Thursday, December 2, 2021

Thế Giới Arab Kinh Hoàng vì Tình Báo Do Thái MOSSAD

Trúc Giang

1*. Mở bài
Hiện nay, không một cơ quan mật vụ nào trên thế giới bí ẩn, gây sợ hãi và được khâm phục hơn Mossad, là cơ quan tình báo hải ngoại của Do Thái. Mossad cũng là một cơ quan gián điệp vấy máu nhiều nhất trong lịch sử tình báo thế giới. Chủ trương của Mossad là ăn miếng trả miếng, nợ máu phải trả bằng máu. Kẻ thù, khi đã bị đưa tên vào danh sách tìm diệt, thì dù cho có cao bay, xa chạy, đến tận góc biển chân trời nào, ẩn trốn đến bao lâu, thì cũng bị thiên la địa võng của Mossad tìm đến, đưa về chầu Diêm Chúa.

Không những thế, việc trả thù còn nhắm vào thân nhân của những tên khủng bố, trước khi ra tay thanh toán, bộ phận tâm lý chiến của Mossad lại cho gởi vòng hoa và thiệp chia buồn với những hàng chữ “Xin nhắc nhở rằng, chúng tôi không quên và cũng không tha thứ”. Sau khi đưa nạn nhân về địa ngục, lại cho đăng phân ưu trên những tờ báo Á Rập, phát hành khắp cả Trung Đông.

Phương pháp hành động của Mossad là ném đá dấu tay, quyết không để lại một dấu vết nào, một chứng cớ nào, sau khi thi hành lệnh hành quyết.

Cộng đồng tình báo Do Thái có 3 cơ quan chính là : Tình báo quốc nội(Shin Bet), Tình báo Quân đội (Aman) và tình báo hải ngoại là Mossad. Mossad có nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo, chống khủng bố, tiến hành các chiến dịch bí mật, như các hoạt động bán du kích. Mossad được thành lập ngày 13-12-1949, đến tháng 3 năm 1951, tái tổ chức, trực thuộc văn phòng Thủ tướng. Báo cáo trực tiếp với Thủ tướng. Nhân viên hiện tại có khoảng 1,200.

2*. Lý do sắt máu
Người Do Thái, sau khi bị diệt chủng 6 triệu người trong những trại tập trung của Đức Quốc Xã, và kể từ khi thành lập quốc gia, từng ngày, từng giờ, phải đối diện với cơn ác mộng bị xoá tên trên bản đồ thế giới, bởi khối Á Rập khổng lồ bao quanh.

Mọi người Do Thái, nam cũng như nữ, mỗi người là một tay súng, vừa học hành, vừa làm việc mà sẵn sàng chiến đấu để được sống còn, bảo vệ quốc gia, dân tộc. Những người chưa bị mất nước, chưa bị diệt chủng, chưa bị kẻ thù hăm doạ, có lẻ không hiểu nổi tâm tình của người dân đối với quốc gia, dân tộc, cũng như đối với kẻ thù, như người Do Thái cả.

Cái lợi thế của Mossad trong việc đào tạo một điệp viên, sẽ không khó gì khi rèn luyện một người nói tiếng Đức thành thạo, thao tác đúng với một sĩ quan Quốc Xã. Cũng không thiếu gì những người Viễn Đông, người Nga thật sự, hay một người thành thạo tiếng lóng của Hoa Kỳ, bởi vì trước kia, người Do Thái sống rải rác khắp nơi trên thế giới.

Mối lo ngại hiện nay của Do Thái là chương trình sản xuất vũ khí nguyên tử của Iran, một quốc gia Hồi giáo, chủ trương xoá tên Do Thái trên bản đồ thế giới.

3*. Do Thái tấn công chương trình hạt nhân của Iran
Cựu Giám đốc tình báo Mossad, Meir Dagan, không đồng ý một cuộc chiến tranh quân sự với Iran, ông cho rằng như thế không ngăn chặn được chương trình sản xuất vũ khí nguyên tử của nước nầy, trái lại, nó có thể dẫn đến thảm họa của một xung đột lớn trong vùng, kéo cả người Á Rập Hồi giáo như tổ chức Hamas, Hezbollah, và có thể cả Syria vào nữa.

Meir Dagan ủng hộ bất cứ giải pháp nào có thể ngăn chặn chương trình hạt nhân mà không phát động chiến tranh quân sự với Iran.

Trong 8 năm giữ vai trò lãnh đạo Mossad, Meir Dagan đã tạo ra một thứ vũ khí thần kỳ, tuy không nói tên, nhưng rất nhiều người biết, đó là những cuộc tấn công chương trình hạt nhân Iran bằng một loạt sâu máy tính có tên Stuxnet.

- 3.1. Virus Stuxnet
Điểm đặc biệt của virus Stuxnet là có thể xâm nhập vào máy tính an ninh cao, mà không cần phải nối kết vào Internet, một điều tưởng chừng như không có thể làm được.

Từ tháng 6 năm 2010, Stuxnet đã tấn công, và phát ra lịnh tự hủy, đối với hệ thống máy tính thuộc cơ sở hạt nhân Natanz của Iran, nơi mà các khoa học gia đang điều khiển các máy ly tâm, làm giàu chất Uranium. Do Thái là nước tạo ra thứ vũ khí ảo, phi thường nầy.

- 3.2. Lần theo dấu vết để tìm ra virus Stuxnet
Symantec là một công ty an ninh mạng, có chi nhánh đặt tại Tel Aviv, Do Thái. Người đứng đầu chi nhánh Symantec là Sam Angel cho biết : “Stuxnet là một cuộc tấn công tinh vi mà tôi chưa từng thấy, đã tấn công vào một công nghệ lâu đời, và đặc biệt là không nối kết với Internet. Đó là một việc hiếm có. Các nước hứng chịu cuộc tấn công nầy là Iran, Indonesia, Malaysia và Belarus”.

Ngày 17-6-2010, Ulasen, một chuyên viên của công ty an ninh mạng, có tên là VirusBlokAda, tại Minsk, nhận được một Email của công ty Iran, phàn nàn rằng, những máy tính của họ liên tục bị tắc, rồi lại tự khởi động. Ulasen và một chuyên viên khác phải mất một tuần lễ để kiểm tra, thì mới phát hiện ra Stuxnet. Ulasen bèn thông báo cho các công ty an ninh mạng, trong đó có Symantec.

Một kỹ sư tại Symantec đã phát hiện ra 2 máy tính chỉ huy cuộc tấn công nầy. Một trong những máy chủ(Server) ở Malaysia và một server khác thì ở Đan Mạch.

Cả 2 máy chủ nầy đều được truy cập vào được bằng địa chỉ www.todaysfutbol.com và địa chỉ www.mypremierfutbol.com. Hai địa chỉ nầy được đăng ký dưới cái tên giả, bằng thẻ tín dụng giả, qua một công ty đăng ký Internet lớn nhất thế giới, có trụ sở ở Arizona, Hoa Kỳ.

Symantec đã liên lạc, ra và vào, tại 2 máy chủ nầy để theo dõi hoạt động của Stuxnet.

Theo phân tích, Stuxnet đã lây nhiễm khoảng 100,000 máy computer trên thế giới, trong đó, có hơn 60,000 ở Iran, hơn 10,000 ở Indonesia và 5,000 ở Ấn Độ.

Tại Natanz, các máy ly tâm được bảo vệ an ninh quân sự. Các máy ly tâm cao 1.8m, đường kính 10cm được đặt bên trong những boongke. Điều khiển hệ thống máy ly tâm nầy là hệ thống điều hành Siemens do Đức chế tạo, chạy với Microsoft Windows.

3. 3. Các lỗ hổng an ninh trong Windows
Stuxnet lợi dụng các lỗ hổng trong Windows để tác động vào hệ thống. Virus vào các máy tính qua các ổ USB. Ngay khi ổ nầy được nối kết với một máy tính khác trong hệ thống, thì việc cài đặt virus xảy ra âm thầm.

Trước hết, Stuxnet tìm kiếm các chương trình diệt virus trong máy, để phá hỏng hoặc gỡ bỏ các chương trình đó.

Bước thứ hai, Stuxnet trú ẩn trong một phần của hệ quản lý và điều hành USB đó, và thiết lập một đặc số kiểm tra, mục đích để làm gì thì các chuyên viên chưa biết rõ được.

Việc lây nhiễm sẽ dừng lại khi tổng số kiểm tra đạt đến con số 19790509. Symantec suy đoán con số nầy là một mã số nào đó, khi đọc ngược lại, thì con số biểu thị ngày 09-05-1979, đó là ngày mà một thương gia Do Thái tên Habib Elghanian, bị Iran xử tử.

Con số nầy có phải là sự việc trùng hợp hay không ? Hay là một kế điệu hổ ly sơn, nhằm đánh lạc hướng ?

Theo thuật ngữ chuyên môn, thì trong hệ điều hành (Operating System) của Windows có những lỗ hổng an ninh, gọi là lỗ hổng “Zero-day”, là những lỗ hổng mà chưa có “bản vá”. Ngoài chợ đen, lỗ hổng thông thường giá 100,000USD bán cho những tin tặc(Hacker).

Stuxnet đã khai thác ít nhất 4 lỗ hổng an ninh của Windows. Đối với Do Thái, việc tìm ra những lỗ hổng như thế, thì ngoài khả năng của họ.

Vậy, làm thế nào mà Mossad có được những thông tin về công nghệ vi tính Siemens đang được xử dụng tại trung tâm Natanz của Iran?

Có những đồn đoán cho rằng Hoa Kỳ đã giúp Do Thái trong việc nầy, bởi vì, có một viện nghiên cứu của chính phủ Hoa Kỳ ở Idaho, nơi đó các khoa học gia nghiên cứu công nghệ điều khiển vi tính Siemens, đang được xử dụng ở Natanz.

Ngày 15-1-2011, tờ New York Times cho biết, Do Thái đã thử nghiệm có hiệu quả, là virus Stuxnet đã làm ngừng quay khoảng 1,000 máy ly tâm của Iran trong tháng 11 năm 2010, thật sự đã làm chậm lại sự phát triển chương trình hạt nhân của Iran.

Hai nhiệm vụ chính của sâu máy tính Stuxnet là, tấn công làm mất quyền điều khiển của các máy ly tâm, và bí mật ghi lại hoạt động của các nhà máy điện hạt nhân. Hệ thống điều khiển máy ly tâm của Iran do hãng Siemens của Đức chế tạo.

Ngày 19-10-2011, tờ New York Times cho biết, các nhà nghiên cứu phát hiện một loại virus mới tên là Duqu, có ý đồ đánh cắp những thông tin cần thiết, để thực hiện một cuộc tấn công kế tiếp, nhưng mục đích hoàn toàn khác với virus Stuxnet.

4. Chiến dịch ám sát các khoa học gia nguyên tử Iran

- 4.1. Đánh bom giết chết nhà khoa học Mostafa Ahmed-Roshan
Ngày 11-1-2012, vào buổi sáng, một người đi xe moto đã gắn một quả bom nam châm vào chiếc xe Peugeot 405, chiếc xe phát nổ, làm chết tại chỗ nhà khoa học hạt nhân Mostafa Ahmed-Roshan, 2 người khác trong xe là vợ và con gái bị thương nặng. Tài xế chết sau đó tại bịnh viện.

Ahmed-Roshan, 32 tuổi, cũng là Giáo sư trường DF9 Đại học Allameh Tabatabai, hiện là Phó Giám đốc trung tâm Natanz, là nơi làm giàu chất Uranium. Natanz một cơ sở rất quan trọng đối với ngành công nghiệp hạt nhân của Iran.

Trung tâm Natanz hiện có 8,000 máy ly tâm làm giàu Uranium, mỗi máy cao 1.8m, đường kính 10cm.

Sau cái chết của Roshan, chính quyền Iran khẳng định Hoa Kỳ và Do Thái đứng sau hành động giết người nầy.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton tuyên bố : “Tôi khẳng định rằng, Hoa Kỳ không can dự vào bất cứ hành động khủng bố nào trong nước Iran cả”.

Thủ tướng Do Thái, Shimon Peres cho biết : “Theo hiểu biết của tôi, thì Do Thái không can dự vào việc tấn công nầy”.

Hiện trường vụ ám sát chuyên gia hạt nhân Mostafa Ahmadi-Roshan. Quan tài được dân chúng khiêng đi

Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Do Thái phát biểu : “Tôi không biết ai ra tay đối với nhà khoa học Iran nầy, nhưng chắc chắn là tôi không có một giọt nước mắt nào cả”.

Thế nhưng trên trang Blog của mình, ông Richard Silverstein, một chuyên viên phụ trách về các vấn đề an ninh Iran, viết như sau : “Theo nguồn tin đáng tin cậy của tôi, thì Mossad và tổ chức MEK đã thực hiện cuộc tấn công giết người nầy”. MEK (viết tắt từ một tên khác là Mojahedin-e-Khalq Organization) một tổ chức chống chính quyền Iran, được gọi là Thánh Chiến Nhân dân (People’s Mujahideen).

- 4.2. Cái chết của nhà khoa học Darioush Rezaeinejad
Ngày 23-7-2011, khoa học gia hạt nhân Iran, Darioush Rezaeinejad, 45 tuổi, bị bắn chết trong khi ông ta và vợ, đậu xe chờ rước đứa con ở trường mẫu giáo. Hung thủ đi xe mô tô đã vọt mất liền sau đó.

Cũng như thường lệ, chính quyền Iran cáo buộc Do Thái và Hoa Kỳ đứng sau vụ ám sát đó.

- 4.3. Tình báo Mossad và phiến quân MEK đứng sau các vụ ám sát ở Iran
Ngày 10-2-2012, lần đầu tiên các quan chức Hoa Kỳ xác nhận, những vụ tấn công ám sát các nhà khoa học hạt nhân Iran, là do nhóm phiến quân MEK thực hiện. Nhóm nầy được tình báo Mossad tài trợ, huấn luyện và trang bị vũ khí.

Kể từ năm 2007 đến nay, có ít nhất là 5 khoa học gia hạt nhân Iran bị ám sát dưới nhiều hình thức.

Chính quyền Obama biết rõ chiến dịch nầy, nhưng khẳng định không nhúng tay vào. Ngoài các vụ ám sát, Mossad và MEK cũng liên quan đến một vụ nổ long trời lở đất vào ngày 12-11-2011, phá hủy trung tâm nghiên cứu phát triển hỏa tiễn ở Bin Kaneh, làm thiệt mạng Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trung tâm, và hơn 10 khoa học gia khác. Iran bị một cú thiệt hại quá nặng nề.

- 4.4. Lời thú tội của một thành viên MEK Majid Jamali Fashi

“Tôi tên là Majid Jamali Fashi. Cách đây 3 năm, tôi tiếp xúc lần đầu tiên với Mossad tại Istanbul, Thổ Nhỉ Kỳ. Tôi được yêu cầu cung cấp tin tức về một số nơi ở Tehran. Tôi đã viết ra 30 trang, và đến giao cho toà lãnh sự Do Thái ở Istanbul. Sau đó, tôi được huấn luyện ám sát, tập dượt bắn súng, chạy trốn, dùng quần áo và mỹ phẩm để hoá trang. Trở về Tehran, tôi được cấp bom, súng đạn, 2 điện thoại vệ tinh và một chiếc Honda 125 phân khối.

Ngày 12-2-2010, qua 2 chiếc điện thoại, tôi nhận lịnh đánh bom giết khoa học gia Ali Mohammadi. Tôi dựng chiếc Honda có gắn bom, sát bên cạnh chiếc xe của Ali Mohammadi. Khi ông từ trong nhà ra đến chiếc xe, thì tôi dùng remote control kích nổ. Tôi được thưởng trước 120,000 USD”.

Thanh niên tên Majid Jamali Fasha bị kết án tử hình ở Iran.

5*. Iran bại trận trong cuộc chiến gián điệp với Hoa Kỳ
Kể từ năm 2005, cơ quan phản gián Iran Oghab-2, đã có nhiệm vụ bảo vệ bí mật tất cả những hoạt động có liên quan đến chương trình hạt nhân của nước nầy, bao gồm tên tuổi các nhà khoa học, các cơ sở, kế hoạch chương trình… Thế nhưng Oghab-2 đã thất bại trong nhiệm vụ.

Thiếu tướng Ali Reza Asgari

– Tháng 3 năm 2007, Thiếu tướng Ali Reza Asgari, Thứ trưởng quốc phòng, lãnh tụ Vệ binh Cách mạng, đã đào thoát sang tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Đó là, trong chuyến công tác đến Damascus, Syria, ông để vợ ở lại đó, rồi thuê xe chạy đến biên giới, đưa hối lộ 1,500USD cho biên phòng để vào Istanbul, Thổ Nhỉ Kỳ, vào ngày 7-2-2007, mà không cần giấy thông hành. Báo cáo cho biết, đã có 2 người đặt phòng cho ông để ở 3 đêm tại khách sạn Ceylan Hotel, Thổ Nhỉ Kỳ. Đến ngày 9-2 thì ông biến mất. Tờ Sunday Times cho biết, Tướng Asgari là một kho tàng quý báu của tình báo Hoa Kỳ. Iran cho rằng Asgari bị bắt cóc và bị giết, họ đã khai tử ông. Hoa Kỳ cũng thừa cơ hội đó, khai sanh cho Asgari, với cái tên và lý lịch khác.

– Cũng trong năm 2007, khoa học gia nguyên tử Ardeshir Hassanpour, bị chết một cách bí ẩn mà không tìm ra thủ phạm.

– Kế đến, Tổng thống Obama công khai tuyên bố, một cơ sở bí mật về hạt nhân của Iran ở Fordo. Thế là bí mật của Iran, đã bật mí trước công luận.

– Hoa Kỳ còn biết được biện pháp bảo vệ bí mật, là Iran đã chuyển 75% chương trình làm giàu Uranium ở cấp thấp (Low Enriched Uranium-LEU)sang Nga, rồi sau đó đưa sang Pháp để chuyển đổi thành năng lượng hạt nhân.

Như vậy, xem như Iran bị thảm bại trên mặt trận gián điệp với Do Thái và Hoa Kỳ, về chương trình hạt nhân.

6*. Mossad đuổi tận diệt tuyệt thủ phạm vụ thảm sát Munich 1972

- 6.1. Cuộc thảm sát ở Munich năm 1972
Cuộc thảm sát xảy ra trong thời gian diễn ra Thế Vận Hội Mùa Hè năm 1972 ở Munich, Tây Đức. Khi các lực sĩ Do Thái bị tấn công bởi Tổ Chức Tháng Chín Đen (Black September Organization-BSO), một nhóm vũ trang thuộc tổ chức Fatah của Yasser Arafat. Kết quả, 11 lực sĩ Do Thái bị giết.

Ngày 5-9-1972, lúc 4g 30 sáng, 5 tên khủng bố Palestine trùm mặt nạ đen, bước qua hàng rào dây xích, xâm nhập vào Làng Thế Vận. Nhiều người trông thấy nhưng họ cho đó là việc bình thường, vì nhiều lực sĩ ra vào theo cách đó. Vũ khí được dấu trong các túi lực sĩ. 3 người bên trong đến nhập bọn. Họ dùng chìa khoá đánh cắp được, xâm nhập vào 2 phòng của các lực sĩ Do Thái.

Trọng tài môn đô vật Do Thái, Yossef Gutfreund, nghe tiếng động ngoài cửa bèn bước ra xem. Trước mặt ông là một người trùm mặt nạ đen, tay cầm súng, ông la lớn “Anh kia ! Ra khỏi đây ngay !”, miệng la tay vớ cặp tạ nặng 135kg ném về phía tên khủng bố. Thấy có động, trưởng đoàn lực sĩ Do Thái Tuvia Sokolovsky, lực sĩ chạy bộ Shaul Ladany, 4 lực sĩ khác và 2 bác sĩ nỗ lực chạy trốn, nhưng tất cả bị khống chế bởi những họng súng của những tên Palestine.

Trên đường di chuyển từ phòng nầy qua phòng khác, lực sĩ đô vật Moshe Weinberg đánh bất tĩnh và đâm chết một tên, trước khi bị bắn chết. Đồng thời, lực sĩ cử tạ Yossef Romano, 31 tuổi, tấn công làm bị thương một tên khác trước khi bị bắn chết. Cuối cùng, những tên khủng bố đã chế ngự được 9 lực sĩ Do Thái và bắt làm con tin.

Đến 9giờ 30 sáng, nhóm khủng bố tự nhận là thành viên của Tổ chức Tháng Chín Đen và đưa ra những yêu sách để trao đổi con tin :

– Nhà nước Do Thái phải thả 234 tù nhân người Palestine.

– Chính phủ Đức phải cung cấp phương tiện và bảo đảm an toàn để họ rời Tây Đức.

Sau những giờ thương lượng căng thẳng, nhóm khủng bố chấp nhận một kế hoạch :

– Nhóm khủng bố được trực thăng đưa đến phi trường nằm trong căn cứ NATO ở Firstenfeldbruck, ở đó, một phi cơ sẽ đưa họ đến Cairo, thủ đô Ai Cập.

– Những con tin Do Thái sẽ được xe bus đưa đến 2 chiếc trực thăng, để đến căn cứ NATO.

Trong khi di chuyển, an ninh Tây Đức mới phát giác ra là, đã có 8 tên khủng bố, chớ không phải 5 tên mà theo kế hoạch, các tay súng bắn tỉa phải triệt hạ tại phi trường. Như vậy, 3 tên nầy không phải là mục tiêu triệt hạ, đó là đầu mối gây ra cuộc thảm sát.

Lúc 10giờ tối, tại căn cứ NATO, các xạ thủ bắn tỉa đã hạ 5 tên khủng bố theo kế hoạch.

Lúc 11giờ tối, khi nghe tin 5 tên khủng bố bị bắn hạ, các cơ quan truyền thông loan tin nhầm lẫn, là các con tin Do Thái đã được cứu thoát.

Khoảng 1 giờ sau, 3 tên khủng bố còn lại dùng lựu đạn cho nổ một chiếc trực thăng, 9 lực sĩ ở chiếc trực thăng còn lại, bị lôi ra bắn chết từng người.

3 giờ sáng, phóng viên Thế Vận Hội của đài ABC, Jim McKay, mắt ứa lệ, tuyên bố “Họ chết tất cả rồi”.

3 tên khủng bố còn lại bị bắt giữ, thế nhưng sự việc chưa kết thúc. Đó là ngày 29-10-1972, một nhóm Palestine lại cướp chiếc phi cơ của hảng hàng không Đức, Lufthansa, và đòi chính phủ Đức phải thả 3 tên khủng bố. Đức thả 3 người trước sự giận dữ của người Do Thái.

- 6.2. Chiến dịch Cơn Thịnh Nộ Của Thượng Đế (Operation Wrath of God)
Sau vụ 11 lực sĩ Do Thái bị giết, nữ Thủ tướng Golda Meir ra lịnh cho Mossad truy lùng và lập Danh Sách Tìm Diệt, để tiêu diệt tất cả những người trực tiếp, hay gián tiếp liên hệ đến vụ thảm sát, không chừa một móng nào cả.

Tướng Aharon Yariv, cố vấn của thủ tướng về chống khủng bố, cùng với Bộ trưởng Quốc phòng Moshe Dayan(Tướng Độc Nhản), và Giám đốc Mossad là Zvi Zamir, thành lập Chiến dịch Cơn Thịnh Nộ Của Thượng Đế(Operation Wrath of God) để tiêu diệt tất cả các thủ phạm.

1). Chiến dịch Biệt đội Lưỡi Lê (Operation Bayonet)
Biệt đội Lưỡi Lê có nhiệm vụ truy tìm và lập danh sách để triệt hạ tất cả những người có liên hệ đến vụ thảm sát Munich 1972.

Công việc đầu tiên là lập Danh Sách Tìm Diệt. Với sự trợ giúp của những người Palestine, nằm vùng trong Tổ Chức Giải Phóng Palestine (Palestine Liberation Organization-PLO) nằm vùng, làm việc cho Mossad, và các tổ chức gián điệp đồng minh. Một danh sách được xem như sổ đoạn trường được thành lập.

2). Các thủ phạm đền tội
- Thủ phạm đầu tiên là Abdel Wael Zwaiter, đại diện cho PLO ở Ý.

Ngày 16-10-1972, hai nhân viên Biệt đội Lưỡi Lê, phục kích tại nhà riêng của Zwaiter, đã nã 11 phát súng vào thành viên Tháng Chín Đen nầy. Mỗi phát đạn là để báo thù cho một lực sĩ, trong 11 người bị sát hại ở Olympic Munich 1972.

- Thủ phạm thứ hai đền tội. Tiến sĩ Mahmoud Hamshari, đại diện Palestine ở Paris, lãnh tụ Tháng Chín Đen ở Pháp.

Ngày 8-12-1972, một điệp viên Mossad giả danh là một nhà báo gọi điện thoại về nhà riêng của đương sự, khi Hamshari nhấc máy lên, chưa kịp nói Allo thì nổ tung, đầu nát như tương, do một quả bom cài trước được kích hoạt.

- Vụ thanh toán thứ ba xảy ra ở London. Một thành viên Palestine có tên trong danh sách tìm diệt, đã bị ai đó đứng sau lưng, xô anh ta xuống đường rầy xe điện, chưa kịp ngừng ở trạm chính trong giờ cao điểm, hành khách đông đảo đang đứng chờ để lên xe.

- Vụ ám sát thứ tư : Đêm 24-1-1973, Hussein al-Bashir, người Jordan, lãnh tụ Tháng Chín Đen ở Cyprus, (đảo Síp), khi vói tay tắt ngọn đèn ngủ, thì quả bom cài sẵn dưới giường phát nổ, làm banh xác anh ta, và phá hỏng cả căn phòng trong khách sạn Nicosca, Cyprus. Thủ phạm không để lại dấu vết nào cả, và đương nhiên là Do Thái phủ nhận việc ám sát đó.

Sau những vụ ám sát, người Palestine đề phòng và bảo vệ cẩn mật hơn, nên Mossad thay đổi chiến thuật. Thế là Chiến Dịch Mùa Xuân của Tuổi Trẻ(Operation Spring of Youth) ra đời.

Chiến dịch Mùa Xuân của Tuổi Trẻ, cũng nằm trong chiến dịch lớn là Cơn Thịnh Nộ của Thượng Đế.

Mục tiêu là 3 thành viên cấp cao của Tháng Chín Đen, sống trong một toà nhà 6 tầng, được canh gác chặt chẽ ở thủ đô Beirut của Li Băng.

Đêm 9-4-1973, 3 lính cảm tử Do Thái là Sayeret Matkal, Shayetet 13 và Tzanhanim, từ một chiến hạm trang bị hoả tiễn đậu ngoài khơi bờ biển Li Băng, 3 cảm tử dùng thuyền cao su vào bờ. Trên bờ, đã có những điệp viên Mossad chờ sẵn, với những chiếc xe đã thuê ngày hôm trước. Tất cả được chở vào thủ đô Beirut. Những lính cảm tử mặc thường phục và cũng có người hoá trang, giả làm phụ nữ.

Ở Beirut, điệp viên Mossad và lính cảm tử, tấn công vào toà nhà 6 tầng để đưa 3 thành viên cao cấp Palestine đi đầu thai, đó là Muhammad Youssef al-Najjar và vợ, Kamal Adwan và Kamal Nasser.

Quân Do Thái gặp sự kháng cự mãnh liệt, nhưng họ cũng hoàn thành nhiệm vụ, và còn phá hủy một trạm xăng, và một cơ sở sản xuất vũ khí của địch. Trong trận đụng độ, 2 cảnh sát Li Băng, 1 công dân Ý và khoảng 10 người Palestine bị thiệt mạng. Phía Do Thái có 2 người hy sinh, những người khác rút lui an toàn.

Ngày 11-4-1973, một thành viên Tháng Chín Đen, trên đường đến Cyprus để thay thế Hussein al-Bashir, đã bị ám sát trước đó, anh ta bị giết bởi một quả bom được cài trong phòng một khách sạn ở Athens, Hy Lạp.

Kể từ 28-6-1973 đến 21-10-1986, đã có 10 thành viên Tháng Chín Đen có tên trong sổ đoạn trường, bị triệt hạ bởi lệnh hành quyết của Chiến Dịch Cơn Thịnh Nộ của Thượng Đế.

- 6.3. Cuộc săn lùng gay go tên Hoàng Tử Đỏ Ali Hassan Salameh
 Hassan Salameh (1940 – 22-1-1979) là một trong những người điều khiển cuộc bắt cóc các lực sĩ Do Thái ở Munich năm 1972. Bí danh là Abu Hassan.

1) Những thất bại trong vụ hạ sát Salameh
Sau một năm truy lùng, Mossad nhận được tin Salameh đang sống tại một thị trấn nhỏ tên Lillehammer của Na Uy.

Ngày 21-7-1973, toán ám sát Mossad đã bắn chết Ahmed Bouchiki, một người Ma Rốc làm bồi bàn, không có liên hệ gì tới vụ thảm sát, và với Tháng Chín Đen cả. Sự giết lầm người là do điềm chỉ viên nhận diện sai, và 6 nhân viên Mossad bị Na Uy bắt giữ, riêng người chỉ huy tên Michael Harari, đã tìm cách trốn thoát, 5 người còn lại bị tống giam về tội giết người. Và đến năm 1975 mới được thả về Do Thái.

Vụ Mossad giết lầm người làm cho thế giới phẩn nộ, và lên án Do Thái, nên thủ tướng Golda Meir ra lịnh hủy bỏ chiến dịch Wrath of God, tuy nhiên, Mossad vẫn tiếp tục truy lùng Salameh.

Vào tháng 1 năm 1974, được tin Salameh sẽ đến Thụy Sĩ để gặp thủ lãnh Yasser Arafat của PLO, tại một nhà thờ vào ngày 12-1-1974. Gián điệp Mossad triển khai phương án đến Thụy Sĩ. Hai sát thủ Mossad đột nhập vào nhà thờ, trong lúc 3 người Á Rập đang hội họp. Một tên Á Rập rút súng nhưng tức khắc bị bắn hạ tất cả. Lục soát nhà thờ, không thấy Salameh đâu cả, nên toán Mossad liền tẩu thoát.

Một lần nữa, gián điệp Do Thái lại thất bại trong việc tìm giết thủ phạm Ali Hassan Salameh.

Sau đó không lâu, 3 điệp viên Mossad bay đến Luân Đôn, Anh quốc, để gặp một “người đưa tin”, hứa sẽ cung cấp tin tức về Salameh, nhưng người đưa tin không đến, thế là các sát thủ Do Thái biết rằng họ đã bị lộ. Tình cờ, một thiếu nữ tuyệt sắc, khêu gợi, đã quyến rũ được một trong 3 điệp viên Mossad đến khách sạn Europa với cô, và thình lình anh ta bị bắn hạ tại phòng ngủ của khách sạn. Nguồn tin địa phương cho biết, đó là một nữ sát thủ chuyên nghiệp, giết mướn độc lập. Họ không tìm ra manh mối của người đã thuê nữ sát thủ đã giết đồng đội. Nhưng sau đó, thiếu nữ bị giết chết gần nhà của cô.

Toán Mossad nầy bị kỷ luật, vì không tuân lịnh ngừng chiến dịch, và hành động ngoài mục đích.

Lại thêm một lần thất bại nữa.

Mãi đến 5 năm sau, dưới thời thủ tướng Menachem Begin của Do Thái, chiến dịch tìm diệt Ali Hassan Salameh lại tiếp tục.

Thật ra, Salameh đã được CIA xử dụng như là người liên lạc giữa Hoa Kỳ và Tổ Chức Giải Phóng Palestine(PLO), nên được CIA bảo vệ từ năm 1970 cho đến ngày chết, 22-1-1979.

Ali Hassan Salameh thuộc gia đình giàu có, nhiều quyền lực, xài tiền rộng rãi về gái đẹp và chơi xe hơi thể thao đắt tiền, được gọi là Hoàng Tử Đỏ (Red Prince).

Salameh cưới vợ, vốn là một hoa hậu hoàn vũ của năm 1971. Đi hưởng tuần trăng mật ở Hawaii, rồi đến sống tại khu Disneyland, California.

Đến tháng 8 năm 1978, khi vợ có thai, Salameh trở về Beirut, Li Băng.

2) Mỹ nhân kế với cái bẫy trên giường
Mossad phải mất 6 năm mới tìm ra được tung tích của một, trong những tên đầu xỏ của vụ thảm sát Olympic Munich 1972. Thế là nữ điệp viên Penelope được cử tham gia công tác. Nữ điệp viên Do Thái được tuyển chọn rất kỹ, có thể nói là “người giỏi nhất trong vạn người”.

Các nữ đặc vụ phải thông thạo tiếng Anh, tiếng Á Rập, và các thứ tiếng Âu châu. Phải trải qua những giai đoạn huấn luyện đầy gian khổ, phải nhuần nhuyễn kỹ năng gián điệp, như theo dõi, chống và cắt bám đuôi, ăn trộm tài liệu, nghe lén, xử dụng các loại vũ khí, biết lái các loại xe, đội lốt, giả dạng, nằm vùng… và hơn thế nữa, phải rất xinh đẹp và có khả năng kéo kẻ thù lên giường.

Penelope là biệt danh của thiếu nữ tên Erika Mary Chambers, sinh ngày 6-7-1952, tại thành phố Liverpool, Anh quốc. Tốt nghiệp đại học năm 1974.

Penelope đến Beirut với thông hành mang quốc tịch Anh, lý lịch tốt nghiệp đại học Southampton, làm việc cho một tổ chức từ thiện, có trụ sở tại Luân Đôn, đến công tác giúp đở những trẻ em trong trại tỵ nạn của người Palestine, nơi mà Ali Hassan Salameh thường đến ủy lạo và giúp đỡ trẻ em trong trại.

Penelope lân la làm quen với Salameh. Và điều cuối cùng đã đến. Mặc dù đã có vợ là hoa hậu hoàn vũ, nhưng vốn hảo ngọt, nên Salameh đã bập Penelope. Cũng có vài lần đang vui vẻ mặn nồng với nhau, Penelope định ra tay, nhưng không thành. Sau một thời gian khắng khít, Penelope nắm được thói quen của kẻ thù, đó là thói quen thường hay đến thăm bà già vợ vào những chiều thứ bảy.

Vào lúc 3giờ 35 chiều ngày 22-1-1979, đoàn xe 2 chiếc Chevrolet wagon trên đó có Salameh và 4 cận vệ, trên đường đến dự tiệc sinh nhật mẹ vợ ở khu phố Ghobari. Khi đoàn xe vừa đến chiếc Wokswagen màu đỏ, đậu bên đường, trong xe chứa 100 kg chất nổ plastic, thì ở tầng lầu 8 của căn hộ, Penelope kích hoạt chất nổ bằng remote control. Tiếng nổ long trời lở đất làm cho 4 cận vệ chết ngay tại chỗ, Salameh bị thương nặng và chết ở bịnh viện một tháng sau đó. Tội nghiệp cho 4 người đi đường vô tôi, không có tên trong sổ đoạn trường, phải chết oan.

Penelope và 14 người của Mossad biến mất, không để lại một dấu vết nào cả. Đó là lý do để cho Mossad mạnh miệng chối leo lẻo về hành động ám sát. Đối với kẻ thù, khi đã bị đưa vào danh sách tìm diệt, thì dù cho có chạy trốn đằng trời, cũng khó thoát khỏi bàn tay của Mossad.

ADFOLF EICHMANN BỊ KẾT ÁN TỬ HÌNH
Như trường hợp của tên đồ tể Đức Quốc Xã Adfolf Eichmann, đã tham gia vào vụ tàn sát 6 triệu người Do Thái trong các trại tập trung. Sau khi Đức đầu hàng, Eichmann trốn sang Áo, rồi trở về Đức, sang Ý, và cuối cùng đến sống ở Argentina, Nam Mỹ.

Tình báo Do Thái vẫn kiên trì truy lùng suốt 10 năm, xem qua hàng trăm ngàn tài liệu, và cuối cùng phát hiện hắn sống ở Argentina với cái tên mới là Ricardo Klement. Ngày 11-5-1960 Do Thái bắt cóc đưa về Tel Aviv. Sau 14 tuần lễ xét xử, với 1,500 tài liệu, và hơn 100 nhân chứng, vài chục hồ sơ từ 16 quốc gia gởi đến. Hắn bị kết án tử hình, và bị treo cổ lúc 12 giờ đêm ngày 31-5-1962.

7*. Kết luận
Tình báo Mossad đã thực sự làm trở ngại chương trình hạt nhân của Iran, đồng thời cũng gây nhiều thiệt hại cho nước nầy.

Nổ lực làm giàu chất Uranium của Iran khiến cho Hoa Kỳ, Âu châu, và Do Thái lo ngại. Cơ quan Năng Lượng và Nguyên Tử Quốc Tế(IAEA=International Atomic Energy Agency) tuyên bố là họ đã nắm trong tay những bằng chứng, cho thấy Iran đã tiến hành những thử nghiệm liên quan đến việc phát triển một thiết bị, kích nổ hạt nhân, được xử dụng trong việc sản xuất vũ khí nguyên tử.

Do Thái đã có vũ khí hạt nhân, cho nên Iran tìm mọi cách để sản xuất loại vũ khí giết người hàng loạt nầy.

Tình báo Mossad thật sự đã làm kinh hoàng thế giới Á Rập Hồi Giáo trong khu vực. Kẻ thù, khi đã bị đưa tên vào danh sách tìm diệt, thì dù cho có cao bay, xa chạy, đến tận góc biển chân trời nào, ẩn trốn đến bao lâu, thì cũng bị thiên la địa võng của Mossad tìm đến tiêu diệt.

Trúc Giang MN
Tuổi Già Trên Đất Lạ

Nguyễn Thượng Chánh
Tác giả 78 năm cuộc đời---bóng đêm
(Photo NTC 2020)

Nói đến tuổi già thì ai mà không băn khoăn, lo nghĩ.

Già có nghĩa là ốm yếu, bệnh hoạn, xấu xí, mất năng lực, không còn hữu dụng, mất khả năng, phải trong cậy vào người khác, nghèo khó, buồn nãn, cô đơn trong căn phòng hiu quạnh ngày nầy qua ngày nọ để chờ đến lúc ra đi theo ông theo bà...

Hãy cho tôi sống trọn vẹn từng ngày một

Hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều có đề ra những chánh sách để giúp đỡ, tôn trọng và trân quý người già, nhưng đây cũng chỉ là trên lý thuyết mà thôi. Thực tế phải còn tùy thuộc vào tình trạng kinh tế và quyết tâm chánh trị của từng xứ mà thôi.

Thôi thì xin các cụ ông và cụ bà hãy tạm hài lòng với danh dự được xã hội đề tặng sự trân quý và biết ơn bằng những danh xưng rất kêu như: Lão ông, Lão bà, Cao niên, Cao tuổi, Tuổi vàng, Tuổi Hạc, Senior citizen, Golden age, Âge d’or, les Ainés , 3e Âge v,v...

Chánh phủ còn nhiều khó khăn về ngân sách, phải dành ưu tiên cho thế hệ tiếp nối, cho tuổi trẻ, cho tương lai của quốc gia, của dân tộc...

Các cụ cũng đã sống nhiều rồi, xin hãy ráng hy sinh thêm chút xíu nữa cho con cháu nhờ. Chỉ còn vài năm nữa thôi cụ nhé!

Nói chung thì cuộc sống và thân phận của người già tương đối cũng đỡ hơn ở những quốc gia Tây phương, nhưng ngược lại tại quê nhà cũng như tại những xứ nghèo khó, độc tài thì tình trạng người già còn lắm xót xa và cay đắng hơn nhiều.

Người già không còn có giá trị nào cả.
Họ là một gánh nặng cho gia đình, cho xã hội và cho quốc gia. Họ phải chịu đựng thành kiến từ những lớp người trẻ tuổi, và than ôi, trong đó có cả những người hằng ngày có nhiệm vụ chăm sóc họ như bác sĩ, y tá, y công, nhân viên xã hội và cả con cháu, hoặc thân nhân ruột thịt trong gia đình.

Trong y khoa, lão y (gériatrie) chỉ mới được nhìn nhận như một chuyên ngành tại Quebec từ gần đây mà thôi, nghĩa là từ giữa những năm 80. Tuy nhiên, giới sinh viên trẻ tuổi không mấy mặn mà với lãnh vực quá phức tạp nầy vì nó đòi hỏi ở người thầy thuốc phải có một tinh thần vững chắc, một thể lực cao và nhứt là một tấm lòng biết thương người vô bờ bến.

Ông Phó thủ tướng, đồng thời là Tổng trưởng tài chánh Nhật Bản Taro Aso (72 t), tuyên bố một câu xanh dờn: “Mấy cụ già mau mau chết đi, sống thọ làm chi tốn tiền vô ích quá”!
Không làm gì hết là niềm hạnh phúc của trẻ con nhưng là điều bất hạnh cho tuổi già (Photo Internet)

Ở đâu cũng vậy, muốn sống như ý, sống dễ chịu thì phải có tiền để mướn người săn sóc đặc biệt. Tóm lại là phải có tiền. Còn không thì ai cũng như ai mà thôi.

Tại Québec,Canada, tình trạng lão hóa là nột hiện thực của xã hội. Hiên nay, số người trên 65 tuổi chiếm 14% dân số. Tuổi 65 là tuổi chánh thức để được xếp vào nhóm người già tại Canada và đuợc hưởng tiền già và các phúc lợi về y tế và xã hội.

Nhà già và nhà nuôi dưỡng dài hạn là những nơi an cư cuối cùng của người cao tuổi. Công có, tư có.

Chăm sóc và services tùy theo điều kiện cũng như khả năng tài chánh của mỗi cụ.

Có những nơi bình dân nhưng cũng có những nhà già thuộc loại de luxe 4-5 sao. Tiền nào của nấy.

Đây là một ngành kỹ nghệ đang bùng phát lên rất nhanh.

Săn sóc người già trở thành một dịch vụ hái ra tiền.

Tại Montreal hay Toronto, các báo Việt Nam thỉnh thoảng cũng có đăng tin cung cấp dịch vụ thăm viếng, săn sóc người già tại nhà thương hoặc tại nhà. Cũng có gia đình cần người chăm sóc cha hoặc mẹ già. Thường là họ tìm phụ nữ trung niên hay sồn sồn để giúp vào công việc trên. Trả tiền mặt khỏi thuế. Có nơi họ còn bao luôn cả ăn và ở.

Có thể gọi đây là nghề săn sóc người dưng.

Công việc săn sóc người cao tuổi, bệnh hoạn, tánh tình có khi hơi đặc biệt, là một công việc không đòi hỏi trình độ học vấn cao, nhưng cực nhọc, cần sự nhẫn nại, chịu khó, không phải ai cũng làm được hết đâu.

Tại thành phố Sài Gòn hiện nay cũng thấy xuất hiện ra những dịch vụ tương tợ

Tại Quebec, cơ quan Centre local de services communautaires hay CLSC của nhà nước, nếu có yêu cầu cần sự giúp đỡ, mỗi tuần một ngày họ sẽ gởi người đến để tắm rửa và dọn dẹp căn phòng cho cụ già neo đơn.

Muốn được đầy đủ, chu đáo và như ý hơn thì nên nhờ đến các công ty tư.

Denise Dubé là một nhà tâm lý học đồng thời bà ta cũng là một giáo sư về lão học tại Quebec. Bà có cho xuất bản một quyển sách khảo cứu nhằm mục đích tô điểm lại thân phận người già tại Canada.

Tựa đề tác phẩm là : Humaniser la vieillesse, nouvelle édition Multimonde (2006).

Psychologue clinicienne auprès des adultes et des personnes âgées, DENISE DUBÉ est professeur de psychologie au Collège François-Xavier-Garneau. Elle a enseigné la psychologie gérontologique au Campus Notre-Dame-de-Foy, au Collège François-Xavier-Garneau et à l’Université Laval

Đây là một tác phẩm khảo cứu về thực trạng của vấn đề lão hóa tại Canada. Tác giả muốn nhân tính hóa hiện tượng cao tuổi. Tuổi già cũng có cái hay của nó.

Sách có kèm theo rất nhiều tham khảo chuyên môn rất giá trị. Chủ yếu nhắm vào những người có nhiệm vụ săn sóc người già.

Sau đây là một số đúc kết từ quyển Humaniser la Vieillesse.
Các bạn có biết rõ tuổi già là thế nào hay không? Page 5 à 15

(Nên nhớ đây là khảo cứu về lão học tại Canada, một xứ giàu có và có khá đầy đủ cơ chế xã hội để giúp đỡ và bảo vệ người già từ 65 tuổi trở lên (tiền già, trợ cấp y tế miễn phí, chung cư giá hạ, nhà già v,v…)

1) Đa số người già đều có dấu hiệu lão suy (sénile) và sa sút trí tuệ (démence)
Đây là một xét đoán không có cơ sở. Ngược lại, đa số các cụ không có bị xáo trộn tinh thần. Nhận xét tiêu cực trên đây có thể do sự lẫn lộn giữa tình trạng sa sút trí tuệ và tình trạng lão hóa của nhận thức bình thường (vieillissement cognitif normal).

Tại Canada 8% dân số trên 65 tuổi có dấu hiệu sa sút trí tuệ và lối 5% mắc bệnh lú lẫn Alzheimer.

2) Ngũ quan có khuynh hướng giảm theo tuổi
Các khảo cứu cho thấy ngũ quan có giảm đi khi về già. Bắt đầu là các chức năng cảm giác (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác) có vấn đề vào lứa tuổi 60.

3) Đa số người cao tuổi không còn sự ham muốn tình dục (libido) cũng như không có khả năng làm tình.
Nếu bạn cho rằng sự kiện trên là đúng thì chắc bạn nhìn nhận rằng đối với các cụ già, sex chỉ còn là những kỷ niệm êm đềm trong quá khứ (meilleur souvenir) mà thôi.

Nhưng các nhà tình dục học nổi tiếng như Masters et Johnson thì cho rằng sự ham muốn vẫn có thể còn được duy trì một cách satisfaisant(không quá tệ) ở những cập vợ chồng thuộc lứa tuổi 70 và 80.

Không thấy tác giả Masters et Johnson so sánh việc ăn cơm với ăn phở.

Riêng về phía các cụ bà, Masters et Johnson cho rằng họ không có bị giới hạn vì tuổi tác nhưng tiếc thay về phía cụ ông, sex bị chi phối bởi điều kiện thể xác và tinh thần.

Đa số các ông đều chết sớm nên các bà đành chịu thôi.

Masters, W.H Johnson. Human sexual responses. Boston Littlt; Brownand company (1966)- Human sexual Inadequacy (1970) và Humansexuality(1992) NewYork, Harper Collins.

4) Khả năng hô hấp giảm khi về già.
Thật ra hô hấp giảm dần từ tuổi 30 trở đi. Đây là dung tích volume không khí hít vào 2 lá phổi và thở ra trong 15 giây.

5) Đa số người già đều cảm thấy khổ sở
Khảo cứu cho thấy ngược lại. Tại các sứ phương Tây, người già rất thỏa mãn trong cuộc sống rất cao của họ.

6) Thể lực có khuynh hướng giảm thiểu khi về già
Thể lực giảm đi từ 10-20% đến tuổi 70. Tuy nhiên sự suy giảm thể lực có thể bị đẩy lùi lại nhờ vào những chương trình luyện tập thích nghi.

7) Tại Canada, ít nhất 15%người già sống trong các nhà già (résidence) và các nhà săn sóc dài hạn (centre de soins de longue durée, CSLD, Long term care facility)
Sai- Theo thống kê Canada, 17% dân số trên 65 tuổi nhận được sự trợ giúp tại gia. Ngoài ra 6% được chăm sóc tại các trung tâm săn sóc dài hạn.

8) Người già còn làm việc thường cho năng suất kém hơn người trẻ tuổi
Mặc dù có những suy giảm về một vài chức năng và tốc độ phản ứng có chậm đi nhưng người già cũng có thể làm việc có hiệu quả không thua gì người trẻ. Bù lại người già có tỉ lệ vắng mặt ít hơn người trẻ, ít bị tai nạn hơn và cho năng suất đều đặn hơn.

9) Lối 80% người già có sức khỏe tương đối tốt và tự lập để có thể sinh hoạt bình thường mà không cần đến sự trợ giúp của người khác

10) Người già hay giữ y thói quen của họ, rất bảo thủ và không chịu mọi sự thay đổi
Người già thường có thái độ rất ổn định, nhưng đa số vẫn chấp nhận sự thay đổi và thích nghi vào điều kiện mới: nghỉ hưu, con cái ra riêng, gáo bụa, thay đổi chổ ở, bệnh tật...

Họ vẫn có khả năng thích nghi vào mọi tình huống như giới trẻ.

11) Người già học hành chậm, đòi hỏi nhiều thời gian để thu nhận được một vấn đề mới mẻ

12) Trong thực tế, người già không thể nào có khả năng học hỏi để tiếp thu được một kiến thức mới
Sai- Khả năng thụ đắc một kiến thức mới đều có ở mọi lứa tuổi. Đối với người già họ cần phải có thời gian và điều kiện thuận tiện.

Càng ngày càng có nhiều đại học và trường cao đẳng mở những chương trình bổ túc formation continue thích nghi vào nhu cầu của lớp người già.

13) Tóc độ phản ứng ở người già thường chậm hơn so với người trẻ

14) Nói chung tất cả người già đều giống nhau
Không- Họ không giống nhau hết đâu. Khả năng trí tuệ, nhân cách, thái độ, cũng như các biến số về thể xác và xã hội đều khác biệt nhau ở người nầy so với người kia.

Sự kiện khác biệt về cá thể nêu trên đã đánh đổ ý niệm khuôn đúc cho rằng tất cả các cụ đều giống nhau hết.

15) Đa số người già ít khi buồn chán
Có khảo cứu cho thấy chỉ có 17% người già rơi vào tình trạng khó tìm được một sinh hoạt như họ mong muốn, còn lại 2/3 thì cho rằng họ không bao giở buồn chán.

16) Đa số người già đều bị tách biệt ra và họ cảm thấy rất cô đơn
Khảo cứu 1981 cho biết 13% người già thú nhận họ rất cô đơn trong cuộc sống, nhất là những người gáo bụa, những người sống trong các viện dưỡng lão. Sự cô đơn gắn liền với bênh tật ở một số các cụ, nhất là bệnh tâm thần. Sư cô đơn có một tác dụng tiêu cực đối với hệ miễn dịch và từ đó kéo theo nhiều bệnh tật.

17) Đa số các nhà chuyên môn (bác sĩ, y tá, y công, chuyên viên xã hội...) trong phạm vi nghề nghiệp thường có ý tưởng không tốt đối với người già.
Họ tin vào những khuôn đúc stéréotypes tiêu cực. Bởi lẽ nầy, họ vẫn thích làm việc, săn sóc bệnh nhân nhỏ tuổi hơn là người già cả.

18) Những người già nào còn duy trì được sinh hoạt của mình thường cảm thấy hạnh phúc hơn những ai ít còn họat động.
Khảo cứu cho biết hạnh phúc của tuổi già không dính liền với nếp sinh hoạt hay sự thiếu hoạt động, nhưng thật sự ra là nhờ tiến trình thích nghi (processus d’adaptation) của họ trong đó nhân cách (personnalité) đóng một vai trò quan trọng.

Tóm lại, có cụ cần phải hoạt động, có cụ khác thì cần sự yên tịnh và sự riêng tư để có được hạnh phúc.

19) Đa số người già vẫn còn sinh hoạt hay có ý muốn làm một công việc gì đó, chẳng hạn như làm thiện nguyện.

20) Đa số người già ít khi nổi giận bất tử.
Rất ít khảo cứu cho biết vấn đề nầy, nhưng phần đông các cụ cho biết là đôi khi họ cũng cảm thấy khó chịu (irrité)

21) Nhân cách không thay đổi lúc về già
Khảo cứu cho biết nhân cách rất ổn định trong suốt cuộc đời, nhưng cũng có khảo cứu khác cho biết cá tánh có thể thay đổi theo tuổi tác. Đó là sự gia tăng khuynh hướng nhìn vào nội tâm (augmentation de l’intériorité) nhằm tìm ra ý nghĩa của cuộc sống.

Tuy có rất nhiều khảo cứu đã giúp chúng ta hiểu được phần nào thực chất của tuổi già nhưng than ôi, trong xã hội ngày nay người già vẫn còn phải chịu lắm đắng cay, bạc đãi...

Hiện tượng lão hóa vẫn còn phải chịu đựng áp lực từ những huyền thoại (mythes) và từ những khuôn đúc tiêu cực.

Khuôn đúc tiêu cực và huyền thoại về lão hóa có thể khiến chúng ta có thái độ tiêu cực mỗi khi có dịp tiếp xúc với người già. Những thái độ tiêu cực có thể là nỗi lo sợ người già, lo sợ tuổi già (gérontophobie), đánh giá người già qua tuổi tác(âgisme) và thái độ xem nguời già như con nít(infantilisation ou bébéisme). Đây là nguyên nhân đưa đến sự kỳ thì để khước từ một dịch vụ nào đó. Thí dụ “thôi đi pa ơi, pa già quá rồi, hổng được đâu”. Sợ già cũng thường hay thấy xảy ra ở phía các bà. Đây là một cách chối từ lão hóa (page 14-15).

Khuôn đúc tiêu cực quá phổ biến trong xã hội đã khiến cho không ít cụ tin theo những ý tưởng sai lầm trên và họ dễ dàng xuôi tay chấp nhận.(page 17)

Một số huyền thoại về người già
Huyền thoại là sự sáng tạo ra một hình ảnh trong trí não mà không dựa vào một thực tế nào hết. Sau đây là một số thí dụ:

*Phần lớn người già đều bị lão suy(sénile) hay bị sa sút trí tuệ hay thác loạn tinh thần (démence)

*Đa số người già đều rất khổ sở

*Về mặt làm việc, người già không có năng suất bằng người trẻ tuổi

*Đa số người già hay bệnh hoạn và cần đến sư giúp đỡ trong đời sống hằng ngày.

*Người già thường hay giữ thói quen, rất bảo thủ khó bắt họ thay đổi được.

*Bất luận người già nào họ đều giống nhau hết

*Phần đông người già đều sống cách biệt và họ thường cảm thấy cô đơn

Các nghiên cứu về lão học (gérontologie) đã giúp sửa sai lại rất nhiều quyền thoại về người già nhờ đó mà chúng ta có thể hiểu và cảm thông với hoàn cảnh đáng thương của họ.

Sự thiếu hiểu biết về hiện tượng lão hóa không những được thể hiện qua các huyền thoại mà còn xuyên qua các khuôn đúc (stéréotypes) tiêu cực

Một số khuôn đúc về người già
Khuôn đúc là một tổng hợp những ý tưởng đã có từ trước, những sự tin tưởng hay ý kiến sai lầm, gán đại cho tất cả cá nhân của một tập thể.

Chẳng hạn như:

1) Thích giao tế, họp hành với bạn bè

2) Thích đùa giỡn, vui cười

3) Lo sợ cho tương lai

4) Thích đánh bài và các trò chơi khác

5) Thích đấu láo, kể lại chuyện đời mình ngày xửa ngày xưa

6) Thích nhờ cậy, tùy thuộc vào con cháu (nhờ cậy tiền bạc, ý kiến) , không dám tự mình quyết định lấy vấn đề.

7) Hay bị bệnh hoạn, cần uống nhiều thuốc

8) Có tật hay lải nhải, nói đi nói lại toàn chuyện cũ rích.(radoter)

9) Ít săn sóc (râu ria, tóc tai bù xù), không lo nghĩ đến bề ngoài của mình như ăn bận lôi thôi chẳng hạn.

10) Rất sùng đạo, hay cầu nguyện

11) Rất nhạy cảm, hay âu lo.

12) Không còn biết ham muốn hay quan tâm đến sex, hết xí quách

13) Quá yếu để luyện tập thể dục

14) Lợi tức kém hay nghèo quá

Tác giả Denise Dubé cho biết trong số trên có thể nhận diện thật sự được khuôn đúc trong 7 trường hợp:3, 5, 6, 7, 8, 10 và 11. Đây là những khuôn đúc tiêu cực nói lên hình ảnh bất an,yếu đuối, suy xụp, giảm chức năng, sự lệ thuộc và cảnh cách biệt, cô đơn của người già.

Những diều kiện để có được một sức khoẻ tâm thần tốt ở tuổi già
Theo Conseil consultatif national sur le troisième âge(1991), nhân cách của một cá nhân, hành động của họ và những cách để vượt ra khỏi tình trạng căng thẳng stress, tất cả đều là những yếu tố giúp ích vào sự duy trì một sức khỏe tâm thần tốt ở người già.

Bên cạnh đó cũng phải kể thêm vào các yếu tố khác như có sức khỏe, có an ninh, mối giao tiếp xã hội và gia đình, có thể tham gia vào những sinh hoạt hữu ích và có một điều kiện sinh sống ổn thỏa.

Lòng tự trọng (estime de soi), nghĩa là mình sao thì chịu như vậy cũng được xem là quan trọng để duy trì một sức khỏe tâm thần tốt. Người biết tự trọng không hạ mình xuống thái quá cũng như không phách lối, khoác lác.

Một lòng tự trọng yếu kém sẽ dẫn đến sự lo âu, nghi ngờ về khả năng của mình, do dự trong hành động và cuối cùng là rơi vào trạng thái trầm cảm.

Trầm Cảm (dépression): thưòng hay xảy ra ở người già, nhất là các cụ sống trong các viện dưỡng lão. Có nhiều khảo cứu cho rằng trầm cảm là một diển tiến bình thường của tuổi già. (Page 154).

Dưới đây là các dấu hiệu của tình trạng trầm cảm:

- Thay đổi hành vi (comportements): có vẻ chậm lại, không màn tham gia vào những sinh hoạt mà cụ thích lúc trước. Không tham gia vào các mối giao tiếp xã hội, sống ẩn dật, rút vào bóng tối.

- Thay đổi cảm xúc (émotionnels): Buồn chán cực độ, tâm hồn trống rỗng, thất vọng, mất moral, bức rức, lo âu.

- Thay đổi nhận thức (changements cognitifs): khó tập trung tư tưởng và trí nhớ, tự phê bình, tự hạ giá mình xuống, có ý tưởng quyên sinh.

- Thay đổi liên quan đến chức năng của cơ thể (physiques): mất ngủ, thức sớm, đau nhức mệt mỏi triền miên, mất năng lực énergie, mất hứng làm tình, táo bón, nhức đầu...

Theo một khảo cứu Hoa Kỳ, người tỵ nạn VN trên 55 tuổi có tỉ lệ mắc bênh tâm thần cao so với các White non hispanic tức Mỹ trắng (không phải Latino). Đối với người Việt Nam đây là một vấn đề cấm kỵ tabou, ít người muốn nói đến kể cả bệnh trầm cảm (depression).

“Many Vietnamese refugees who immigrated to the U.S. in the 1970s,’80s and ’90s suffered from depression and post-traumatic stress disorder, and they continue to have mental health issues today,” said Ngo-Metzger, medicine assistant professor according to a UC Irvine Center for Health Care Policy analysis of state data.“Despite this, little is still known about the health status of these older Vietnamese Americans.”Mental health issues rarely are talked about in the Vietnamese community, added Ngo-Metzger, who studies health disparities facing Vietnamese Americans.”

Căng thẳng tinh thần (stress) trong cuộc sống là nguyên nhân của sự suy xụp tinh thần.

Sau đây là một số khuyến cáo trích từ tài liệu quảng bá của Association canadienne pour lasanté mentale và Humaniser la vieillesse của Denise Dubé.

Làm sao tránh stress?
1) Đối mặt với nỗi lo sợ già và bệnh tật: Chấp nhận sự thật, giữ một thái độ tích cực, đi khám bác sĩ thường xuyên, cẩn thận vớc các loại thuốc đang sử dụng, nắm vững sức khỏe trong tay mình, ăn uống quân bình, uống ít rượu, bớt thuốc lá.

2) Đối mặt sự ra đi của người thân, của bạn bè: Hãy sống với tình cảm mất mát đó, đứng trước cái tang hãy nhớ lại quảng đời của người quá vãng, nên nhắc lại thường xuyên, kêu gọi đến gia đình và bạn bè người quá cố để hồi tưởng lại những kỷ niệm.Sẵn sàng giúp đỡ người khác nếu họ cần.

3) Đối mặt với nỗi niềm cô đơn: Nên giữ nếp sinh hoạt bình thường và cố tìm thêm bạn bè bất luận tuổi tác, dùng thời gian bên cạnh cháu chắt, làm thiện nguyện.

4) Đối mặt với việc nghỉ hưu: Lập danh sách những năng khiếu của mình, tái liên lạc lại với bạn bè, làm những gì mình ưa thích.

5) Tìm cho cuộc đời một ý nghĩa: Tổng kết, làm bilan những gì mình đã thực hiện được trong đời, dấn thân engagement, hãy có thái độ lạc quan, có niềm tin vào một tôn giáo.

Để có một tuổi già xứng đáng cần phải xác định ý nghĩa của cuộc đời mình. (page 174)

Ý nghĩa cuộc đời (sens de la vie) và sức khỏe tâm thần thường có hệ mật thiết với nhau.

Sự tìm ra ý nghĩa cuộc đời giúp cho người cao tuổi có một sức khỏe tâm thần tốt, một tinh thần ổn định trong lúc bị dằn vặt vì bệnh tật.

Ý nghĩa cuộc đời bắt nguồn từ lãnh vực tâm linh và tôn giáo. Các người già thường quay về quá khứ để tìm ý nghĩa cuộc sống, suy nghiệm về những giá trị mà họ đã tiêm nhiễm cũng như tìm nguồn an ủi vào đức tin và lòng tín ngưỡng.

Ngược với tuổi già, giới trẻ thường hướng về tương lai để phát họa một mục đích mới hầu cho cuộc sống của họ có được thêm phần ý nghĩa hơn.

Người già quay vào nội tâm để suy tư về cuộc đời. Họ cũng có thể tìm hiểu ý nghĩa cuộc sống qua những thành tựu của họ trong hiện tại, từ những sinh họat, từ những mối liên hệ gia đình và bạn bè. Tất cả đều có thể giúp cho họ đạt được sự mãn nguyện cá nhân.

Tuổi già chỉ là một giai đoạn trong cuộc đời mà thôi

Suy nghiệm lại ý nghĩa của đời mình trong một viễn ảnh rộng lớn,căn cứ trên những thành tựu cũng như trên những thất bại, đớn đau và hạnh phúc. Nhờ đó mà người già sẽ nhận thức được đến một mức độ nào đó về sự khôn ngoan(sagesse) của mình.

Qua việc xác định lại bản sắc identité mới của mình, người già sẽ tạo ra những mối dây liên lạc mới với mọi người đồng thời điều chỉnh lại những thang giá trị cá nhân mà họ đã có từ trước.

Tuổi già Việt Nam tại hải ngoại thì sao?
Tại hải ngoại, phần lớn người Việt tị nạn thuộc thế hệ thứ nhứt, trong đó có vợ chồng nhà gõ, nay cũng tròm trèm trên dưới 70 tuổi hết rồi.

Đối mặt với một xã hội và một nền văn hóa Tây phương tôn trọng chủ nghĩa cá nhân, hoàn toàn khác biệt với nền văn hóa Việt Nam coi trọng chữ hiếu, nhưng một số không ít bậc cha mẹ VN vẫn còn mang nếp suy nghĩ cũ, độc đoán trong cách dạy dỗ, bắt buộc con cái phải thế nầy thế nọ.

Cách suy nghĩ của lớp cha mẹ thường là nguyên nhân đưa đến những sự va chạm với lớp con cháu trưởng thành bên nầy. Sau đây là những điều thường thấy ở một số ít cha mẹ Việt Nam tại hải ngoại.

-Kiểm soát, tò mò, soi mói đời tư của con, chen vào cuộc sống tình cảm của tụi nó, kiểm soát thơ từ, bạn bè của con cái, ép buộc con cái phải học những ngành nghề mà cha mẹ muốn, quyết định thay tụi nó mà không hỏi ý kiến trước, ỷ tao đẻ mầy ra tao muốn làm gì thì làm, áo mặc sao qua khỏi đầu, muốn vô phòng con cái thì cứ tự nhiên xô cửa vô, muốn ghé nhà của chúng thì ghé đại không thèm báo trước, trách con cái sao không ghé thăm mình, không thèm gọi phone cho má, hoặc than phiền con cái sao không biết mua sắm cho pa má cái nầy cái nọ như con của người khác, có ý kiến linh tinh làm tụi nó bực mình.

Đối với các gia đình Việt Nam sống tại hải ngoại cũng còn cần phải nói đến vấn đề thiếu sự đồng cảm do khoảng cách thế hệ generation gap gây ra.

Chênh lệch về tuổi tác cộng thêm sự dị biệt giữa hai nền văn hóa Đông và Tây cũng thường là những nguyên nhân dẫn tới sự va chạm giữa cha mẹ và con cái.

Cha mẹ thì khư khư muốn ôm giữ những giá trị đạo đức của nền văn hóa Khổng Mạnh lấy chữ hiếu làm đầu. Con cái lớn lên, học hành và trưởng thành tại xứ người, hấp thụ nền văn hóa Tây phương, rất thực tiễn và coi trọng chủ nghĩa cá nhân, nên sự thông cảm giữa cha mẹ và con cái đôi lúc không thể như sự mong muốn của mọi người được.

Rồi còn phải nghĩ đến cơn khủng hoảng tuổi vị thành niên (teenage crisis) nữa. Trong giai đoạn nầy cô chiêu hay cậu ấm có thể nổi chứng lên bất tử khiến cha mẹ không biết đâu mà rờ và cũng đôi khi muốn khùng luôn theo tụi nó.

Có người đổ thừa rằng con hư là tại cha mẹ không biết dạy dỗ, cưng chiều quá mức. Đúng, nhưng vấn đề nhân sinh nầy không đơn giản như vậy mà nó còn vượt xa hơn ra ngoài phạm vi tôn giáo, và giáo dục gia đình nhiều lắm.

Gia đình nào may mắn hay “có phước” thì con cái còn nghe lời đôi chút, ngược lại thì đành cắn răng mà chịu đựng. Làm quá, thì dám mất luôn con. Bye bye...

Nghĩ cho cùng, không phải lỗi của ai hết. Chỉ do hoàn cảnh mà thôi.

Con cái không thể hiểu cha mẹ được cũng như cha mẹ không thể hiểu nổi con cái.

Cha mẹ cần nên biết con cái cũng có những nhọc nhằn, khổ tâm của chúng trong cuộc sống riêng tư.

Xã hội ngày nay nói chung đã thay đổi nhiều rồi.

Tại hải ngoại, không có cảnh nhiều gia đình thuộc nhiều thế hệ khác nhau cùng sống chung trong một nhà như chúng ta thường thấy tại Việt Nam 40-50 năm về trước.

Trong xã hội Tây phương, cha mẹ có bổn phận phải nuôi con khôn lớn nhưng ngược lại con cái không bị ràng buộc phải nuôi cha mẹ lúc về già. Đã có nhà nước và các cơ quan xã hội lo rồi.

Vậy thì cha mẹ già phải ý thức và chuẩn bị tinh thần về những gì có thể chờ đón mình trong buổi hoàng hôn của cuộc đời.

Nếu tuổi già không có giá trong gia đình Tây phương cận đại là chuyện thường tình, hiện tượng tuổi già bị mất uy quyền, mất sự kính trọng trong gia đình Việt Nam là một xúc phạm lớn, là điều mà các bậc cha mẹ VN chưa dễ dàng chấp nhận. Đây là một góc cạnh khác của thảm trạng gia đình VN "(Trích GS Lâm Văn Bé).

Già ở với ai?
Trong đầu óc chúng tôi - những hội viên của hội lão này - cụ nào cũng có một vài ba cái kinh nghiệm của bà con, của bạn bè về những vụ ở chung với con cái. Chuyện nào cũng chẳng có happy ending gì hết, mà đều là bẽ bàng, dại dột. Bố hay mẹ goá, nghe lời ngon ngọt của con - trai hay gái - bán nhà, đem tiền về gửi con, rồi ở với con với cháu cho chúng nó có thì giờ trả hiếu. Nhưng chỉ chừng vài ba tháng trăng mật, khi chúng rút hết tiền trong két nhỏ cũng như « công » lớn, chúng bèn nhắc nhở, khách ở trong nhà giống y hệt như cá như tôm, chỉ đến ngày thứ ba là ươn, là thối sình lên rồi. Thế là ông bà già tức tưởi, khăn gói quả mướp ra đi với hai bàn tay trắng theo đúng nghĩa đen cũng như nghĩa trắng. Hỏi đến tiền chúng cứ tảng lờ như không hiểu bố mẹ nói gì. Cụ nào cũng tắc lưỡi nói, vẫn biết đây là chuyện hàng xóm, con mình chả đến nỗi thế, nhưng nó ở nhà mình thì mình là chủ những nó vẫn coi là nhà của nó, nhưng mình ở nhà nó là không được, vì nhà nó là nhà nó, không phải là nhà mình, nó là chủ mà mình là người ở nhờ” (Ngưng trích Bà Ba Phải - Ở với ai?) .

Nhà già là giải pháp tất yếu của hầu hết chúng ta

Kẻ trước người sau vô đó để chờ ngày ra đi. Chạy đâu cũng không khỏi.

Tác giả Trịnh Thanh Thủy có viết bài Cơn ác mộng của người già trong viện dưỡng lão (tại Cali) nói lên một sự thật mà nhiều người cố tình không dám nghĩ tới.

Thật vậy, “Viện dưỡng lão” hay “Nursing Home” từ lâu đã là cơn ác mộng của người già, người bệnh cũng như những người mất năng lực tự vệ. Hai chữ “Nursing Home” là hai từ đánh thốc vào tim tạo nên các cơn kinh hãi của các cụ cao niên…” (Ngưng trích Trịnh Thanh Thủy)

Video: Video Nước mắt người già bên Viêt Nam

Kết Luận
Nói đến tuổi già là một vấn đề quá phức tạp và vô cùng rộng lớn.

Dù muốn dù không, trước sau gì ai cũng đều phải trải qua giai đoạn đó hết.


Tùy theo theo hoàn cảnh, tùy theo cá tánh và tùy vào đức tin tôn giáo mà mỗi người sống tuổi già của mình một cách khác nhau, bình an thanh tịnh hay không.

Cái chết không làm cho người già lo sợ, họ đã chấp nhận rồi vì không thể nào làm khác hơn được.

Họ chỉ sợ thời gian trước khi chết mà thôi. Sợ bịnh tật làm hao mòn thể xác và đau đớn tâm hồn. Sợ ỉa trây đái dầm làm mất phẩm cách. Sợ bị bạc đãi. Sợ phải trong cậy vào con vào cháu hoặc người khác trong sinh hoạt hằng ngày...

Denise Dubé, qua tác phẩm Humaniser la vieillesse có thiện ý nói lên một sự thật mà nhiều người cố tình không muốn biết. Đây có phải là một ảo tưởng, một tham vọng quá to tát chăng?

Nhưng than ôi! một cánh én không thể làm nổi một mùa xuân.

Cho dù sống ở đâu đi nữa, sự thật là người già Việt Nam vẫn còn phải chịu khổ mọi bề, nhứt là về mặt tinh thần. Vấn đề không ít người già bị con cháu ngược đãi, không kính trọng, tước mất uy quyền là những sự thật trong xã hội ngày nay mà ít người muốn bàn đến.

Ôi tuổi già là thế đó!

Montreal, 2014
Nguyễn Thượng Chánh
17 lý do tuyệt vời để ăn dưa leo

Một quả dưa leo tầm thường lại có thể giúp cho cơ thể bạn sảng khoái, cung cấp nước đầy đủ, thậm chí còn có tác dụng ngăn ngừa các bệnh lý như tiểu đường.

Nếu bạn ăn sống dưa leo thì sẽ thấy giòn và ngọt. Nếu đem muối dưa leo thì bạn sẽ có món dưa muối có thể ăn trong vài tháng. Tuy vậy dưa leo không chỉ làm cho món ăn tươi mát như trong các món như salad, bánh mì sandwich, đá bào và cocktail. Nếu đi sâu vào tác dụng của quả dưa leo trông khá phổ biến này, một thành viên thuộc họ bầu bí (cùng với dưa, bí và bí ngô), chính là nó được sử dụng trong y học cổ truyền từ thời cổ đại vì những lợi ích sức khỏe không thể đếm được của nó.

Dưa leo rất giàu polyphenol và cucurbitacins, là các loại hợp chất có nguồn gốc thực vật giúp chống oxy hóa, chống ung thư, kháng viêm, chống tăng đường huyết, lợi tiểu, kháng khuẩn và giảm đau, và các tác dụng khác nữa.

Và nếu bạn cho rằng dưa leo là một loại rau, thì thực tế nó chính là một loại quả có hạt đấy.

1. Giúp giữ nước cho cơ thể: Dưa leo có khoảng 96% là nước, do vậy rất hiệu quả trong việc thúc đẩy quá trình hydrate hóa và cung cấp lượng nước cho nhu cầu của cơ thể hàng ngày.

2. Có ích cho giảm cân: Một nửa cốc dưa leo chỉ cung cấp 7.8 calo. Một phân tích cho thấy sử dụng sản phẩm chứa nhiều nước và lượng calo thấp làm giảm đáng kể cân nặng của cơ thể.

3. Làm dịu cơn đau trong viêm xương khớp: Một nghiên cứu sử dụng 10mg từ chiết xuất của dưa leo 2 lần mỗi ngày đã chứng minh hiệu quả giảm cơn đau của viêm xương khớp gối và có thể được dùng để giải quyết cơn đau gối, cứng khớp và các chức năng vật lý khác liên quan đến tình trạng này.

4. Viêm xương khớp: Xảy ra do sự hao mòn khớp, hiện tại chưa có thuốc đặc trị và thường được kiểm soát thông qua các loại thuốc giảm đau và thuốc kháng viêm liều cao nhưng thường kèm theo các tác dụng phụ.

5. Giúp chữa trị các tổn thương gan: Nước ép dưa leo qua điều chỉnh nhiệt cho thấy lợi ích bảo vệ đáng kể trong giải độc rượu ở các nhóm loài động vật, gợi ý một hiệu quả tiềm năng trong việc chữa trị tổn thương gan do uống quá nhiều rượu.

6. Có thể làm giảm lượng đường máu: Một số nghiên cứu trên động vật chỉ ra rằng dưa leo có thể làm giảm và kiểm soát đường máu một cách hiệu quả. Nghiên cứu khác cũng cho thấy chiết xuất từ vỏ dưa leo có thể đảo ngược lại hầu hết những thay đổi liên quan đến bệnh tiểu đường, và làm giảm mức đường huyết của động vật thí nghiệm bị bệnh tiểu đường.

7. Tác dụng chống ung thư: Dung dịch chiết xuất của dưa leo chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học có tác dụng chống ung thư.

“Kết luận của chúng tôi cung cấp thêm một nghiên cứu chuyên sâu về tác dụng dược lý này như một tác nhân gây khối u ác tính.” Các nhà nghiên cứu đã viết trên tạp chí Saudi Journal of Biological Sciences

8. Hỗ trợ chức năng não bộ: Dưa leo tươi được nghiền nhỏ và tạo thành những hỗn hợp với nồng độ khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã rút ra kết luận in trên tạp chí Pharmacognosy: Dưa leo giúp tăng cường nhận thức trên các mô hình động vật.

9. Tăng nhu động đường ruột: Dưa leo chứa rất nhiều nước và giúp ngăn chặn tình trạng mất nước, một trong những tác nhân chính gây nên táo bón. Duy trì đủ nước trong cơ thể có thể cải thiện độ đặc của phân và đi ngoài đều đặn hơn. Hạt của dưa leo ngoài tác dụng làm mát cho cơ thể thì còn được sử dụng để ngăn ngừa táo bón.

10. Làm dịu da: Dưa leo thường được biết đến về hiệu quả làm dịu làn da kích ứng và giúp giảm sưng tấy. Ngoài ra, dưa leo còn làm giảm bớt tổn thương do cháy nắng.

11. Giúp giảm nếp nhăn: Một thử nghiệm lâm sàng cho thấy nước ép dưa leo có thể là thành phần chăm sóc da hiệu quả, bởi vì nó giúp ngăn ngừa nếp nhăn bằng cách phục hồi độ đàn hồi tự nhiên của da.

12. Chống viêm hiệu quả: Một axit amin iminosugar trong dưa leo, được gọi là idoBR1, có thể hoạt động như một chất chống viêm, và vì vậy sự quan trọng của nó trong chế độ ăn cần được tiến hành nghiên cứu thêm, theo báo cáo của một nghiên cứu vào năm 2020.

13. Hỗ trợ sức khỏe của xương: Một phần ăn nửa cup dưa leo cung cấp 8.53mcg vitamin K. Dựa trên các đánh giá của tài liệu mới đây cho thấy, việc bổ sung vitamin K1 (một loại vitamin có trong dưa leo) và K2 có thể giảm tỷ lệ mắc các bệnh gãy xương của phụ nữ ở độ tuổi tiền mãn kinh.

14. Dùng như một miếng mặt nạ cho mắt: Nghiên cứu chỉ ra rằng đắp dưa leo lên mắt của bạn có thể truyền cảm giác mát lạnh lên da, giữ ẩm cho mắt và các khu vực xung quanh, và giúp giảm quầng thâm mắt nhờ có chứa vitamin K.

15. Hỗ trợ sức khỏe tim mạch: Hoạt chất cucurbitacins trong dưa leo có thể ngăn ngừa chứng xơ vữa động mạch, hiệu quả tốt đã được kiểm nghiệm giúp chống viêm, ung thư và tiểu đường.

16. Giảm nguy cơ tử vong: Beta-carotene có nhiều trong dưa leo là một loại carotenoid pro-vitamin A quan trọng. Một phân tích tổng hợp cho thấy beta-carotene trong chế độ ăn uống hoặc tuần hoàn có tương quan nghịch với nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân, do đó có liên quan đến khả năng kéo dài tuổi thọ con người.

17. Giúp đánh bại ung thư tuyến tiền liệt: Cucurbitacin B, một chất thường thấy trong dưa leo và các loại rau khác, có tác dụng đặc biệt ức chế đáng kể sự sản sinh của các tế bào ung thư tuyến tiền liệt.

18. Giúp bảo vệ chống lại các biến chứng của bệnh tiểu đường: Trong một nghiên cứu, dưa leo có thể ngăn ngừa stress oxy hóa và stress carbonyl, được coi là một cách an toàn và phù hợp để bảo vệ chống lại các biến chứng thường thấy ở bệnh tiểu đường.

Nhóm Nghiên cứu GMI chuyên nghiên cứu các vấn đề sức khỏe và môi trường quan trọng nhất, đặc biệt chú trọng đến sức khỏe môi trường. Nghiên cứu chuyên sâu và tập trung của nhóm sẽ khám phá nhiều cách – mà tình trạng hiện tại của cơ thể con người phản ánh trực tiếp trạng thái thực của môi trường xung quanh.

Kiên Tín biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times

Bàn về truyền thống xuất ngoại của người Hoa

Có lẽ vì dân đông khó làm ăn nên từ xa xưa, người Hoa đã có truyền thống bỏ tổ quốc ra nước ngoài kiếm kế sinh nhai.
Tác giả: Nguyễn Hải Hoành.

Hàng triệu dân các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông vùng ven biển miền Nam Trung Quốc tràn xuống Đông Nam Á. Hiện nay Indonesia, Thái Lan và Malaysia mỗi nước có hơn 7 triệu người Hoa; hơn 70% người Singapore là người Hoa đại lục di cư đến. Ai có tiền thì sang châu Âu, sang Mỹ. Nhiều thanh niên trí thức xuất ngoại du học và làm việc.

Báo cáo Chính trị và An ninh toàn cầu năm 2007 của Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cho biết Trung Quốc là quốc gia xuất khẩu người di cư lớn nhất thế giới. Văn phòng Kiều vụ thuộc Hội đồng Nhà nước Trung Quốc cho biết nước này có hơn 45 triệu kiều bào ở hải ngoại, nhất thế giới về số lượng, tương đương số dân một quốc gia trung bình.

Từ sau ngày cải cách mở cửa, số lượng dân Trung Quốc đi ra nước ngoài tăng lên đáng kể. Thập niên 1980 có phong trào xuất khẩu lao động rồi ở lại nước ngoài; thập niên 1990 – phong trào du học rồi ở lại; thập niên đầu thế kỷ 21 – sự ra đi của tầng lớp tinh hoa, mấy năm gần đây chủ yếu là những người mới giàu lên. Họ ra đi mang theo chất xám, công nghệ, tài sản, và cả niềm tin mà một quốc gia đang trưởng thành không thể thiếu được.

70% số người Trung Quốc được hỏi cho rằng nguyên nhân chính khiến họ xuất ngoại là nỗi lo ngại về nạn tham nhũng, bất công, đặc quyền đặc lợi, môi trường sống, giáo dục, an toàn thực phẩm, điều kiện y tế… tại quê nhà của họ.

Chính quyền Trung Quốc biết thế nhưng không ngăn cản. Dùng con người chứ không phải dùng các giá trị quan để “Trung Quốc hóa” cả thế giới – biết đâu đó chính là giấc mơ của những đầu óc dân tộc chủ nghĩa khôn ngoan, thâm hiểm ở Trung Nam Hải?

Trong chính phủ Obama từng có người Hoa làm Bộ trưởng Bộ Năng lượng – ông Chu Khang Văn (Steven Chu, giải Nobel Vật lý 1997), và làm Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh – ông Lạc Gia Huy (Gary Locke). Biết đâu đấy, rất có thể sẽ có ngày Tổng thống Mỹ là người Hoa. Philippines có 1,3 triệu người Hoa, chiếm 1,3% số dân, nhưng người Hoa chiếm hơn một nửa số Tổng thống Philippines có từ ngày lập quốc. Gần đây nhất hai Tổng thống Benigno Aquino III và Rodrigo Duterte (đương nhiệm) cũng là người Hoa. Lãnh đạo Singapore xưa nay đều là người Hoa. Ai bảo người Hoa không có đầu óc quốc tế ?

Riêng tỉnh Chiết Giang (là nơi tập trung nhiều nhà giàu) mỗi năm có ít nhất 1.500 người hoàn tất thủ tục ra nước ngoài định cư, và tăng 10-20% hàng năm, phần lớn là thương nhân. Đa số họ không thừa nhận mình ra đi để hưởng thụ cuộc sống sung sướng mà chủ yếu do yêu cầu công việc của mình và vì tương lai của con cái. Số người muốn ra đi còn nhiều hơn. Các công ty môi giới xuất cảnh đua nhau thành lập và hái ra tiền.

Một báo cáo của Ngân hàng Trung Quốc trong năm 2011 cho biết 14% số nhà giàu Trung Quốc với tài sản trên 10 triệu nhân dân tệ đã di cư ra nước ngoài. 46% đang lên kế hoạch ra nước ngoài sinh sống. Theo số liệu Mỹ, từ năm 1992 đến 2011, số người nộp đơn ra nước ngoài theo diện visa đầu tư đã tăng 700%, từ 473 lên 3085 đơn. Chỉ trong hai năm qua, số người nộp đơn xuất cảnh diện visa đầu tư đã tăng gần gấp bốn lần, đa số từ Trung Quốc. Năm 2011, khoảng 77% trong số những người nộp đơn theo diện visa đầu tư là người Trung Quốc.

Từ năm 1978 tới năm 2010 đã có 1,06 triệu học sinh Trung Quốc du học nước ngoài, trong đó chỉ 275 nghìn người (gần 30%) về nước. Nghĩa là có 785 nghìn thanh niên tuấn tú chạy ra ngoài nước, tương đương 30 lần tổng số sinh viên trường ĐH Bắc Kinh và ĐH Thanh Hoa. Thời gian đầu nhiều người Trung Quốc hốt hoảng báo động hiện tượng “Chảy máu chất xám” này sẽ làm cho Trung Quốc ngày càng tụt hậu về khoa học công nghệ. Nhưng về sau người ta cũng quen dần. Vả lại chính không ít con cháu các vị lãnh đạo cấp cao sang Mỹ du học cũng ở lại kia mà. Nghe nói cô con gái ông Tập Cận Bình đang học tại Đại học Harvard ở Mỹ.

Tình trạng người dân bỏ nước mình ra nước ngoài sinh sống là một trong các chỉ tiêu đánh giá quốc gia thất bại (Failed States Index) – khái niệm do tạp chí Foreign Policy và một think tank Mỹ là Quỹ Hòa bình (Fund of Peace) đưa ra năm 2005. Từ đó tới nay năm nào họ cũng công bố Bảng xếp hạng các quốc gia thất bại.

Có một sự thật đáng buồn là tuy mấy chục năm nay Trung Quốc liên tục dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhưng hai năm 2009, 2010 lại bị rơi vào hàng ngũ các quốc gia thất bại nhất trên thế giới, tức thuộc vào khối 60 quốc gia có chỉ số thất bại cao nhất: xếp thứ 57 trong số 177 quốc gia được khảo sát. Sức ép tổng dân số quá lớn, trong đó có vấn đề thất thoát dân di cư ra nước ngoài, là một trong ba nhân tố chính làm cho Trung Quốc cam chịu số phận hẩm hiu này. Mất dân – phần nào đó tức là mất lòng dân – đúng là một thất bại không thể chối cãi, chứng tỏ chính quyền không được lòng dân, nhất là khi Trung Quốc không còn là nước nghèo nữa mà đã vươn lên vị trí số 2 thế giới về GDP.

Ngày nay người Trung Quốc bỏ ra nước ngoài không hoàn toàn vì lý do kinh tế như ngày xưa hoặc như nhiều nước châu Phi, mà vì những lý do khác nói lên họ không yêu tổ quốc mình. Tổng thống Obama từng “chọc tức” Trung Quốc về chuyện này: trong bài diễn văn đọc trước Quốc hội Australia hôm 17/11/2011 ông có nói một câu: Thịnh vượng mà không kèm theo tự do thì chỉ là một biến tướng của đói nghèo. [Prosperity without freedom is just another form of poverty]. Câu này ám chỉ việc Trung quốc khoe khoang ầm ĩ chuyện nước này có nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới nhưng không thể giải thích vì sao dân mình lại đua nhau bỏ ra nước ngoài đi tìm cuộc sống mới. Dân Mỹ chỉ cười khi thấy người nước ngoài chê trách nước Mỹ đủ thứ xấu, nhưng xấu như vậy tại sao chẳng thấy người Mỹ bỏ tổ quốc ra đi mà chỉ thấy người khắp thế giới bằng mọi cách tìm đường đến nước Mỹ?

Hầu như năm nào cũng có những người bất đồng chính kiến xin sang Mỹ, trốn sang Mỹ hoặc bị trục xuất sang Mỹ, gây rắc rối cho quan hệ ngoại giao hai nước Trung – Mỹ. 

Đầu năm 2012 có vụ Giám đốc Công an kiêm Phó Thị trưởng thành phố Trùng Khánh Vương Lập Quân trốn vào Lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô ở một ngày, xin tị nạn không thành công rồi bị Tòa án Trung Quốc kết án 15 năm tù. 

Sau đó lại có vụ luật sư nông dân mù Trần Quang Thành đang bị giam lỏng ở quê nhà (tỉnh Sơn Đông) bí mật trốn về Bắc Kinh, vào Đại sứ quán Mỹ ở 6 ngày, làm bẽ mặt Bắc Kinh. Cuối cùng Trung Quốc phải đồng ý cho vị “anh hùng chống chế độ” họ Trần này đem vợ con đi Mỹ du học, và ngày 19/05/2012 họ đã sang New York.

Theo NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ

Blog Archive