhưng ông tướng này lại cùng giới tuyến với chàng.
Lý Kiến Cắn luôn tự hào về tài phó nhòm của mình. Công bình mà nói những tấm hình chàng chộp trong dịp dân Mít biểu tình chống Trần Ba Trợn trông rất khí thế. Chàng Lý đã tặng cho viện bảo tàng ở Đất Ốc (dùng tặng với hậu ý gì cho riêng chàng) cũng là một việc đáng được… Hoàng đế Bụi Rậm khen thưởng./.
Tam Quốc Chí diễn nghĩa:
- Lục Cốc Đào Tiên: nhà báo Vương Trùng Dương.
- Tí Diện Nhân: người có khuôn mặt giống con chuột cống, chuột chù, khi nói chuyện hoặc ăn uống thì cái mỏ chu ra, vừa nhai ngồm ngoàm vừa nói chuyện; có cái tật thọc đũa vào tô canh khuấy tùm lum tìm món mình thích, trông hạ cấp, mất vệ sinh vô cùng khiến cho những người ăn chung không dám gắp nữa, để hưởng một mình!
- Lý Kiến Cắn: là Lý Kiến Trúc, Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút nguyệt san Văn Hóa. Vốn họ Nguyễn tên Hùng, không hiểu sao qua Mỹ lại đổi thành họ Lý? Hay là bắt chước Hồ tặc đã từng có bí danh là Lý Thụy khi bôn ba hải ngoại?
- Báo Người An Nam: báo Người Việt.
- Cam địa thành: quận Cam; Thiên Thần thành: thành phố Los Angeles; Thung Lũng Thiếu Tình Yêu: thành phố Pomona.
- Neo Học Viện: trường dạy làm nail, làm tóc.
- Đầm Lầy Bà Bà: bà Madaleina Lài (?)
- Bồ Mô Nà Va Lầy: Pomoma Valley.
- Đông Phương Sóc: nhà báo Trần Đông Phương
- Lệch Khẩu Giáo Chủ: giáo chủ miệng méo, thiền sư Vén váy Thanh Hải.
- Phạm Củ Sắn: thiếu tá Nhẩy Dù Phạm Đình Cung, hỗn danh Cung Củ Đậu.
- Cà Chớn Tướng Quân: thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ.
- Trần Ba Trợn: Trần Trường.
- Đất Ốc: tòa Bạch Ốc.
- Hoàng đế Bụi Rậm: Tổng thống Bush.
Lục Cốc Đào Tiên
(bài viết về Lý Kiến Trúc, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút nguyệt san Văn Hóa, được đăng trên Việt Weekly trong năm 2004, VietweeklyOnline đã lấy xuống khỏi Net)
Lý Kiến Cắn tên thật là Hùng Quần Dzin, nguyên quán: Nước Bắc, nguyên trú quán: chợ trời Tạ Thu Thâu (tội nghiệp nhà cách mạng Cộng sản Đệ tứ), Sài Côn. Từ ngày xây dựng lại cuộc đời mới với tên Lý Kiến Cắn, chàng ta cương quyết quên đi quá khứ dỏm của mình nên không bao giờ chịu nhận tên Hùng Quần Dzin ấy cả. Có lần chàng gặp lại người bạn thuở còn bôn ba ở chốn chợ trời, người bạn hớn hở gọi ngay tên cúng cơm ấy ngày xưa, thế là chàng chơi một phát tình vờ, coi Hùng Quần Dzin là người nào đó hoàn toàn xa lạ, không hề dính dáng gì đến mình cả. Người bạn mắc cở quá đâm giận, đành chửi thề cho hả.
Lý Kiến Cắn dáng người nhỏ thó, gượng mặt choắt cheo, giống hệt một con chuột nhắt. Chốn giang hồ gọi chàng là Tí Diện Nhân quả không sai… tí nào. Thời Tông Tông Thiệu, Lý Kiến Cắn cũng đường đường là một đáng sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị như ai, trấn đóng ở vùng cao nguyên Quảng Đức, chuyên môn xách đàn guitar đi tán đàn bà con gái. Đi lao cải về, chàng thẳng bước tới chợ trời. Nhờ tài lanh lẹ, lòn lách như chuột nhắt nên chẳng mấy chốc chàng tậu được nhà lầu và trổ tài ăn thánh nói tướng. Đầu thập niên 90, khi định cư tại Cam địa thành, chàng có ý định phát triển nghề chạy mánh nhưng không thành công, nên đành xin vào làm cho cho báo Người An Nam. Chàng đeo máy chụp ảnh đi tứ tung, lang thang từ Cam địa thành đến Thiên Thần thành sang Thung Lũng Thiếu Tình Yêu, gặp gì chộp nấy. Mác Ký… giả thiệt giúp chàng làm quen với một mụ nạ dòng đang làm viện chủ một Neo Học Viện tại Thung Lũng Thiếu Tình Yêu, đó là Đầm Lầy Bà Bà.
Đôi giòng nói về Đầm Lầy Bà Bà, một mụ nạ dòng mập mạp, đen đúa, vòng số hai to nhất trong ba vòng, chân tay tuy ở Mỹ khá lâu mà vẫn chưa sạch nước phèn. Nguyên tên cúng cơm của bà mang sắc hương của một loài hoa không mấy qúi phái, sẵn dịp dang tới Ngoại bang đã đổi lấy tên Đầm Lầy Bà Bà cho nó giống Ngoại một tí. Thung Lũng Thiếu Tình Yêu là tên chữ do người Nước Huế gọi là Bồ Mô Nà Va Lầy, nghĩa là không có bồ đâu, tức là thiếu tình yêu… Đầm Lầy Bà Bà ở Thung Lũng Thiếu Tình Yêu nên tình yêu không hề có, gặp được Tí Diện Nhân Lý Kiến Cắn thật phỉ nguyền, không khác chi cá gặp nước, giống như truyện Kiều “Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau”. Đầm Lầy Bà Bà khá giàu, có tí của dư của để, nên Tí Diện Nhân bám ngay như chụp lấy cơ hội tiến thân. Chàng trổ tài ký giả, thuyết phục Đầm Lầy Bà Bà xuất đô la làm một chương trình phát thanh và một tờ báo không phải tên Giăng Tơ mà là “Văng… Hóa” để quảng cáo viện của Bà Bà và để chàng làm… chủ. Ngoài ra chàng còn xúi Đầm Lầy à Bà lập thêm Nhà Văng Hóa cho nó giống Cung Văng Hóa… của đảng Mafia Mít. Chỉ một thời gian ngắn sau đó Lý Kiến Cắn gỉa vờ tạo gay cấn để chia tay Bà Bà, thế là chàng nghiễm nhiên trở thành chủ nhiệm kiêm chủ bút thật đường bệ như chàng mơ ước. Để cho hách hơn nữa Lý Kiến Cắn ghi thêm sau tên mình là Cử Nhân Văn Chương. Thiên hạ tò mò théc méc: Học hồi nào vậy cà? Bí tị chàng ta đáp đại là sau “giải phóng”. Chuyện này được mọi người ghép vào thiên hạ sự, bàn tán mãi, chàng lộ tẩy nói dóc nên vội xóa mau “tái tồ” ông Cử.
Lúc này, Lý Kiến Cắn không còn ăn mặc xuềnh xoàng như trước nữa, mà bất cứ nơi nào, bất kể ở đâu, chàng cũng chịu khó thắng bộ chải chuốt, cà vạt, vét tông chạy rông nói dóc. Đi đêm gặp ma, Tí Diện Nhân đụng độ Đông Phương Sóc nhiều phen vì nghề nghiệp. Một hôm Đông Phương Sóc cho qúi tử đi theo hộ vệ, mai phục cạnh Đại Hải Cao Lâu chờ Lý Kiến Cắn xuất hiện là bất ngờ tấn công. Kết quả là chàng Lý bị một trận chí tử, mang đầu máu la làng. Sau đó Lý Kiến Cắn đi xin chữ ký của các nhà báo, nhà văn để ủng hộ chàng ta kiện Đông Phương Sóc. Mọi người rất lấy làm thương hại bèn ký rất nhiều, tưởng phen này giúp được người ký giả cô thế. Nhưng ngày qua ngày tháng qua tháng, câu chuyện cứ thế, im ru bà rù, Đông Phương Sóc vẫn bình chân như vại. Làng báo chí thị phi lại théc méc, có người không biết lấy đâu ra nguồn tin, mà giải thích ẩu(?) rằng: Hai cao thủ này cùng xuất thân từ một môn phái bí mật nên không biết nhau, đến chừng xin chỉ thị cấp trên về việc đã xảy ra, mới hay là cùng một nhiệm vụ nên huề vốn.
Lý Kiến Trúc quả tình là một tay có bản lĩnh. Tuy là chủ nhiệm kiêm chủ bút của tờ Văng Hóa nhưng chàng ta không hề viết cho báo của mình. Việc chàng làm là đặt chủ đề mỗi số báo cho thật kêu (nhiều khi không cần ý nghĩa” còn bài vở cứ lang thang trên Net lấy xuống, hoặc chôm ở báo nào đó mang về, thảng hoặc đi xin bài của một vài tác giả, rồi làm thinh không ngó ngàng nhớ nhung gì đến tiền nhuận bút, vậy là xong một số báo. Lý Kiến Cắn còn giở trò ma mãnh là quảng cáo tưới hột sen cho ai đó rồi mang báo đến xin ủng hộ. Cũng nhờ vậy mà chàng được Lệch Khẩu Giáo Chủ (nói nôm na là giáo chủ miệng méo) cưng, vừa cho tiền vừa cho rờ váy. Bị chốn giang hồ đả kích, Lý Kiến Cắn bèn biện luận rằng chàng chỉ là một chủ nhiệm quèn mà thôi.
Cứ con đường… lòn, Lý Kiến Cắn tiến lên. Chàng năn nỉ ỉ ôi Phạm Củ Sắn, một đàn em thân tín của Cà Chớn Tướng Quân, giới thiệu để xin phỏng vấn ông tướng nầy. Vậy mà chàng ta đi vênh váo đi rêu rao đầu làng cuối xóm là Tướng Cà Chớn tin tưởng là tờ Văng Hóa là một tờ báo có uy tín, thanh thế rất lớn nên đã trả tiền cho chàng để được phỏng vấn. Quen thói bợ đỡ một cách rất ư cà chớn, nên Tí Diện Nhân đã gọi Cà Chớn Tướng Quân bằng Ngài. Bị thiên hạ mỉa mai, chàng Lý chơi mặt lì giải thích rằng chàng xưng hô với Cà Chớn Tướng Quân là Ngài có nghĩa là phân biệt ông ta khác giới tuyến. Lý Kiến Cắn giải thích như vậy mà quên rằng trước đó không lâu trên báo Văng Hóa, chàng đã phỏng vấn Râu Dê Tướng Quâ và cũng gọi ông tướng này bằng Ngài, nhưng ông tướng này lại cùng giới tuyến với chàng.
Lý Kiến Cắn luôn tự hào về tài phó nhòm của mình. Công bình mà nói những tấm hình chàng chộp trong dịp dân Mít biểu tình chống Trần Ba Trợn trông rất khí thế. Chàng Lý đã tặng cho viện bảo tàng ở Đất Ốc (dùng tặng với hậu ý gì cho riêng chàng) cũng là một việc đáng được… Hoàng đế Bụi Rậm khen thưởng./.
Tam Quốc Chí diễn nghĩa:
- Lục Cốc Đào Tiên: nhà báo Vương Trùng Dương.
- Tí Diện Nhân: người có khuôn mặt giống con chuột cống, chuột chù, khi nói chuyện hoặc ăn uống thì cái mỏ chu ra, vừa nhai ngồm ngoàm vừa nói chuyện; có cái tật thọc đũa vào tô canh khuấy tùm lum tìm món mình thích, trông hạ cấp, mất vệ sinh vô cùng khiến cho những người ăn chung không dám gắp nữa, để hưởng một mình!
- Lý Kiến Cắn: là Lý Kiến Trúc, Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút nguyệt san Văn Hóa. Vốn họ Nguyễn tên Hùng, không hiểu sao qua Mỹ lại đổi thành họ Lý? Hay là bắt chước Hồ tặc đã từng có bí danh là Lý Thụy khi bôn ba hải ngoại?
- Báo Người An Nam: báo Người Việt.
- Cam địa thành: quận Cam; Thiên Thần thành: thành phố Los Angeles; Thung Lũng Thiếu Tình Yêu: thành phố Pomona.
- Neo Học Viện: trường dạy làm nail, làm tóc.
- Đầm Lầy Bà Bà: bà Madaleina Lài (?)
- Bồ Mô Nà Va Lầy: Pomoma Valley.
- Đông Phương Sóc: nhà báo Trần Đông Phương
- Lệch Khẩu Giáo Chủ: giáo chủ miệng méo, thiền sư Vén váy Thanh Hải.
- Phạm Củ Sắn: thiếu tá Nhẩy Dù Phạm Đình Cung, hỗn danh Cung Củ Đậu.
- Cà Chớn Tướng Quân: thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ.
- Trần Ba Trợn: Trần Trường.
- Đất Ốc: tòa Bạch Ốc.
- Hoàng đế Bụi Rậm: Tổng thống Bush.
DU SINH VIỆT NAM NỐI VÒNG TAY LỚN
- ĐINH LÂM THANH -
Trong thời gian gần đây, cộng đồng người Việt đặc biệt chú ý theo dõi cuộc vận động dân chủ từ Âu sang Mỹ của mấy anh chị em du sinh Việt Nam qua chiến dịch ‘nối vòng tay lớn’ với mục đích kêu gọi giới trẻ hải ngoại nhập cuộc. Vài chính trị gia đón gió cũng như một số đoàn thể, đảng phái quen thuộc đã nhanh chóng ủng hộ, vận động và tạo điều kiện cho nhóm nầy xuất hiện nhiều lần trên các cơ quan truyền thông, truyền hình cũng như tổ chức lễ rước đuốc tại San José và đi xe đạp nối vòng tay lớn ở Bruxelles....
Ngược lại đa số người Việt vẫn âm thầm quan sát hoạt cảnh của đôi bạn trẻ mà đảng Cộng sản Việt Nam đã huấn luyện và gởi ra ngoài hoạt động dưới sự chỉ đạo của các cơ quan ngoại vi Hà Nội. Đối với những người hằng quan tâm đến tự do dân chủ thực sự cho Việt Nam, không nhiều thì ít, chắc chắn phải đắn đo trước đường lối quan điểm lập trường và chương trình hành động của nhóm nầy khi chúng và thành phần đón gió vận động kêu gọi hải ngoại tham gia phong trào. Lý do chính của sự thờ ơ của cộng đồng người Việt, chúng chẳng những không muốn thay đổi chế độ độc tài mà vẫn cổ võ ủng hộ đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời cầu xin Hà Nội nhẹ tay trong việc cai trị sắt máu, xem như một ân huệ của nhà cầm quyền để thể hiện một vài khía cạnh dân chủ trước tình thế mới.
Trước sự bừng dậy của tuổi trẻ, chúng ta đều hân hoan ủng hộ thanh niên Việt Nam khi thành phần nầy đã nhận thức được sai lầm của chế độ Cộng sản và mạnh dạn dấn thân vào công cuộc đấu tranh đòi các quyền tự do căn bản của con người. Nhất là giới trẻ được sinh ra và trưởng thành dưới chế độ Cộng sản mà đa số là con cháu của thành phần cai trị, sống trong một môi trường bưng bít, chất xám hoàn toàn bị nhồi sọ bởi bộ máy tuyên truyên nhà nước. Đầu óc đa số giới trẻ nông thôn ngày nay bị đóng khung trong những gì mà thuyết Mác-Lê, đường lối Cộng sản cũng như cái bánh vẽ ‘ưu việt’ và ‘đỉnh cao trí tuệ loài người’ của chế độ. Kết quả của xảo quyệt truyên truyền, đầu óc thành phần trẻ ngày hôm nay tại Việt Nam bị nhuộm đỏ trong lạc hậu và căm thù. Đối với thành phần nầy chủ nghĩa tư bản và xã hội tây phương là một thế giới hủ lậu, bất công, bóc lột, giả tạo và không tình người…Nhưng may thay, nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật, Hà Nội không thể giữ mãi lối tuyên truyền một chiều bưng bít sự thật như trước đây, một số thanh niên tỉnh thành đã thức tỉnh mở rộng tầm nhìn ra ngoài với những xót xa suy tư cho thân phận của quê hương cũng như con người dưới chế độ Cộng sản. Gần đây, để cứu lấy chế độ lỗi thời đi ngược với trào lưu tiến hóa nhân loại, Hà Nội bắt buộc phải hé cửa với thế giới tự do, nhờ đó tuổi trẻ Việt Nam có cơ hội sáng mắt trước những sự thật mà cha ông họ từng lừa gạt cả dân tộc hơn sáu chục năm qua.
Nằm trong chương trình trao đổi văn hóa, con cái cán bộ đảng viên được ưu tiên ra du học nước ngoài. Thành phần trẻ có cơ hội tiếp xúc với đồng hương hải ngoại, được sống trong môi trường hoàn toàn tự do, dù chỉ một thời gian ngắn nhưng cũng đủ để cho lớp con cái cán bộ đảng viên nhận thức được những sai lầm trọng đại của cha ông. Lương tâm và trí óc lớp trẻ ngày nay đã nhận thức được những tên Cộng sản Hà Nội chính là tội đồ nhân loại, đã dùng nhà tù súng đạn giết hại đồng bào ruột thịt Miền Nam, cướp bóc tham ô, bán người bán đất làm giàu trên mồ hôi nước mắt và máu của nhân dân Việt đồng thời đưa Đất Nước đi ngược trào lưu tiến hóa.
Phải nhớ một điều rằng, trong số du sinh nước ngoài, đại đa số là thành phần con cưng của đảng, được huấn luyện trong ân sủng để tiếp tục duy trì chế độ Cộng sản sau nầy. Nhưng may mắn cho đất nước, đầu óc con tim thanh niên của một số con cháu cán bộ đảng viên ngày nay đã biết thức tỉnh, biết nhận định những sai lầm thế hệ trước và bắt đầu dấn thân vào con đường tranh đấu, làm đầu tàu cho một cuộc cách mạng chống lại với chính cha ông của họ : Đó chính là lương tâm giới trẻ trong nước đã vùng dậy, chứng minh qua các truyền đơn chống đối của sinh viên xuất hiện trong các trường đại học từ Nam chí Bắc.
Những cố gắng của thế hệ thứ ba trong sự nghiệp đấu tranh cho dân chủ từ trong nước ra đến hải ngoại chỉ hạn chế trong vai trò kế hoạch, cổ võ, hướng dẫn, yểm trợ cho một cuộc cách mạng nhung hầu lật đổ chế độ Cộng sản hiện tại và ủng hộ lớp trẻ xây dựng một thể chế mới, trong đó các quyền căn bản con người, từ tinh thần, tư tưởng đến vật chất cũng như cuộc sống thường nhật của dân chúng phải được tôn trọng. Thật vậy, giới trẻ là động lực chính để thực hiện một cuộc cách mạng, nhất là những ai đã được sinh ra và trưởng thành dưới chế độ sắt máu không tình người. Sáu mươi năm qua đã quá đủ chứng minh rằng Cộng sản Hà Nội hoàn toàn không mang lại gì cho tổ quốc quê hương thân yêu cũng như no cơm ấm áo cho tám chục triệu người nói chung, mà đã làm băng hoại tiềm lực quốc gia và dẫn đến bần cùng đói rách cho dân chúng Miền Nam, nói riêng, sau hơn ba mươi năm chấm dứt chiến tranh ! Chính các bạn trẻ trong nước đã hiểu rõ vấn đề nầy hơn tất cả thanh thiếu niên sinh sống và trưởng thành ở hải ngoại. Hôm nay các bạn ra ngoài để giải bày tâm huyết, thuyết phục tất cả nối vòng tay tạo sức mạnh để chống lại chế độ Cộng sản là một điều thật đáng kính phục, phải tích cực ủng hộ và cổ võ…
Nhưng tiếc thay, trường hợp hai bạn trẻ Nguyễn Tiến Trung và Nguyễn Hoàng Lan với lá bài Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ chính là kế hoạch do Hà Nội dàn dựng trong chương trình bịp bợm cộng đồng người Việt tự do, chúng ta cần phải nghiên cứu để tránh rơi vào cạn bẫy Cộng sản.
Trước hết nhìn vào chủ trương, đường lối và chương trình hành động của các du sinh đang phổ biến rầm rộ duới sự điều động của một thế lực trong bóng tối lại được những nhà chính trị cò mồi, các hội đoàn, đảng phái đón gió tận tình ủng hộ thì bất cứ những ai đã theo dõi diễn tiến nầy cũng phải đặt nhiều câu hỏi nghi ngờ. Chúng tôi đã theo sát hành động một số du sinh Việt Nam, trong nầy có Nguyễn Tiến Trung và Nguyễn Hoàng Lan, từ ngày họ đặt chân đến Pháp theo chương trình trao đổi văn hoá cho đến lúc được lệnh xuống đường ra mặt kêu gọi tất cả ‘nối vòng tay lớn’. Những gì chúng tôi thu thập được có thể khẳng định bộ mặt thật của thành phần nầy.
Hà Nội đã đưa ba nhân vật thuộc ba thế hệ khác nhau để chiêu dụ cộng đồng người Việt hải ngoại. Hai du sinh là lá bài thứ ba, họ xử dụng thành phần trẻ qua hai con rối Nguyễn tiến Trung và Nguyễn hoàng Lan.
1.Trước đây mấy năm, cụ Hoàng Minh Chính, một lãnh tụ trụ cột của đảng Cộng sản Việt Nam được đảng xử dụng thành lập Đảng Dân Chủ Việt Nam, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Hà Nội, làm bình phong cho đảng Cộng sản thẳng tay đàn áp cai trị sắt máu suốt gần năm mươi năm.
Mới đây khi cụ Hoàng Minh Chính ra mặt chống đối, rút ra khỏi đảng Cộng sản và phối hợp với các nhà yêu nước thành lập Liên Minh Dân Chủ chống lại Cộng sản thì Đảng Dân Chủ của cụ Chính phải ngưng hoạt động, không được Hà Nội xem là cần thiết để đánh bóng chế độ. Nhưng Hà Nội lại âm thầm dùng cụ Hoàng Minh Chính ra nước ngoài kêu gọi một thế chính trị mới để duy trì chế độ trong chiều hướng hòa giải hòa hợp gọi là thế ‘Kiềng Ba Chân’ trong đó gồm có CSVN là một, trí thức trong nước là hai và trí thức hải ngoại là ba. Tuy cả ba nhưng là một vì trước sau gì cũng nằm dưới sự lãnh đạo của Cộng sản. Thế ‘Kiềng Ba Chân’ được Hà Nội nghiên cứu từ năm 1995, mười năm sau giao sứ mạng cho cụ Chính đưa qua Mỹ với lý do đi chửa bệnh và được một tổ chức người Việt hải ngoại yểm trợ tài chánh. Bước lên máy bay bằng xe lăn nhưng vừa đến phi trường Mỹ, cụ đã quăng ngay chiếc xe đi đứng vững vàng chẳng chút gì bệnh tật. Cộng sản đâu ngu ngốc nghe lời khai bệnh của cụ để cấp visa cho ra ngoài làm những điều không lợi cho Hà Nội. Đến Mỹ cụ liền hội kín với một số ít chính trị gia tại Nam Cali thảo ra những kế hoạch mang tên ‘Tiểu Diên Hồng’. Cụ Chính và vài tay trí thức xu thời và chính trị đón gió thảo luận việc hợp tác với Cộng sản, làm rùm beng một thời gian rồi chìm xuồng vì đa số đều thấy rõ ràng âm mưu của Cộng sản trong lá bài của cụ Hoàng Minh Chính. Lá bai thứ nhất : Vẫn ủng hộ và duy trì đảng Cộng sản Hà Nội là thành phần nòng cốt trong thế ‘kiềng ba chân’.
2. Mới đây, Cộng sản Việt Nam đưa ra kế hoạch thứ hai khi dùng ông Nguyễn Cao Kỳ nhân lúc ông trở về Việt Nam quỳ gối trước Cộng sản để xin đầu tư cho vợ con và làm tôi mọi (xin là đại sứ lưu động cho Cộng sản).
Hà Nội không bỏ qua dịp hiếm có, chúng đánh bóng ông già ham danh thành một nhân vật quan trọng đại diện Miền Nam và Cộng Đồng người Việt hải ngoại đồng thời cho phép học tập các bài bản trong khách sạn năm sao với đầy đủ tiền bạc xe cộ, công an bảo vệ cũng như đĩ điếm trong thời gian hai năm. Sau đó cho lệnh trở về Mỹ chiêu dụ Cộng đồng người Việt hải ngoại bằng lá bài thứ hai, thế ‘Hai Cẳng’. Hai cẳng có nghĩa là một thể chế chính trị lưỡng đảng, trong đó đảng Cộng sản là một và đảng đối lập. Ông Kỳ kêu gọi chính trị gia hải ngoại hãy tập hợp sau lưng để ông ta giới thiệu với chế độ Hà Nội. Mặc dù nhiều lần lên tiếng thanh minh lý do sức khỏe nhưng ông Kỳ không che giấu được tham vọng trở thành lãnh tụ của đảng thứ hai, xem như đối lập với Cộng sản. Đối với ông Kỳ, không một ai tin vào những lời nói bốc đồng, vô ý thức nếu không nói là vô học của anh cao bồi mất nết. Lá bài của ông bị cộng đồng liệng ngay vào sọt rác. Tuy vậy sau đó ông vẫn mò về Việt Nam họp báo tuyên bố đủ chuyện trên trời dưới đất. Lá bài thứ hai : Lợi dụng Nguyễn cao Kỳ quy tụ thành phần ham tiền háo danh hải ngoại để đắp bê tông cốt sắt cho đảng Cộng sản Hà Nội !
3. Sau hai lần thất bại, bây giờ Cộng sản Hà Nội dàn dựng thêm lá bài thứ ba quan trọng hơn : Xử dụng chính con em của chúng làm mồi giăng bẫy cộng đồng người Việt hải ngoại.
Dụng ý của Hà Nội đánh vào tâm lý. Chúng huấn luyện ngay thành phần con cháu của cán bộ đảng viên rồi cài vào chương trình du sinh, hoạt động dưới chiêu bài chống đối chế độ Cộng sản với hình thức thật hấp dẫn : Chính con cái cán bộ đảng viên Cộng sản bây giờ ra mặt chống đối cha ông họ !
Mới nghe thoáng qua chúng ta ai cũng vội mừng vì nghĩ rằng vận mệnh đất nước đã đến lúc phải đổi thay và đây chính là cơ hội thuận tiện phải nắm lấy tức thời đồng thời ủng hộ bằng tất cả phương tiện để sớm kết thúc chế độ Cộng sản Hà Nội. Nhưng thật chuyện xảy ra không đúng như vậy. Hai anh chị Nguyễn Tiến Trung và Nguyễn Hoàng Lan, qua nhận xét của chúng tôi, chỉ là những du sinh xếp vào loại sinh viên bình thường, không xuất sắc, không khả năng nhưng làm thế nào để đưa ra những bài bản đã được nghiên cứu tỉ mỉ về kế hoạch, chương trình hành động và tạo được một biến cố lớn nếu không có một thế lực trong bóng tối đỡ đầu ? Người ta ghi nhận đôi thanh niên nầy có lần mập mờ khẳng định rằng họ đại diện cho Phong Trào Dân Chủ hiện nay tại Việt Nam để ra ngoài kêu gọi thanh niên hải ngoại siết chặt hàng ngũ đồng thời yểm trợ Đảng Dân Chủ mà cụ Hoàng Minh Chính đang cố gắng vận động hoạt động trở lại. Lá bài thứ ba : Dùng tuổi trẻ thuộc thành phần nòng cốt của chế độ để bịp thế giới qua âm mưu ‘nối vòng tay lớn’.
Người Việt hải ngoại chưa nghe Phong Trào Liên Minh Dân Chủ Việt nam xác nhận vai trò của hai bạn trẻ khi họ mượn danh. Đối với trường hợp Nguyễn Tiến Trung và Nguyễn Hoàng Lan đại diện Đảng Dân Chủ mà cụ Hoàng Minh Chính đang vận động hồi sinh, thì đây cũng là một kế hoạch dân chủ ‘cuội’ lẩn quẩn trong vòng kẽm gai của Cộng sản Việt Nam không hơn không kém
Đến đây xin mở một dấu ngoặc để làm sáng tỏ vấn đề, người Việt Tự Do hân hoan chào đón tất cả đảng viên cán bộ, dù thuộc bất cứ đẳng cấp tổ chức nào, nhưng một khi đã từ bỏ đảng Cộng sản trở về hợp tác với chúng tôi thì hãy tiếp tay tranh đấu cho chính nghĩa, cho nhân quyền, đòi hỏi tự do và no cơm ấm áo cho người dân. Bất cứ ai một khi trở về với dân chủ tự do cùng chen vai sát cánh với chúng tôi mà vẫn vô tình hay cố ý quay lại phục vụ cho chế độ Cộng sản thì tuyệt đối không thể chấp nhận.
Một sự việc cần lưu ý, khi đưa ra lời kêu gọi ‘Nối Vòng Tay Lớn’, Hà Nội đã vấp phải một sai lầm trầm trọng. Chúng nghĩ rằng trước năm 1975 Trịnh Công Sơn đã đưa vòng tay lớn đi từ Cà Mau ra Bến Hải để thu phục lớp trẻ, kêu gọi miền Nam đứng lên lật đổ chế độ Việt Nam Cọng Hòa thì ngày nay Hà Nội cũng cho là thượng sách, mượn tay hai thanh niên đưa chiêu bài nầy để kích động lòng yêu nước của thành phần trẻ hải ngoại. Chiến dịch nối vòng tay nầy không thu phục được lòng người vì ngay tên gọi đã làm cho một số người nổi giận. Cộng đồng người Việt hải ngoại tự do chỉ yêu thiên tài âm nhạc trong con người Trịnh Công Sơn chứ tên Trịnh Công Sơn nằm vùng, ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản, nối giáo cho giặc, đâm sau lưng chiến sĩ thì sự kinh bỉ vẫn còn đó. Mượn danh từ ‘Nối Vòng Tay Lớn’ của Trịnh Công Sơn để thực hiện mưu đồ đen tối, Hà Nội đã ngây ngô khi xử dụng lầm chiến thuật ‘gậy ông đập lưng ông’.
rở lại vấn đề, chúng tôi trình bày ra đây đường lối và chương trình hành động của hai du sinh qua những gì họ đã ghi rõ trên website của tổ chức nầy :
Phối hợp giới trẻ trong và ngoài nước, đoàn kết thành một lực lượng để thúc đẩy đảng Cộng sản làm cho đúng.
Thúc đẩy chống tham nhũng và nhắc nhở để có tự do báo chí.
Vận động cho Việt Nam thực hiện bầu cử tự do và công bằng.
Vận động chữ ký để đệ trình nhà cầm quyền Việt Nam cũng như Quốc hội Mỹ.
Qua các điểm trên, người ta thấy rõ, ‘nối vòng tay lớn’ kêu gọi dân chủ cũng không ngoài mục đích củng cố bảo vệ đảng Cộng Sản. Hà Nội vẫn độc quyền, độc đảng, ngự trị trên đất nước Việt Nam với quyền lực tối thượng, không một đảng phái đối lập nào được chấp thuận. Chủ trương của nhóm du sinh và bè cánh sau lưng là nhắc nhở, đề nghị và van xin đảng Cộng sản Hà Nội nới tay ban phát cho dân tộc Việt Nam một ít quyền tự do dân chủ !!!
Nhóm du sinh nầy còn đề nghị xin chữ ký để dâng cho Hà Nội thì thật không thể tưởng tượng. Hai du sinh đầu óc mặt mũi còn hôi sữa và đám người đón gió sau lưng nghĩ gì khi tự hạ mình xem như một đám ăn mày nhược tiểu đi van xin cầu cạnh Cộng Sản. Cầu cạnh với Cộng sản là giấc mơ của Hà Nội khi chúng đưa ra chương trình nầy mục đích tiến tới việc tôn vinh Hà Nội và thực hiện mưu đồ hoà giải hòa hợp dân tộc. Đây là thái độ thiếu thông minh khi chúng đánh giá cộng đồng người Việt hải ngoại quá thấp.
Xin chữ ký làm kiến nghi để dâng lên quốc hội Mỹ thì xem ra nhóm nầy muốn được Mỹ nhúng tay vào việc bảo vệ đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Hà Nội hiện tại. Chúng ta đều biết, lãnh tụ khối tự do đã hy sinh tiền bạc và xương máu để bảo vệ Tự Do Nhân Quyền trên khắp năm vùng lục địa, nhưng quyền lợi của nước Mỹ chung cuộc vẫn đứng trên tất cả, nếu họ có nhúng tay vào một quốc gia nào thì chung quy cũng vì quyền lợi. Một kinh nghiệm đau đớn cho Việt Nam Cọng Hòa khi họ nhắm mắt bán đứng Miền Nam cho Cộng sản. Không hiễu những người Việt hải ngoại sau lưng hai thanh niên nầy nghĩ thế nào khi họ kêu gọi tập hợp dân chủ để van xin Cộng sản nới tay cai trị đồng thời mong muốn Mỹ ủng hộ đám trẻ du sinh như một thỏa thuận ngầm bảo vệ chế độ Cộng sản hiện tại. Qua những hình ảnh và tin tức đăng trên website của TPTNDC, những hàng chữ lớn cho biết hai bạn trẻ đã được Tổng thống Bush và Phu nhân đã tiếp kiến đồng thời trưng bày những bức hình chụp chung với vài nhân vật chính trị quan trọng (nhưng không thấy tấm ảnh nào liên quan với Tổng thống Bush và Phu Nhân). Bằng cách nào hai bạn trẻ lọt vào được trại nghỉ mát của tổng thống Mỹ ở Texas và thế lực nào đã tạo cơ hội cho hai thanh niên nầy để được chính Tổng thống Mỹ có những điều hứa hẹn. Nếu đúng là sự thật thì phải buồn cho thân phận của tám chục trệu dân Việt Nam. Cộng sản Việt Nam thì có kế hoạch âm mưu của chúng trong mưu đồ đen tối. Chính quyền Mỹ dĩ nhiên biết âm mưu Hà Nội nhưng có lẽ quyền lợi về quân sự và kinh tế, Mỹ sẽ gật đầu chấp nhận sự tồn tại của chế độ Cộng sản mặc dù tổng thống Bush đã lớn tiếng đòi hỏi tự do nhân quyền xem như điều kiện tiên quyết. Với bản chất mưu mô xảo quyệt và tráo trở, trước sau gì dân tộc Việt Nam vẫn lẩn quẩn trong vòng kềm kẹp của Cộng sản. Lịch sử đã chứng minh biết bao hiệp ước quốc tế Cộng sản Việt Nam ký để thi hành thủ đoạn, trước sau gì cũng ù lì vi phạm trắng trợn rồi chẳng có ai làm gì. Thủ đoạn ấu trĩ nầy ai cũng biết nhưng một vài cá nhân đoàn thể chính trị khi mà đối với họ chính nghĩa quốc gia, tự do, nhân quyền no cơm ấm áo của dân tộc Việt không bằng đồng tiền đen tối và lời hứa suông của Cộng sản. Chính quyền Mỹ dĩ nhiên họ có cao kiến và dư sức bóp mũi đám Cộng sản Việt Nam bằng nhiều phương tiện nhưng thật không hiểu khi chính quyền tổng thống Bush vẫn có ý định nuôi thêm Cộng sản Hà Nội một thời gian nữa. Nhưng dù sao, cuộc chiến đấu chính nghĩa của người Việt tư do lại gặp khó khăn khi những chính trị gia xôi thịt, những đảng phái đón gió trở cờ bu theo Hà Nội kiếm chút hư danh ! Chỉ tội nghiệp cho dân lành chất phác, nghèo nàn đói rách, cô đơn thất thế, thứ dân thuộc chế độ cũ trong nước vẫn tiếp tục cúi đầu chấp nhận búa rìu của đảng Cộng sản.
Trở lại vấn đề, thế lực nào nằm sau lưng hai người bạn trẻ ? Quốc gia nào, hội đoàn, đảng nào đã cung cấp tiền bạc, tổ chức chu đáo nơi ăn chốn và tổ chức rầm rộ các chương trình ra mắt truyền thông, báo chí ? Trả lời những câu hỏi nầy thì sự việc sẽ được rõ ràng.
Chúng ta thử nhận diện :
1- Đám du sinh Việt Nam :
Chúng ta biết rằng bất cứ sinh viên nào dù là con cán bộ đảng viên nhà nước ra ngoài kêu gọi chống lại chế độ, chắc chắn không bao giờ được Hà Nội chấp thuận xuất cảnh. Trong trường hợp ra nước ngoài trở cờ quay lại chống đối nhà nước thì chắc không sống được với các ban hành động (một loại đặc công, ám sát…) của các tòa đại sứ. Như vậy, Nguyễn Tiến Trung và Nguyễn Hoàng Lan là những con cờ nằm trong kế hoạch đã được nhà nước ưu ái huấn luyện, chu cấp tiền bạn phương tiện và cài vào chương trình du học trao đổi văn hoá. Đến Pháp, núp bóng trong các trường đại học và sau thời gian huấn luyện, thông suốt vai trò đường lối làm việc, hai người được tung ra với một chiêu bài mới. Khả năng của hai thanh niên nầy không đủ để thảo một chương trình rộng lớn, quy cũ ăn khớp đâu vào đó, mà kế hoạch nầy đã được nghiên cứu kỹ càng bởi một thế lực sau lưng. Hai du sinh nầy thuộc thành phấn nào ? Nếu không ‘con ông cháu cha’ của các đảng viên trung ương thì cũng nằm trong thành phần tỷ phú đỏ, nghĩa là những người đã bám vào gấu quần của Cộng sản để vinh thân phì gia. Du học với mục đích tạo cơ hội chuyển gia tài ra nước ngoài, gầy dựng cơ sở vật chất tại các xứ tự do chuẩn bị một cuộc trốn chạy cho mai sau, hoặc nếu không, thì được nhà nước đào tạo để thi hành một nhiệm vụ nào đó. Những thành phần nầy qua đến Pháp sống đế vương, tiêu tiền theo tiêu chuẩn tỷ phú. Đối với thành phần ‘con ông cháu cha’ đâu cần học hành làm gì, ghế tổng bộ trưởng đã dành sẵn đợi ngày quay về nối nghiệp cha ông ! Khi hay tin Nguyễn Tiến Trung và Nguyễn Hàng Lan tung ra phong trào Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ , chúng tôi đã chú tâm theo dõi tìm hiểu hai anh chị nầy.
Ở Pháp muốn biết một du sinh Việt Nam tại đây không gì khó, ra đường lúc nầy, nhất là trong khu Paris 13 là đất dụng võ của đám du sinh, cứ mười thanh thiếu nữ người Việt thì ít nhất cũng có vài du sinh Việt Nam. Ngoài thành phần con cái cán bộ đảng viên đội lốt du sinh, số còn lại vừa học vừa làm việc, hoặc có anh chị qua đây mục đích lao động kiếm tiền dưới danh nghĩa sinh viên, ghi tên có lệ nhưng đi làm sáu bảy ngày trong tuần. Người ta thường gặp nhiều nhất trong các việc chạy bàn phụ bếp trong các sinh hoạt ăn uống, thu ngân hay phụ bán hàng ở cơ sở thương mãi nhỏ. Du sinh đi làm bên nầy có thể với ba lý do, kiếm thêm tiền túi để theo học tại các trường đại học hoặc chuyên nghiệp, giả danh sinh viên mua visa xuất ngoại làm việc ở nước ngoài vài ba năm và có thể là những tay tình báo trẻ được huấn luyện để len lỏi vào cộng đồng người Việt theo chỉ thị cấp trên. Nhóm thanh niên nầy rất bặt thiệp, thích làm quen tiếp chuyện với những người đã ở lâu tại đây. Do đó không khó khi thăm hỏi trò chuyện. Một khi đã vào đề thân mật, các anh chị nầy phần đông đều áp dụng bài học tuyên truyền một cách nhẹ nhàng theo sách vở, theo thói quen hoặc theo các điều khoản cam kết trước được phép ra đi. Với vài câu hỏi khéo léo, tỏ vẻ thông cảm và thân thiện, người đối thoại sẽ tìm được những sơ hở trong câu chuyện của các bạn trẻ.
Hỏi về hai anh chị Nguyễn Tiến Trung và Nguyễn Hoàng Lan, thì đa số ngạc nhiên về hành động của hai người nầy và họ cũng không hay biết gì nhiều về phong trào Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ. Ngoài ra chúng tôi cũng liên lạc với nhiều anh chị em sinh viên tại Việt Nam, họ cũng trả lời tương tự như những người bên nầy. Điều nầy chứng tỏ Phong Trào Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ do cơ quan ngoại vi Cộng sản nước ngoài chủ động trong bóng tối, bọn nằm vùng phối hợp với vài nhà chính trị đón gió mà chúng ta thường thấy trong những hoạt động có liên quan đến Cộng sản Hà Nội trước đây, rõ ràng nhất là vụ đón tiếp ồn ào, tổ chức hội họp vinh danh những tay trùm Cộng sản đi công tác nước ngoài cũng như tiếp đón cụ Hoàng Minh Chính đi chửa bệnh.
2. Thành phần đở đầu tại hải ngoại : lên tiếng ủng hộ đón tiếp, bao che, tổ chức giới thiệu báo chí truyền thông cũng như vận độn quần chúng rước đuốc nối vóng tay lớn…không ai xa lạ, cũng là những bộ mặt quen thuộc trước đây đã ôm hôn bồng bế cán bộ Cộng sản mỗi khi chúng công du nước qua Pháp hay Mỹ. Cũng những bộ mặt đã nhiều lần hô hào hòa giải hoà hợp với Cộng sản, đòi dẹp bỏ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, bỏ tên Tỵ Nạn, bỏ ngày Quốc Hận để mập mờ thay vào đó lá cờ Máu những ngày kỹ niệm của quan thầy Cộng sản của chúng. Thành phần nầy nhanh tay đón gió khi ngửi thấy một bước ngoặc của Mỹ trong việc mở rộng hiệp thương song phương trực tiếp với Cộng sản Việt Nam. Thành phần nầy không đáng quan tâm vì một khi vì danh vì lợi…đã ngoảnh mặt chống lại chính nghĩa của cộng đồng thì mai kia họ cũng trở mặt một cách dễ dàng như trở bàn tay khi thấy gió xoay chiều…
3. Thế lực trong bóng tối : Chỉ có hai thế lực đáng nói : Một, Cộng sản Việt Nam. Hai, chính quyền Mỹ. Hoặc là sự kết hợp ngấm ngầm cả Mỹ lẫn Hà Nội.
Điều thứ nhất, Cộng sản chủ mưu đứng sau lưng là điều khẳn định. Cộng sản Việt Nam đã bước qua thời kỳ quá độ, thế giới đã ghê tởm cái chế độ ‘đảng bóc lột người‘ tận xương tủy, dùng súng đạn để sống đế vương trên đau khổ bần cùng đói rách của người dân. Ngày tàn chúng thấy gần kề nhưng lòng tham vô đáy vẫn ngoan cố bám lấy lợi danh. Con đường duy nhất để kéo dài chế độ độc tài, để tiếp tục cướp bóc, chỉ có một cách : bịp bợm quốc tế bằng hòa giải hòa hợp dân tộc, đây là hình thức mà chế độ Cộng sản cần để hợp thức hóa tội lỗi của chúng : Hợp thức hóa việc cướp nước, hợp thức hóa việc cai trị sắt máu, hợp thức hóa việc hàng triệu người đã bị giết hại, hợp thức hóa tội diệt chủng và nhất là hợp thức hóa việc hàng trăm tỷ dollars đang nằm trong các ngân hàng cũng như hợp thức hóa của cải đầy dẫy trên khắp thế giới. Nếu chấp nhận bắt tay ngồi chung với Hà Nội tức là chúng ta chấp nhận uống máu ăn thề bảo vệ đảng Cộng sản tiếp tục con đường áp bức dân lành vô tội tại Việt nam.
Điều thứ hai, chắc chắn không thể xảy ra, vì người Mỹ không lý do gì đơn phương tình nguyện đứng sau lưng phong trào của hai con rối và ngấm ngầm ủng hộ Hà Nội, tiếp sức cho đảng Cộng sản Việt Nam kéo dài tuổi thọ
Điều thứ ba có thể xảy ra, nghĩa là có một giao ước ngầm ngầm giữa Mỹ và Hà Nội vì cả hai bên đều có lợi.
Tóm lại, tập hợp các đoàn thể đảng phái, thành một liên minh dân chủ đánh đổ Cộng sản thì đúng là con đường chính nghĩa phải theo. Nhưng vô tình hay cố ý bao che, chống đở đảng Cộng sản để chúng tiếp tục bóc lột mồ hôi xương máu của đồng bào thì nhất định là không !
- Phong Trào Thanh Niên Dân Chủ không phải là tổ chức chống Cộng mà là một tổ chức do Cộng sản dựng lên mục đích kêu gọi thành phần trẻ thuộc khối tự do hợp tác, củng cố chế độ Cộng sản Hà Nội, Như vậy những gì Phong Trào Thanh Niên Dân Chủ đưa ra đi ngược con đường chính nghĩa của chúng ta đã tranh đấu từ trên 31 năm nay.
- Hai con rối của chế độ Cộng Sản được Hà Nội huấn luyện đưa ra ngoại quốc thi hành kế hoạch phá hoại Cộng Đồng thì trên 3 triệu người đã từ bỏ chế độ Cộng sản đi tìm tự do không lý do gì phải nhận bọn trẻ con nầy làm đại diện cho mình đi nói chuyện với nhân dân Mỹ cũng như thế giới tự do.
- Nếu chính phủ Mỹ ủng hộ nhóm trẻ nầy (theo các thông tin, quảng cáo và hình ảnh trên website của PTTNDC) thì đây là một điều làm buồn lòng tất cả người Việt khao khát tự do trên toàn thể thế giới. Nếu Mỹ đi đêm với Hà Nội, đẻ ra Phong Trào Thanh Niên Dân Chủ, mở đầu kế hoạch duy trì chế độ Cộng sản tức là Mỹ bán đứng Người Việt tự do một lần nữa. Người Việt tự do ghi ơn dân tộc Mỹ đã mở rộng vòng tay đón nhận những người bỏ nước ra đi, đã ưu ái tạo cho những người mất nước những điều kiện thuận tiện để hội nhập và thành công, nhưng vẫn cảm thấy bị phản bội khi vì một quyền lợi nào đó, chính quyền Mỹ lại nhắm mắt bắt tay với Cộng sản.
Chúng tôi mong những người Việt Tự Do đang hoạt động trong các tổ chức hành pháp, lập pháp cũng như tư pháp nghiên cứu và làm những gì cần thiết để kêu gọi chính quyền Mỹ hãy nghĩ đến lý tưởng cao đẹp mà họ đeo đuổi. Chúng tôi cũng khẩn thiết kêu gọi các cá nhân, đoàn thể đảng phái chính trị hãy siết chặt tay nhau kêu gọi lương tâm của những người Mỹ yêu chuộng tự do nhân quyền, hãy nghĩ đến Việt Nam, một đồng minh trước đây đã bị phản bội chỉ vì chút dư luận hẹp hòi của một thiểu số phản chiến chống đối cuộc chiến đấu tự vệ chính đáng của Việt-Nam Cộng-Hòa.
- ĐINH LÂM THANH -
Trong thời gian gần đây, cộng đồng người Việt đặc biệt chú ý theo dõi cuộc vận động dân chủ từ Âu sang Mỹ của mấy anh chị em du sinh Việt Nam qua chiến dịch ‘nối vòng tay lớn’ với mục đích kêu gọi giới trẻ hải ngoại nhập cuộc. Vài chính trị gia đón gió cũng như một số đoàn thể, đảng phái quen thuộc đã nhanh chóng ủng hộ, vận động và tạo điều kiện cho nhóm nầy xuất hiện nhiều lần trên các cơ quan truyền thông, truyền hình cũng như tổ chức lễ rước đuốc tại San José và đi xe đạp nối vòng tay lớn ở Bruxelles....
Ngược lại đa số người Việt vẫn âm thầm quan sát hoạt cảnh của đôi bạn trẻ mà đảng Cộng sản Việt Nam đã huấn luyện và gởi ra ngoài hoạt động dưới sự chỉ đạo của các cơ quan ngoại vi Hà Nội. Đối với những người hằng quan tâm đến tự do dân chủ thực sự cho Việt Nam, không nhiều thì ít, chắc chắn phải đắn đo trước đường lối quan điểm lập trường và chương trình hành động của nhóm nầy khi chúng và thành phần đón gió vận động kêu gọi hải ngoại tham gia phong trào. Lý do chính của sự thờ ơ của cộng đồng người Việt, chúng chẳng những không muốn thay đổi chế độ độc tài mà vẫn cổ võ ủng hộ đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời cầu xin Hà Nội nhẹ tay trong việc cai trị sắt máu, xem như một ân huệ của nhà cầm quyền để thể hiện một vài khía cạnh dân chủ trước tình thế mới.
Trước sự bừng dậy của tuổi trẻ, chúng ta đều hân hoan ủng hộ thanh niên Việt Nam khi thành phần nầy đã nhận thức được sai lầm của chế độ Cộng sản và mạnh dạn dấn thân vào công cuộc đấu tranh đòi các quyền tự do căn bản của con người. Nhất là giới trẻ được sinh ra và trưởng thành dưới chế độ Cộng sản mà đa số là con cháu của thành phần cai trị, sống trong một môi trường bưng bít, chất xám hoàn toàn bị nhồi sọ bởi bộ máy tuyên truyên nhà nước. Đầu óc đa số giới trẻ nông thôn ngày nay bị đóng khung trong những gì mà thuyết Mác-Lê, đường lối Cộng sản cũng như cái bánh vẽ ‘ưu việt’ và ‘đỉnh cao trí tuệ loài người’ của chế độ. Kết quả của xảo quyệt truyên truyền, đầu óc thành phần trẻ ngày hôm nay tại Việt Nam bị nhuộm đỏ trong lạc hậu và căm thù. Đối với thành phần nầy chủ nghĩa tư bản và xã hội tây phương là một thế giới hủ lậu, bất công, bóc lột, giả tạo và không tình người…Nhưng may thay, nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật, Hà Nội không thể giữ mãi lối tuyên truyền một chiều bưng bít sự thật như trước đây, một số thanh niên tỉnh thành đã thức tỉnh mở rộng tầm nhìn ra ngoài với những xót xa suy tư cho thân phận của quê hương cũng như con người dưới chế độ Cộng sản. Gần đây, để cứu lấy chế độ lỗi thời đi ngược với trào lưu tiến hóa nhân loại, Hà Nội bắt buộc phải hé cửa với thế giới tự do, nhờ đó tuổi trẻ Việt Nam có cơ hội sáng mắt trước những sự thật mà cha ông họ từng lừa gạt cả dân tộc hơn sáu chục năm qua.
Nằm trong chương trình trao đổi văn hóa, con cái cán bộ đảng viên được ưu tiên ra du học nước ngoài. Thành phần trẻ có cơ hội tiếp xúc với đồng hương hải ngoại, được sống trong môi trường hoàn toàn tự do, dù chỉ một thời gian ngắn nhưng cũng đủ để cho lớp con cái cán bộ đảng viên nhận thức được những sai lầm trọng đại của cha ông. Lương tâm và trí óc lớp trẻ ngày nay đã nhận thức được những tên Cộng sản Hà Nội chính là tội đồ nhân loại, đã dùng nhà tù súng đạn giết hại đồng bào ruột thịt Miền Nam, cướp bóc tham ô, bán người bán đất làm giàu trên mồ hôi nước mắt và máu của nhân dân Việt đồng thời đưa Đất Nước đi ngược trào lưu tiến hóa.
Phải nhớ một điều rằng, trong số du sinh nước ngoài, đại đa số là thành phần con cưng của đảng, được huấn luyện trong ân sủng để tiếp tục duy trì chế độ Cộng sản sau nầy. Nhưng may mắn cho đất nước, đầu óc con tim thanh niên của một số con cháu cán bộ đảng viên ngày nay đã biết thức tỉnh, biết nhận định những sai lầm thế hệ trước và bắt đầu dấn thân vào con đường tranh đấu, làm đầu tàu cho một cuộc cách mạng chống lại với chính cha ông của họ : Đó chính là lương tâm giới trẻ trong nước đã vùng dậy, chứng minh qua các truyền đơn chống đối của sinh viên xuất hiện trong các trường đại học từ Nam chí Bắc.
Những cố gắng của thế hệ thứ ba trong sự nghiệp đấu tranh cho dân chủ từ trong nước ra đến hải ngoại chỉ hạn chế trong vai trò kế hoạch, cổ võ, hướng dẫn, yểm trợ cho một cuộc cách mạng nhung hầu lật đổ chế độ Cộng sản hiện tại và ủng hộ lớp trẻ xây dựng một thể chế mới, trong đó các quyền căn bản con người, từ tinh thần, tư tưởng đến vật chất cũng như cuộc sống thường nhật của dân chúng phải được tôn trọng. Thật vậy, giới trẻ là động lực chính để thực hiện một cuộc cách mạng, nhất là những ai đã được sinh ra và trưởng thành dưới chế độ sắt máu không tình người. Sáu mươi năm qua đã quá đủ chứng minh rằng Cộng sản Hà Nội hoàn toàn không mang lại gì cho tổ quốc quê hương thân yêu cũng như no cơm ấm áo cho tám chục triệu người nói chung, mà đã làm băng hoại tiềm lực quốc gia và dẫn đến bần cùng đói rách cho dân chúng Miền Nam, nói riêng, sau hơn ba mươi năm chấm dứt chiến tranh ! Chính các bạn trẻ trong nước đã hiểu rõ vấn đề nầy hơn tất cả thanh thiếu niên sinh sống và trưởng thành ở hải ngoại. Hôm nay các bạn ra ngoài để giải bày tâm huyết, thuyết phục tất cả nối vòng tay tạo sức mạnh để chống lại chế độ Cộng sản là một điều thật đáng kính phục, phải tích cực ủng hộ và cổ võ…
Nhưng tiếc thay, trường hợp hai bạn trẻ Nguyễn Tiến Trung và Nguyễn Hoàng Lan với lá bài Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ chính là kế hoạch do Hà Nội dàn dựng trong chương trình bịp bợm cộng đồng người Việt tự do, chúng ta cần phải nghiên cứu để tránh rơi vào cạn bẫy Cộng sản.
Trước hết nhìn vào chủ trương, đường lối và chương trình hành động của các du sinh đang phổ biến rầm rộ duới sự điều động của một thế lực trong bóng tối lại được những nhà chính trị cò mồi, các hội đoàn, đảng phái đón gió tận tình ủng hộ thì bất cứ những ai đã theo dõi diễn tiến nầy cũng phải đặt nhiều câu hỏi nghi ngờ. Chúng tôi đã theo sát hành động một số du sinh Việt Nam, trong nầy có Nguyễn Tiến Trung và Nguyễn Hoàng Lan, từ ngày họ đặt chân đến Pháp theo chương trình trao đổi văn hoá cho đến lúc được lệnh xuống đường ra mặt kêu gọi tất cả ‘nối vòng tay lớn’. Những gì chúng tôi thu thập được có thể khẳng định bộ mặt thật của thành phần nầy.
Hà Nội đã đưa ba nhân vật thuộc ba thế hệ khác nhau để chiêu dụ cộng đồng người Việt hải ngoại. Hai du sinh là lá bài thứ ba, họ xử dụng thành phần trẻ qua hai con rối Nguyễn tiến Trung và Nguyễn hoàng Lan.
1.Trước đây mấy năm, cụ Hoàng Minh Chính, một lãnh tụ trụ cột của đảng Cộng sản Việt Nam được đảng xử dụng thành lập Đảng Dân Chủ Việt Nam, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Hà Nội, làm bình phong cho đảng Cộng sản thẳng tay đàn áp cai trị sắt máu suốt gần năm mươi năm.
Mới đây khi cụ Hoàng Minh Chính ra mặt chống đối, rút ra khỏi đảng Cộng sản và phối hợp với các nhà yêu nước thành lập Liên Minh Dân Chủ chống lại Cộng sản thì Đảng Dân Chủ của cụ Chính phải ngưng hoạt động, không được Hà Nội xem là cần thiết để đánh bóng chế độ. Nhưng Hà Nội lại âm thầm dùng cụ Hoàng Minh Chính ra nước ngoài kêu gọi một thế chính trị mới để duy trì chế độ trong chiều hướng hòa giải hòa hợp gọi là thế ‘Kiềng Ba Chân’ trong đó gồm có CSVN là một, trí thức trong nước là hai và trí thức hải ngoại là ba. Tuy cả ba nhưng là một vì trước sau gì cũng nằm dưới sự lãnh đạo của Cộng sản. Thế ‘Kiềng Ba Chân’ được Hà Nội nghiên cứu từ năm 1995, mười năm sau giao sứ mạng cho cụ Chính đưa qua Mỹ với lý do đi chửa bệnh và được một tổ chức người Việt hải ngoại yểm trợ tài chánh. Bước lên máy bay bằng xe lăn nhưng vừa đến phi trường Mỹ, cụ đã quăng ngay chiếc xe đi đứng vững vàng chẳng chút gì bệnh tật. Cộng sản đâu ngu ngốc nghe lời khai bệnh của cụ để cấp visa cho ra ngoài làm những điều không lợi cho Hà Nội. Đến Mỹ cụ liền hội kín với một số ít chính trị gia tại Nam Cali thảo ra những kế hoạch mang tên ‘Tiểu Diên Hồng’. Cụ Chính và vài tay trí thức xu thời và chính trị đón gió thảo luận việc hợp tác với Cộng sản, làm rùm beng một thời gian rồi chìm xuồng vì đa số đều thấy rõ ràng âm mưu của Cộng sản trong lá bài của cụ Hoàng Minh Chính. Lá bai thứ nhất : Vẫn ủng hộ và duy trì đảng Cộng sản Hà Nội là thành phần nòng cốt trong thế ‘kiềng ba chân’.
2. Mới đây, Cộng sản Việt Nam đưa ra kế hoạch thứ hai khi dùng ông Nguyễn Cao Kỳ nhân lúc ông trở về Việt Nam quỳ gối trước Cộng sản để xin đầu tư cho vợ con và làm tôi mọi (xin là đại sứ lưu động cho Cộng sản).
Hà Nội không bỏ qua dịp hiếm có, chúng đánh bóng ông già ham danh thành một nhân vật quan trọng đại diện Miền Nam và Cộng Đồng người Việt hải ngoại đồng thời cho phép học tập các bài bản trong khách sạn năm sao với đầy đủ tiền bạc xe cộ, công an bảo vệ cũng như đĩ điếm trong thời gian hai năm. Sau đó cho lệnh trở về Mỹ chiêu dụ Cộng đồng người Việt hải ngoại bằng lá bài thứ hai, thế ‘Hai Cẳng’. Hai cẳng có nghĩa là một thể chế chính trị lưỡng đảng, trong đó đảng Cộng sản là một và đảng đối lập. Ông Kỳ kêu gọi chính trị gia hải ngoại hãy tập hợp sau lưng để ông ta giới thiệu với chế độ Hà Nội. Mặc dù nhiều lần lên tiếng thanh minh lý do sức khỏe nhưng ông Kỳ không che giấu được tham vọng trở thành lãnh tụ của đảng thứ hai, xem như đối lập với Cộng sản. Đối với ông Kỳ, không một ai tin vào những lời nói bốc đồng, vô ý thức nếu không nói là vô học của anh cao bồi mất nết. Lá bài của ông bị cộng đồng liệng ngay vào sọt rác. Tuy vậy sau đó ông vẫn mò về Việt Nam họp báo tuyên bố đủ chuyện trên trời dưới đất. Lá bài thứ hai : Lợi dụng Nguyễn cao Kỳ quy tụ thành phần ham tiền háo danh hải ngoại để đắp bê tông cốt sắt cho đảng Cộng sản Hà Nội !
3. Sau hai lần thất bại, bây giờ Cộng sản Hà Nội dàn dựng thêm lá bài thứ ba quan trọng hơn : Xử dụng chính con em của chúng làm mồi giăng bẫy cộng đồng người Việt hải ngoại.
Dụng ý của Hà Nội đánh vào tâm lý. Chúng huấn luyện ngay thành phần con cháu của cán bộ đảng viên rồi cài vào chương trình du sinh, hoạt động dưới chiêu bài chống đối chế độ Cộng sản với hình thức thật hấp dẫn : Chính con cái cán bộ đảng viên Cộng sản bây giờ ra mặt chống đối cha ông họ !
Mới nghe thoáng qua chúng ta ai cũng vội mừng vì nghĩ rằng vận mệnh đất nước đã đến lúc phải đổi thay và đây chính là cơ hội thuận tiện phải nắm lấy tức thời đồng thời ủng hộ bằng tất cả phương tiện để sớm kết thúc chế độ Cộng sản Hà Nội. Nhưng thật chuyện xảy ra không đúng như vậy. Hai anh chị Nguyễn Tiến Trung và Nguyễn Hoàng Lan, qua nhận xét của chúng tôi, chỉ là những du sinh xếp vào loại sinh viên bình thường, không xuất sắc, không khả năng nhưng làm thế nào để đưa ra những bài bản đã được nghiên cứu tỉ mỉ về kế hoạch, chương trình hành động và tạo được một biến cố lớn nếu không có một thế lực trong bóng tối đỡ đầu ? Người ta ghi nhận đôi thanh niên nầy có lần mập mờ khẳng định rằng họ đại diện cho Phong Trào Dân Chủ hiện nay tại Việt Nam để ra ngoài kêu gọi thanh niên hải ngoại siết chặt hàng ngũ đồng thời yểm trợ Đảng Dân Chủ mà cụ Hoàng Minh Chính đang cố gắng vận động hoạt động trở lại. Lá bài thứ ba : Dùng tuổi trẻ thuộc thành phần nòng cốt của chế độ để bịp thế giới qua âm mưu ‘nối vòng tay lớn’.
Người Việt hải ngoại chưa nghe Phong Trào Liên Minh Dân Chủ Việt nam xác nhận vai trò của hai bạn trẻ khi họ mượn danh. Đối với trường hợp Nguyễn Tiến Trung và Nguyễn Hoàng Lan đại diện Đảng Dân Chủ mà cụ Hoàng Minh Chính đang vận động hồi sinh, thì đây cũng là một kế hoạch dân chủ ‘cuội’ lẩn quẩn trong vòng kẽm gai của Cộng sản Việt Nam không hơn không kém
Đến đây xin mở một dấu ngoặc để làm sáng tỏ vấn đề, người Việt Tự Do hân hoan chào đón tất cả đảng viên cán bộ, dù thuộc bất cứ đẳng cấp tổ chức nào, nhưng một khi đã từ bỏ đảng Cộng sản trở về hợp tác với chúng tôi thì hãy tiếp tay tranh đấu cho chính nghĩa, cho nhân quyền, đòi hỏi tự do và no cơm ấm áo cho người dân. Bất cứ ai một khi trở về với dân chủ tự do cùng chen vai sát cánh với chúng tôi mà vẫn vô tình hay cố ý quay lại phục vụ cho chế độ Cộng sản thì tuyệt đối không thể chấp nhận.
Một sự việc cần lưu ý, khi đưa ra lời kêu gọi ‘Nối Vòng Tay Lớn’, Hà Nội đã vấp phải một sai lầm trầm trọng. Chúng nghĩ rằng trước năm 1975 Trịnh Công Sơn đã đưa vòng tay lớn đi từ Cà Mau ra Bến Hải để thu phục lớp trẻ, kêu gọi miền Nam đứng lên lật đổ chế độ Việt Nam Cọng Hòa thì ngày nay Hà Nội cũng cho là thượng sách, mượn tay hai thanh niên đưa chiêu bài nầy để kích động lòng yêu nước của thành phần trẻ hải ngoại. Chiến dịch nối vòng tay nầy không thu phục được lòng người vì ngay tên gọi đã làm cho một số người nổi giận. Cộng đồng người Việt hải ngoại tự do chỉ yêu thiên tài âm nhạc trong con người Trịnh Công Sơn chứ tên Trịnh Công Sơn nằm vùng, ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản, nối giáo cho giặc, đâm sau lưng chiến sĩ thì sự kinh bỉ vẫn còn đó. Mượn danh từ ‘Nối Vòng Tay Lớn’ của Trịnh Công Sơn để thực hiện mưu đồ đen tối, Hà Nội đã ngây ngô khi xử dụng lầm chiến thuật ‘gậy ông đập lưng ông’.
rở lại vấn đề, chúng tôi trình bày ra đây đường lối và chương trình hành động của hai du sinh qua những gì họ đã ghi rõ trên website của tổ chức nầy :
Phối hợp giới trẻ trong và ngoài nước, đoàn kết thành một lực lượng để thúc đẩy đảng Cộng sản làm cho đúng.
Thúc đẩy chống tham nhũng và nhắc nhở để có tự do báo chí.
Vận động cho Việt Nam thực hiện bầu cử tự do và công bằng.
Vận động chữ ký để đệ trình nhà cầm quyền Việt Nam cũng như Quốc hội Mỹ.
Qua các điểm trên, người ta thấy rõ, ‘nối vòng tay lớn’ kêu gọi dân chủ cũng không ngoài mục đích củng cố bảo vệ đảng Cộng Sản. Hà Nội vẫn độc quyền, độc đảng, ngự trị trên đất nước Việt Nam với quyền lực tối thượng, không một đảng phái đối lập nào được chấp thuận. Chủ trương của nhóm du sinh và bè cánh sau lưng là nhắc nhở, đề nghị và van xin đảng Cộng sản Hà Nội nới tay ban phát cho dân tộc Việt Nam một ít quyền tự do dân chủ !!!
Nhóm du sinh nầy còn đề nghị xin chữ ký để dâng cho Hà Nội thì thật không thể tưởng tượng. Hai du sinh đầu óc mặt mũi còn hôi sữa và đám người đón gió sau lưng nghĩ gì khi tự hạ mình xem như một đám ăn mày nhược tiểu đi van xin cầu cạnh Cộng Sản. Cầu cạnh với Cộng sản là giấc mơ của Hà Nội khi chúng đưa ra chương trình nầy mục đích tiến tới việc tôn vinh Hà Nội và thực hiện mưu đồ hoà giải hòa hợp dân tộc. Đây là thái độ thiếu thông minh khi chúng đánh giá cộng đồng người Việt hải ngoại quá thấp.
Xin chữ ký làm kiến nghi để dâng lên quốc hội Mỹ thì xem ra nhóm nầy muốn được Mỹ nhúng tay vào việc bảo vệ đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Hà Nội hiện tại. Chúng ta đều biết, lãnh tụ khối tự do đã hy sinh tiền bạc và xương máu để bảo vệ Tự Do Nhân Quyền trên khắp năm vùng lục địa, nhưng quyền lợi của nước Mỹ chung cuộc vẫn đứng trên tất cả, nếu họ có nhúng tay vào một quốc gia nào thì chung quy cũng vì quyền lợi. Một kinh nghiệm đau đớn cho Việt Nam Cọng Hòa khi họ nhắm mắt bán đứng Miền Nam cho Cộng sản. Không hiễu những người Việt hải ngoại sau lưng hai thanh niên nầy nghĩ thế nào khi họ kêu gọi tập hợp dân chủ để van xin Cộng sản nới tay cai trị đồng thời mong muốn Mỹ ủng hộ đám trẻ du sinh như một thỏa thuận ngầm bảo vệ chế độ Cộng sản hiện tại. Qua những hình ảnh và tin tức đăng trên website của TPTNDC, những hàng chữ lớn cho biết hai bạn trẻ đã được Tổng thống Bush và Phu nhân đã tiếp kiến đồng thời trưng bày những bức hình chụp chung với vài nhân vật chính trị quan trọng (nhưng không thấy tấm ảnh nào liên quan với Tổng thống Bush và Phu Nhân). Bằng cách nào hai bạn trẻ lọt vào được trại nghỉ mát của tổng thống Mỹ ở Texas và thế lực nào đã tạo cơ hội cho hai thanh niên nầy để được chính Tổng thống Mỹ có những điều hứa hẹn. Nếu đúng là sự thật thì phải buồn cho thân phận của tám chục trệu dân Việt Nam. Cộng sản Việt Nam thì có kế hoạch âm mưu của chúng trong mưu đồ đen tối. Chính quyền Mỹ dĩ nhiên biết âm mưu Hà Nội nhưng có lẽ quyền lợi về quân sự và kinh tế, Mỹ sẽ gật đầu chấp nhận sự tồn tại của chế độ Cộng sản mặc dù tổng thống Bush đã lớn tiếng đòi hỏi tự do nhân quyền xem như điều kiện tiên quyết. Với bản chất mưu mô xảo quyệt và tráo trở, trước sau gì dân tộc Việt Nam vẫn lẩn quẩn trong vòng kềm kẹp của Cộng sản. Lịch sử đã chứng minh biết bao hiệp ước quốc tế Cộng sản Việt Nam ký để thi hành thủ đoạn, trước sau gì cũng ù lì vi phạm trắng trợn rồi chẳng có ai làm gì. Thủ đoạn ấu trĩ nầy ai cũng biết nhưng một vài cá nhân đoàn thể chính trị khi mà đối với họ chính nghĩa quốc gia, tự do, nhân quyền no cơm ấm áo của dân tộc Việt không bằng đồng tiền đen tối và lời hứa suông của Cộng sản. Chính quyền Mỹ dĩ nhiên họ có cao kiến và dư sức bóp mũi đám Cộng sản Việt Nam bằng nhiều phương tiện nhưng thật không hiểu khi chính quyền tổng thống Bush vẫn có ý định nuôi thêm Cộng sản Hà Nội một thời gian nữa. Nhưng dù sao, cuộc chiến đấu chính nghĩa của người Việt tư do lại gặp khó khăn khi những chính trị gia xôi thịt, những đảng phái đón gió trở cờ bu theo Hà Nội kiếm chút hư danh ! Chỉ tội nghiệp cho dân lành chất phác, nghèo nàn đói rách, cô đơn thất thế, thứ dân thuộc chế độ cũ trong nước vẫn tiếp tục cúi đầu chấp nhận búa rìu của đảng Cộng sản.
Trở lại vấn đề, thế lực nào nằm sau lưng hai người bạn trẻ ? Quốc gia nào, hội đoàn, đảng nào đã cung cấp tiền bạc, tổ chức chu đáo nơi ăn chốn và tổ chức rầm rộ các chương trình ra mắt truyền thông, báo chí ? Trả lời những câu hỏi nầy thì sự việc sẽ được rõ ràng.
Chúng ta thử nhận diện :
1- Đám du sinh Việt Nam :
Chúng ta biết rằng bất cứ sinh viên nào dù là con cán bộ đảng viên nhà nước ra ngoài kêu gọi chống lại chế độ, chắc chắn không bao giờ được Hà Nội chấp thuận xuất cảnh. Trong trường hợp ra nước ngoài trở cờ quay lại chống đối nhà nước thì chắc không sống được với các ban hành động (một loại đặc công, ám sát…) của các tòa đại sứ. Như vậy, Nguyễn Tiến Trung và Nguyễn Hoàng Lan là những con cờ nằm trong kế hoạch đã được nhà nước ưu ái huấn luyện, chu cấp tiền bạn phương tiện và cài vào chương trình du học trao đổi văn hoá. Đến Pháp, núp bóng trong các trường đại học và sau thời gian huấn luyện, thông suốt vai trò đường lối làm việc, hai người được tung ra với một chiêu bài mới. Khả năng của hai thanh niên nầy không đủ để thảo một chương trình rộng lớn, quy cũ ăn khớp đâu vào đó, mà kế hoạch nầy đã được nghiên cứu kỹ càng bởi một thế lực sau lưng. Hai du sinh nầy thuộc thành phấn nào ? Nếu không ‘con ông cháu cha’ của các đảng viên trung ương thì cũng nằm trong thành phần tỷ phú đỏ, nghĩa là những người đã bám vào gấu quần của Cộng sản để vinh thân phì gia. Du học với mục đích tạo cơ hội chuyển gia tài ra nước ngoài, gầy dựng cơ sở vật chất tại các xứ tự do chuẩn bị một cuộc trốn chạy cho mai sau, hoặc nếu không, thì được nhà nước đào tạo để thi hành một nhiệm vụ nào đó. Những thành phần nầy qua đến Pháp sống đế vương, tiêu tiền theo tiêu chuẩn tỷ phú. Đối với thành phần ‘con ông cháu cha’ đâu cần học hành làm gì, ghế tổng bộ trưởng đã dành sẵn đợi ngày quay về nối nghiệp cha ông ! Khi hay tin Nguyễn Tiến Trung và Nguyễn Hàng Lan tung ra phong trào Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ , chúng tôi đã chú tâm theo dõi tìm hiểu hai anh chị nầy.
Ở Pháp muốn biết một du sinh Việt Nam tại đây không gì khó, ra đường lúc nầy, nhất là trong khu Paris 13 là đất dụng võ của đám du sinh, cứ mười thanh thiếu nữ người Việt thì ít nhất cũng có vài du sinh Việt Nam. Ngoài thành phần con cái cán bộ đảng viên đội lốt du sinh, số còn lại vừa học vừa làm việc, hoặc có anh chị qua đây mục đích lao động kiếm tiền dưới danh nghĩa sinh viên, ghi tên có lệ nhưng đi làm sáu bảy ngày trong tuần. Người ta thường gặp nhiều nhất trong các việc chạy bàn phụ bếp trong các sinh hoạt ăn uống, thu ngân hay phụ bán hàng ở cơ sở thương mãi nhỏ. Du sinh đi làm bên nầy có thể với ba lý do, kiếm thêm tiền túi để theo học tại các trường đại học hoặc chuyên nghiệp, giả danh sinh viên mua visa xuất ngoại làm việc ở nước ngoài vài ba năm và có thể là những tay tình báo trẻ được huấn luyện để len lỏi vào cộng đồng người Việt theo chỉ thị cấp trên. Nhóm thanh niên nầy rất bặt thiệp, thích làm quen tiếp chuyện với những người đã ở lâu tại đây. Do đó không khó khi thăm hỏi trò chuyện. Một khi đã vào đề thân mật, các anh chị nầy phần đông đều áp dụng bài học tuyên truyền một cách nhẹ nhàng theo sách vở, theo thói quen hoặc theo các điều khoản cam kết trước được phép ra đi. Với vài câu hỏi khéo léo, tỏ vẻ thông cảm và thân thiện, người đối thoại sẽ tìm được những sơ hở trong câu chuyện của các bạn trẻ.
Hỏi về hai anh chị Nguyễn Tiến Trung và Nguyễn Hoàng Lan, thì đa số ngạc nhiên về hành động của hai người nầy và họ cũng không hay biết gì nhiều về phong trào Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ. Ngoài ra chúng tôi cũng liên lạc với nhiều anh chị em sinh viên tại Việt Nam, họ cũng trả lời tương tự như những người bên nầy. Điều nầy chứng tỏ Phong Trào Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ do cơ quan ngoại vi Cộng sản nước ngoài chủ động trong bóng tối, bọn nằm vùng phối hợp với vài nhà chính trị đón gió mà chúng ta thường thấy trong những hoạt động có liên quan đến Cộng sản Hà Nội trước đây, rõ ràng nhất là vụ đón tiếp ồn ào, tổ chức hội họp vinh danh những tay trùm Cộng sản đi công tác nước ngoài cũng như tiếp đón cụ Hoàng Minh Chính đi chửa bệnh.
2. Thành phần đở đầu tại hải ngoại : lên tiếng ủng hộ đón tiếp, bao che, tổ chức giới thiệu báo chí truyền thông cũng như vận độn quần chúng rước đuốc nối vóng tay lớn…không ai xa lạ, cũng là những bộ mặt quen thuộc trước đây đã ôm hôn bồng bế cán bộ Cộng sản mỗi khi chúng công du nước qua Pháp hay Mỹ. Cũng những bộ mặt đã nhiều lần hô hào hòa giải hoà hợp với Cộng sản, đòi dẹp bỏ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, bỏ tên Tỵ Nạn, bỏ ngày Quốc Hận để mập mờ thay vào đó lá cờ Máu những ngày kỹ niệm của quan thầy Cộng sản của chúng. Thành phần nầy nhanh tay đón gió khi ngửi thấy một bước ngoặc của Mỹ trong việc mở rộng hiệp thương song phương trực tiếp với Cộng sản Việt Nam. Thành phần nầy không đáng quan tâm vì một khi vì danh vì lợi…đã ngoảnh mặt chống lại chính nghĩa của cộng đồng thì mai kia họ cũng trở mặt một cách dễ dàng như trở bàn tay khi thấy gió xoay chiều…
3. Thế lực trong bóng tối : Chỉ có hai thế lực đáng nói : Một, Cộng sản Việt Nam. Hai, chính quyền Mỹ. Hoặc là sự kết hợp ngấm ngầm cả Mỹ lẫn Hà Nội.
Điều thứ nhất, Cộng sản chủ mưu đứng sau lưng là điều khẳn định. Cộng sản Việt Nam đã bước qua thời kỳ quá độ, thế giới đã ghê tởm cái chế độ ‘đảng bóc lột người‘ tận xương tủy, dùng súng đạn để sống đế vương trên đau khổ bần cùng đói rách của người dân. Ngày tàn chúng thấy gần kề nhưng lòng tham vô đáy vẫn ngoan cố bám lấy lợi danh. Con đường duy nhất để kéo dài chế độ độc tài, để tiếp tục cướp bóc, chỉ có một cách : bịp bợm quốc tế bằng hòa giải hòa hợp dân tộc, đây là hình thức mà chế độ Cộng sản cần để hợp thức hóa tội lỗi của chúng : Hợp thức hóa việc cướp nước, hợp thức hóa việc cai trị sắt máu, hợp thức hóa việc hàng triệu người đã bị giết hại, hợp thức hóa tội diệt chủng và nhất là hợp thức hóa việc hàng trăm tỷ dollars đang nằm trong các ngân hàng cũng như hợp thức hóa của cải đầy dẫy trên khắp thế giới. Nếu chấp nhận bắt tay ngồi chung với Hà Nội tức là chúng ta chấp nhận uống máu ăn thề bảo vệ đảng Cộng sản tiếp tục con đường áp bức dân lành vô tội tại Việt nam.
Điều thứ hai, chắc chắn không thể xảy ra, vì người Mỹ không lý do gì đơn phương tình nguyện đứng sau lưng phong trào của hai con rối và ngấm ngầm ủng hộ Hà Nội, tiếp sức cho đảng Cộng sản Việt Nam kéo dài tuổi thọ
Điều thứ ba có thể xảy ra, nghĩa là có một giao ước ngầm ngầm giữa Mỹ và Hà Nội vì cả hai bên đều có lợi.
Tóm lại, tập hợp các đoàn thể đảng phái, thành một liên minh dân chủ đánh đổ Cộng sản thì đúng là con đường chính nghĩa phải theo. Nhưng vô tình hay cố ý bao che, chống đở đảng Cộng sản để chúng tiếp tục bóc lột mồ hôi xương máu của đồng bào thì nhất định là không !
- Phong Trào Thanh Niên Dân Chủ không phải là tổ chức chống Cộng mà là một tổ chức do Cộng sản dựng lên mục đích kêu gọi thành phần trẻ thuộc khối tự do hợp tác, củng cố chế độ Cộng sản Hà Nội, Như vậy những gì Phong Trào Thanh Niên Dân Chủ đưa ra đi ngược con đường chính nghĩa của chúng ta đã tranh đấu từ trên 31 năm nay.
- Hai con rối của chế độ Cộng Sản được Hà Nội huấn luyện đưa ra ngoại quốc thi hành kế hoạch phá hoại Cộng Đồng thì trên 3 triệu người đã từ bỏ chế độ Cộng sản đi tìm tự do không lý do gì phải nhận bọn trẻ con nầy làm đại diện cho mình đi nói chuyện với nhân dân Mỹ cũng như thế giới tự do.
- Nếu chính phủ Mỹ ủng hộ nhóm trẻ nầy (theo các thông tin, quảng cáo và hình ảnh trên website của PTTNDC) thì đây là một điều làm buồn lòng tất cả người Việt khao khát tự do trên toàn thể thế giới. Nếu Mỹ đi đêm với Hà Nội, đẻ ra Phong Trào Thanh Niên Dân Chủ, mở đầu kế hoạch duy trì chế độ Cộng sản tức là Mỹ bán đứng Người Việt tự do một lần nữa. Người Việt tự do ghi ơn dân tộc Mỹ đã mở rộng vòng tay đón nhận những người bỏ nước ra đi, đã ưu ái tạo cho những người mất nước những điều kiện thuận tiện để hội nhập và thành công, nhưng vẫn cảm thấy bị phản bội khi vì một quyền lợi nào đó, chính quyền Mỹ lại nhắm mắt bắt tay với Cộng sản.
Chúng tôi mong những người Việt Tự Do đang hoạt động trong các tổ chức hành pháp, lập pháp cũng như tư pháp nghiên cứu và làm những gì cần thiết để kêu gọi chính quyền Mỹ hãy nghĩ đến lý tưởng cao đẹp mà họ đeo đuổi. Chúng tôi cũng khẩn thiết kêu gọi các cá nhân, đoàn thể đảng phái chính trị hãy siết chặt tay nhau kêu gọi lương tâm của những người Mỹ yêu chuộng tự do nhân quyền, hãy nghĩ đến Việt Nam, một đồng minh trước đây đã bị phản bội chỉ vì chút dư luận hẹp hòi của một thiểu số phản chiến chống đối cuộc chiến đấu tự vệ chính đáng của Việt-Nam Cộng-Hòa.
Sunday, May 25, 2008
Bài tham luận Đại hội Chuyên gia Úc châu 2008
Phan Văn Hưng
May 19, 2008
Vấn đề “kiểm soát” các hội đoàn cộng đồng, hay tầm quan trọng của sự minh bạch
Kính thưa qúy vị và quý bạn,
Tôi xin cảm tạ Hội Chuyên Gia đã cho tôi cơ may này để chia xẻ cùng quý vị và quý bạn một vài ý nghĩ của tôi về chủ đề đại hội năm nay, là tìm những phương hướng phát triển cho cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Đề tài này rất rộng, gồm có nhiều lãnh vực và có thể được nhìn từ nhiều góc cạnh khác nhau, và chắc chắn các diễn giả khác trong đại hội này sẽ đưa ra nhiều quan điểm cá biệt.
Riêng tôi thì mong chúng ta ngồi đây hôm nay hãy cùng nhau suy nghĩ và bàn thảo về một vấn đề mà tôi coi là có tầm hệ trọng đặc biệt. Đó là vấn đề mà vì không có danh từ nào ngắn gọn hơn, tôi xin tạm gọi là khuynh hướng của một số tổ chức hay đảng phái chính trị muốn “kiểm soát” các hội đoàn sinh hoạt trong cộng đồng người Việt Nam chúng ta tại hải ngoại.
Tôi cũng biết rằng ngồi trong cử toạ hôm nay có những thành viên hay đảng viên của một số tổ chức chính trị, cho nên tôi xin nói ngay là tôi sẽ đề cập vấn đề này trong một tinh thần tôn trọng đối với các tổ chức chính trị, bởi vì các tổ chức này có những mục tiêu hoạt động hoàn toàn chính đáng và hữu ích trong lãnh vực của họ, nhưng khi những mục tiêu đó chồng tréo với những nhu cầu sinh hoạt của các hội đoàn cộng đồng và sự quan hệ không được nhận định một cách trong sáng và rõ ràng, thì tôi e rằng cả hội đoàn, cộng đồng lẫn tổ chức chính trị sẽ đều bị thiệt hại.
Tôi cũng biết thừa rằng đây là một đề tài có tính chất “nhậy cảm”, và một số người sẽ cho rằng tôi không nên nói ra, nhưng tôi cảm thấy đã đến lúc phải nói ra một cách công khai – dĩ nhiên là trong tinh thần tương kính – vì đây là một vấn đề đã gậm nhấm nhiều đoàn thể người Việt trong thời gian qua, và sẽ còn tiếp tục làm ung thối một số mối quan hệ, trong khi trái lại, những mối quan hệ này có thể xảy ra một cách tốt đẹp hơn.
Trong phần trình bày này, tôi sẽ dùng danh từ “hội đoàn” (HĐ) hay “hội đoàn cộng đồng” (HĐCĐ) để chỉ những đoàn thể, tổ chức, những nhóm sinh hoạt trong cộng đồng người Việt Nam tại hải ngoại nói chung và tại Úc nói riêng. Thường những HĐ này nhằm phục vụ một thành phần cá biệt nào đó của cộng đồng, hay một nhu cầu chuyên ngành nào đó, ví dụ như phụ nữ, thanh niên sinh viên, người cao niên, cựu quân nhân, thương gia, nông gia, nhân quyền, v.v. hoặc cũng có khi bao trùm nhiều thành phần khác nhau, mà điển hình là các Cộng đồng Người Việt Tự do Liên bang cũng như tại các tiểu bang tại Úc. Nói chung, tổng thể của những HĐ này cũng có thể được gọi là một xã hội dân sự - là xã hội dân sự của người Việt tại quốc gia định cư.
Qua danh từ “tổ chức chính trị” (TCCT), tôi muốn nói đến những tổ chức, đảng phái có chủ trương chủ yếu là cổ võ và tranh đấu cho một đường lối chính trị nào đó cho Việt Nam hay cho quốc gia định cư.
Để chúng ta nhìn thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề này, tôi xin đưa ra ngay một ví dụ; tuy chỉ là một ví dụ chung chung nhưng quý vị chắc chắn đã thấy nó xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới chứ không phải chỉ ở một nơi. Một HĐ nọ đang sinh hoạt bình thường thì bỗng nhiên người ta biết được người chủ tịch, hoặc một số thành viên chấp hành của hội, là những thành viên của một TCCT nào đó. Khi nhìn vào những việc làm của HĐ này, người ta nhận thấy phần lớn những việc làm trong quá khứ của hội đã tỏ ra thiên vị, có lợi cho TCCT nói trên. Lập tức, một bầu không khí nghi kỵ bao trùm HĐ này, và những phe nhóm được thành hình, không những giữa những người thân hoặc chống TCCT kia mà ngay cả giữa những người coi vấn đề độc lập của HĐ là quan trọng hay không quan trọng. Những thành viên của TCCT nằm trong hội bị coi là “tay trong” của tổ chức đó, được đưa vào hội nhằm kiểm soát, lèo lái, theo dõi, lợi dụng hay áp đảo hội đoàn đó. Chẳng bao lâu khi sự nghi kỵ lan tràn, HĐ này rơi vào tình trạng phân hoá, xong chia rẽ, và giữa các phe nhóm thì không còn sự hợp tác như trước nữa. Hoặc HĐ này bị lên án, cô lập bởi cộng đồng chung quanh, hay bị chỉ trích là một “bộ phận ngoại vi” của TCCT kia – nghĩa là không bị tê liệt bên trong thì nhiều phần cũng bị tê liệt bên ngoài.
-o0o-
Ở đây chúng ta cần đào sâu từ “chia rẽ”. Từ này có nhiều cách định nghĩa, nhưng tôi đề nghị chúng ta nhìn vấn đề như thế này. Sống trong xã hội dân chủ ở quốc gia định cư, việc bất đồng quan điểm là một chuyện không những hoàn toàn bình thường mà lại còn được người ta khuyến khích nữa. Nếu chỉ có bất đồng quan điểm, bất đồng chủ trương hay đường lối, hay ngay cả bất đồng với nhau về một cá nhân nào đó, thì đó vẫn không thể gọi là chia rẽ. Phải gọi đó là sự đa dạng thể hiện một sinh hoạt cởi mở và dân chủ, nhất là khi xã hội dân chủ nơi chúng ta sống cho chúng ta những phương tiện để bày tỏ công khai sự đa dạng của chúng ta. Chỉ khi nào sự bất đồng đã đóng băng thành những phe nhóm chống đối nhau với bất cứ giá nào, khi sự bất đồng vượt quá mọi khuôn khổ quan điểm để chỉ còn dựa trên sự ưa ghét lẫn nhau, và được phát biểu bằng những lời lẽ ưa ghét nhau, thì tình trạng chia rẽ mới xảy ra.
Nếu muốn giản dị hóa tối đa vấn đề, ta có thể nói rằng chia rẽ xảy ra khi tình cảm lấn át lý trí. Và trong ví dụ vừa kể ở trên, tình cảm đóng một vai trò chủ chốt bởi vì theo lẽ thường, một hành động bị quần chúng cảm nhận là lừa dối, giấu giếm hay bội phản, là một hành động đáng ghét. Và ngược lại đối với TCCT nói trên, khi hành động của mình bị ghét bỏ thì lại cho ngay rằng người ta ghét mình. Thành thử căn nguyên của vấn đề nằm ở việc làm lừa dối tiên khởi, khiến cho sự bất đồng vượt ra ngoài phạm vi quan điểm để rơi vào tâm trạng chia rẽ.
-o0o-
Thật ra, sự kiện các TCCT tìm cách chi phối các đoàn thể quần chúng không phải là mới mẻ. Nếu nhìn lại nền chính trị của Việt Nam trong lịch sử cận đại, chúng ta sẽ thấy cách sinh hoạt này đã ăn sâu vào tâm thức sinh hoạt chính trị tại Việt Nam, và có lẽ cũng đã ăn sâu vào con người Việt Nam, khiến cho chúng ta, ngay cả khi sống tại một nước dân chủ, vẫn chưa thực sự sinh hoạt dân chủ. Tôi xin tạm gọi cách sinh hoạt này là “chính trị kiểu xưa”.
Trước năm 1975 tại miền Bắc Việt Nam, cả miền Bắc nằm hoàn toàn dưới sự thống trị của Đảng Cộng sản. Tất cả các tổ chức gọi là đoàn thể, tổ chức quần chúng đều do đảng này dựng lên. Hoàn toàn không có bất cứ một loại đoàn thể nào khác – giản dị là như thế.
Tại miền Nam trước 1975, các sinh hoạt dân sự sinh động hơn nhiều, nhưng vẫn có nhiều nỗ lực từ các đảng phái chính trị và đặc biệt là đảng cầm quyền để đưa người mình vào nắm các vai trò then chốt trong một số HĐ, hoặc cũng có khi tự mình dựng lên những tổ chức HĐ này. Tuy nhiên nỗ lực của họ không đạt được quy mô vì ý thức của người dân khá cao, đặc biệt là của giới truyền thông, văn nghệ sĩ, giới trẻ, các tổ chức văn hoá, xã hội, v.v.
Sau năm 1975 tại Việt Nam và nhất là trong những năm gần đây, chúng ta chứng kiến một hiện tượng mà có người đặt cho một cái tên khá chính xác, là “xã hội dân sự quốc doanh”. Như quý vị cũng biết, xã hội dân sự của một nước là tổng thể các tổ chức, đoàn thể, các nhóm phi chính phủ hoạt động nhằm mục đích phục vụ người dân, nhưng không phải là nhà nước và cũng không phải là các doanh nghiệp. Xã hội dân sự bình thường gồm có các hội từ thiện, nghiệp đoàn, tổ chức tôn giáo, văn hoá nghệ thuật, tranh đấu xã hội và chính trị, v.v. nhằm bênh vực hay phục vụ cho quyền lợi rộng lớn của một thành phần xã hội nào đó. Nhưng ở Việt Nam, tất cả những tổ chức này đều nằm dưới sự kiểm soát của Đảng CSVN, với tầng lớp lãnh đạo gồm toàn đảng viên CS có cấp, và với mục đích là vận dụng quần chúng để hỗ trợ cho quyền lực của Đảng CS. Nói tóm là một xã hội dân sự giả tạo, quốc doanh. Bình thường ở một quốc gia dân chủ, xã hội dân sự là một yếu tố tiến bộ, nhưng ở Việt Nam, nó trở thành một yếu tố củng cố quyền lực cho chế độ dưới những chiêu bài phục vụ người dân.
Bây giờ nhìn qua người Việt tại hải ngoại, tuy sinh sống tại các nước dân chủ nhưng hình như chúng ta vẫn chưa hoàn toàn rũ bỏ được cái tinh thần làm “chính trị kiểu xưa”. Các TCCT, có lẽ vì không đủ sức thuyết phục được số đông người Việt hải ngoại theo quan điểm của mình, hoặc cũng có thể vì không muốn bỏ ra quá nhiều công sức để thực hiện cuộc thuyết phục rất cần thiết đó, cho nên một số TCCT đã chọn con đường tắt, hoặc nói đúng hơn là con dường mòn, bằng cách kiểm soát một số HĐ, đặt người của mình vào trong đó để hướng dẫn đường lối của HĐ mà không cần phải mất công thuyết phục. Hoặc có khi TCCT cũng dựng ra những HĐ lệ thuộc vào mình.
Đây là cách sinh hoạt theo kiểu xưa, và dĩ nhiên đã sinh hoạt như thế thì kết quả nếu đạt được cũng không ngoài một kết quả “quốc doanh” mà thôi. Khi một TCCT cố dựng lên một mạng lưới gồm nhiều những HĐ do mình nắm giữ hoặc ảnh hưởng để đẩy mạnh đường lối riêng của mình, và nếu các sinh hoạt dân sự bị thu về một mối như thế thì chúng ta có một hiện tượng mang tính chất “quốc doanh” ngay tại hải ngoại này.
-o0o-
Bây giờ hãy thử lược qua một số điểm lợi và điểm hại của cách sinh hoạt này đối với hải ngoại.
Trong số những điều lợi, xin ghi ra một vài điểm như sau.
§ Trong quá khứ và nhất là trong những buổi đầu của cuộc tranh đấu nhằm lật đổ bạo quyền Cộng sản của người Việt hải ngoại, người ta không thể chối cãi được tầm quan trọng của các TCCT trong cuộc đấu tranh này. Thời đó, tựu trung tất cả các TCCT thường có cùng một chủ trương tranh đấu, nếu có khác nhau thì chỉ trong những phương trình được đem ra áp dụng và các nhân sự lãnh đạo mà thôi. Ngay cả các HĐCĐ, tuy phục vụ quyền lợi chuyên ngành của hội viên mình, vẫn tự đặt mình vào trong cuộc tranh đấu chung. Do sự hoà nhập giữa các sinh hoạt cộng đồng và các sinh hoạt đấu tranh, ít ai đặt vấn đề nhân sự nào là của TCCT và nhân sự nào là của HĐ. Hai loại nhân sự gắn bó rất chặt chẽ với nhau.
§ Cái lợi cho HĐ là HĐ được nhận sự trợ lực của TCCT, cả về nhân lực lẫn các phương tiện khác, và đồng thời HĐ cũng được dịp vươn lên theo đà cuộc tranh đấu chung. Song song đối với TCCT thì TCCT được “muợn danh” HĐ để đẩy mạnh các mũi dùi phát triển của mình, được xử dụng môi trường sinh hoạt của HĐ làm đất dụng võ và kết nạp thêm nhiều thành viên, và quan trọng hơn cả, hướng dẫn các sinh hoạt đấu tranh theo ý mình.
§ Nếu ta hỏi các thành viên các TCCT thì có lẽ đa số sẽ trả lời rằng TCCT của họ đã góp phần mang lại sức sống cho HĐ và đã giữ vững “tiền đồ” cộng đồng đối đầu lại với CSVN. Tuy không hoàn toàn sai, nhưng tôi cho đó là một nhận định có nhiều phần chủ quan.
Sau cái buổi đầu “nhất thống” đó thì những nhược điểm của tình trạng kể trên bắt đầu hiện ra một cách rõ ràng. Lý do theo tôi cũng khá dễ hiểu: tình trạng đó tựu trung là sự phản chiếu của cái hệ thống quốc doanh nhất thống tại Việt Nam mà người Việt tỵ nạn chúng ta vì chán ghét nó nên mới bỏ xứ ra đi, vậy mà chúng ta lại vô tình đem nó theo qua tới bên đây; do đó làm sao mà có thể chấp nhận một cách lâu dài được? Những điểm lợi mà tôi vừa kể ở trên thật ra là những điểm lợi giả tạo chỉ có thể nở rộ trong một hệ thống quốc doanh khép kín, chứ khi đem cấy vào một xã hội mở cửa như ở phương Tây thì nó không thể sống còn, vì nó mang quá nhiều nhược điểm căn bản khiến cho bất cứ một HĐ nào mà cho phép nó tồn tại thì sẽ khó thoát khỏi sự tan vỡ, nhất là ở một thời điểm khi mà không còn một đường lối tranh đấu duy nhất nữa mà có thể có tới mấy đường lối khác nhau.
Và đây là những nhược điểm hiển nhiên nhất:
§ Như tôi có trình bày ở trên, khi một vài cá nhân nắm giữ HĐ bị cảm nhận là “tay trong” của một TCCT và hành xử thiên vị cho TCCT đó, không khí nghi kỵ lẫn nhau sẽ lập tức xuất hiện, không thể tránh được. Một khi sự nghi kỵ trùm xuống, ngay cả những người có tinh thần trong sáng, độc lập cũng bị kéo lây vào trong “vòng chiến”. Đây là liều thuốc độc cho bất cứ HĐ nào, bởi vì sự tin tưởng lẫn nhau là căn bản sinh hoạt của mọi HĐCĐ, và mất lòng tin ở nhau thì không còn căn bản nào để làm việc gì với nhau nữa.
§ Một HĐ bị một TCCT chi phối có nguy cơ đánh mất chức năng của mình là phục vụ các quyền lợi chuyên ngành của hội viên mình, chẳng hạn như một HĐ sinh viên mà không phục vụ cho sinh viên, chỉ độc nhất phục vụ cho những chương trình riêng của một TCCT duy nhất, thì sẽ bị đánh giá là một HĐ giả danh.
§ Nếu vì quyền lợi của TCCT mà các thành viên của tổ chức này bao che cho nhau một cách quá lộ liễu, nhất là khi có vấn đề bao che sai trái, thì hậu quả tự nhiên sẽ là sự thành lập những phe nhóm chống đối, bởi vì khi có một số người cư xử theo nhóm thì đương nhiên những người còn lại cũng sẽ tụ lại thành nhóm. Từ đó sẽ phân hoá rồi chia rẽ.
§ Tình trạng phân hoá sẽ khiến cho những người có lòng nhiệt tình phục vụ thật sự, đặc biệt là giới trẻ, sẽ xa lánh HĐ. Về lâu về dài, HĐ bị kiệt quệ vì không có sinh khí mới nữa. Và khi HĐ càng ít người tham gia thì TCCT cũng càng dễ bề đưa thêm người mình vào, càng chiếm lấy thế thượng phong trong HĐ.
§ Điều chúng ta cần thấy rõ là, không phải chỉ có HĐ mới bị thiệt hại mà ngay cả TCCT cũng bị thiệt hại không kém. Trước tiên là thành viên do mình đặt vào trong HĐ sẽ bị các hội viên khác cô lập, vô hiệu hoá và có khi mất cả uy tín lẫn tầm ảnh hưởng của mình. Thứ nhì, ngay chính TCCT cũng sẽ mất uy tín vì bị cảm nhận là đã hành xử “lừa dối”. Và thứ ba, HĐ mà họ mong “chiếm hữu” được thật ra sau một thời gian, sẽ chỉ còn lại là một cái xác bị trút mất thực lực, không còn giúp được gì cụ thể cho công cuộc mà TCCT muốn thực hiện nữa. Như vậy, đứng trên bình diện cuộc tranh đấu chung, chúng ta không những đã mất đi một HĐ khi HĐ đó trở thành vô hiệu; chúng ta không những bị tiêu hao lực lượng chung, mà chúng ta còn bị mất đi tiềm năng đóng góp của TCCT khi uy tín của tổ chức này xuống dốc.
Nói tóm lại khi sự việc xảy ra, tất cả mọi người đều bị thiệt cả. HĐ bị thiệt là lẽ dĩ nhiên, ai cũng thấy được. Cộng đồng và cuộc tranh đấu nói chung bị thiệt; điều này cũng tương đối dễ thấy. Nhưng TCCT cũng bị thiệt hại rất nặng, thế mà điều này thì dường như các tổ chức đó lại không ý thức được.
-o0o-
Vậy thì chúng ta có giải pháp nào không cho vấn nạn này? Trong cương vị nhỏ bé của chúng ta là những cá nhân sinh hoạt trong cộng đồng, tôi thiển nghĩ chúng ta cần đặt cho mình một số tiêu chuẩn hành xử:
§ Trước hết, chúng ta cần ý thức rằng lối làm “chính trị kiểu xưa” đã hết thời ở xã hội dân chủ nơi chúng ta đang sống. Ở Việt Nam thì khác: nơi đó Cộng sản tiếp tục thống trị với lối cai trị độc đoán u tối của chúng. Nhưng ở đây, chúng ta cần phải cởi bỏ đầu óc nhất thống quốc doanh để cư xử cho minh bạch và thực hiện được một xã hội dân sự đúng nghĩa chứ không giả nghĩa.
§ Thứ nhì, chúng ta hãy khuyến khích những người có tinh thần bình đẳng và độc lập ra cáng đáng công việc của các HĐCĐ. Điều này không những cần thiết để phát huy khả năng kết hợp của HĐ mà còn cần thiết vì không có tinh thần này thì giới trẻ sẽ không bao giờ nhập cuộc trong các sinh hoạt HĐ, hoặc nếu có nhập cuộc thì cũng chỉ được một thời gian xong rồi sẽ chán ngán bỏ đi. Tôi chắc chắn trong kỳ đại hội này sẽ có những diễn giả khác nhấn mạnh đến nhu cầu phải có người trẻ, và theo tôi, tinh thần làm việc không thiên vị là điều kiện không thể thiếu được nếu chúng ta muốn thế hệ thứ hai đứng ra gánh vác các HĐCĐ.
Đối với các TCCT thì tôi chỉ xin có lời kêu gọi:
§ Trước hết, quý vị nên từ bỏ các phương thức tiêu cực mà tôi vừa mô tả. Những đồng hương nghiêm khắc sẽ kết tội quý vị là đã gây chia rẽ trong cộng đồng. Riêng tôi thì không tin rằng các TCCT cố tình muốn gây chia rẽ, nhưng tình trạng phân hoá do sự thể này gây ra thì ai cũng có thể thấy được. Tôi kêu gọi các TCCT hãy đừng đem người vào các HĐ để nắm giữ HĐ nữa. Cách hành xử này như chúng ta đã thấy, mang lại nhiều điều nguy hại cho cộng đồng hải ngoại và làm lợi cho CSVN.
§ Thứ nhì, khi cho bất cứ một người nào của mình vào tham gia các HĐ, các TCCT phải có can đảm nói thật công khai, và phải chứng minh bằng hành động, rằng: đây là đảng viên (hay thành viên) của chúng tôi, anh này (hay chị này) tham gia vào HĐ với mong muốn duy nhất là phục vụ HĐ chứ không phải phục vụ tổ chức của chúng tôi. Có làm như thế thì các hội viên khác mới mở tâm đón nhận và từ đó mới có đủ lòng tin để làm việc với nhau một cách không hậu ý.
§ Thứ ba, khi một thành viên của TCCT ra ứng cử một chức vụ nào trong một HĐ có nhiều hoạt động chính trị, chẳng hạn như các Cộng đồng Người Việt Tự do tại Úc, thành viên này phải nói rõ: tôi là thành viên của TCCT đó với lập trường chính trị như thế này, xin đồng hương bầu cho tôi và cũng ủng hộ lập trường của TCCT của tôi. Sự minh bạch vào thời buổi này không còn là một thứ xa xỉ phẩm nữa rồi; nó là điều kiện sống còn của sinh hoạt dân chủ.
Tất cả những điều vừa rồi, tôi mong quý vị và quý bạn đón nhận như những lời đề nghị xây dựng và thành tâm của tôi. Đối với các thành viên của các TCCT có mặt hôm nay, hoặc được đọc bài này, xin quý vị tha lỗi cho tôi nếu tôi có làm phật lòng quý vị điều gì, vì quý vị cần hiểu rằng đây là những điều không thể im lặng mãi mà cần phải được nói lên, không những vì tương lai của cộng đồng hải ngoại mà ngay cả vì tương lai phát triển chính đáng của tổ chức quý vị.
Tôi rất mong rằng sự ý thức của mỗi người và mỗi tổ chức sẽ giúp cho cộng đồng chúng ta tiến được cái bước phát triển kế tiếp vô cùng cần thiết.
Xin cảm ơn tất cả quý vị và quý bạn.
Phan Văn Hưng
May 19, 2008
Vấn đề “kiểm soát” các hội đoàn cộng đồng, hay tầm quan trọng của sự minh bạch
Kính thưa qúy vị và quý bạn,
Tôi xin cảm tạ Hội Chuyên Gia đã cho tôi cơ may này để chia xẻ cùng quý vị và quý bạn một vài ý nghĩ của tôi về chủ đề đại hội năm nay, là tìm những phương hướng phát triển cho cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Đề tài này rất rộng, gồm có nhiều lãnh vực và có thể được nhìn từ nhiều góc cạnh khác nhau, và chắc chắn các diễn giả khác trong đại hội này sẽ đưa ra nhiều quan điểm cá biệt.
Riêng tôi thì mong chúng ta ngồi đây hôm nay hãy cùng nhau suy nghĩ và bàn thảo về một vấn đề mà tôi coi là có tầm hệ trọng đặc biệt. Đó là vấn đề mà vì không có danh từ nào ngắn gọn hơn, tôi xin tạm gọi là khuynh hướng của một số tổ chức hay đảng phái chính trị muốn “kiểm soát” các hội đoàn sinh hoạt trong cộng đồng người Việt Nam chúng ta tại hải ngoại.
Tôi cũng biết rằng ngồi trong cử toạ hôm nay có những thành viên hay đảng viên của một số tổ chức chính trị, cho nên tôi xin nói ngay là tôi sẽ đề cập vấn đề này trong một tinh thần tôn trọng đối với các tổ chức chính trị, bởi vì các tổ chức này có những mục tiêu hoạt động hoàn toàn chính đáng và hữu ích trong lãnh vực của họ, nhưng khi những mục tiêu đó chồng tréo với những nhu cầu sinh hoạt của các hội đoàn cộng đồng và sự quan hệ không được nhận định một cách trong sáng và rõ ràng, thì tôi e rằng cả hội đoàn, cộng đồng lẫn tổ chức chính trị sẽ đều bị thiệt hại.
Tôi cũng biết thừa rằng đây là một đề tài có tính chất “nhậy cảm”, và một số người sẽ cho rằng tôi không nên nói ra, nhưng tôi cảm thấy đã đến lúc phải nói ra một cách công khai – dĩ nhiên là trong tinh thần tương kính – vì đây là một vấn đề đã gậm nhấm nhiều đoàn thể người Việt trong thời gian qua, và sẽ còn tiếp tục làm ung thối một số mối quan hệ, trong khi trái lại, những mối quan hệ này có thể xảy ra một cách tốt đẹp hơn.
Trong phần trình bày này, tôi sẽ dùng danh từ “hội đoàn” (HĐ) hay “hội đoàn cộng đồng” (HĐCĐ) để chỉ những đoàn thể, tổ chức, những nhóm sinh hoạt trong cộng đồng người Việt Nam tại hải ngoại nói chung và tại Úc nói riêng. Thường những HĐ này nhằm phục vụ một thành phần cá biệt nào đó của cộng đồng, hay một nhu cầu chuyên ngành nào đó, ví dụ như phụ nữ, thanh niên sinh viên, người cao niên, cựu quân nhân, thương gia, nông gia, nhân quyền, v.v. hoặc cũng có khi bao trùm nhiều thành phần khác nhau, mà điển hình là các Cộng đồng Người Việt Tự do Liên bang cũng như tại các tiểu bang tại Úc. Nói chung, tổng thể của những HĐ này cũng có thể được gọi là một xã hội dân sự - là xã hội dân sự của người Việt tại quốc gia định cư.
Qua danh từ “tổ chức chính trị” (TCCT), tôi muốn nói đến những tổ chức, đảng phái có chủ trương chủ yếu là cổ võ và tranh đấu cho một đường lối chính trị nào đó cho Việt Nam hay cho quốc gia định cư.
Để chúng ta nhìn thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề này, tôi xin đưa ra ngay một ví dụ; tuy chỉ là một ví dụ chung chung nhưng quý vị chắc chắn đã thấy nó xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới chứ không phải chỉ ở một nơi. Một HĐ nọ đang sinh hoạt bình thường thì bỗng nhiên người ta biết được người chủ tịch, hoặc một số thành viên chấp hành của hội, là những thành viên của một TCCT nào đó. Khi nhìn vào những việc làm của HĐ này, người ta nhận thấy phần lớn những việc làm trong quá khứ của hội đã tỏ ra thiên vị, có lợi cho TCCT nói trên. Lập tức, một bầu không khí nghi kỵ bao trùm HĐ này, và những phe nhóm được thành hình, không những giữa những người thân hoặc chống TCCT kia mà ngay cả giữa những người coi vấn đề độc lập của HĐ là quan trọng hay không quan trọng. Những thành viên của TCCT nằm trong hội bị coi là “tay trong” của tổ chức đó, được đưa vào hội nhằm kiểm soát, lèo lái, theo dõi, lợi dụng hay áp đảo hội đoàn đó. Chẳng bao lâu khi sự nghi kỵ lan tràn, HĐ này rơi vào tình trạng phân hoá, xong chia rẽ, và giữa các phe nhóm thì không còn sự hợp tác như trước nữa. Hoặc HĐ này bị lên án, cô lập bởi cộng đồng chung quanh, hay bị chỉ trích là một “bộ phận ngoại vi” của TCCT kia – nghĩa là không bị tê liệt bên trong thì nhiều phần cũng bị tê liệt bên ngoài.
-o0o-
Ở đây chúng ta cần đào sâu từ “chia rẽ”. Từ này có nhiều cách định nghĩa, nhưng tôi đề nghị chúng ta nhìn vấn đề như thế này. Sống trong xã hội dân chủ ở quốc gia định cư, việc bất đồng quan điểm là một chuyện không những hoàn toàn bình thường mà lại còn được người ta khuyến khích nữa. Nếu chỉ có bất đồng quan điểm, bất đồng chủ trương hay đường lối, hay ngay cả bất đồng với nhau về một cá nhân nào đó, thì đó vẫn không thể gọi là chia rẽ. Phải gọi đó là sự đa dạng thể hiện một sinh hoạt cởi mở và dân chủ, nhất là khi xã hội dân chủ nơi chúng ta sống cho chúng ta những phương tiện để bày tỏ công khai sự đa dạng của chúng ta. Chỉ khi nào sự bất đồng đã đóng băng thành những phe nhóm chống đối nhau với bất cứ giá nào, khi sự bất đồng vượt quá mọi khuôn khổ quan điểm để chỉ còn dựa trên sự ưa ghét lẫn nhau, và được phát biểu bằng những lời lẽ ưa ghét nhau, thì tình trạng chia rẽ mới xảy ra.
Nếu muốn giản dị hóa tối đa vấn đề, ta có thể nói rằng chia rẽ xảy ra khi tình cảm lấn át lý trí. Và trong ví dụ vừa kể ở trên, tình cảm đóng một vai trò chủ chốt bởi vì theo lẽ thường, một hành động bị quần chúng cảm nhận là lừa dối, giấu giếm hay bội phản, là một hành động đáng ghét. Và ngược lại đối với TCCT nói trên, khi hành động của mình bị ghét bỏ thì lại cho ngay rằng người ta ghét mình. Thành thử căn nguyên của vấn đề nằm ở việc làm lừa dối tiên khởi, khiến cho sự bất đồng vượt ra ngoài phạm vi quan điểm để rơi vào tâm trạng chia rẽ.
-o0o-
Thật ra, sự kiện các TCCT tìm cách chi phối các đoàn thể quần chúng không phải là mới mẻ. Nếu nhìn lại nền chính trị của Việt Nam trong lịch sử cận đại, chúng ta sẽ thấy cách sinh hoạt này đã ăn sâu vào tâm thức sinh hoạt chính trị tại Việt Nam, và có lẽ cũng đã ăn sâu vào con người Việt Nam, khiến cho chúng ta, ngay cả khi sống tại một nước dân chủ, vẫn chưa thực sự sinh hoạt dân chủ. Tôi xin tạm gọi cách sinh hoạt này là “chính trị kiểu xưa”.
Trước năm 1975 tại miền Bắc Việt Nam, cả miền Bắc nằm hoàn toàn dưới sự thống trị của Đảng Cộng sản. Tất cả các tổ chức gọi là đoàn thể, tổ chức quần chúng đều do đảng này dựng lên. Hoàn toàn không có bất cứ một loại đoàn thể nào khác – giản dị là như thế.
Tại miền Nam trước 1975, các sinh hoạt dân sự sinh động hơn nhiều, nhưng vẫn có nhiều nỗ lực từ các đảng phái chính trị và đặc biệt là đảng cầm quyền để đưa người mình vào nắm các vai trò then chốt trong một số HĐ, hoặc cũng có khi tự mình dựng lên những tổ chức HĐ này. Tuy nhiên nỗ lực của họ không đạt được quy mô vì ý thức của người dân khá cao, đặc biệt là của giới truyền thông, văn nghệ sĩ, giới trẻ, các tổ chức văn hoá, xã hội, v.v.
Sau năm 1975 tại Việt Nam và nhất là trong những năm gần đây, chúng ta chứng kiến một hiện tượng mà có người đặt cho một cái tên khá chính xác, là “xã hội dân sự quốc doanh”. Như quý vị cũng biết, xã hội dân sự của một nước là tổng thể các tổ chức, đoàn thể, các nhóm phi chính phủ hoạt động nhằm mục đích phục vụ người dân, nhưng không phải là nhà nước và cũng không phải là các doanh nghiệp. Xã hội dân sự bình thường gồm có các hội từ thiện, nghiệp đoàn, tổ chức tôn giáo, văn hoá nghệ thuật, tranh đấu xã hội và chính trị, v.v. nhằm bênh vực hay phục vụ cho quyền lợi rộng lớn của một thành phần xã hội nào đó. Nhưng ở Việt Nam, tất cả những tổ chức này đều nằm dưới sự kiểm soát của Đảng CSVN, với tầng lớp lãnh đạo gồm toàn đảng viên CS có cấp, và với mục đích là vận dụng quần chúng để hỗ trợ cho quyền lực của Đảng CS. Nói tóm là một xã hội dân sự giả tạo, quốc doanh. Bình thường ở một quốc gia dân chủ, xã hội dân sự là một yếu tố tiến bộ, nhưng ở Việt Nam, nó trở thành một yếu tố củng cố quyền lực cho chế độ dưới những chiêu bài phục vụ người dân.
Bây giờ nhìn qua người Việt tại hải ngoại, tuy sinh sống tại các nước dân chủ nhưng hình như chúng ta vẫn chưa hoàn toàn rũ bỏ được cái tinh thần làm “chính trị kiểu xưa”. Các TCCT, có lẽ vì không đủ sức thuyết phục được số đông người Việt hải ngoại theo quan điểm của mình, hoặc cũng có thể vì không muốn bỏ ra quá nhiều công sức để thực hiện cuộc thuyết phục rất cần thiết đó, cho nên một số TCCT đã chọn con đường tắt, hoặc nói đúng hơn là con dường mòn, bằng cách kiểm soát một số HĐ, đặt người của mình vào trong đó để hướng dẫn đường lối của HĐ mà không cần phải mất công thuyết phục. Hoặc có khi TCCT cũng dựng ra những HĐ lệ thuộc vào mình.
Đây là cách sinh hoạt theo kiểu xưa, và dĩ nhiên đã sinh hoạt như thế thì kết quả nếu đạt được cũng không ngoài một kết quả “quốc doanh” mà thôi. Khi một TCCT cố dựng lên một mạng lưới gồm nhiều những HĐ do mình nắm giữ hoặc ảnh hưởng để đẩy mạnh đường lối riêng của mình, và nếu các sinh hoạt dân sự bị thu về một mối như thế thì chúng ta có một hiện tượng mang tính chất “quốc doanh” ngay tại hải ngoại này.
-o0o-
Bây giờ hãy thử lược qua một số điểm lợi và điểm hại của cách sinh hoạt này đối với hải ngoại.
Trong số những điều lợi, xin ghi ra một vài điểm như sau.
§ Trong quá khứ và nhất là trong những buổi đầu của cuộc tranh đấu nhằm lật đổ bạo quyền Cộng sản của người Việt hải ngoại, người ta không thể chối cãi được tầm quan trọng của các TCCT trong cuộc đấu tranh này. Thời đó, tựu trung tất cả các TCCT thường có cùng một chủ trương tranh đấu, nếu có khác nhau thì chỉ trong những phương trình được đem ra áp dụng và các nhân sự lãnh đạo mà thôi. Ngay cả các HĐCĐ, tuy phục vụ quyền lợi chuyên ngành của hội viên mình, vẫn tự đặt mình vào trong cuộc tranh đấu chung. Do sự hoà nhập giữa các sinh hoạt cộng đồng và các sinh hoạt đấu tranh, ít ai đặt vấn đề nhân sự nào là của TCCT và nhân sự nào là của HĐ. Hai loại nhân sự gắn bó rất chặt chẽ với nhau.
§ Cái lợi cho HĐ là HĐ được nhận sự trợ lực của TCCT, cả về nhân lực lẫn các phương tiện khác, và đồng thời HĐ cũng được dịp vươn lên theo đà cuộc tranh đấu chung. Song song đối với TCCT thì TCCT được “muợn danh” HĐ để đẩy mạnh các mũi dùi phát triển của mình, được xử dụng môi trường sinh hoạt của HĐ làm đất dụng võ và kết nạp thêm nhiều thành viên, và quan trọng hơn cả, hướng dẫn các sinh hoạt đấu tranh theo ý mình.
§ Nếu ta hỏi các thành viên các TCCT thì có lẽ đa số sẽ trả lời rằng TCCT của họ đã góp phần mang lại sức sống cho HĐ và đã giữ vững “tiền đồ” cộng đồng đối đầu lại với CSVN. Tuy không hoàn toàn sai, nhưng tôi cho đó là một nhận định có nhiều phần chủ quan.
Sau cái buổi đầu “nhất thống” đó thì những nhược điểm của tình trạng kể trên bắt đầu hiện ra một cách rõ ràng. Lý do theo tôi cũng khá dễ hiểu: tình trạng đó tựu trung là sự phản chiếu của cái hệ thống quốc doanh nhất thống tại Việt Nam mà người Việt tỵ nạn chúng ta vì chán ghét nó nên mới bỏ xứ ra đi, vậy mà chúng ta lại vô tình đem nó theo qua tới bên đây; do đó làm sao mà có thể chấp nhận một cách lâu dài được? Những điểm lợi mà tôi vừa kể ở trên thật ra là những điểm lợi giả tạo chỉ có thể nở rộ trong một hệ thống quốc doanh khép kín, chứ khi đem cấy vào một xã hội mở cửa như ở phương Tây thì nó không thể sống còn, vì nó mang quá nhiều nhược điểm căn bản khiến cho bất cứ một HĐ nào mà cho phép nó tồn tại thì sẽ khó thoát khỏi sự tan vỡ, nhất là ở một thời điểm khi mà không còn một đường lối tranh đấu duy nhất nữa mà có thể có tới mấy đường lối khác nhau.
Và đây là những nhược điểm hiển nhiên nhất:
§ Như tôi có trình bày ở trên, khi một vài cá nhân nắm giữ HĐ bị cảm nhận là “tay trong” của một TCCT và hành xử thiên vị cho TCCT đó, không khí nghi kỵ lẫn nhau sẽ lập tức xuất hiện, không thể tránh được. Một khi sự nghi kỵ trùm xuống, ngay cả những người có tinh thần trong sáng, độc lập cũng bị kéo lây vào trong “vòng chiến”. Đây là liều thuốc độc cho bất cứ HĐ nào, bởi vì sự tin tưởng lẫn nhau là căn bản sinh hoạt của mọi HĐCĐ, và mất lòng tin ở nhau thì không còn căn bản nào để làm việc gì với nhau nữa.
§ Một HĐ bị một TCCT chi phối có nguy cơ đánh mất chức năng của mình là phục vụ các quyền lợi chuyên ngành của hội viên mình, chẳng hạn như một HĐ sinh viên mà không phục vụ cho sinh viên, chỉ độc nhất phục vụ cho những chương trình riêng của một TCCT duy nhất, thì sẽ bị đánh giá là một HĐ giả danh.
§ Nếu vì quyền lợi của TCCT mà các thành viên của tổ chức này bao che cho nhau một cách quá lộ liễu, nhất là khi có vấn đề bao che sai trái, thì hậu quả tự nhiên sẽ là sự thành lập những phe nhóm chống đối, bởi vì khi có một số người cư xử theo nhóm thì đương nhiên những người còn lại cũng sẽ tụ lại thành nhóm. Từ đó sẽ phân hoá rồi chia rẽ.
§ Tình trạng phân hoá sẽ khiến cho những người có lòng nhiệt tình phục vụ thật sự, đặc biệt là giới trẻ, sẽ xa lánh HĐ. Về lâu về dài, HĐ bị kiệt quệ vì không có sinh khí mới nữa. Và khi HĐ càng ít người tham gia thì TCCT cũng càng dễ bề đưa thêm người mình vào, càng chiếm lấy thế thượng phong trong HĐ.
§ Điều chúng ta cần thấy rõ là, không phải chỉ có HĐ mới bị thiệt hại mà ngay cả TCCT cũng bị thiệt hại không kém. Trước tiên là thành viên do mình đặt vào trong HĐ sẽ bị các hội viên khác cô lập, vô hiệu hoá và có khi mất cả uy tín lẫn tầm ảnh hưởng của mình. Thứ nhì, ngay chính TCCT cũng sẽ mất uy tín vì bị cảm nhận là đã hành xử “lừa dối”. Và thứ ba, HĐ mà họ mong “chiếm hữu” được thật ra sau một thời gian, sẽ chỉ còn lại là một cái xác bị trút mất thực lực, không còn giúp được gì cụ thể cho công cuộc mà TCCT muốn thực hiện nữa. Như vậy, đứng trên bình diện cuộc tranh đấu chung, chúng ta không những đã mất đi một HĐ khi HĐ đó trở thành vô hiệu; chúng ta không những bị tiêu hao lực lượng chung, mà chúng ta còn bị mất đi tiềm năng đóng góp của TCCT khi uy tín của tổ chức này xuống dốc.
Nói tóm lại khi sự việc xảy ra, tất cả mọi người đều bị thiệt cả. HĐ bị thiệt là lẽ dĩ nhiên, ai cũng thấy được. Cộng đồng và cuộc tranh đấu nói chung bị thiệt; điều này cũng tương đối dễ thấy. Nhưng TCCT cũng bị thiệt hại rất nặng, thế mà điều này thì dường như các tổ chức đó lại không ý thức được.
-o0o-
Vậy thì chúng ta có giải pháp nào không cho vấn nạn này? Trong cương vị nhỏ bé của chúng ta là những cá nhân sinh hoạt trong cộng đồng, tôi thiển nghĩ chúng ta cần đặt cho mình một số tiêu chuẩn hành xử:
§ Trước hết, chúng ta cần ý thức rằng lối làm “chính trị kiểu xưa” đã hết thời ở xã hội dân chủ nơi chúng ta đang sống. Ở Việt Nam thì khác: nơi đó Cộng sản tiếp tục thống trị với lối cai trị độc đoán u tối của chúng. Nhưng ở đây, chúng ta cần phải cởi bỏ đầu óc nhất thống quốc doanh để cư xử cho minh bạch và thực hiện được một xã hội dân sự đúng nghĩa chứ không giả nghĩa.
§ Thứ nhì, chúng ta hãy khuyến khích những người có tinh thần bình đẳng và độc lập ra cáng đáng công việc của các HĐCĐ. Điều này không những cần thiết để phát huy khả năng kết hợp của HĐ mà còn cần thiết vì không có tinh thần này thì giới trẻ sẽ không bao giờ nhập cuộc trong các sinh hoạt HĐ, hoặc nếu có nhập cuộc thì cũng chỉ được một thời gian xong rồi sẽ chán ngán bỏ đi. Tôi chắc chắn trong kỳ đại hội này sẽ có những diễn giả khác nhấn mạnh đến nhu cầu phải có người trẻ, và theo tôi, tinh thần làm việc không thiên vị là điều kiện không thể thiếu được nếu chúng ta muốn thế hệ thứ hai đứng ra gánh vác các HĐCĐ.
Đối với các TCCT thì tôi chỉ xin có lời kêu gọi:
§ Trước hết, quý vị nên từ bỏ các phương thức tiêu cực mà tôi vừa mô tả. Những đồng hương nghiêm khắc sẽ kết tội quý vị là đã gây chia rẽ trong cộng đồng. Riêng tôi thì không tin rằng các TCCT cố tình muốn gây chia rẽ, nhưng tình trạng phân hoá do sự thể này gây ra thì ai cũng có thể thấy được. Tôi kêu gọi các TCCT hãy đừng đem người vào các HĐ để nắm giữ HĐ nữa. Cách hành xử này như chúng ta đã thấy, mang lại nhiều điều nguy hại cho cộng đồng hải ngoại và làm lợi cho CSVN.
§ Thứ nhì, khi cho bất cứ một người nào của mình vào tham gia các HĐ, các TCCT phải có can đảm nói thật công khai, và phải chứng minh bằng hành động, rằng: đây là đảng viên (hay thành viên) của chúng tôi, anh này (hay chị này) tham gia vào HĐ với mong muốn duy nhất là phục vụ HĐ chứ không phải phục vụ tổ chức của chúng tôi. Có làm như thế thì các hội viên khác mới mở tâm đón nhận và từ đó mới có đủ lòng tin để làm việc với nhau một cách không hậu ý.
§ Thứ ba, khi một thành viên của TCCT ra ứng cử một chức vụ nào trong một HĐ có nhiều hoạt động chính trị, chẳng hạn như các Cộng đồng Người Việt Tự do tại Úc, thành viên này phải nói rõ: tôi là thành viên của TCCT đó với lập trường chính trị như thế này, xin đồng hương bầu cho tôi và cũng ủng hộ lập trường của TCCT của tôi. Sự minh bạch vào thời buổi này không còn là một thứ xa xỉ phẩm nữa rồi; nó là điều kiện sống còn của sinh hoạt dân chủ.
Tất cả những điều vừa rồi, tôi mong quý vị và quý bạn đón nhận như những lời đề nghị xây dựng và thành tâm của tôi. Đối với các thành viên của các TCCT có mặt hôm nay, hoặc được đọc bài này, xin quý vị tha lỗi cho tôi nếu tôi có làm phật lòng quý vị điều gì, vì quý vị cần hiểu rằng đây là những điều không thể im lặng mãi mà cần phải được nói lên, không những vì tương lai của cộng đồng hải ngoại mà ngay cả vì tương lai phát triển chính đáng của tổ chức quý vị.
Tôi rất mong rằng sự ý thức của mỗi người và mỗi tổ chức sẽ giúp cho cộng đồng chúng ta tiến được cái bước phát triển kế tiếp vô cùng cần thiết.
Xin cảm ơn tất cả quý vị và quý bạn.
The case against 'Hanoi Jane'
Lawyer, author Hank Holzer tells Metcalf actress committed treason
--------------------------------------------------------------------------------
Posted: March 17, 2002
1:00 a.m. Eastern
Editor's Note: Though it has been 30 years since Jane Fonda's notorious visit to North Vietnam, many Americans have been unable to forget the actress's behavior in enemy territory. By cozying up to America's communist foe in the Vietnam War, Fonda earned the nickname "Hanoi Jane" and the contempt of U.S. soldiers and patriots. In a new book titled "Aid and Comfort: Jane Fonda in North Vietnam," lawyer Hank Holzer outlines the legal case against Fonda, saying the actress could have been indicted and convicted of treason. In an interview with WorldNetDaily's talk-radio host Geoff Metcalf, as in "Aid and Comfort," Holzer recounts exactly what Fonda did in North Vietnam and the consequences her actions had on the morale of U.S. troops.
Metcalf's daily streaming radio show can be heard on TalkNetDaily weekdays from 7 p.m. to 10 p.m. Eastern time.
By Geoff Metcalf
© 2002 WorldNetDaily.com
Q: What prompted you to write this book? It has been a while since her gross behavior in North Vietnam.
A: It has bothered me for a long time. I'm a Korean War veteran, and in 1972, when she went, I was as appalled as you. I always wanted to do something about it. I began teaching law while I was practicing law, and it just got away from me, although it was never far out of mind. Then in 1999, "The Ladies Home Journal" decided to anoint the 100 most important women of the century, listing them in a coffee table book. Barbara Walters did a "20/20" show, and Fonda was one of the principles. It was simply the straw that broke the camel's back. Everything I knew about this was anecdotal, although I saw the picture of her on the anti-aircraft gun and I remember some of the reportage. I decided I needed to find out what really happened.
Q: It is fascinating that nobody else has done anything in 30 years.
A: That was one of the things I first researched. I wanted to see if anybody had done anything, and nobody had. As I developed the facts, it became pretty obvious to me based on what I know of treason that she had indeed committed the crime. I taught Constitutional Law for 22 years at Brooklyn Law School. I developed the facts. I got the broadcasts. I looked at the pictures and found out what she did. Then, logistically, I laid it next to the law of treason. When you look at the elements of treason, as defined by the Supreme Court, and you look at what she did, it is plain that she was indictable for treason – and could have been convicted.
Q: What about that two-witness requirement that has been discussed recently in reference to the John Walker Lindh case?
A: We can get to that and then talk about Walker. As you may know, I've been writing a lot arguing that Walker could be indicted and convicted of treason; it's not as difficult a crime to prove as everybody thinks.
Q: We'll digress into Walker later. Let's stay on track with Hanoi Jane.
A: My wife (co-author of "Aid and Comfort" Erika Holzer) and I concluded that, indeed, she was indictable; there is absolutely no question about it. Of course, you can't make the ultimate verdict, so to speak, that it was treason, because that's a jury's decision. In terms of legal guilt, that has to come from a jury. The Constitution says that treason, other than levying war, consists of giving "aid and comfort" to the enemy. Specifically, it is defined as "adhering to the enemy, giving aid and comfort."
The Supreme Court says that means you have to prove four elements:
1. You need an overt act;
2. You need an intent to betray (and since we can't ever get into someone's head, that has to be proven circumstantially and be inferred from the nature of the act);
3. That it provide aid and comfort; and
4. The overt act must be proved by two witnesses.
So the questions are: What were the overt acts, and could there have been two witnesses to whatever the overt acts were?
Q: Because it was not technically a declared war, but rather, an alleged "police action," does that cut her any technical slack at all?
A: It does not at all, for two reasons. First, the Supreme Court said in the late 1800s that hostilities were enough. So that is clear. And of course, we have to remember the Burr conspiracy: With Aaron Burr, there was no war then. And Burr was tried for treason. It does not require a declaration of war; hostilities are sufficient. In Vietnam, we had – if you even needed it – a virtual declaration of war in the Gulf of Tonkin Resolution. And, indeed, if we weren't at war then, I don't know what a war is.
Q: Why didn't some radical, right-wing wacko try to press charges against her?
A: Unfortunately, the right-wing wackos that could have pressed charges were in charge of the Justice Department. That's who presses charges. And we found out why they didn't prosecute and explained it in the book "Aid and Comfort." I won't give it away here and run the risk of not selling some copies I might otherwise sell.
Q: Believe me, the book is so rich in detail and subtext, people will want to buy it. So tell us why they didn't prosecute.
A: She went to North Vietnam in July of '72. Once she went, there was a tremendous outcry and people were really leaning on members of Congress to do something about it. The House of Representatives Internal Security Committee decided to invite a representative of the attorney general to come down on Sept. 19, 1972, and testify about Fonda and about treason. They sent some fellow who was pretty high-ranking in the Justice Department, and he – let's be charitable and say mistakenly – told them what treason was all about. In my view, he made little or no effort to communicate to the committee that her actions were both indictable and convictable.
Q: Why? Was it because she was a member of the elite "royalty"?
A: That's part of it. If you remember in September of '72, Nixon was running for reelection.
Q: Not only was it in all the papers, it was the first real big story I covered professionally.
A: He was trying to end the war. They had, not too many years before, the experience of the Chicago Seven trial, arising out of the 1968 Democratic Convention. And I can tell you this categorically, because we prove it in the book, the Justice Department and the Nixon administration were afraid to bring a prosecution. They were afraid to bring it because they were concerned it would turn into a circus, just the way the Chicago Seven trial had turned into a circus with all of the hard-left, anti-war, communist people represented by lawyers of the same ilk. They just didn't want the trouble. During our research, somebody who knows what happened said, "We were afraid. We, the government, were afraid that she would make a monkey out of us."
Q: When I first started reading the book, I said, "Oh, no. This sounds like it's going to end up being an apology for the poor little rich girl." You go into what a difficult childhood she had, and even when she was 30-something living in France she was still a kind of vacuous, pretentious, messed up woman. What helped radicalize her?
A: Let me say one thing first. Geoff, the reason we went into those first two chapters dealing with her background was to show her motive and to show the distinction, legally, between motive and intent. Motive is wholly irrelevant to the question of whether one committed a crime or not. The motive of a contract killer is to earn a fee. The question is whether he has an intent to kill the victim. And those are two very different things. So we wanted to establish the motive. Although at the beginning it sounds like it's going to be sympathetic, the story was necessary to differentiate it from what comes later, which is the intent.
Q: You include what a difficult childhood she had, how her father was not attentive and how she became promiscuous and was bouncing around with all these men. It was really Roger Vadim and Simone Signore and those folks in France that really indoctrinated her.
A: That's right. What happened was this – and the two chapters on motive show this: She was basically an empty vessel. She had no values. She had no sense of identity. She had no self-esteem. She was truly an empty vessel. So she was trying to fill it, to "be somebody." When she was married to Vadim and lived in Paris, she was influenced by those French Marxists and communists like Yves Montand, who was a communist virtually all his life. They wrote on this blank tablet. She was a friend of Vanessa Redgrave, for example, who filled her with all these ideas. So you have the combination of someone with no self-esteem and no value system who is an empty vessel with all these people who are very ready to pour their ideas into that empty vessel. In a nuts****, that is what radicalized her. She became interested in the Vietnam situation, and then she took up with Tom Hayden, who was really the catalyst that sent her to Vietnam.
Q: I didn't realize she had actually done some promo piece for military recruiting.
A: She was the poster girl for the U.S. Army Recruiting Command.
Q: I don't know how I missed that.
A: Most people missed it. I had, too, until I started doing the research. But that really proves what I'm saying: that there really was nobody home in the values sense. I mean, somebody said, "Why don't you do this; it's a good idea." So she did it. I'm oversimplifying, of course, but somebody said, "Why don't you go to North Vietnam?" And she said, "That's a good idea!"
Q: When she got into heavy philosophic debates with those heavyweight communists in France, she was taking a nail file to a gunfight.
A: She was no match for them. They were sophisticated; they were steeped in Marxism and communism. And remember the French colonial experience in Indo-China. They were burned by that. I don't have to tell you, generally speaking, what the French attitude is toward America and Americans. All of that writing on her blank slate led the way to her trip to Vietnam.
Q: How did that trip ever come about? Who sponsored it? Who put it together?
A: It's still a little vague. It was not long after she met and took up with Hayden that it happened. She got involved with him in, roughly, the spring of '72, and he became a tremendous influence on her. It was shortly thereafter, in July, that she went. I have no documentation on who paid the bills, but I can tell you that she traveled to Hanoi incognito. She traveled to Hanoi on a passport with the name Jane Seymore Plemanikov, which was Vadim's real name. When the plane landed in Laos, she didn't get off it and, of course, it was via Moscow: Paris, Moscow, Laos and then Hanoi. She surfaced in Hanoi, and then began virtually a three-and-a-half week tour of the country. That, of course, is where the overt acts occurred.
Q: Were the propagandist broadcasts part of the package, or were they a target of opportunity once they had her there?
A: I think it was planned. As a matter of fact, one gets to the question of "aid and comfort" when hearing a tremendously revealing quotation from one of the chief North Vietnamese propagandists. It's in the book, and I'll just read you a couple of lines from it because it's kind of a lengthy quotation. By the way, this fellow was the first one to the presidential palace in South Vietnam when South Vietnam fell.
Everyday our leadership would listen to world news over the radio at 9 a.m. to follow the growth of the American anti-war movement. Visits to Hanoi by people like Jane Fonda gave us confidence that we should hold on in the face of battlefield reverses. We were elated when Jane Fonda, wearing a red Vietnamese dress, said at a press conference that she was ashamed of American actions in the war and that she would struggle along with us.
That's one side of it. I have a lot in the book about the impact all this had on the POWs and on her audience, including naval airmen on carriers – people who are not yet POWs. It had a tremendously adverse effect on morale. One POW is quoted in the book, saying in a rather naïve and touching way, "Who would have ever expected this from Henry Fonda's daughter?" Henry Fonda had played President Abe Lincoln and was in "The Grapes of Wrath." He was seen as "Mr. America."
Q: There was a story floating around the Internet years ago that was debunked, and then the debunking was debunked. Allegedly, when she was introduced to a bunch of POWs, they reportedly had small little messages about their horrific treatment and even their Social Security numbers.
A: That's the slips of paper story.
Q: Right – that they palmed the notes to her, and that she subsequently turned around and gave them to the North Vietnamese. True or false?
A: False. It's a hoax. It is attributed to Jerry Driscoll, and I have an e-mail from him saying it never happened. And I make the point in the book that there is enough to indict her both literally and figuratively for what she did rather than to circulate these false stories.
Q: There are a whole lot of splendid endorsements for this book. Actually, the foreword is written by Col. Bud Day. Hank, please talk us through what happened in North Vietnam: the horrific impact her propaganda broadcasts had on our troops both in the Hanoi Hilton and elsewhere and the guys on the ships. What did she actually do when she was there?
A: In no particular order – and I'll save the broadcasts for last – she met with senior communist, military and civilian, leaders and berated, attacked, denigrated and insulted the United States.
Q: Did she have any idea how she was being used?
A: I think so. I think it was for her trade-off to do what she did to get what she was getting.
Q: What was she getting, besides eternal contempt and antipathy?
A: This feeling of what I call pseudo self-esteem. You have to understand, and your readers have to understand, that she gave the communists propaganda that American POWs in some cases died not to give up, and in other cases, suffered unimaginably not to give up. They wanted POWs to do a hundredth of what she did, and they wouldn't do it. For that, some of them were in solitary darkness for years.
Q: Rocky Versace gave up his life rather than give them what they wanted.
A: We're digressing, but let me tell you something about Rocky Versace. Fonda named her daughter after Vanessa Redgrave. Her son's name – he's an actor – is Troy, and his last name is Garrity. His name didn't start off as T-r-o-y. It started off as Troi. There was a Vietnamese saboteur/assassin whose name was Troi, who tried to mine a bridge that McNamara was going to cross and kill him. They caught Troi, and they killed him. And that's who Fonda's son was named after. It is believed – not proved – by people much more knowledgeable about this part of it than I am that Rocky Versace was killed by the communists in retaliation for the South Vietnamese killing of the saboteur
Fonda also met seven American POWs, at least five of whom were there reluctantly. The stories that they were tortured to meet her cannot be corroborated, but at least five of them were not there willingly. She harangued them, she insulted the president, she called them criminals, she told them that they had been bombing hospitals and pagodas and dikes – all of which was untrue. Then she came home and said they were all sorry, regretted what they did and wanted peace. You can imagine she even called a family or two. She called one guy's wife, whom she met with, and told her, "Don't worry, he's doing fine. He's great." When the wife told her, "How can he be doing great where he is and with what they are doing to him?" Fonda hung up on her. She gave the North Vietnamese countless photo opportunities, not the least of which was the cover of our book: Fonda on the triple-A gun. When they came back and began telling of the torture, she called them liars and hypocrites. She said that men who were tortured don't walk off an airplane – she was talking about when they were repatriated – and salute smartly.
Q: Tell us about the broadcasts. How many where there?
A: Six or seven. They were taped and played incessantly in the POW compounds. There are quotes in our book to that effect and the effect it had on the POWs. For example, a pilot who had not yet been shot down – although he was later – said when he heard these broadcasts and saw the picture of her in "Stars and Stripes" on the triple-A gun, his morale was completely shot. I'll tell you another thing I learned from oral histories at the Air Force Academy: Some of these guys had been shot down before the anti-war movement began. They had no idea of the protests. So here comes Henry Fonda's daughter, this celebrated actress, who is saying these guys were bombing dikes, using chemical bombs and toxic gases, that they were war criminals, that the communist proposal for ending the war was "fair, sensible, reasonable and humanitarian." She encouraged "fragging," which was the killing of American officers by enlisted men. She encouraged desertion and on and on.
Q: There is one thing I have difficulty grasping: I know the woman is very easily manipulated, that she has always had some dominant male figure who basically directed her for her whole life, even up to the most recent chapter with Ted Turner. But I can't understand how she could be so willingly manipulated and basically just play a role that the communists told her to play.
A: I think only because she wanted to. Only because she was getting something out of it. After all, everybody does things because they get something for it.
Q: Didn't she have any concept that she was positioning herself as the Tokyo Rose of Vietnam?
A: I don't think so. And that's why the so-called apologies in later years were so hollow and empty. Some people believe she apologized. She did not. The closest she ever got to it was saying the triple-A gun picture was "thoughtless." Well, you're damn right it was thoughtless. The year after she said that to Barbara Walters in '88, she made a statement in that she "was proud that she had gone." Indeed, she never acted like she was sorry. She never did anything to show she was sorry. She never tried to help the people she hurt. Indeed, she called them "liars and hypocrites" when they were repatriated, some of them after seven and eight years in that ****hole.
Q: By the way, in an appendix to the book, you have the transcripts of the broadcasts she gave. Readers can find the book at Amazon.com.
A: They can also contact the publisher directly at 800-253-2187.
Q: You have already touched on the House Committee on Internal Security and the Nixon administration DOJ and how they swept this under the rug. But I've got to ask you: Can she ever be indicted?
A: Yes. There is no statute of limitations on a capital crime, which treason is. But as a practical matter, if she wasn't indicted in '72, she won't be indicted now – at least not legally. However, we see this book as a moral indictment. Because this book contains the entire case against Fonda, nobody will ever, I hope, be in doubt any longer about what she did and what the legal meaning of her actions are. That was our goal. We wanted to make a legal case but from the moral perspective.
Q: But there isn't any procedural legal impediment to prevent someone from choosing to indict her for treason?
A: There is not. Except, like the Walker case, it would have to be approved at the highest level.
Q: And that ain't gonna happen.
A: Technically, some U.S. Attorney somewhere, if he or she had jurisdiction in that district, could bring it, but he or she wouldn't last very long as a U.S. Attorney there. Since they didn't indict Walker for treason, which in my view is a slam-dunk case, they're certainly not going to go back and indict Fonda.
Q: What about Bud Day, Fred Kiley, any of the POWs – they'd have standing, wouldn't they?
A: No. It would have to be a prosecution initiated by the government. It's not like a civil case. However, I've heard anecdotes about when these people were POWs; they talked about bringing some kind of a case against Fonda. That's how deep the resentment is.
Q: You are a law professor. This is a legal delineation of stanza and verse. If any of those people – Bud Day, Fred Kiley, any of those folks from the POW/MIA groups – in the wake of reading your book said, "Hey, we can't let her get over on this," could they bring something civilly against her?
A: No.
Q: Why not?
A: In the first place, there was no direct tort done to them by her. What she did was indictable as a criminal offense, but it's not like an assault and battery on them. Secondly, since it's civil, the statute of limitations on that is long gone.
Q: I've read the praise that people like David Horowitz have given your book. What about the other side? Have there been any reactions from the defenders of the indefensible, or haven't they even seen it yet?
A: I think the latter; I don't think they've seen it yet. There was some reaction when I was first talking to agents and publishers that it's stale, that nobody cares. It's an old story. Who's concerned any longer?
Q: Fred Kiley, Bud Day, anybody who wore the uniform.
A: You and me and Horowitz and an awful lot of other people. I think maybe one or two of them were honest, and they were young and didn't know the importance of this from a moral perspective. But I think a lot of it was political. People don't have a lot of trouble with all these books coming out once in a while on Saco and Vanzetti, Eugene V. Debbs – somehow that's OK. But on Fonda, no. I expect that the mainstream media will either ignore this or attack it.
Q: Have you sent a manuscript to Jane?
A: No, for a couple of reasons. One is she can buy one if she wants it. Another is that, as far as I'm concerned, she is a non-person. You can't read this book and want even that kind of arms-length postal service contamination from this woman. What she did is – putting aside the legal aspects of it – about as obscene and immoral as anything I can conceive of an American citizen. When you read what our prisoners endured and what they wouldn't give up – sometimes at the cost of their lives – and that she gave to the enemy gratuitously and willingly, you can have nothing but contempt for this woman.
(http://www.worldnetdaily.com/news/article.asp?ARTICLE_ID=26863)
Lawyer, author Hank Holzer tells Metcalf actress committed treason
--------------------------------------------------------------------------------
Posted: March 17, 2002
1:00 a.m. Eastern
Editor's Note: Though it has been 30 years since Jane Fonda's notorious visit to North Vietnam, many Americans have been unable to forget the actress's behavior in enemy territory. By cozying up to America's communist foe in the Vietnam War, Fonda earned the nickname "Hanoi Jane" and the contempt of U.S. soldiers and patriots. In a new book titled "Aid and Comfort: Jane Fonda in North Vietnam," lawyer Hank Holzer outlines the legal case against Fonda, saying the actress could have been indicted and convicted of treason. In an interview with WorldNetDaily's talk-radio host Geoff Metcalf, as in "Aid and Comfort," Holzer recounts exactly what Fonda did in North Vietnam and the consequences her actions had on the morale of U.S. troops.
Metcalf's daily streaming radio show can be heard on TalkNetDaily weekdays from 7 p.m. to 10 p.m. Eastern time.
By Geoff Metcalf
© 2002 WorldNetDaily.com
Q: What prompted you to write this book? It has been a while since her gross behavior in North Vietnam.
A: It has bothered me for a long time. I'm a Korean War veteran, and in 1972, when she went, I was as appalled as you. I always wanted to do something about it. I began teaching law while I was practicing law, and it just got away from me, although it was never far out of mind. Then in 1999, "The Ladies Home Journal" decided to anoint the 100 most important women of the century, listing them in a coffee table book. Barbara Walters did a "20/20" show, and Fonda was one of the principles. It was simply the straw that broke the camel's back. Everything I knew about this was anecdotal, although I saw the picture of her on the anti-aircraft gun and I remember some of the reportage. I decided I needed to find out what really happened.
Q: It is fascinating that nobody else has done anything in 30 years.
A: That was one of the things I first researched. I wanted to see if anybody had done anything, and nobody had. As I developed the facts, it became pretty obvious to me based on what I know of treason that she had indeed committed the crime. I taught Constitutional Law for 22 years at Brooklyn Law School. I developed the facts. I got the broadcasts. I looked at the pictures and found out what she did. Then, logistically, I laid it next to the law of treason. When you look at the elements of treason, as defined by the Supreme Court, and you look at what she did, it is plain that she was indictable for treason – and could have been convicted.
Q: What about that two-witness requirement that has been discussed recently in reference to the John Walker Lindh case?
A: We can get to that and then talk about Walker. As you may know, I've been writing a lot arguing that Walker could be indicted and convicted of treason; it's not as difficult a crime to prove as everybody thinks.
Q: We'll digress into Walker later. Let's stay on track with Hanoi Jane.
A: My wife (co-author of "Aid and Comfort" Erika Holzer) and I concluded that, indeed, she was indictable; there is absolutely no question about it. Of course, you can't make the ultimate verdict, so to speak, that it was treason, because that's a jury's decision. In terms of legal guilt, that has to come from a jury. The Constitution says that treason, other than levying war, consists of giving "aid and comfort" to the enemy. Specifically, it is defined as "adhering to the enemy, giving aid and comfort."
The Supreme Court says that means you have to prove four elements:
1. You need an overt act;
2. You need an intent to betray (and since we can't ever get into someone's head, that has to be proven circumstantially and be inferred from the nature of the act);
3. That it provide aid and comfort; and
4. The overt act must be proved by two witnesses.
So the questions are: What were the overt acts, and could there have been two witnesses to whatever the overt acts were?
Q: Because it was not technically a declared war, but rather, an alleged "police action," does that cut her any technical slack at all?
A: It does not at all, for two reasons. First, the Supreme Court said in the late 1800s that hostilities were enough. So that is clear. And of course, we have to remember the Burr conspiracy: With Aaron Burr, there was no war then. And Burr was tried for treason. It does not require a declaration of war; hostilities are sufficient. In Vietnam, we had – if you even needed it – a virtual declaration of war in the Gulf of Tonkin Resolution. And, indeed, if we weren't at war then, I don't know what a war is.
Q: Why didn't some radical, right-wing wacko try to press charges against her?
A: Unfortunately, the right-wing wackos that could have pressed charges were in charge of the Justice Department. That's who presses charges. And we found out why they didn't prosecute and explained it in the book "Aid and Comfort." I won't give it away here and run the risk of not selling some copies I might otherwise sell.
Q: Believe me, the book is so rich in detail and subtext, people will want to buy it. So tell us why they didn't prosecute.
A: She went to North Vietnam in July of '72. Once she went, there was a tremendous outcry and people were really leaning on members of Congress to do something about it. The House of Representatives Internal Security Committee decided to invite a representative of the attorney general to come down on Sept. 19, 1972, and testify about Fonda and about treason. They sent some fellow who was pretty high-ranking in the Justice Department, and he – let's be charitable and say mistakenly – told them what treason was all about. In my view, he made little or no effort to communicate to the committee that her actions were both indictable and convictable.
Q: Why? Was it because she was a member of the elite "royalty"?
A: That's part of it. If you remember in September of '72, Nixon was running for reelection.
Q: Not only was it in all the papers, it was the first real big story I covered professionally.
A: He was trying to end the war. They had, not too many years before, the experience of the Chicago Seven trial, arising out of the 1968 Democratic Convention. And I can tell you this categorically, because we prove it in the book, the Justice Department and the Nixon administration were afraid to bring a prosecution. They were afraid to bring it because they were concerned it would turn into a circus, just the way the Chicago Seven trial had turned into a circus with all of the hard-left, anti-war, communist people represented by lawyers of the same ilk. They just didn't want the trouble. During our research, somebody who knows what happened said, "We were afraid. We, the government, were afraid that she would make a monkey out of us."
Q: When I first started reading the book, I said, "Oh, no. This sounds like it's going to end up being an apology for the poor little rich girl." You go into what a difficult childhood she had, and even when she was 30-something living in France she was still a kind of vacuous, pretentious, messed up woman. What helped radicalize her?
A: Let me say one thing first. Geoff, the reason we went into those first two chapters dealing with her background was to show her motive and to show the distinction, legally, between motive and intent. Motive is wholly irrelevant to the question of whether one committed a crime or not. The motive of a contract killer is to earn a fee. The question is whether he has an intent to kill the victim. And those are two very different things. So we wanted to establish the motive. Although at the beginning it sounds like it's going to be sympathetic, the story was necessary to differentiate it from what comes later, which is the intent.
Q: You include what a difficult childhood she had, how her father was not attentive and how she became promiscuous and was bouncing around with all these men. It was really Roger Vadim and Simone Signore and those folks in France that really indoctrinated her.
A: That's right. What happened was this – and the two chapters on motive show this: She was basically an empty vessel. She had no values. She had no sense of identity. She had no self-esteem. She was truly an empty vessel. So she was trying to fill it, to "be somebody." When she was married to Vadim and lived in Paris, she was influenced by those French Marxists and communists like Yves Montand, who was a communist virtually all his life. They wrote on this blank tablet. She was a friend of Vanessa Redgrave, for example, who filled her with all these ideas. So you have the combination of someone with no self-esteem and no value system who is an empty vessel with all these people who are very ready to pour their ideas into that empty vessel. In a nuts****, that is what radicalized her. She became interested in the Vietnam situation, and then she took up with Tom Hayden, who was really the catalyst that sent her to Vietnam.
Q: I didn't realize she had actually done some promo piece for military recruiting.
A: She was the poster girl for the U.S. Army Recruiting Command.
Q: I don't know how I missed that.
A: Most people missed it. I had, too, until I started doing the research. But that really proves what I'm saying: that there really was nobody home in the values sense. I mean, somebody said, "Why don't you do this; it's a good idea." So she did it. I'm oversimplifying, of course, but somebody said, "Why don't you go to North Vietnam?" And she said, "That's a good idea!"
Q: When she got into heavy philosophic debates with those heavyweight communists in France, she was taking a nail file to a gunfight.
A: She was no match for them. They were sophisticated; they were steeped in Marxism and communism. And remember the French colonial experience in Indo-China. They were burned by that. I don't have to tell you, generally speaking, what the French attitude is toward America and Americans. All of that writing on her blank slate led the way to her trip to Vietnam.
Q: How did that trip ever come about? Who sponsored it? Who put it together?
A: It's still a little vague. It was not long after she met and took up with Hayden that it happened. She got involved with him in, roughly, the spring of '72, and he became a tremendous influence on her. It was shortly thereafter, in July, that she went. I have no documentation on who paid the bills, but I can tell you that she traveled to Hanoi incognito. She traveled to Hanoi on a passport with the name Jane Seymore Plemanikov, which was Vadim's real name. When the plane landed in Laos, she didn't get off it and, of course, it was via Moscow: Paris, Moscow, Laos and then Hanoi. She surfaced in Hanoi, and then began virtually a three-and-a-half week tour of the country. That, of course, is where the overt acts occurred.
Q: Were the propagandist broadcasts part of the package, or were they a target of opportunity once they had her there?
A: I think it was planned. As a matter of fact, one gets to the question of "aid and comfort" when hearing a tremendously revealing quotation from one of the chief North Vietnamese propagandists. It's in the book, and I'll just read you a couple of lines from it because it's kind of a lengthy quotation. By the way, this fellow was the first one to the presidential palace in South Vietnam when South Vietnam fell.
Everyday our leadership would listen to world news over the radio at 9 a.m. to follow the growth of the American anti-war movement. Visits to Hanoi by people like Jane Fonda gave us confidence that we should hold on in the face of battlefield reverses. We were elated when Jane Fonda, wearing a red Vietnamese dress, said at a press conference that she was ashamed of American actions in the war and that she would struggle along with us.
That's one side of it. I have a lot in the book about the impact all this had on the POWs and on her audience, including naval airmen on carriers – people who are not yet POWs. It had a tremendously adverse effect on morale. One POW is quoted in the book, saying in a rather naïve and touching way, "Who would have ever expected this from Henry Fonda's daughter?" Henry Fonda had played President Abe Lincoln and was in "The Grapes of Wrath." He was seen as "Mr. America."
Q: There was a story floating around the Internet years ago that was debunked, and then the debunking was debunked. Allegedly, when she was introduced to a bunch of POWs, they reportedly had small little messages about their horrific treatment and even their Social Security numbers.
A: That's the slips of paper story.
Q: Right – that they palmed the notes to her, and that she subsequently turned around and gave them to the North Vietnamese. True or false?
A: False. It's a hoax. It is attributed to Jerry Driscoll, and I have an e-mail from him saying it never happened. And I make the point in the book that there is enough to indict her both literally and figuratively for what she did rather than to circulate these false stories.
Q: There are a whole lot of splendid endorsements for this book. Actually, the foreword is written by Col. Bud Day. Hank, please talk us through what happened in North Vietnam: the horrific impact her propaganda broadcasts had on our troops both in the Hanoi Hilton and elsewhere and the guys on the ships. What did she actually do when she was there?
A: In no particular order – and I'll save the broadcasts for last – she met with senior communist, military and civilian, leaders and berated, attacked, denigrated and insulted the United States.
Q: Did she have any idea how she was being used?
A: I think so. I think it was for her trade-off to do what she did to get what she was getting.
Q: What was she getting, besides eternal contempt and antipathy?
A: This feeling of what I call pseudo self-esteem. You have to understand, and your readers have to understand, that she gave the communists propaganda that American POWs in some cases died not to give up, and in other cases, suffered unimaginably not to give up. They wanted POWs to do a hundredth of what she did, and they wouldn't do it. For that, some of them were in solitary darkness for years.
Q: Rocky Versace gave up his life rather than give them what they wanted.
A: We're digressing, but let me tell you something about Rocky Versace. Fonda named her daughter after Vanessa Redgrave. Her son's name – he's an actor – is Troy, and his last name is Garrity. His name didn't start off as T-r-o-y. It started off as Troi. There was a Vietnamese saboteur/assassin whose name was Troi, who tried to mine a bridge that McNamara was going to cross and kill him. They caught Troi, and they killed him. And that's who Fonda's son was named after. It is believed – not proved – by people much more knowledgeable about this part of it than I am that Rocky Versace was killed by the communists in retaliation for the South Vietnamese killing of the saboteur
Fonda also met seven American POWs, at least five of whom were there reluctantly. The stories that they were tortured to meet her cannot be corroborated, but at least five of them were not there willingly. She harangued them, she insulted the president, she called them criminals, she told them that they had been bombing hospitals and pagodas and dikes – all of which was untrue. Then she came home and said they were all sorry, regretted what they did and wanted peace. You can imagine she even called a family or two. She called one guy's wife, whom she met with, and told her, "Don't worry, he's doing fine. He's great." When the wife told her, "How can he be doing great where he is and with what they are doing to him?" Fonda hung up on her. She gave the North Vietnamese countless photo opportunities, not the least of which was the cover of our book: Fonda on the triple-A gun. When they came back and began telling of the torture, she called them liars and hypocrites. She said that men who were tortured don't walk off an airplane – she was talking about when they were repatriated – and salute smartly.
Q: Tell us about the broadcasts. How many where there?
A: Six or seven. They were taped and played incessantly in the POW compounds. There are quotes in our book to that effect and the effect it had on the POWs. For example, a pilot who had not yet been shot down – although he was later – said when he heard these broadcasts and saw the picture of her in "Stars and Stripes" on the triple-A gun, his morale was completely shot. I'll tell you another thing I learned from oral histories at the Air Force Academy: Some of these guys had been shot down before the anti-war movement began. They had no idea of the protests. So here comes Henry Fonda's daughter, this celebrated actress, who is saying these guys were bombing dikes, using chemical bombs and toxic gases, that they were war criminals, that the communist proposal for ending the war was "fair, sensible, reasonable and humanitarian." She encouraged "fragging," which was the killing of American officers by enlisted men. She encouraged desertion and on and on.
Q: There is one thing I have difficulty grasping: I know the woman is very easily manipulated, that she has always had some dominant male figure who basically directed her for her whole life, even up to the most recent chapter with Ted Turner. But I can't understand how she could be so willingly manipulated and basically just play a role that the communists told her to play.
A: I think only because she wanted to. Only because she was getting something out of it. After all, everybody does things because they get something for it.
Q: Didn't she have any concept that she was positioning herself as the Tokyo Rose of Vietnam?
A: I don't think so. And that's why the so-called apologies in later years were so hollow and empty. Some people believe she apologized. She did not. The closest she ever got to it was saying the triple-A gun picture was "thoughtless." Well, you're damn right it was thoughtless. The year after she said that to Barbara Walters in '88, she made a statement in that she "was proud that she had gone." Indeed, she never acted like she was sorry. She never did anything to show she was sorry. She never tried to help the people she hurt. Indeed, she called them "liars and hypocrites" when they were repatriated, some of them after seven and eight years in that ****hole.
Q: By the way, in an appendix to the book, you have the transcripts of the broadcasts she gave. Readers can find the book at Amazon.com.
A: They can also contact the publisher directly at 800-253-2187.
Q: You have already touched on the House Committee on Internal Security and the Nixon administration DOJ and how they swept this under the rug. But I've got to ask you: Can she ever be indicted?
A: Yes. There is no statute of limitations on a capital crime, which treason is. But as a practical matter, if she wasn't indicted in '72, she won't be indicted now – at least not legally. However, we see this book as a moral indictment. Because this book contains the entire case against Fonda, nobody will ever, I hope, be in doubt any longer about what she did and what the legal meaning of her actions are. That was our goal. We wanted to make a legal case but from the moral perspective.
Q: But there isn't any procedural legal impediment to prevent someone from choosing to indict her for treason?
A: There is not. Except, like the Walker case, it would have to be approved at the highest level.
Q: And that ain't gonna happen.
A: Technically, some U.S. Attorney somewhere, if he or she had jurisdiction in that district, could bring it, but he or she wouldn't last very long as a U.S. Attorney there. Since they didn't indict Walker for treason, which in my view is a slam-dunk case, they're certainly not going to go back and indict Fonda.
Q: What about Bud Day, Fred Kiley, any of the POWs – they'd have standing, wouldn't they?
A: No. It would have to be a prosecution initiated by the government. It's not like a civil case. However, I've heard anecdotes about when these people were POWs; they talked about bringing some kind of a case against Fonda. That's how deep the resentment is.
Q: You are a law professor. This is a legal delineation of stanza and verse. If any of those people – Bud Day, Fred Kiley, any of those folks from the POW/MIA groups – in the wake of reading your book said, "Hey, we can't let her get over on this," could they bring something civilly against her?
A: No.
Q: Why not?
A: In the first place, there was no direct tort done to them by her. What she did was indictable as a criminal offense, but it's not like an assault and battery on them. Secondly, since it's civil, the statute of limitations on that is long gone.
Q: I've read the praise that people like David Horowitz have given your book. What about the other side? Have there been any reactions from the defenders of the indefensible, or haven't they even seen it yet?
A: I think the latter; I don't think they've seen it yet. There was some reaction when I was first talking to agents and publishers that it's stale, that nobody cares. It's an old story. Who's concerned any longer?
Q: Fred Kiley, Bud Day, anybody who wore the uniform.
A: You and me and Horowitz and an awful lot of other people. I think maybe one or two of them were honest, and they were young and didn't know the importance of this from a moral perspective. But I think a lot of it was political. People don't have a lot of trouble with all these books coming out once in a while on Saco and Vanzetti, Eugene V. Debbs – somehow that's OK. But on Fonda, no. I expect that the mainstream media will either ignore this or attack it.
Q: Have you sent a manuscript to Jane?
A: No, for a couple of reasons. One is she can buy one if she wants it. Another is that, as far as I'm concerned, she is a non-person. You can't read this book and want even that kind of arms-length postal service contamination from this woman. What she did is – putting aside the legal aspects of it – about as obscene and immoral as anything I can conceive of an American citizen. When you read what our prisoners endured and what they wouldn't give up – sometimes at the cost of their lives – and that she gave to the enemy gratuitously and willingly, you can have nothing but contempt for this woman.
(http://www.worldnetdaily.com/news/article.asp?ARTICLE_ID=26863)
Subscribe to:
Posts (Atom)