Thursday, November 2, 2017

BỎ RƠI HAY PHẢN BỘI.


Tác gỉả Bùi Anh Trinh


* Ngày 29-9 năm nay đã là ngày giỗ thứ 14 của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Cho tới trước khi chết Ông vẫn cúi đầu nhận chịu trách nhiệm đã làm cho mất nước, một lỗi lầm quá to lớn mà cá nhân một người không thể nào gánh vác. Nếu có một người nào đó đứng ra nhận chịu thì quả là vô lý, thế nhưng Ông Nguyễn Văn Thiệu đã làm.

I – PHẢI CHĂNG MỸ BỎ RƠI?

Kể từ ngày lập quốc, nước Mỹ thực sự sụp đổ vào năm 1975 với 3 triệu cựu chiến binh tại chiến trường Việt Nam, 58 ngàn người đã chết, và 3.000 quân nhân còn mất tích. Xã hội Mỹ phân hóa trầm trọng với tranh cãi đổ lỗi cho nhau.

Chính vì vậy mà những người quân nhân VNCH không bao giờ động chạm tới nỗi đau của người bạn chiến đấu Mỹ, họ đã làm hết sức của họ rồi, họ đã phải chết tới 58.000 người và đã hao tốn 300 tỉ USD, lại còn phải nuôi 3 triệu cựu chiến binh Mỹ mà người nào cuộc đời cũng tan nát do bị khủng hoảng, bị thất bại vì không thể trở lại trường để làm lại cuộc đời.

Hai chữ “Bỏ Rơi” là do BBC và RFI dùng để xoa dịu sự oán hận của người Việt sau khi Mỹ cắt ông tiếp huyết cho VNCH. “Bỏ Rơi Đồng Minh” khác với “Phản Bội Đồng Minh”. Bỏ Rơi có nghĩa là tôi thích thì tôi giúp, khi thấy mệt mõi quá thì tôi không giúp nữa. Còn Phản Bội là phỉnh gạt, lừa đảo. Cho nên người Mỹ muốn nhận là họ Bỏ Rơi VNCH còn hơn là nhận Phản Bội VNCH.

Ⅱ – Frank Snepp, THÁNG 3 NĂM 1973.

Năm 1968 anh sinh viên Frank Snepp quyết định làm đơn xin đầu quân vào CIA để tránh khỏi phải đi lính và chiến đấu tại VN. Năm 1969 Snepp bắt đầu làm viêc tại chi nhánh CIA tại Sài Gòn trong tư thế một nhân viên mới vào nghề. Năm 1971 ông trở về Trung tâm CIA tại Mỹ với nhiệm vụ phân tích những tin tức thu thập từ báo chí của Bắc Việt.

Đến năm 1972 ông bị đày đi VN vì tội đã báo trực tiếp cho Tòa Bạch Ốc một thông tin ông đọc được trên báo của Hà Nội mà không qua các xếp lớn của CIA. Nhiệm vụ lần thứ hai của Frank Snepp tại Việt Nam là đọc báo và nghe đài phát thanh của CSVN và VNCH để trình cho Polgar, trưởng CIA tại Sài Gòn, những tin nào mà ông ta thấy đáng quan tâm.

Sau biến cố 1975 Frank Snepp quyết định viết thành sách về những gì ông chứng kiến trong vai trò một nhân viên CIA làm việc tại VN trong giai đoạn Hoa Kỳ cuốn cờ ra khỏi Việt Nam. Nhờ đó ông nhanh chóng trở thành nhân chứng sống duy nhất dám tiết lộ những bí mật mà một nhân viên CIA không được phép tiết lộ.

CIA đã đưa ông ra tòa vì ông đã hành động trái với lời tuyên thệ khi ông bước chân vào tổ chức CIA. Tòa án đã phán quyết Frank Snepp không bị tội tiết lộ bí mật nghiệp vụ nhưng cũng quyết định cho thu hồi quyển sách “Decent Interval” của Frank Snepp. Tuy nhiên phán quyết này chỉ có hiệu lực hình thức bởi vì cả thế giới đều đã đọc Decent Interval.

Theo Frank Snepp thì mọi chuyện đều bắt đầu từ khi ký kết Hiệp Định Paris. Rồi 3 tháng sau khi ký kết Hiệp Định, Tổng Thống Nixon cử Martin làm đại sứ Mỹ tại VN thay Bunker. Frank Snepp mô tả vai trò của Đại sứ Martin: “Mỹ buộc phải bỏ khỏi Việt Nam trong tư thế đường hoàng, và muốn tạo được ấn tượng như vậy thì cần phải có một chuyên gia về ảo thuật và kịch nghệ mà Martin thuộc vào hạng sư phụ. (Trang 75, nguyên văn: “The United States was obliged to crawl out of Vietnam standing up, and to foster that illusion required the kind of conjuring and stagecraft at which Martin so adept”). Như vậy màn kịch bỏ rơi Việt Nam đã được lên giàn từ tháng 4 năm 1973.

Ⅲ – Nixon THẤT HỨA VỚI Liên Xô, THÁNG 8 NĂM 1974.

Năm 1974 giữa năm, Tổng Thống Mỹ Nixon đệ trình Quốc Hội Mỹ bản dự thảo hiệp ước giao thương giữa Mỹ và Liên Xô. Đến lúc này Quốc Hội Mỹ mới biết rằng đây là cái giá mà Nixon đã trả cho việc Liên Xô ngưng cung cấp vũ khí cho Hà Nội và ép Hà Nội phải ký hiệp ước ngưng bắn 1973. Dĩ nhiên khi đưa ra trước Quốc hội, Nixon tin rằng sẽ được thông qua dễ dàng vì lợi ích chung của cả hai nước, nhất là từng bước giải quyết chiến tranh lạnh là điều mà dân chúng Hoa Kỳ mong chờ.

Tuy nhiên ông đã tính lầm, Quốc Hội Mỹ đoán rằng còn nhiều cái giá khác nữa giữa Nixon và Liên Xô, Trung Quốc, Hà Nội vào năm 1972. Vì vậy Quốc Hội bác bỏ thẳng thừng hiệp ước thương mại Xô – Mỹ để buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận khác. Dĩ nhiên là Nixon không đưa ra, ông dùng đặc quyền hành pháp để từ chối.

Vì vậy Quốc Hội có một cách khác để moi ra những gì mà Nixon đã cam kết với LX, TQ và Hà Nội vào năm 1972; đó là cách lợi dụng vụ Watergate để triệu tập một Ủy ban điều tra đặc biệt về sai phạm của Nixon trong vụ nghe lén, nhờ đó công tố viên của ủy ban điều tra có quyền bắt Nixon phải đưa ra tất cả những cam kết ngầm với Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và cả Hà Nội.

Nixon chỉ còn có cách từ chức để né tránh Ủy ban điều tra bởi vì ông và Kissinger đã có những thỏa thuận mật với đối phương mà không xin phép Quốc Hội. Một khi ông từ chức thì những cam kết của ông trở thành vô hiệu lực. Quốc Hội sẽ không còn cớ để truy xét.

Sau khi Nixon từ chức thì Quốc Hội Hoa Kỳ cho thông qua đạo luật cấm HK buôn bán với các nước Cộng Sản vào cuối năm 1974 (Đạo luật Jackson-Vanik). Sự trở mặt của Quốc Hội Mỹ đã khiến Liên Xô tức giận bởi vì những cam kết của Nixon khi ông ta viếng thăm Liên xô vào năm 1972 đã không được thi hành. Vì vậy, cuối năm 1974, Đại Tướng Kulikov của Liên Xô đến Hà Nội để xúi Hà Nội đưa quân đánh chiếm Miền Nam, Liên Xô sẽ cung cấp vũ khí và chiến phí.

Ⅳ – HÀ NỘI CAY ĐẮNG.

Theo như 7 mục, 23 điều khoản của Hiệp Định Paris thì Hà Nội ngưng bắn vô điều kiện, trao trả cho Mỹ 591 tù binh Mỹ vô kiện, trao trả tù binh VNCH để đổi lại VNCH trao trả 28 ngàn tù binh Bắc Việt. Trong khi đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không phải từ chức, 38 ngàn tù chính trị của mặt trận GPMN vẫn tiếp tục bị giam giữ.

Đặc biệt là “ngưng chiến da beo”, nghĩa là quân đội CSVN vẫn ở trên rừng và quân đội VNCH kiểm soát thành thị và thôn quê Nam Việt Nam. Biên giới hai miền Nam Bắc vẫn được tôn trọng theo như Hiệp Định Geneve 1954.

Nhìn bề mặt của Hiệp Định Paris quá vô lý cho nên giới quan sát quốc tế thừa biết bên trong phải có một mật ước riêng. Quả nhiên sau này vào năm 1977 Tổng Thống Jimmy Cater của Mỹ xác nhận có một mật ước riêng đằng sau Hiệp Định Paris được Nixon ký với Hà Nội 4 ngày sau khi ký kết Hiệp Định Paris 1973. Vào tháng 10 năm 1988 Hà Nội cho công bố toàn văn bản mật ước Nixon & Phạm Văn Đồng.

Theo đó thì Nixon hứa sẽ viện trợ tái thiết cho Bắc Việt 3,25 tỉ USD và viện trợ phát triển kinh tế cho Hà Nội 1,5 tỉ USD. Trong vòng 30 ngày sau khi người tù binh HK cuối cùng rời khỏi VN thì hai bên sẽ thiết lập xong hệ thống viện trợ tái thiết, và trong vòng 60 ngày sau đó thì lập xong hệ thống viện trợ phát triển kinh tế.

Bản mật ước do đích thân Kissinger mang tới Hà Nội cho Phạm Văn Đồng ký nhận. Từ đó Lê Duẩn ngày đêm trông chờ món tiền của Kissinger và đến cuối năm 1974, Liên Xô cử tướng Kulikov sang Hà Nội xúi Lê Duẩn đánh chiếm Miền Nam thì có nghĩa là Hiệp Định Paris coi như tờ giấy lộn. Rốt cuộc Hà Nội biếu không 591 tù binh Hoa Kỳ mà chẳng nhận được đồng nào, suốt 10 năm chiến đấu gian khổ, hằng triệu người chết, hằng chục tỉ đô la nợ chiến phí… đến nay chỉ còn là con số không (sic).

Tướng Kulikov xúi Hà Nội phát động chiến tranh trở lại nhưng Lê Duẩn và tập đoàn lãnh đạo CSVN thực sự trắng mắt. Dân chúng Miền Bắc đã kiệt sức, trong 5 năm nhà nước đã đóng cửa tất cả 18 trường đại học và cao đẳng, bòn vét nhân lực đến độ phải gọi lính ở tuổi 16, tại Miền Bắc chỉ còn một trời đàn bà góa… thì lấy đâu để gây chiến tranh trở lại.

*(Theo hồi ký của tướng CSVN Hoàng Văn Thái thì cho tới năm 1974 Hà Nội đã động viên đến 16% dân số, không thể nào động viên thêm được nữa. Trong khi Miền Nam là 5,88%)

Ⅴ – HẾT ĐẠN VÀ HẾT NHIÊN LIỆU.

Bắt đầu từ năm 1975 Đại Tướng Cao Văn Viên viết tường trình cho Ngũ Giác Đài về những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam nhưng đến năm 1983 mới được in thành sách với tựa đề “The Final Collapse” và hai mươi năm sau, 2003 The Final Collapse được nhà nghiên cứu sử Nguyễn Kỳ Phong dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa”. Trong sách có kèm theo những chú giải mới nhất của Đại Tướng Cao Văn Viên. “Một sự thực không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6 năm 1975…” (Tài liệu của Ngũ Giác Đài: Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong trang 136).

Năm 1974 tháng Giêng, theo tài liệu của CIA: “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974 Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự. Nhưng mỗi lần họ tìm ra một giải pháp để giải quyết vấn đề thì lại phát sinh một vấn đề khác mà kết quả cũng chỉ đưa tới bí lối” (Frank Snepp, Decent Interval, trang 95).

Tướng John Murray là Tư Lệnh cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam. Ông đến Việt Nam sau Hiệp Định Paris 1973, sang đầu năm 1974 ông và Bộ Tham Mưu Hoa Kỳ tại Việt Nam phải tính toán sổ sách về viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam trong nửa cuối 1974 và đầu năm 1975. Tuy nhiên Ngũ Giác Đài đã cho ông biết trước là có thể dưới 700 triệu đô la nhưng theo các chuyên viên tham mưu của John Murray thì 700 triệu chỉ đủ giữ được Vùng 4.

Năm 1974 cũng theo Frank Snepp, ngày 16-8 John Murray họp buổi họp chót với Đại Tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng), Tướng Đồng Văn Khuyên (Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận) và một số tướng lãnh của Bộ TTM. John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2 và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4. Tuy nhiên “Tướng Viên lẫn Tướng Khuyên đều nói rằng lên kế hoạch về quân sự thì được, nhưng về mặt chính trị thì không thể nào thi hành nổi”. Sau buổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ.

Năm 1974 tháng 5, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng (Bộ Trưởng Bộ Kế Hoạch của VNCH) thì ông đã tình cờ trông thấy bản kế hoạch “Cắt Đất Theo Lượng Viện Trợ” của Murray nằm trên bàn của Tổng Thống Thiệu vào tháng 5 năm 1974, nghĩa là 2 tháng trước khi Nixon từ chức. Như vậy Murray chính là tác giả của kế hoạch bỏ Vùng 1, Vùng 2 vào năm 1975, một kế hoạch mà cho tới 40 năm sau người ta vẫn cho là sáng kiến (tối kiến) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Sự thực Tổng Thống đã bị báo chí Mỹ cố tình gieo tiếng oan mà lúc đó Ông không thể lên tiếng thanh minh.

Năm 1974, ngày 24-12: Theo hồi ký của Đại Tá Phạm Bá Hoa “Ngày 24-12-1974, lúc quân CSVN đang tấn công Phước Long sang ngày thứ 10; một buổi tiệc mừng Giáng Sinh được Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, tổ chức trên lầu của Câu lạc Bộ trong BTTM”. Khách tham dự gồm có Tướng Smith (Chỉ Huy Trưởng cơ quan quân sự HK tại VN; Tướng Quân Y Phạm Hà Thanh; Tướng Công Binh Nguyễn Văn Chức; Đại Tá Phạm Kỳ Loan (Tổng Cục Phó Tiếp Vận); Đại Tá Phạm Bá Hoa (Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận); Đại Tá Pelosky (Phụ Tá của Tướng Smith); Trung Tá Nguyễn Đình Bá (Chánh Văn Phòng của Tướng Khuyên).

Tướng Smith tiết lộ rằng: “Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300 triệu đollar để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40 ngàn sĩ quan và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ” (Phạm Bá Hoa, Đôi Dòng Ghi Nhớ, Bản in lần 4, trang 264). Khi sách của Phạm Bá Hoa phát hành thì tất cả các nhân vật trong bữa tiệc đều còn sống mạnh khỏe nhưng không ai phản đối, kể cả Tướng Smith; chứng tỏ chuyện này hoàn toàn có thật.

Như vậy là kịch bản bỏ rơi Miền Nam đã được lên giàn trước khi mất Phước Long chứ không phải là sau khi mất Ban Mê Thuột. Người ta đã tính toán sẵn kế hoạch để cho VNCH sụp đổ trước tháng 6 năm 1975, kể cả ước tính trước ngân sách chi dụng cho kế hoạch.

Năm 1975, ngày 7-1: Phản ứng của Mỹ sau khi mất Phước Long là: “Nhà Trắng nói rằng: Tổng Thống Ford không có ý vi phạm những điều cấm chỉ (của Quốc Hội) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam” (Hồi ký của Tướng CSVN Hoàng Văn Thái, trang 161). Khi vừa nghe tin này Phạm Văn Đồng tuyên bố: “Cho kẹo quân Mỹ cũng không dám trở lại VN”(trang 146).

Ngay sau khi nhận được tin, Lê Duẩn chỉ thị cho Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái lên kế hoạch tiến chiếm miền Nam: “Một tháng sau chiến thắng Phước Long, ngày 5 tháng 2, anh Văn Tiến Dũng lên đường vào Tây Nguyên” (Hoàng Văn Thái, trang 172).

Ngày đó cơ quan USIS của CIA tung tin quân VNCH thua tại Phước Long là do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cố tình bỏ Phước Long để thử xem phản ứng của Mỹ. Sở dĩ CIA đổ cho Nguyễn Văn Thiệu là để Quốc Hội Mỹ có cớ biểu quyết ngưng viện trợ quân sự cho VNCH.

Ⅵ – Và TÌNH HÌNH THỰC SỰ VÀO THÁNG 3 NĂM 1975:

-Tuần đầu của tháng 3 năm 1975. Trong một cuộc họp đầu tuần của Bộ Ngoại Giao HK, Kissinger đã giải thích hành động viện trợ “Lấy Có” cho Cam Bốt: “Chính Phủ Lon Nol đang trên đà sụp đổ, đây là nguyên do chính khiến chúng ta phải tiếp tục viện trợ để cho sau này không ai có thể trách chúng ta vô trách nhiệm”. (Frank Snepp, Decent Interval, trang 175). *(Nguyên văn: “…he say, the Lon Nol Government was on the brink of collapse, it was essential to keep open the aid pipeline so no one could later blame the United States for the disaster”).

– Ngày 7-3-1975, Kissinger chỉ thị cho các viên chức Ngoại Giao HK trước khi ông ta lên đường đi Trung Đông: “Hãy làm mọi cách để Quốc Hội tiếp tục duy trì viện trợ (Lấy Có) cho Cam Bốt và Việt Nam. Không phải để cứu vãn hai nước đó, mà vì không thể nào cứu vãn được hai nước đó” (Frank Snepp, Decent Interval trang 176). *(Nguyên Văn: Do every thing possible to ensure that Congress lived up our aid commitments to Cambodia and Vietnam- not because the two countries were necessarily salvageable, but precisely because they might not be).

Hai ngày sau khi Kissinger nói câu này thì Văn Tiến Dũng ra lệnh tấn công Ban Mê Thuột.

Kissinger không muốn thiên hạ nghĩ rằng Việt Nam sụp đổ do không còn viện trợ. Và với mức độ viện trợ nhỏ giọt thì đến ngày 30-6-1975 quân đội VNCH sẽ không còn Gạo và không còn Đạn (Tài Liệu The Final Collapse của Đại Tướng Cao Văn Viên). Vì thế Kissinger mong cho Quân đội VNCH tự tan rã trước khi hết Gạo và Đạn trước tháng Sáu năm 1975. Lúc đó thiên hạ sẽ nghĩ rằng Quân Đội Sài Gòn đã thua chạy trước sức tiến công vũ bão của quân Hà Nội.

Ⅶ – THẾ BẮT BUỘC của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Năm 1975 ngày 11-3, một ngày sau khi mất Ban Mê Thuột. Theo Đại Tướng Cao Văn Viên “Ngày 11-3 Tổng Thống Thiệu mời các Tướng Khiêm, Viên, Quang ăn sáng tại Dinh Độc Lập và sau đó trình bày ý định muốn cắt bỏ bớt lãnh thổ cho vừa với mức viện trợ quân sự của HK vào năm 1975”. Tướng Viên ghi lại cảm nghĩ của ông lúc đó: “Quyết định của Tổng Thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã suy xét thận trọng. Hình như Tổng Thống Thiệu đã ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…”

*“… Tổng Thống Thiệu phác họa sơ: …Một vài phần đất quan trọng đang bị Cộng Sản chiếm, chúng ta sẽ cố gắng lấy lại bằng mọi gía…Ban Mê Thuột quan trọng hơn hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại…” (Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, trang 129-131).

“Ngay sau khi Phước Long bị tấn công, Hoa Kỳ không có một phản ứng nào … . Một thực tế gần như hiển nhiên là Hoa Kỳ không muốn cuộc chiến tiếp tục và biểu quyết viện trợ để VNCH đánh tiếp là chuyện sẽ không xảy ra. Đối với Hoa Kỳ cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc” (trang 132).

đoạn trích dẫn trên đây đã giải thích vì sao Tổng Thống Thiệu phải bỏ Vùng 1 cũng như Vùng 2. Và vì sao Tướng Viên không nhiệt tình tham gia kế hoạch của Tướng Thiệu.

Cuối cùng, sau 30-4-1975 Mỹ mở chiến dịch đổ tội làm mất nước cho Tổng Thống Thiệu để cho người ta không oán hận Mỹ đã bỏ rơi VNCH. Giờ đây đã 40 năm trôi qua, nếu người Mỹ không lên tiếng giải oan cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, thì cũng nên trả lại sự thật cho lịch sử.
Một ngày rất ngắn

Một ngày rất ngắn, ngắn đến mức chưa nắm được cái sáng sớm thì đã tới hoàng hôn.

Một năm thật ngắn, ngắn đến mức chưa kịp thưởng thức sắc màu đầu xuân thì đã tới sương thu.

Một cuộc đời rất ngắn, ngắn tới mức chưa kịp hưởng thụ những năm tháng đẹp thì người đã già rồi.

 Luôn luôn đến quá nhanh mà hiểu ra thì quá muộn,
cho nên chúng ta phải học cách trân trọng, trân trọng tình thân, tình bạn, tình đồng chí, tình bạn học, tình đồng nghiệp ...

 Vì một khi đã lướt qua, thì khó có thể gặp lại.

Sau 20 tuổi thì đất khách và quê nhà giống nhau vì đi đến đâu cũng có thể thích ứng.

Sau 30 tuổi thì ban ngày và ban đêm giống nhau vì mấy ngày mất ngủ cũng không sao.

Sau 40 tuổi thì trình độ học vấn cao thấp giống nhau, học vấn thấp có khi kiếm tiền nhiều hơn.

Sau 50 tuổi thì đẹp và xấu giống nhau vì lúc này có đẹp đến mấy cũng xuất hiện nếp nhăn và tàn nhang.

Sau 60 tuổi thì làm quan lớn và quan bé giống nhau vì nghỉ hưu rồi cấp bậc giống nhau.

Sau 70 tuổi thì nhà to và nhà nhỏ giống nhau vì xương khớp thoái hóa không thể đi được hết những không gian muốn đi.

Sau 80 tuổi thì tiền nhiều và tiền ít giống nhau vì có tiêu cũng chẳng tiêu được bao nhiêu tiền.

Sau 90 tuổi thì nam và nữ giống nhau vì không thể làm nổi chuyện gì nữa.

Sau 100 tuổi thì nằm và đứng giống nhau vì đứng dậy cũng chẳng biết làm gì.

CUỘC ĐỜI CỦA BẠN VÀ TÔI LÀ NHƯ VẬY KHÔNG KHÁC NHAU NHIỀU. NHÌN RA, HIỂU ĐƯỢC, THẤU HIỂU RỒI, CUỘC ĐỜI LÀ NHƯ THẾ.

TRÂN TRỌNG NHỮNG THỨ CÓ ĐƯỢC, TÌM LẠI NHỮNG THỨ ĐÃ MẤT

Wednesday, November 1, 2017

Làm Vua Đất Tống 

- Nguyễn Văn Tới


Giật mình thức giấc nửa đêm, mồ hôi toát ra như tắm vì tôi chợt nghe tiếng kẻng báo thức rõ mồn một, tiếng kẻng của các trại giam cộng sản Việt Nam được làm bằng những cái niềng (rim) xe hơi và dùng 1 thanh sắt gõ vào tạo thành 1 âm thanh vang rất xa. Ai từng ở tù hay bị đày ra những trại cưỡng bức lao động, hoặc trại tập trung cải tạo của cộng sản Việt Nam thì không bao giờ quên được tiếng kẻng này. Hoảng hốt và ngơ ngác hết mấy giây đồng hồ, mới nhận ra mình đang nằm trên chăn êm nệm ấm trong nhà mình, tiểu bang Arizona, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Không ngủ lại được với cái cảm giác hoang mang, nửa tỉnh nửa mơ, tôi ngồi dậy, với tay lấy cái áo khoác và đi ra nhà bếp pha 1 ly cà phê “cái lồi ngồi trên cái cốc”. Nhìn từng giọt cà phê đang nhỏ xuống ly thủy tinh, một trời ký ức ùa về, cái kỷ niệm không muốn nhớ mà nó cứ theo tôi dai dẳng hằng chục năm trời nay…

Cánh cửa xe bít bùng mở, chúng tôi bị lùa xuống đất, đứng giữa cánh rừng già, trời tối như bưng, không ai biết bị đưa đến nơi nào.Tiếng quát tháo của mấy tên công an lẫn tiếng đạn lên nòng bắt chúng tôi xếp thành hai hàng điểm danh trước khi vào lán trại. Ai nấy xách theo đồ dùng cá nhân là cái bị cói gồm mền, ít áo quần, và thực phẩm khô. Một tên công an đọc tên mọi người với cái đèn pin mờ mờ, người được đọc tên phải đáp thật to báo cáo cán bộ có tôi, rồi lần lượt đứng qua 1 bên. Sau đó một tên có vẻ là trưởng trại đọc “diễn văn chào mừng” phái đoàn chúng tôi vừa được nhập hộ khẩu khu “rì zọt villa” Tống Lê Chân, 1 địa danh nổi tiếng trước và sau 1975. Tiếp đến, chúng tôi cứ hai người bước vào 1 cái lán rộng mà trong đó đã có đầy những người tới trước; vài người trong bọn họ thức giấc, một người có vẻ như trưởng lán đứng lên điểm danh chúng tôi, phân chia chỗ nằm rồi ra lệnh cho mọi người im lặng ngủ để mai sớm còn thức dậy đi lao động. Một bạn tù râu quai nón, cùng chuyến xe, tướng tá vạm vỡ, cao lớn, được phân chia nằm kế bên tôi cho vui. Anh tên Phương, Văn Hoàng Phương. Chúng tôi trở thành bạn từ đó.

Sáng hôm sau, tiếng kẻng đánh thức cả trại. Ai nấy lo rửa mặt vội vàng rồi ra xếp hàng điểm danh trước khi xuất trại đi lao động. Xếp hàng điểm danh, ăn cơm, nghỉ việc, xếp hàng về trại, hay bất cứ công việc gì cũng được báo bằng tiếng kẻng; vì thế tiếng kẻng theo tù nhân khắp mọi nơi và trở thành 1 bản án thứ hai đeo bám họ nhiều năm sau nữa. 

Bọn công an trại này bắt mọi tù nhân gọi chúng là “anh đội”. Mỗi lần muốn nói, phải hô to báo cáo anh đội, tôi xin phép đi… “trút bầu tâm sự” hay cái gì khác. Chúng lùa chúng tôi ra khỏi cổng trại, khoảng trên 100 tù nhân, với những nòng súng chĩa thẳng vào người và cảnh cáo ai trốn trại sẽ bắn bỏ. Chúng tôi phải phát quang rừng bằng những con dao, búa, cuốc và phảng mà chúng phát cho và dọn đất để trồng ngũ cốc. Mỗi 2 tiếng được nghỉ 10 phút. 

Tôi và Phương làm kế bên nhau, vừa làm vừa tâm sự, mới biết ba của P. là thiếu tá quân đội VNCH đã chết trong trại cải tạo; P. nói đã quan sát tôi từ ngày còn bị giam trong trại giam, trước khi bị đưa lên “làm vua đất Tống” này. P. nói nếu tôi có ý định gì thì đừng bỏ nó. Tôi hỏi ông muốn nói ý định gì? Nó nói thật là trốn trại, bằng một giọng thật nhỏ. Tôi cười hỏi sao lại chọn tui? Nó nói tui nhìn người chắc không lầm, vì ông khác với các mấy cha kia. Khác làm sao? Khác là ông hay im lặng và quan sát chứ không nói chuyện tán dóc như mọi người. Thì ra! Tôi nói để từ từ rồi tính, bây giờ hơi sớm.

Sau một tuần lặng lẽ quan sát địa hình, lán trại, và hàng rào chung quanh, cùng lúc theo dõi thời khóa biểu làm việc, nghiên cứu thói quen và giờ giấc của mấy tên đội trại. Tôi khuyên P. nên học cách phá rừng, chặt cây và gặt lúa rẫy mà tôi sẽ là thày dạy nó vì tôi đã từng lên non xuống biển nên rành lắm. Tôi và P., tối nào về cũng được bọn đội tuyên dương là lao động tốt, khuyên các trại viên khác noi theo để sớm được nhà nước khoan hồng cho về đoàn tụ với gia đình. Luận điệu cũ rích, nghe chán tai! Ít bữa sau, má P. lên thăm nuôi, tôi nói nó xin tiền mặt và chỉ cần ít đồ ăn thôi. Tôi cũng làm tương tự và cho má tôi biết ý định sẽ trốn. Thằng em đi theo má tôi khuyên, anh cẩn thận vì tập trung cải tạo, tụi nó có thể bắn anh chết rồi vứt xác lên hàng rào, gán cho anh tội trốn trại. Trong khi đi làm tôi vẫn âm thầm quan sát phương hướng đâu là Tây Ninh, đâu là Phước Long và Bình Dương.

Một tối sau khi đi làm về, ăn tối xong là họp kiểm điểm lao động trong ngày, anh đội tên Hui tuyên dương chúng tôi, P. và H. là hai lao động tiên tiến nhất trong nhóm; hắn nói vì thành tích xuất sắc và lao động tốt, nên quyết định chọn hai đứa chúng tôi đi làm tổ lẻ. Tổ lẻ là tổ lao động chỉ gồm vài người mà bọn chúng tin là lao động tốt cũng như yên tâm lao động cải tạo chờ ngày về với gia đình. Ở tổ lẻ này, chúng tôi sẽ làm việc mà không bị theo dõi thường xuyên và tự giác hơn, muốn nghỉ lúc nào thì tùy ý, lại được đi “cải thiện” bữa ăn theo ý mình.

Sáng hôm sau, tên Hui đưa chúng tôi ra mảnh đất rẫy riêng của gia đình hắn cùng với 3 cô gái mà hắn mượn được từ trại nữ ; cả 5 đứa chúng tôi cùng 2 tên đội vác súng đi ra khỏi trại đến chỗ làm. Chúng để chúng tôi nhổ đậu phộng trên miếng đất khoảng hơn một mẫu đất. Chúng tôi hăng say lao động để tạo niềm tin, và được nấu nướng thêm cải thiện cho bữa ăn nên ai nấy đều vui vẻ. Sáng hôm sau, chúng tôi đề nghị đưa tiền nhờ anh đội mua dùm mấy lít rượu, mồi nhâu chơi; giữa rừng mà được nhậu không tốn tiền, bọn chúng gật đầu liền. Lần này chúng có thêm 1 tên đội nữa đi theo vì biết sẽ có nhậu nhẹt và gái gú, tổng cộng 3 tên và 5 đứa chúng tôi, sẽ tiếp tục nhổ đậu phộng. 

Vừa đến cái chòi nhỏ hai gian, nơi chúng bắt đầu bầy tiệc rượu và kêu tất cả chúng tôi cùng ngồi xuống uống với chúng. P. tửu lượng rất mạnh, đã cố ép 3 tên uống để chúng bớt cảnh giác. Ba cô gái bị chúng ép uống để dễ bề cưỡng bức, riêng tôi lấy cớ không uống được rượu nên chúng không ép, nói uống được nhiêu thì uống. Sau chầu nhậu, P. giả bộ say, cả 3 tên cũng ngầy ngật, bọn chúng kêu 3 cô gái vào gian bên trong để “làm ăn” và nói hai đứa bay nghỉ ngơi phòng ngoài. Theo kế hoạch bàn đêm trước, nên 2 đứa tôi bọc theo mỗi đứa 1 bịch thuốc rê, cái hộp quẹt dầu bằng nhôm, và 1 lon Guigoz kẹo. Quần áo thì mặc 2 lớp vì thời tiết trong rừng khá lạnh, quần dài, chân mang giầy lính cũ.

Giờ N đã đến, hai đứa chúng tôi hồi hộp ghê lắm. Riêng tôi vì trách nhiệm kẻ cầm đầu, người dẫn đường thì lại càng lo lắng hơn. Gian bên trong, bọn đội đang xì xầm với mấy cô tù nữ, chúng tôi chỉ nghe loáng thoáng tiếng được tiếng mất, chỉ biết bọn chúng đang cố gắng dụ dỗ lẫn dọa nạt mấy cô đó.

Tôi và P. từ từ xê dịch ra gần cửa căn chòi, tay mỗi thằng cầm 1 điếu thuốc rê, vừa hút vừa giả bộ nói chuyện thời tiết và trồng trọt nhưng mắt thì dòm chừng phía trong. Thỉnh thoảng bọn chúng giả bộ đi tiểu để dòm chừng bọn tôi, xong lại đi vào gian bên trong để đú đởn. Tôi nói nhỏ vào tai P. chạy đi, tui sẽ theo ông. Nó nói ông chạy trước đi, tui theo ông. Thằng này “nhường” thằng kia chạy trước, nhưng chẳng thằng nào dám.

Tôi thầm tính toán từ đây mà chạy thật nhanh đến bìa rừng, nơi có cây cối rậm rạp che chở và che khuất tầm nhìn, khoảng 500 mét. Nếu đến bìa rừng mà chúng mới hay thì sẽ không lo bị bắn trúng. Nghĩ là làm, mà chắc cũng vì mới sương sương dăm ba sợi, nên tôi vụt đứng lên và một cách nhẹ nhàng, tôi chạy thật nhanh, P. bám sát tôi từ đằng sau. Hai thằng chạy như bay trên mặt đất được vài trăm mét, đường đất thụt lùi sau lưng thật nhanh, khi gần đến được bìa rừng thì chúng tôi nghe tiếng hét đứng lại, và sau đó là 3 tiếng súng nổ vang, rồi 3 tiếng súng đáp lại từ xa, sau đó thêm nhiều tiếng súng AK tiếp theo rất gần đằng sau lưng. Thú thật lúc đó tôi cũng không biết lằn đạn có xẹt ngang đầu chúng tôi hay không vì tiếng cành lá loạt xoạt trên đầu, bên tai, đập vào mặt mày. Chỉ còn biết tiếp tục chạy ngoằn ngoèo và chạy thục mạng, chạy để kiếm cái sống trong cái chết nên chúng tôi chạy không thua gì vận động viên điền kinh thế vận hội, có khi còn nhanh hơn họ là khác. Một là chúng bắn dở, hai là Ngọc Hoàng chưa dũ sổ, chẳng viên đạn nào bắn trúng chúng tôi. 

Quay đầu thật nhanh, nhìn để ước lượng khoảng cách giữa chúng tôi và bọn đội, tôi khá yên tâm và chợt nhận ra 1 sự thật bi hài là P. vẫn bám sát và vô tình tấm thân to lớn hộ pháp của nó che chở tấm thân gầy gò của tôi; nói vui nếu bọn kia bắn giỏi thật, sẽ trúng P. trước khi trúng tôi. Chạy trước thế mà hay! Vẫn chạy và đạn vẫn nổ xen lẫn tiếng hò hét, chửi thề của bọn đội gác tù. Chạy được một khoảng khá xa, trước mắt tôi là một rừng tre gai bạt ngàn, có những bụi tre vì quá cao nên đổ rạp xuống theo 1 chiều có thể dài đến gần 100 mét, hết bụi này lại tới bụi khác theo nhau trải thành 1 cánh rừng tre nghiêng dài như bất tận. Tôi lủi vào 1 bụi tre nghiêng gần sát mặt đất và bò thật nhanh như lính trong quân trường. Chúng tôi bò sâu, thật sâu vào bên trong gốc tre cho đến khi không còn bò được nữa mới phải dừng. Hơi thở dồn dập, tim đập từng hồi nghe như tiếng trống chầu. Tôi thì thầm vào tai P., tim ông đập to quá, ráng nhỏ lại 1 chút được không? P. nói tim ông cũng đập rầm rầm. Thì ra hai thằng nghe chính tiếng tim của mình đập loạn xạ mà cứ ngỡ tiếng tim của bạn mình. 

Chúng tôi cố điều hòa lại hơi thở để nhịp tim chậm theo trong khi mồ hôi nhỏ giọt trên mặt, thằng này lặng lẽ ngó thằng kia, ánh mắt nặng trĩu âu lo. Chợt tóc tai tôi dựng đứng. Trước mặt tôi là hàng chục ngàn hay hàng trăm ngàn những sinh vật ngọ nguậy, nhỏ như cây kim may, tiệp với màu lá tre khô, đang nhảy múa điệu luân vũ mùa Đông và chúng bắt đầu “hồ hởi, phấn khởi” búng mình tung lên cao rồi nhẹ nhàng đáp lên mặt mũi, tay chân mình mẩy cả hai chúng tôi. Nói thì chậm nhưng tốc độ của chúng nhanh như tia chớp, chúng tôi chẳng làm gì được, nằm im tại chỗ, không dám gồng mình lên, mà cứ phải nhũn như con chi chi, chịu trận để cho các nàng “vũ nữ thân gầy” tha hồ muốn làm gì thì làm trên “long thể” bất an mà “long sàng” có rệp của chúng tôi. Đôi mắt của P. cũng chuyển hướng và “cùng nhìn về 1 phía”, nó chưa bao giờ thấy cảnh này, hỏi nhỏ con gì vậy? Tôi nói con vắt. Nghe xong tóc tai nó cũng dựng đứng, miệng nó lẩm bẩm “tiếng lạ”, có thể thấy sự kinh hoàng hiện lên trong đôi con ngươi đứng tròng của nó.

Nghe tiếng chân bọn đội chạy xa dần theo một hướng khác, chúng tôi vẫn cố nằm im không nhúc nhích và sống chung hòa bình với các nàng “kỳ (cục) nữ” này. Lạ một điều là các nàng đặt môi lên da thịt chúng tôi một cách nhẹ nhàng, êm ái còn hơn người yêu với nụ hôn thuở ban đầu; chúng tôi không hề cảm thấy bị “yêu” một cách bạo lực tuy trong lòng thừa biết môn “hấp tinh đại pháp” của các nàng đang rút dần mạch sống chúng tôi. Thêm phần bị gai tre đâm vào da thịt đến ứa máu nên hai thằng càng không cục cựa mà phải nhắm mắt chịu đựng “thú yêu thương” để mặc cho các nàng bạo hành trên da thịt, kể cả những vùng “đam mê, nhạy cảm”, không một lời than van. Chịu đựng không biết là bao lâu, chúng tôi chợt nhận ra được mấy con vắt “yêu” cũng không đến nỗi nào! Mối lo canh cánh bây giờ là gai tre vì bây giờ mới thấy đau rát chỗ bị cào. Cha ông ta có câu: “Nhất chém tre, nhì ve gái”. Quả không sai chút nào!


Bụi tre gai ở xứ nhiệt đới khi còn đứng thẳng.

Ở Việt Nam có rất nhiều loại tre, nhưng tre gai là loại tre bạn đừng nên đụng đến và càng không nên “dỡn mặt KBC vì cành nó gai góc, những cái gai có thể dài 3, 4 centi mét mà ngày xưa miền Nam mình trồng xung quanh làng thôn, ấp chiến lược. Việt cộng nằm vùng cũngchào thua vì không dám xâm nhập, dại dột bò vào bụi tre “khi vô thì dễ, khi về thì không”. Ngay cả chó cũng ngần ngại khi chui vào bụi tre gai, vì có ra được thì cũng trầy da tróc vảy. Vậy chúng tôi đã lỡ vào, làm sao ra? Có lo cũng chẳng làm gì được, hậu xét, cứ nằm tại chỗ để khỏi bị bắt rồi tính sau. Có lẽ bọn đội không ngờ chúng tôi gan hơn… chó, dám liều mạng chun vào tre gai, nên chỗ chúng không ngờ nhất lại là chỗ an toàn nhất cho chúng tôi.

Nằm một hồi lâu, không hẹn mà cả hai chúng tôi đều mệt lả vì quá mệt và khiếp sợ, cả hai thiếp đi lúc nào không hay. Mở mắt tôi đoán chắc trưa lắm rồi vì ánh nắng trên đỉnh đầu, xuyên qua kẽ lá. Tiếp tục nhắm mắt dưỡng thần không biết bao lâu lại nghe tiếng kẻng trại tập trung rất gần, tôi mở mắt lần thứ hai, đoán chừng trời đã về chiều, có lẽ kẻng tập họp và cơm chiều; tôi chợt nghĩ đến lon kẹo, thì thầm hỏi P., nó nói tưởng ông cầm rồi. Trời ạ, thằng này tưởng thằng kia cầm mới chết chứ, phen này không có kẹo lấy gì sống đây? Nhai thuốc rê chăng?
Trời tối dần, tiếng côn trùng rỉ rả, tiếng thú vật đi ăn đêm gần đây càng tăng nỗi sợ hãi cho chúng tôi, nhất là P., vì đời nó chưa bao giờ trải qua cảnh này; riêng tôi dù nằm bờ nằm bụi nhiều cũng vẫn không ngăn được cảm giác bất an. Bên ngoài không còn nghe bất cứ tiếng động hay tiếng ồn ào của bọn đội gác tù, chúng tôi yên tâm và thầm nghĩ chắc bọn chúng vẫn đang còn lùng sục chúng tôi ở nơi xa xôi nào đó mà không ngờ chúng tôi vẫn còn ở gần bọn chúng lắm. Giờ này mà ló đầu ra là bị tóm ngay, vì thế tôi bàn với P. là chờ đến nửa đêm mới chui ra, thôi thì đánh thêm 1 giấc nữa.

Nói thì dễ nhưng ngủ không dễ vì lúc này đầu óc tôi đầy những toan tính làm gì, bằng cách nào, sẽ theo hướng nào cho an toàn. Tiếng ngáy nho nhỏ vang lên từ người bạn đồng hành khiến tôi trở về với thực tế. Tôi đánh thức P. dậy và nói nếu chúng ta chui ra thì tuyệt đối không đi vào những đường mòn vì sẽ có phục kích của bọn đội, còn không thì gặp dân đi rừng, họ cũng bắt chúng ta để lãnh 15 ký gạo và vài ký cá khô. Vậy chúng ta chỉ còn cách cắt rừng mà đi, tuy mất thời gian hơn nhiều nhưng chắc ăn. Đợi thêm rất lâu nữa, chúng tôi bắt đầu bò ra, chân ra trước, đầu ra sau. Thỉnh thoảng nghe tiếng xuýt xoa kêu đau rất nhỏ của cả hai vì bị gai cào rách áo, xuyên vào da. Sau cùng, chúng tôi ráng xoay đầu lại và bò ra, cách này nhanh hơn và đỡ bị gai đâm. Không biết là bao lâu, cuối cùng cũng rồi cũng đứng thẳng người lên được sau cả ngày chỉ không ăn mà nằm. Lạ một điều không thằng nào thấy đói. Có lẽ nỗi sợ đè lấp cái đói?

Chúng tôi quyết định đi về hướng Tây Ninh là gần nhất và vì có núi Bà Đen sẽ là cột mốc định hướng, là cái GPS chính xác nhất mà không sợ lạc. Hai thằng cứ im lặng mà đi nhưng đôi tai luôn nghe ngóng, mắt nhìn tứ phía trong màn đêm. Người phía trước quan sát hai bên và trước mặt, người phía sau lo hai bên và đằng sau. Cứ như thế chúng tôi đề cao cảnh giác, cắt rừng mà đi, tôi đi trước và P. theo sau; cả hai không nói chuyện mãi miết với nỗi lo riêng.

Thỉnh thoảng tiếng động của thú rừng đi ăn đêm cũng khiến chúng tôi thót tim, dừng lại, và ngồi thụp xuống nghe ngóng. Không biết bao lâu, chúng tôi thấm mệt rã rời. Hình như cái đói bây giờ mới hỏi thăm, chúng tôi đã không ăn và uống gì từ sáng hôm qua, cổ họng khô đắng. P. đề nghị ngừng lại nghỉ, tôi nói ráng chút nữa vì ban ngày sẽ tha hồ nghỉ. Cứ thế hai thằng tiếp tục lê đôi chân mệt mỏi với hai cái bao tử lép kẹp cho đến khi chúng tôi nhìn lên thấy bầu trời hừng sáng, bèn kiếm một chỗ thật kín đáo để nghỉ ngơi.

Chỗ núp của chúng tôi là một bụi cây um tùm rất dày đến độ ánh sáng cũng khó lọt vào, tạm yên tâm với chỗ nằm kín đáo và ấm cúng, hai thằng ngả lưng và thở dài khoan khoái, ít ra cho đến lúc này chúng tôi chưa bị bắt lại. P. vừa nằm xuống là cất tiếng ngáy như cối giã gạo làm tôi hết hồn sợ có người đi ngang nghe được thì đúng là “đoạn cuối cuộc tình”. Chúng nó mà bắt được hai đứa thì thật là … thôi, không dám nghĩ đến nữa. Mắt tôi cũng díu lại, mở không lên, tôi chập chờn đi vào giấc ngủ với lỗ tai vễnh lên đề phòng. Không biết bao lâu cả hai chợt tỉnh giấc, cùng nhìn nhau, và cùng ngồi bật dậy ngơ ngác không biết mình đang ở đâu? Sau vài giây định thần, chúng tôi ý thức được tình cảnh hiện tại, hai đứa đang trên đường chạy trốn. Bây giờ cái đói, cái khát bắt đầu hành hạ chúng tôi. Bước ra khỏi bụi rậm, tôi leo lên một cái cây cao và quan sát, thấy xa xa là một thung lũng xanh rì, bèn leo xuống bàn với P. là chỗ trũng thường có nước.

Thế là hai thằng đi về hướng đó, vừa đi vừa chú ý đề phòng. Cuối cùng chúng tôi thấy được 1 giòng nước nhỏ, bề ngang khoàng nửa thước, hai bên phủ đấy cỏ xanh và rong rêu. Mừng quá, cả hai vục nước vào lòng bàn tay và uống thật no nê. Nước trong và mát lịm như nước cam lồ. Sau đó kiếm một bóng cây rậm rạp, chúng tôi ngồi xuống vấn thuốc hút. P. cởi áo ra cho đỡ nóng, tôi thấy trên lưng nó những con vắt đã no máu, màu đen tím, to bằng đầu đũa, đeo dính đầy lưng. Tôi lấy đầu thuốc rê đang cháy, dí vào 1 con, nó rơi xuống đất và tiếp tục làm như thế với vài chục con nữa. Xong tôi lấy cành cây đè chúng bẹp dí, chúng bể ra đầy mùi máu tanh. P. cũng làm như vậy trên lưng tôi. Hai thằng cởi luôn cả quần dài và quần lót mới khám phá ra các nàng “vũ nữ thân gầy” này không chừa một chỗ nào mà các nàng không viếng kể cả những nơi không ngờ nhất trên cơ thể chúng tôi. Tới chỗ khó ăn khó nói này thì mạnh thằng nào lo cho thằng đó không còn màng đến chuyện “thế sự thăng trầm, quân mạc vấn”.

Xong chuyện bắt vắt cho nhau, chúng tôi cần một chỗ an toàn để ngủ tiếp, nhưng cái bao tử nó reo lên biểu tình và phát ra tiếng kêu òng ọc; hai thằng đi men theo con suối nhỏ lên đến một dải mô đất cao bên trên um tùm những bụi cây. Thả mình xuống một lùm cây, chúng tôi thấy sâu bên trong có một cái hang hơi tối. Nghĩ rằng chắc người đi rừng đó đào hang để làm chỗ ngủ, chỗ trú ẩn hay chỗ cất đồ cá nhân. Hai thằng bèn bò vô bên trong coi có gì không, may ra có chút thực phẩm khô thì đỡ khổ. Vừa khom lưng đi vào vừa cảnh giác nên chúng tôi bò thật chậm trong cảnh tranh tối tranh sáng, chúng tôi thấy một đống gì lùm sùm ở cuối hang. Tiến đến sờ, thì ra một miếng bạt bằng nhựa gói cái gì bên trong hơi nặng. Hai thằng mừng rỡ chắc phen này có được cái gì đó bỏ bụng, bèn kéo lê cái gói bao nhựa đó ra. 

Đến cửa hang, có nhiều ánh sáng, hai thằng lui cui tìm cách tháo mấy sợi giây ny lông gói quanh gói hàng. Giây cột đã mục rã bứt cái là đứt. Tôi nói chắc gói này ở được giấu ở đây lâu rồi. Vội vã và hồi hộp chúng tôi mở tung gói nhựa ra, P. hét lên đầy kinh hãi miệng “Má ơi, má ơi. Phật độ, Phật độ! Nam mô a di đà Phật”. Chẳng khá gì hơn nó, tôi té ngồi xuống đất, miệng cà lăm những chữ vô nghĩa. Trong tấm ny lông là một mớ xương người. Phải đó là xương người, không cần nhìn kỹ cũng biết đó là xương cốt của con người với hai cái đầu lâu không thể lẫn vào đâu được. Tự nhiên tôi cũng lẩm nhẩm đọc kinh theo phản xạ tự nhiên.

Khi đã bình tâm trở lại, chúng tôi gói hai bộ xương lại trong bao nhựa và đem trả lại vào hang, sau khi cầu xin vong hồn người chết phù hộ cho chúng tôi trốn trại bình an bằng hai cây nhang thuốc rê, rồi đi kiếm chỗ khác mà ngủ. Cuối cùng cũng có một góc an toàn và yên tĩnh tạm ngã lưng, nhưng cái đói lại cồn cào không ngủ yên được. Tôi nói ông ở đây nghen, tui đi tìm ít lá rừng bỏ bụng.
Lần theo bờ suối, tôi kiếm được lá giang, một loại dây leo hoang dã trong rừng có vị chua mà tôi thường hái để nấu canh chua khi đi phá rừng làm rẫy. Còn có cả rau đay rừng mọc hoang rất nhiều, nhưng làm sao nấu canh? Nếu ăn sống thì rất đắng và nhớt; thỉnh thoảng một vài cây ớt rừng, trái nhỏ xíu mà cay thấu trời xanh. Tôi cũng hái tất cả đem về chỗ trú ẩn. Hai thằng nhai lá giang, xong thử qua rau đay thì phải nhổ ra vì đắng còn hơn ký ninh, ớt thì nhấm một chút, cay chảy nước mắt và xốn xang bao tử. Dầu sao cũng có chút… lá trong bao tử, hai thằng còn tếu lâm nói bò ăn cỏ mà mạnh như…bò, thì mình cũng sống mạnh với lá giang. Chúng tôi cũng thấy rất nhiều trái rừng chín đỏ, coi hấp dẫn, khi cắn thử thấy vị ngọt, nhổ ra không dám ăn. Kinh nghiệm đi rừng cho biết trái chua thì ăn, trái ngọt thì đừng. “No cơm ấm cật, nhưng không dậm dật mọi nơi”, chúng tôi ráng dỗ giấc ngủ để lấy sức tối đi tiếp.

Đêm lại xuống, đánh thức P. dậy, hai đứa lại đi, nhắm hướng núi Bà Đen xa xa mà đi với hai cái bao tử lép kẹp đang sôi òng ọc, vẫn tránh các con đường mòn, biết là lâu hơn nhưng an toàn hơn. Chúng tôi bước đi mà như lết; lết là phải vì giờ đây hai thằng gần như lả đi vì đói. Hai thân hình nặng nề dựa trên hai cây gậy loạng choạng dựa vào nhau mà đi. 

Đêm hôm đó, trăng khá sáng, vẫn miệt mài đi cho đến khi ra khỏi khu rừng rậm, chúng tôi đi vào một vạt cỏ tranh dài tăm tắp, đúng ra là rừng cỏ tranh cao hơn đầu người. Cỏ tranh là loại cỏ dân mình dùng để lợp nhà, cạnh rất sắc có thể cắt đứt tay như bị dao lam cắt. Đặc biệt rễ của nó lúc nhú lên khỏi mặt đất thì nhọn và cứng như đinh có thể đâm lủng dép; ai chân không đi vào đám cỏ tranh thì chỉ có khóc tiếng… Tàu, không thể nào mà bước nổi. Nhờ mang giày bốt đờ sô của lính VNCH ngày xưa nên hai thằng không nề hà gì mà vẫn cứ “đường trường xa ta quyết đi cho tới cùng”.

Đi trong rừng tranh cao ngập đầu có cái khổ là tiếng cọ xát của cỏ tranh tạo nên tiếng xoàn xoạt không ngừng khiến mình không thể nghe tiếng động nào khác; cộng thêm ánh trăng sáng tạo nên 1 cảnh tượng huyền ảo như trong truyện thần tiên. Chân vẫn bước mà tâm hồn như đang trong mơ và đầu óc mụ đi, không suy nghĩ gì cả. Chỉ biết là chúng tôi đi lâu lắm, lúc này chúng tôi không còn biết sợ hãi là gì. Vừa đi vừa vẹt cỏ tranh ra hai bên, tôi chợt nghe, từ phía ngược lại, tiếng cỏ tranh khua động rất mạnh, tiếng cỏ tranh bị bứt đứt nghe bừng bực, và tiếng chân nện thình thịch đang hướng về phía mình, tôi tạt ngang qua phải và ngồi thụp xuống theo phản xạ, P. cũng ngồi theo sau. Lúc đó tôi bắt đầu sợ, phen này bị bắt lại chắc bị hành hạ rồi bị bắn chết vất xác lên hàng rào kẽm gai.
Nỗi sợ hãi tăng dần theo tiếng cỏ bị giật đứt. Nhưng tôi là “đầu đảng” mà lại hèn thế à? Ghé sát và thì thầm vào tai P., phải đánh lại dù chết cũng phải đánh nhé, chứ để bị bắt cũng chết thôi. Hai khuôn mặt đằng đằng sát khí. Hai cặp mắt long lên sáng ngời. Hai đôi tay nắm chặt hai cây gậy “đả cẩu bổng”. Phen này quyết chiến quyết tử với kẻ thù! Trận này phải đánh giáp lá cà thôi! Cũng nên nhớ là cỏ tranh cao hơn đầu người nên chúng tôi không thể nhìn thấy gì ngoài cỏ tranh trước mặt và chỉ có thể thấy và áp sát kẻ địch khi chúng đến thật gần mà thôi.
Quyết định rồi, chúng tôi cảm thấy yên tâm hơn và chờ đợi kẻ địch đang tiến về phía mình. Tiếng cỏ tranh xào xạc càng lớn hơn và tiếng cỏ bị đứt lại càng gấp rút hơn. Tim tôi đập thình thịch. Máu tôi chạy rần rật. Tay tôi mồ hôi lạnh. Tôi hình dung ra bọn chúng đang xiết vòng vây chung quanh và vòng người cứ nhỏ lại dần. Không biết bọn chúng có bao nhiêu đứa? Có súng không? Hay chỉ dao, rựa? Dù sao đi nữa thà chết tự do ngoài vòng rào nhà tù còn hơn sống hắt hiu ở trong tù. Rồi cái gì tới phải tới, sát lắm rồi! Gần lắm rồi! Phải đánh thôi! Một cái đầu to lớn hiện ra mờ mờ dưới ánh trăng xen lẫn cỏ tranh, tôi chuẩn bị hét một tiếng thật lớn uy hiếp tinh thần đối thủ và quật một gậy vào đầu nó. Gậy vung lên, miệng và tay dừng kịp vì nhận ra không phải đầu người mà là đầu một con… bò, tiếng bừng bực là do cỏ bị đứt vì nó đang nhai. Nó cũng dừng lại một chút vì nhận ra tôi, một con… người, rồi chẳng buồn nhìn coi tôi là ai, nó rẽ qua một bên tiếp tục vừa đi vừa nhai cỏ, theo sau nó là 3 con bò khác với những tiếng cỏ tranh bị đứt còn to hơn trước. Nếu hét to được “Nạy Chúa con nòng nành vô cùng!” (Lạy Chúa con lòng lành vô cùng) thì tôi cũng hét rồi, nhưng nhớ lại đang trên đường bôn tẩu nên thôi. Hú hồn! Cảm giác như vừa qua cơn ác mộng, tim vẫn còn đập liên hồi, máu vẫn chạy rần rật trong huyết quản; chúng tôi vui mừng quá đỗi, bèn dạt qua một bên nhường đường cho các “ông lớn” đi. Các “ngài” vừa đi qua là hai thằng cũng lăn ra trên cỏ tranh mà cười ngất. Nếu có bò là có người đi rừng gần đây, họ thả bò đi rông để nó ăn cỏ rồi nó sẽ tự tìm đường về lại với chủ.
Lần này chúng tôi cảnh giác hơn đêm trước đi cách xa nhau hơn; khoảng 1 tiếng sau chúng tôi lại đi vào một khu rừng thưa và thấy xa xa có những đốm lửa của dân đi rừng. Tiến lại gần hơn, có khoảng gần 10 chòi lá rải rác cách nhau khá xa, thấp thoáng ánh lửa bên trong hình như họ đang nấu cơm chuẩn bị đi rừng, bên ngoài chòi là những chiếc xe bò đậu với hai càng đằng trước được chống bởi 1 thanh cây lớn hình chữ Y lộn ngược. Quan sát hồi lâu, tôi thấy 1 căn chòi nhỏ nhất bên trái, không có xe bò bên ngoài và có vẻ như xa cách với mấy chòi kia. Chúng tôi đánh bạo bước vào, người đàn bà đang nướng mấy con cá khô, giật mình ngẩng lên nhìn chúng tôi và hỏi mấy chú là ai, đi đâu vậy? Thưa dì tụi con đi kiếm hai con bò lạc mẩy bửa nay mà không thấy, rồi hết lương thực nên ghé đây xin chia 1 chút, tụi con gởi tiền lại. Người đàn bà nói để tui hỏi ba con hai coi ổng chịu hông nghen. Nói rồi, bà ta bước vào gian bên trong và thì thầm gì đó. 

Một người đàn ông hơi gầy, râu cằm thưa, dáng trung bình, có vẻ hiền từ, bước ra chào chúng tôi rồi nói mời hai chú ngồi chơi uống nước trà. Mấy chú ở đâu tới, mất bò hả? Mất lâu nay rồi? Hổm rày kiếm ở đâu? Dạ tụi con kiếm 2 bửa nay rồi mà không thấy. Tránh không trả lời từ đâu tới, vì có biết từ đâu? Ông ta lấy cái điếu cày nhôm bằng vỏ đạn trái sáng ra, vê một bi nhét vào nõ tre, rồi dùng đóm tre mồi lửa hút, kéo môt hơi thật dài, nhẹ nhàng nhả khói. Khói thuốc hòa lẫn với khói bếp, mùi cơm chín và mùi cá nướng làm hai thằng tôi thèm chảy nước miếng mà phải ráng ngồi im.

Ông trao điếu cày và mời chúng tôi hút. Đợi hai thằng hút xong, ông nhìn chúng tôi hồi lâu như quan sát, rồi mới chậm rãi nói, giờ tui hỏi thiệt nghe, mà hai chú phải trả lời thiệt thì tui mói biết đường mà giúp hai chú. Hai hôm nay công an trại giam, tụi nó đi lùng sục tùm lum hết. Tình hình căng lắm, tui nói để hai chú tính. 

Hai thằng nổi gai ốc, thằng này liếc thằng kia mà không biết nói gì. Để phá tan bầu không khí nặng nề, sau khi hai thằng nhìn nhau bằng ánh mắt đồng tình và cái đá chân nhẹ của P., tôi lên tiếng, không giấu gì chú, tụi con là tù trốn trại, nhưng không phải là tù hình sự, xin chú thím giúp đở, tụi con cám ơn chú thím nhiều lắm. Tui nghe tiếng súng nổ rền sáng hôm kia, biết là tù trốn trại, rồi công an túa đi khắp nơi hỏi tụi tui có thấy hai thằng trốn trại không? Giờ này tụi nó vẫn còn chốt mấy con đường mòn về phía Tây Ninh đó. Mấy chú ra là bị tóm liền. Tụi nó còn treo giải thưởng mười mấy ký gạo, muối với khô cho ai bắt được hai chú là được 30 ký gạo rồi.

Lần này chúng tôi còn run hơn lúc mới chạy trốn, mặt càng xanh như đít nhái, hồi hộp không biết ông bà này sẽ làm gì với mình. Leo lên lưng cọp rồi, muốn xuống cũng không xong. Thôi giờ vầy, hai chú đói lắm phải không? Ăn tạm miếng cơm cá khô đi rồi tui giúp cho. Tui nói là tui giữ lời, đừng sợ. Nói thiệt mấy chú, tui trước 75 là chi cục phó chi cuộc cảnh sát quốc gia gần Tây Ninh, sau 75 cải tạo hết mấy năm, giờ dìa làm rừng. Trời xui đất khiến mấy chú vô chòi tui chứ mấy chú mà vô mấy chòi kia là bị bắt rồi. Tụi nó gia đình cách mạng nòi mờ. Thôi yên tâm ăn cho no rồi bả dẫn mấy chú đi tắt ra khỏi rừng này về Dương Minh Châu, đón xe về Sài Gòn.

Không thể nào tả hết niềm vui và xúc động của hai đứa tôi, lần lượt chúng tôi nắm tay chú mà cặp mắt cay xè. Chúng tôi biết chắc rằng chúng tôi an toàn với sự giúp đỡ của chú thím. Trong khi chúng tôi ngấu nghiến ăn, chú kêu hai ơi, con ra nấu thêm ít cơm, với mấy con khô, nắm lại cho hai chú đi đường nghen. Một cô gái khoảng trên 20 bước ra vo gạo rồi trở vô đặt nồi lên bếp lửa, nướng thêm mấy con cá khô, gói lại trong 1 tàu lá thật to. Sau bữa cơm, chú nói lúc hai chú bước vô tui đã biết mấy chú là ai rồi, khi nghe hai chú thưa gửi lể phép quá xá là tui biết ngay hai chú là người đàng hoàng, có ăn học vì dân ở đây không ai ăn nói như hai chú đâu. Tôi hỏi thưa chú, chú tên là gì? Để mai này tụi con sẽ nhờ người nhà đến tạ ơn chú. Cứ kêu tui chú Năm là được rồi. Mà ơn với nghỉa gì chú ơi, giúp người cũng như giúp mình, mai mốt con mình sẽ được người giúp lại. Đời có vay có trả, bọn người hung tàn bây giờ sẽ phải trả sau này, mấy chú nhớ điều này đi. Cái triết lý đơn giản của chú Năm làm chúng tôi sững sờ vì nó quá thật và quá đơn giản mà không mấy ai trong bọn cầm quyền nhìn ra.
Sau khi “cơm no, thuốc say”, chú Năm còn trang bị cho chúng tôi 1 con rựa đi rừng cho nó “giống với người ta”, rồi dặn dò thím vài câu trước khi khởi hành. Tôi bắt tay chú lần nữa và nhét vào tay chú một số tiền. Chú nghiêm nghị nhìn tôi và nói chú không giúp cháu vì tiền mà vì tình người với nhau. Cất đi, hai cháu sẽ cần nó trên đường đi. Sau này tôi mới nghiệm ra sở dĩ chú không nói tên thiệt vì đề phòng lỡ chúng tôi bị bắt lại và bị tra tấn thì chúng tôi sẽ không biết tên ai mà khai. 

Thím Năm đi trước, chúng tôi theo sau, trời vẫn còn tối, ba người chúng tôi lẳng lặng đi mà không nói chuyện, mỗi người một tâm sự, một suy tư, một nỗi lo; thím Năm lại là người ít nói nên chúng tôi không biết phải bắt đầu ra sao.
Dọc đường tôi gợi chuyện, thím năm nói hai chú yên chí, đường tắt này chỉ chúng tôi, dân đi rừng mới biết, công an, du kích không biết đâu. Đi cho đến khoảng 10 giờ sáng, thím nói tới chỗ này an toàn rồi, hai chú cứ đi về hướng này khoảng hơn 1 tiếng sẽ gặp 1 ngôi làng kinh tế mới (tôi quên tên), rồi đi đò qua sông là huyện Dương Minh Châu, đón xe đạp ôm cỡ 5 cây số là tới chợ. Chúng tôi lại năn nỉ thím cầm ít tiền để mua khô mắm đem đi rừng, thím nói chú Năm đã dặn không được lấy tiền của hai chú, nếu lấy thím sẽ bị rầy. P. vội quỳ xuống vái thím Năm rồi nói thím làm ơn nhận tiền dùm tụi con vì không biết bao giờ thím cháu mình mới gặp nhau lần nữa, xin thím cứ coi đây là tấm lòng của con cháu mà đừng nghĩ là trả ơn.

Tôi cũng đến và nắm lấy hai bàn tay gầy guộc chai cứng và nói thím Năm à, thím cứ coi tụi con như em hai trong nhà, nếu không lấy tiền, tụi con sẽ áy náy cả một đời không yên. Cuối cùng thím đành phải cầm mà đôi mắt long lanh vì xúc động. Chúng tôi bịn rịn chia tay thím, đi một hồi, quay lại vẫn thấy thím đứng trông theo coi tụi tôi có đi đúng đường không. Những con người chân chất, thật thà, và tốt bụng như chú thím Năm không có nhiều trong 1 xã hội nghèo đói tả tơi của Việt Nam lúc bấy giờ. Tụi cháu xin ghi ơn này và nguyện sẽ không quên. Chú thím Năm ơi! Đến bây giờ cháu cũng chưa tìm lại được để biết chú thím là ai và để nói 1 lời cám ơn với chú thím.

Hai thằng tiếp tục đi thẳng phía trước, thấy một ngôi làng với những mái nhà tranh xơ xác, bụi đỏ bám khắp nơi, cảnh vật thật điêu tàn. Sải bước nhanh trên con đường đất đỏ giữa làng, chúng tôi quan sát thấy nhà nào nhà nấy có vẻ im lặng chịu đựng như không còn sức sống, thỉnh thoảng vài em bé ở truồng, dơ dáy, bụng ỏng, mũi dãi lòng thòng đứng trước cửa nhà nhìn chúng tôi với 1 cặp mắt thờ ơ, đâu đây một vài tiếng phụ nữ kêu con về nhà ăn cơm. Ngôi làng toát lên cái nghèo, cái đói, cái cơ cực của những vùng kinh tế mới lúc bấy giờ. Hai thằng bàn nhau hỏi mua một con gà, luộc lên chấm muối ớt ăn. Nói thì dễ nhưng biết mua của ai và làm cách nào nấu nướng? Mấy tháng tạm giam ở trong tù và 16 ngày trại ở tập trung thêm 2 ngày đói khát trong rừng, thèm thịt gà quá, giờ mà có 1 miếng thì đúng là sướng hơn Tiêu Sơn tráng sĩ Phạm Thái lúc sa cơ, bầu rượu với miếng thịt “nai đồng quê” vừa đi vừa nhậu vừa hát:”sống trên đời ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ biết có hay không?”.

Vẫn bước đều và nhìn quanh coi có ai ở nhà để mua, tôi chợt dừng lại ở một ngôi nhà khác hẳn với tất cả những ngôi nhà chung quanh, đó là một ngôi nhà khang trang, to lớn, với những hàng cột to màu vàng đỏ, nền xi măng, mái lợp tôn mới tinh, phần vách phía trước đã hoàn thành chỉ còn hai bên vách là đang dở dang. Giữa một rừng nhà điêu tàn mà có một ngôi nhà khang trang như thế này, giống như trong một đám ăn mày mà có một người mặc quần áo sạch sẽ, áo bỏ trong thùng, tách biệt hẳn ra, rực rỡ như chim công trong đám gà. Chắc mình có thể mua một con gà từ nhà giàu này?

Một chị khoảng 30 tuổi, rất đẹp, cái áo lụa trắng và quần sateng đen làm tăng vẻ sang trọng trên nước da trắng hồng của chị, một đứa bé gái bụ bẫm bên hông, một tay chị đang dọn đồ đạc, một tay ẵm con; thấy chị lúng túng tội nghiệp, chúng tôi đến gần cánh cổng cao to nói vọng vô chị ơi, chị có cần giúp đỡ không, tụi em phụ chị một tay. Tụi em đi kiếm bò đi lạc (bổn cũ soạn lại) mà chưa thấy, tính nhờ chị cho nấu nướng một chút, rồi tụi em sẽ giúp chị khiêng đồ vô trong nhà. Chị nhìn ra thấy hai thằng thanh niên khỏe mạnh, tướng tá dễ coi mà có vẻ hiền lành nên gật đầu liền và ra mở cổng cho chúng tôi vô.

Chị lấy nước mời chúng tôi và hỏi thăm mấy con bò; bài học thuộc lòng rồi, nên chúng tôi trả lời trôi chảy là chưa thấy nhưng nghe ai đó méc có bắt được mấy con bò ở vùng này nên chúng tôi đến đây. Chị nói chồng chị là trưởng công an xã này (Trời ạ! Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa?), để chiều về chị hỏi coi ảnh có biết vụ này không, ảnh sẽ giúp hai chú. Không bảo nhau mà hai thằng cùng kín đáo liếc nhau một cái rổi làm tỉnh như dân Ăng Lê. Chúng tôi bắt đầu hỏi chị phải khiêng cái gì trước, cái gì sau? Hai thằng bắt tay làm liền và “lao động rất hồ hởi, phấn khởi”, chẳng mấy chốc đâu vào đó.

Trong lúc làm việc, thì thầm với nhau sao cái số tụi mình chạy trời không khỏi … cộng sản? Tôi an ủi P. rằng có đọc đâu đó nói đôi khi mình ở trong lòng địch lại là nơi an toàn nhất, thôi thì tương kế tựu kế ráng đừng để lòi đuôi ra trong lúc ăn nói là được. Sau mấy tiếng đồng hồ căn nhà coi khá ngăn nắp, chị cho đứa con gái ngủ trên võng, rồi mời chúng tôi nên ở lại đêm nay, mai lên đường cũng không muộn. Chúng tôi đồng ý. Chị bắt 1 con gà trong chuồng ra làm lông và vừa xào nấu vừa nói chuyện. Chút nữa ông xã chị về, hai cưng nhậu với ổng luôn nghe. Ổng làm việc trên xã chuyện gì ổng cũng hay, hổng chừng ổng cũng biết mấy con bò lạc của mấy cưng. Mấy chị em nói chuyện rất vui và hợp nên câu chuyện rôm rả không lúc nào ngừng. Chị hỏi mấy cưng ở đâu mà ăn nói có duyên và lịch sự quá. Bỏ bu rồi, mãi lo tán dóc mà quên mình là dân chăn bò, mà chăn bò thì đâu biết nói năng lịch sự. May mà chị ấy cũng không hỏi tới, nếu không thì thật là rách việc.

Nghe tiếng người nói xôn xao ngoài cổng vọng vô, nhìn ra thấy ba người đàn ông bước vào, người đi giữa khoảng 35, 40 tuổi đeo súng ngắn bên hông, hai người trẻ hơn mang hai khẩu AK trên vai vừa đi vừa nói cười huyên thuyên. Thấy chúng tôi, người lớn tuổi đưa mắt nhìn về phía chị. Hai chú này phụ em dọn nhà cả ngày hôm nay đó anh. Bằng vài câu ngắn ngủi, chị giới thiệu chúng tôi với chồng và nói thêm vụ mất bò. Rồi chị mời hai anh thanh niên trẻ ở lại nhậu luôn cho vui.

Thế là bàn tiệc 5 người cười nói huyên thuyên, ly cụng ly, rồi dzô dzô không ngừng, riêng tôi, số khổ vì là “đầu đảng” nên đâu dám uống, cần phải tỉnh táo để tính toán chứ, làm P. phải đỡ dùm; thỉnh thoảng tôi ra hiệu uống nhưng đừng say quá nghen cha nội. Nó hiểu ý nên cũng uống cầm chừng. Anh Ba (người chồng) hứa mai sẽ hỏi thăm…bò dùm chúng tôi rồi hỏi nếu có tin thì làm sao liên lạc? Chúng tôi nói sẽ trở lại đây vào hai ngày sau. Đêm đó hai thằng ngủ một giấc ngủ ngon lành không còn giật mình nhưng thoảng đâu đây như còn nghe tiếng kẻng trại tập trung. Cho đến 10 năm sau khi đã ở trên đất Mỹ rồi, nhiều lần trong ác mộng tôi choàng tỉnh, vẫn còn nghe tiếng kẻng trại gần lắm.

Hai cưng ơi! Dậy đi hai cưng. Giọng của chị nhẹ nhàng đánh thức chúng tôi. Trời sắp sáng. Dậy ăn sáng đi, chị đã gói cho hai cưng 1 bọc xôi nếp với chút thịt gà sẳn để hai cưng đem theo ăn dọc đường. Người ta hay nói “họa vô đơn chí, phúc bất trùng lai”, họa không đến 1 lần, nhưng phúc đến chỉ 1 lần. Vậy mà chúng tôi được phúc đến 2 lần. Xem ra trong cái rủi vẫn có cái may, trong nhiều0* người xấu, vẫn có người tốt, mà tốt đến 2 lần. Cám ơn chị thật nhiều, chị Ba ơi. Bây giờ tôi cũng không biết tên của chị vì tôi chưa từng 1 lần hỏi, mà cũng không cần hỏi, đơn giản vì tình của chị là giữa con người với con người không có lằn ranh cộng sản hay quốc gia.

Đi bộ hơn 1 tiếng, từ xa chúng tôi đã thấy bến đò đông đặc những người và người đang chen nhau xuống thuyền. Ngồi trên quán nước quan sát, thấy bờ bên này không có gì nguy hiểm nhưng bờ bên kia có một chốt chặn của công an áo vàng, họ lục soát tất cả bao bị, hành lý coi có đem hàng “quốc cấm” như ngũ cốc, thịt cá, hay hàng hóa gì không. Để ý thấy bọn chúng chỉ lo lục lọi và tịch thu nông phẩm như đậu xanh, bắp, v…v… mà không hỏi giấy tờ cá nhân nên chúng tôi an tâm xuống bến mua vé sang sông. Con đò là một chiếc ghe khá lớn, chở đầy người, xe đạp và đồ đạc lỉnh kỉnh và chủ đò chống chiếc ghe bằng con sào thật dài qua bên kia sông. Tuy đã chuẩn bị tinh thần, nhưng có tật thì giật mình, nhìn những tên công an áo vàng mà chúng tôi gọi bò vàng, với những cặp mắt láo liên nhìn người dân dò xét bằng những cặp mắt lạnh lùng đáng ghét, chúng tôi vẫn cứ bụng đánh lô tô. Khi đi ngang qua chúng, cả hai làm tỉnh nói chuyện, cười dỡn “tự nhiên như thanh niên Hà Lội”.

Vừa lên bờ, mấy chiếc xe đạp ôm trờ tới chào mời, chúng tôi nhảy lên hai chiếc gần nhất nói chợ huyện Dương Minh Châu. 15 phút sau chúng tôi đã chễm chệ trong 1 quán phở vừa ăn vừa hút thuốc “có cán” vừa bàn tính nên đón xe đò đi đâu. Sau khi dò hỏi bà chủ quán về các trạm công an kinh tế, giả vờ như chúng tôi chở đậu xanh đi bán. Bà ấy cho biết đây về bến xe Tây Ninh khoảng 20 cây số chừng 1 tiếng đồng hồ, không có trạm nào hết. Mừng quá, trả tiền xong, hai thằng nhảy lên 1 chiếc xe đò đang nổ máy đi Tây Ninh.

Xuống bến xe, hai thằng ghé uống nước mía và dò hỏi tiếp. Bà chủ nói từ đây dìa Sài Gòn có 3 trạm kinh tế, khó lòng mà đi lọt nếu không đút lót và quen biết. Tôi hỏi tụi nó có xét giấy tùy thân không? Tụi nó chỉ lo đớp thôi chú ơi, chú đi tay không hổng sao đâu. Dù biết vậy, nhưng vẫn lo không biết tụi nó có cho công an trại ra mấy chốt kinh tế kiếm tù trốn trại không? Nó có gởi hình ảnh chúng tôi cho bọn kinh tế không? Nếu có thì sao? Hằng ngàn câu hỏi cứ lẩn quẩn trong đầu. Mang thân tù vượt ngục, tâm trạng không lúc nào yên cho tới khi về đến Sài Gòn. Hai thằng bèn tách ra không ngồi gần nhau tuy đi cùng 1 xe. Thằng ngồi trước, thằng ngồi sau, làm như không quen. Riêng tôi vẫn cầm con rựa và nếu cần thì bổn cũ “mất bò”soạn lại có thêm sửa chữa chút ít như tui đi rừng, giờ về nhà mua thêm mắm muối đem vô rẫy tiếp tục kiếm bò … lạc. (Không được nghĩ bậy nhé).

Qua chốt Trảng Bàng, bọn công an bắt mọi người xuống xe đi bộ qua trạm, hánh lý để lại trong xe để bọn chúng lên lục lọi. P. đi trước qua trạm an toàn, tôi lặng lẽ theo sau hàng người và lên xe sau cùng. Rồi sự lo sợ, hồi hộp cũng qua đi khi xe về đến bến xe Bà Quẹo. Lòng tôi rộn ràng mừng vui không tả xiết. Tôi dẫn thằng bạn đồng khổ bước vào quán hủ tíu Lãng Du của vợ chồng anh chị bà con, quán đang đông khách, ông anh họ thấy tôi bước vào, đôi mắt anh tròn xoe, miệng há ra ngạc nhiên, xong anh định thần lại và hỏi tô lớn nhé, không đợi trả lời, anh quay vào và một lát sau bưng ra 2 tô hủ tíu to nhất đang bốc khói và ghé tai nói nhỏ hai em dùng đi xong về nhà anh mà nghỉ, chiều về anh em mình nói chuyện. Ăn xong chúng tôi đón xích lô về nhà ông anh họ và làm lễ “tẩy trần” ở đó. P. từ giã tôi để về Khánh Hội nơi má nó đang làm ăn buôn bán. Tôi dặn dò nó chớ bao giờ trở về nhà ở Củ Chi, vì bọn công an đang chờ, riêng tôi là kẻ không nhà, không hộ khẩu, sống vô gia cư, chết vô địa táng, nhưng tôi cũng sẽ không bao giờ về quê nơi ba má tôi đang sống.

Sáng hôm sau, đứng trước gương soi lại “dung nhan đó bây giờ ra sao?” Mặc cái quần đùi và cởi trần, tôi cố gắng nhìn thật kỹ coi còn con nào bám vào bộ xương cách trí của tôi hay không? Dơ cả hai cánh tay lên trời, tôi thấy có 1 cái chấm đen to hơn hạt đậu đen ở dưới nách trái; Ôi dưới “đôi cánh thiên thần” 1 nàng ve no máu đang say giấc điệp bên bờ “lau sậy um tùm”. Đốt 1 điếu thuốc, dí vào em nó, nó nhả càng ra và rớt xuống đất nghe cái đụi, nói tếu thôi, nó vẫn không chịu rớt và không chịu nhả càng, mấy ngày đeo nhau như sam, nàng chắc ghiền và quen mùi của tôi chăng? Phải dùng đến cái nhíp kéo nàng ra và bật quẹt gas đốt cháy nghe cái sèo, nàng vỡ ra và khét lẹt mới thôi. Đồ ăn …bám!

Ba tháng sau, một hôm má của P. đến tìm tôi với cặp mắt đỏ hoe, khóc nghẹn ngào con ơi thằng P. bị bắt lại rồi, tụi nó đánh thằng nhỏ đi không nổi còn bị còng hai chân và tống vào biệt giam ở khám lớn. Nghe tiếng nấc, lòng tôi xót xa không kém, chỉ biết nắm tay bà mà không nói được lời nào. Trước khi về, bà dặn tôi đừng bao giờ về thăm ba má con vì thằng P. nó nhớ bác, nó về Củ Chi thăm, hàng xóm báo công an địa phương đến còng tay và dẫn nó đi ngay đêm hôm đó.
Hơn 1 năm sau, tôi may mắn thoát ra khỏi thiên đàng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nơi “đáng sống thứ 2 trên thế giới” (Tin tức tự sướng của VN), chỉ sau Thụy Sĩ, lại còn “cưỡng ép” người khác trốn đi nước ngoài (đây là tội danh chính quyền cộng sản ghép cho người tổ chức vượt biên), đến cái xứ tư bản giãy chết mà mọi người yêu tự do hằng mong ước. Nhiều năm sau, trong giấc ngủ trên xứ người, nhiều đêm tôi vẫn còn nghe văng vẳng đâu đây tiếng kẻng báo giờ của trại tập trung.

Tham khảo: Google Earth

Tống Lê Chân – Tây Ninh: 49.7 Km Dương Minh Châu – Tây Ninh 17.2 Km. Tây Ninh – SG: 95.89 Km

Từ Tống Lê Chân đi về phía Bắc là tỉnh Bình Long, phía Nam là Bình Dương, Đông Nam là Đồng Xoài, Tây Nam là về Tây Ninh (phải đi ngang hồ Dầu Tiếng và huyện Dương Minh Châu.)

Nguyễn Văn Tới
Ngày Vượt Biên Nhìn Lại 

Người Phương Nam


Mỗi năm, cứ tới ngày ba mươi mốt tháng mười là thầy Thanh nhắc vợ mua dĩa trái cây về thắp nhang cúng Bà Áo Trắng để tạ ơn Bà đã phù hộ độ trì cho gia đình thầy nói riêng và cả nhóm người chung tàu nói chung được bình yên tới bến bờ trong chuyến vượt biên ba mươi năm về trước. Một ơn phước thiêng liêng tưởng như là bịa đặt nhưng kiểm chứng lại thì quả thật không thể nào phủ nhận .

Đây ngày kỷ niệm vượt biên
Tháng mười, ba (mươi) mốt vượt biên đường tàu
Xế chiều qua chợ Bãi Xàu
Rồi qua Bãi Giá núp vào chờ đêm…

Năm bảy mươi lăm, trong những ngày hấp hối dãy chết của miền nam, Thầy Thanh đã tận sức tìm cách đưa gia đình chạy cộng sản nhưng cuối cùng cuộc di tản bất thành, số mệnh đã cột chân thầy lại cho đến bốn năm sau. Khi về lại tỉnh nhà, trong một buổi họp nhân dân, thầy đã chứng kiến tận mắt một màn thị oai dằn mặt nhân dân rất ư là ghê rợn bạo tàn của chế độ mới. Trong buổi họp, bọn sắt máu đã tố tội hai sĩ quan “ngụy” và sau đó đã thẳng tay hành quyết vặn cổ nạn nhân ngay tại hiện trường không mảy may xúc động. Luật lệ nào mà xử người không có đối chứng, không quyền biện hộ phân bua lấy một lời. Lụật lệ nào mà muốn lục xét nhà, muốn bắt người ban đêm ban hôm lúc nào thì bắt, muốn đày ai đi vùng kinh tế mới lúc nào thì đày. Có chăng là luật rừng, luật của những kẻ không may sinh ra để làm công cụ cho một chế độ độc tài đảng trị, đã bị nhào nặn, đầu độc ngay từ trong trứng nước theo tôn chỉ của đảng và nhà nước, không có cái quyền lựa chọn đúng sai hay nói lý lẽ mà chỉ rặc một khuôn là bạo ngược, cường quyền vô thần vôn nhân tính. Nói theo truyện ngụ ngôn của La Fontaine là lý của kẻ mạnh luôn luôn là phải đúng. Con chó sói một khi đã muốn ăn thịt cừu con thì cứ lấy cớ bắt tội con cừu là tại sao mày dám uống nước trên dòng suối của tao. Tao phải ăn mày để trị tội…

Thọat đầu, vì phẩn uất và bất khuất, thầy Thanh tìm móc nối với một nhóm phục quốc và thường xuyên đi hội họp khiến gia đình thầy lúc nào cũng phập phồng lên ruột ăn ngủ không yên. Trong thời điểm cộng sản có phong trào tổ chức cho dân đi vượt biển mua bãi công khai bằng số vàng quy định, có vài ông xì thẩu cũng muốn mời gia đình thầy Thanh đi theo để lo chuyện đối ngọai nếu gặp tàu ngọai quốc nhưng lúc ấy thầy còn hăng máu phục quốc nên chưa chịu bỏ đi mặc dù ông già vợ của thầy rất muốn thầy đi cho rồi để trút hẳn mối lo. 

Về sau, càng ngày càng thấy rõ sự nguy hiểm khi người thủ lãnh bị xử tử hình, sự nguy hiểm không chỉ cho bản thân thầy mà còn liên lụy cho gia đình và thân nhân một cách oan uổng vô lý nên thầy mới nghĩ đến chuyện vượt biên đào thóat. Đất nước là đất nước chung, mệnh nước thì trong tay trời, cho dù thầy có lòng nhiệt huyết yêu nước thương dân nhưng rủi như thầy bị bắt bớ tù tội thì ai sẽ thương giùm gia đình thầy. Tề gia còn chưa xong, tâm tình đâu mà trị quốc, nói chi tới bình thiên hạ. Chí lớn này thôi đành cất lại nhường cho những bậc đại trượng phu, anh hùng cái thế, còn cái thân phận tầm thường nhỏ nhoi như con kiến con sâu này thì ba mươi sáu chước, “quậy” không được thì chạy là thượng sách.

Một buổi trưa trên đường từ trường quận đi dạy về, có một người trạc tuổi thầy đón thầy lại hỏi ngắn gọn một câu “Đi vượt biên không?” Thầy Thanh bỡ ngỡ nhìn anh ta như ngầm hỏi anh là ai. Anh ta nói là biết thầy từ lâu. Nhà vợ anh ta ở gần nhà vợ thầy, anh ta là lính cũ, hạ sĩ Trần Quý. Thế rồi chiều hôm đó anh ta tới nhà thầy bàn chuyện vượt biên như đã ăn ý quen đâu từ trước rồi. Anh ta nói có một chủ ghe ở Bãi Giá (cách tỉnh Sóc Trăng khỏang 12km) muốn cho vợ chồng thằng con lấy ghe đi (chiếc ghe đánh cá chỉ đủ nuôi gia đình nên rất nhỏ, bề dài khỏang mười một thước, bề ngang hai thước rưởi) nhưng với điều kiện để lại cho ông ta 25 cây vàng dưỡng già. Và bây giờ thằng con chủ ghe đang nhờ anh ta kiếm mối gom vàng. Chỉ đơn giản như vậy. Còn chuyện xăng dầu, nước nôi hải bàn, hay gì gì khác thì để anh ta lo.

Thầy Thanh trời sinh có cái tính lạc quan, dễ tin người, không hề biết dè dặt đề phòng ai cả, mà hình như những người như vậy thì luôn được quý nhân phù hộ hay sao không biết. Có nhiều chuyện xảy ra chung quanh thầy đều là điềm hung nhưng khi tới gần thầy thì tự nhiên đổi hướng, chuyển bại thành thắng. Trong trường hợp này, nếu như bị công an gài bẫy thì làm sao thầy chối tội cho được. Hơn thế nữa, khi mọi dự tính sắp đặt xong xuôi, thầy công khai phơi chanh đường và cơm nguội để làm lương khô cho chuyến đi sắp tới, hàng xóm chung quanh ai cũng biết thầy chuẩn bị vượt biên, càng đáng nói hơn nữa là nhà thầy lại nằm cạnh bên Ty công an, thằng công an nào đứng trên sân thượng nhìn qua cũng có thể chạy qua nắm đầu bắt quả tang chứng cớ rành rành. Vậy mà không hiểu cái gì đã che mắt bọn chúng làm cho bọn chúng phớt lờ như không biết không hay. Quả thật lạ lùng!

Cuối cùng ngày khởi hành cũng đến. Gia đình thầy gồm hai vợ chồng với đứa con gái mới lên 5 và thằng em vợ 12 tuổi cải trang như những người nhà quê lam lủ chồng chất lên một chiếc Honda dame chở nhau qua chợ quận Bãi Xàu vào một buổi xế chiều (tên quận xuất xứ từ người Miên). Từ Bãi Xàu muốn ra Bãi Giá phải đi thêm một chặng đường lồi lõm rất xấu khỏang 6km nữa mới tới nơi. Thầy Thanh đã sắp đặt với thằng em chú bác của vợ khi gần tới điểm hẹn sẽ giao chiếc xe cho thằng em mang về. Còn gia đình thầy thì có người trong nhóm tổ chức đưa tới nhà ông chủ tàu chờ đêm xuống mới dẫn ra bãi.



Mười ba khá sáng trăng đêm
Công an đâu nghĩ có màn vượt biên
Đêm ấy có đám diễn viên
Công an mê mẩn bỏ phiên canh phòng


Thời may đêm đó có một đám văn công về chợ quận hát hò trình diễn nên đám công an biên phòng mải mê vui chơi, lơ là việc canh gác rất thuận lợi cho việc băng đồng lội ruộng dẫn đường ra bãi hẹn. Thầy Thanh tay dắt vợ, lưng cỏng đứa con, thằng em chạy lúp xúp theo sau. Cô Thanh từ nhỏ tới lớn chưa từng biết thò chân xuống ruộng nên đi rất khó khăn, trợt lên trợt xuống một hồi rồi mất dép luôn, phải chạy chân không, vừa nhờm gớm, vừa bị gai đâm, miểng chai xóc nhức nhối vô cùng mà cũng không thể dừng lại, rán cà nhắc nhắm mắt chạy bừa theo cho kịp với những người trước, hơn một giờ sau mới ra tới bãi.

Đợi khi con nước hết ròng
Cho tàu vào bãi tài công rước người
Lương khô, nước uống, xăng dầu
Lôi từ bụi rậm chuyền vào khoang ghe
Thế rồi tách bến lui ghe
Nhổ neo xả máy hướng về biển đông
Từ đây thành kẻ lưu vong
Quê hương mờ khuất dần trong mắt nhìn

Đám người vượt biên khỏang vài chục người (không biết chính xác là bao nhiêu và cũng không ai biết ai, vì khách đi chỉ biết người trung gian mà thôi) khi ra tới bãi thì nhằm lúc con nước đang ròng, tàu không thể cặp vào rước người được cho nên cả đám phải ẩn mình vào trong các lùm cây bụi rậm (nơi mà người tổ chức đã dấu xăng dầu và nước uống từ mấy ngày trước) chờ nước lớn. Khỏang hai giờ sau thì nước mới dâng cao, lập tức anh tài công nổ máy chạy sát vào bờ. Mỗi người một tay phụ nhau chuyền những thùng dầu, nước và lương khô vào khoang tàu, tiếp theo là phụ nữ và em bé rồi cuối cùng là bọn đàn ông thanh niên. Xong xuôi anh tài công lui ghe rời bến xả hết tốc lực nhắm hướng đông trực chỉ.

Cuộc hải trình chỉ mới bắt đầu, chưa biết hung kiết thế nào nhưng mọi người trên tàu đã vội vui mừng nói cười ầm ĩ khiến một người trong đám phải la lên “Trời ơi!, đi vượt biên mà làm như đi du lịch vậy, đừng có mừng sớm cha nội, đợi ra tới hải phận quốc tế cho chắc ăn rồi hãy mừng”. Nhưng người nào cũng hừng chí phấn khởi, húyt gió um sùm. Hạ sĩ Trần Quý reo lên “Huy hòang rồi, huy hòang rồi anh em ơi! Thầy Thanh cất tiếng hát vang bài Ra khơi:

Hôm nay ta cùng chuyến thuyền vượt ra khơi
Anh em ơi! xin chớ đừng dừng tay bơi
Một ngày nào ra khơi
Một ngày nào anh em còn đang xông lướt bên trời
Hôm nay ta cùng chuyến thuyền vượt ra xa
Anh em ơi! sông núi kìa kìa bao la
Một ngày nào ra đi
Đừng buồn vì phân ly đòan ta xa vắng quê nhà…

Mấy anh em còn phụ họa theo “Khoan khoan hò khoan” nữa chớ. Thiệt đúng là chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Tàu chạy được một hồi lâu êm thắm, không thấy tàu công an nào rượt theo, mọi người càng yên chí. Các chị em phụ nữ không có phận sự gì thì dựa vào nhau nhắm mắt thiêm thiếp. Còn đàn ông trai tráng thay phiên nhau tốp thì ngủ, tốp thì thức nói chuyện tào lao cổ võ tinh thần anh tài công chánh cho anh ta tỉnh ngủ trong lúc anh tài công phụ đi kiếm chỗ nghỉ lưng nhắm mắt một hồi. 

Đến nửa đêm, chị Cẩm, vợ anh tài công chánh (đang mang thai bốn năm tháng gì đó) bỗng thức giấc bò dậy nói với chồng chị là chị vừa nằm mơ thấy một bà mặc tòan trắng hiện ra báo cho biết là trong tàu mình đi có hai mươi chín người, tính luôn hai đứa nhỏ. Bà bảo hãy đốt nhang cầu nguyện thì bà sẽ phù hộ cho đi tới bờ bình an. Chị lại nói rằng đêm qua lúc còn ở nhà, chị cũng đã chiêm bao y chang như vậy nhưng chưa có dịp kể với ai. Hạ sĩ Trần Quý nghe thế vội chui xuống khoang tàu đếm đầu người rồi trở lên báo cáo với thầy Thanh là đúng thật hai mươi bảy người lớn và hai đứa con nít, một là con của anh ta và một đứa là con gái thầy Thanh. Thầy vội nói với chị Cẩm đem nhang đèn ra đốt và khấn vái, cầu xin bà áo trắng cho được thuận buồm xuôi gió tới bờ.

Lâm râm khấn nguyện cầu xin
Ơn trên ban phúc an bình đến nơi
Lênh đênh giữa chốn biển khơi
Mênh mông trời nước biết nơi đâu bờ
Cầu xin sóng lặng như tờ
Thuận buồm xuôi gió đến bờ tự do
Cầu xin sẽ được ban cho
Giữa khuya linh ứng trong mơ gặp bà
Uy linh áo trắng ngọc ngà
Bà truyền bảo đốt cho bà nén hương
Bà sẽ phù hộ trên đường
Bình an cho kẻ hiền lương tới bờ
Tàu này hai đứa trẻ thơ
Vị chi tất cả hai mươi chín người
Không tin cứ đếm thử coi
Quả thật hai mươi chín người đúng bon
Vội vàng thắp nén nhang thơm

Hương trầm khói tỏa kính dâng lên bà

Bất cứ một ai, khi trong lòng đã có một niềm tin mãnh liệt ở đấng thiêng liêng thì hình như người ta không còn cảm thấy sợ hãi một điều gì nữa cả. Mặc dù đang lênh đênh giữa biển cả thăm thẳm bao la không thấy đâu là phương hướng bến bờ nhưng mọi người đều tin chắc rằng mình sẽ được bà áo trắng độ trì vượt qua mọi tai biến trên bước đường ty nạn. 

Luôn ba ngày liên tiếp, trời quang mây tạnh, nước xanh biêng biếc, sóng lặng gió êm, cá dolphin lội dọc theo hai bên thành tàu như hai đòan quân hộ vệ. Cô Thanh có cảm tưởng như đang ngồi trên du thuyền, thỉnh thỏang thọc tay xuống biển nghịch nước và nhúng cái khăn lau mặt cho con. 

Trưa ngày thứ ba thì đòan người vượt biển gặp giàn khoan dầu của Mã Lai. Anh tài công bỏ neo dừng lại, thầy Thanh đứng ở đầu tàu ngước lên kêu gọi cầu cứu , xin tiếp tế nước, lương thực và hỏi thăm đường tới Mã Lai còn bao xa nữa. Những người trên giàn khoan nhìn xuống chiếc tàu bé xíu trông giống như đồ chơi trẻ con đều lắc đầu thương hại cho những kẻ khốn cùng điếc không sợ súng, dù biết thập tử nhứt sanh nhưng vẫn cứ liều mạng đi tìm cái sống trong cái chết. Họ cho biết muốn đi Mã Lai thì đi về hướng bên phải khỏang một ngày một đêm nữa sẽ tới. Rồi họ thả xuống cho một mớ bánh ngọt, nước uống, sữa tươi và một ít trái cây cho đám thuyền nhân đủ cầm cự trong hai ngày . Con tàu bé nhỏ mong manh lại tiếp tục cuộc hải trình tiến về hướng Mã Lai với niềm phấn khởi hy vọng chứa chan.

Đến khỏang hai giờ chiều, bỗng đâu trời chuyển màu âm u, mây đen từ đâu kéo tới che kín mặt trời làm đen ngòm cả một vùng biển mênh mông. Mưa lác đác rồi giông gió nổi lên cuốn theo từng cơn sóng dữ. Lúc đầu sóng còn nhấp nhô như đùa giỡn với con tàu, dần dần bỗng nổi cơn thịnh nộ dâng cao, ngọn sóng bạc đầu chụp phủ lấy con tàu khiến nó quay mòng mòng trồi lên hụp xuống nhừ tử mấy lần súyt chìm. Tử thần như lảng vảng đâu đây. Anh tài công rán chịu trận, cầm cự tay lái thật chặt trong lúc mọi người lâm râm khấn nguyện với bà áo trắng, cầu xin bà che chở, xua tan đi bao hung hiểm trùng trùng. Trong phút giây thập tử nhứt sinh đó, cô Thanh chợt nghiệm ra rằng sinh mạng con người là do trời ban, thôi thì cứ giao phó xác hồn cho trời đất. Trời thương thì nhờ, không thương thì chịu. Con người không thể nào cãi được phần số một khi trời đã muốn lấy lại. Do đó cô không cảm thấy lo sợ bao nhiêu, dẫu sao khi quyết định ra đi thì ai cũng đã nghĩ đến trường hợp xấu nhứt và chấp nhận chết là cùng.

Gần hai tiếng đồng hồ sau, bão tố bắt đầu lắng dịu, con tàu mới lấy lại được thăng bằng tiếp tục chẻ sóng. Ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm thầm tạ ơn bà áo trắng linh thiêng. Đến lúc này mọi người mới cảm thấy đói cồn cào, giục nhau vét gạo nấu cơm chia nhau mỗi người một miếng lót dạ. Đêm ấy trời lại trong, vầng trăng an bình mười sáu tỏa sáng vằng vặc cho đại dương bao la một vẻ đẹp huyền ảo thần kỳ. Sáng hôm sau, đúng như câu “sau cơn mưa trời lại sáng” khi mặt trời lên cao khỏi mặt nước biển, đòan người ty nạn đã thấy bóng đất liền xa xa. Anh tài công cho mũi tàu tiến về hướng đó và khỏang nửa giờ sau thì tới một trại lính.

Trên bờ, hai chú lính thấy tàu lạ xuất hiện liền xua tay ra dấu đuổi đi và lăm le họng súng như đe dọa. Nhưng hạ sĩ Trần Quý và thầy Thanh đã lội đến sát bờ lên tiếng cho họ biết mình là thuyền nhân ty nạn, cần họ giúp đỡ. Lúc đầu họ nạt nộ, quyết liệt đuổi xô nhưng một lát sau, một ông tướng tá oai vệ có vẻ là người lãnh đạo nghe ồn ào giằng co bên ngòai đã bước ra dàn xếp. Ông ta tự giới thiệu là thiếu tá Yap, chỉ huy trưởng của đòan thủy quân lục chiến địa phận Kemaman này. Thầy Thanh trình bày hòan cảnh chung của anh em trong tàu và xin ông hướng dẫn gặp Cao ủy phụ trách vấn đề ty nạn. Thầy nói:

- Nếu chúng tôi không mất nước thì giờ này chúng tôi cũng như ông, an nhiên tự tại trên quê hương mình chớ đâu cần phải nổi trôi phiêu bạt, liều chết đi tìm tự do ở xứ người. Đất nước ông đã may mắn không bị chiến tranh thì xin ông rộng lòng chia sớt cái may mắn đó bằng cách cứu vớt những kẻ bất hạnh lỡ đường như chúng tôi. Đường dài trăm dặm, chúng tôi đã tận sức đi được chín mươi, mười dặm còn lại là tùy thuộc vào lòng tốt của ông. Xin hãy đưa giúp chúng tôi đi nốt chặng đường còn lại. 
 
Ông thiếu tá suy nghĩ một chút rồi nói rằng:
- Từ bao tháng qua, đã có rất nhiều con tàu ty nạn trôi giạt vào đây nhưng lần nào tôi cũng buộc lòng cho lính kéo ra theo lệnh chính phủ, nếu không đi thì chúng tôi sẽ bắn, nhưng hôm nay không biết sao tôi lại thấy mình bị lay chuyển, thuyết phục, hình như có một sự vô hình nào đó thúc giục tôi phải tiếp nhận các anh. Thôi được, anh hãy gọi hết đồng bào của anh lên bờ nghỉ ngơi, tôi sẽ liên lạc với Hội Hồng Nguyệt Mã Lai (Red Crescent Society) đến đây giải quyết trường hợp của các anh.

Ông thiếu tá bảo lính đem mấy thùng mì gói và nước ra cho mọi người ăn trưa. Sau đó, ông về phòng làm việc gọi máy cho Hội Hồng Nguyệt. Sau bốn ngày ngồi bó gối dưới khoang tàu, hôm nay được thỏai mái đi đi lại lại trên bờ và ăn uống khoan thai, mọi người đều cảm thấy khỏe khoắn nhẹ nhàng từ thể xác đến tinh thần. Dù chưa biết bước kế tiếp sẽ như thế nào nhưng trước mắt là họ đã hòan tòan thóat khỏi xích xiềng cộng sản, hòan tòan cầm chắc sự tự do mà họ đã đổi lấy mạng sống đi tìm. Đến xế chiều, bên ngòai trại lính có một chiếc xe bus dài và to với huy hiệu Trăng lưỡi liềm đỏ đổ lại. Ông thiếu tá cho gọi đòan người ty nạn ra bàn giao họ cho nhân viên của hội và chúc họ may mắn trên đường định cư. Thầy Thanh thay mặt mọi người chấp tay cám ơn thiếu tá Yap nói rằng:

- Ơn đức của ông chúng tôi xin ghi nhớ mãi. Tiền rừng bạc biển ai rồi cũng sẽ hết, chỉ có thi ân bố đức, giúp người họan nạn mới là phương cách đầu tư, tích phước trường tồn. Nguyện xin ơn trên ban phúc lành cho gia đình ông.

Khi lên xe bus, nhân viên của hội cho biết là bọn họ sẽ được đưa đến trại chuyển tiếp Marran ngủ qua đêm rồi sáng hôm sau sẽ xuống tàu qua đảo ty nạn Pulau Bidong ở đó trong thời gian chờ Cao Ủy cứu xét cho đi định cư ở đệ tam quốc gia. Như vậy là mục đích của họ đến giai đọan này coi như đã thành công được hai phần ba. Những ngày sắp tới sẽ là những ngày “dưỡng quân” trước khi được chính thức định cư để làm lại cuộc đời.

Bà là Đức Mẹ Ma-ria
Quan Âm Bồ Tát hay bà là ai?
Ơn thiêng liêng ấy muôn đời
Bà tiên áo trắng rạng ngời trong tim


Chuyến vượt biển của gia đình thầy Thanh quả là một chuyến đi suông sẻ an lành hiếm thấy từ lúc khởi đầu cho đến khi tới bến. Không bị đói khát , không bị chết máy bể tàu, không bị cướp biển, sóng gió cấp tám cũng lặng lẽ rút lui sau một hồi hòanh hành đe dọa. Không biết đó có phải là nhờ vào đức tin tuyệt đối ở đấng thiêng liêng hay không. Nhưng nếu nói nhờ vào đức tin thì những thuyền nhân khác cũng có thừa đức tin như vậy. Vậy thì tại sao có biết bao vạn người đã bỏ mình chết oan trên biển cả, nuốt hận ngàn thu? Hay là phước ai người đó nấy hưởng? Vấn đề thiêng liêng thì có lẽ chỉ có đấng thiêng liêng mới giải thích được mà thôi. Còn đối với người phàm như chúng ta thì chỉ biết cầu nguyện và…xin vâng.


Người Phương Nam

Blog Archive