Peter Trần văn Nhơn, Người vừa lên đường, không trở lại.
Giao chỉ, San Jose
Trong đời sống của chúng ta, đôi khi có những người rất đặc biệt nhưng chỉ khi nào không còn nữa, chúng ta mới biết. Có thể cuối tuần này, người đó là bác Trần văn Nhơn. Suốt đời Peter Trần văn Nhơn đi tìm kiếm con đường.
Tôi gọi bác là Pathfinder. Kẻ tìm đường. Đi trên đường đời mà còn tìm thêm lối đi khác. 16 tuổi chuẩn bị đi Pháp nhưng tai nạn làm cho giấc mộng xuất dương của cậu bé không thành.
Pathfinder Tran và Một Nửa
Cha mẹ gốc Huế, nhưng Trần văn Nhơn ra đời tại Quy Nhơn năm 1932 mất tại San Jose 2008 thọ 76 tuổi. Ông là người có khả năng thiên phú về ngoaị ngữ. Không cần tốt nghiệp cao đẳng về ngữ học. Chỉ hết trung học rồi tự học tiếng Pháp và đặc biệt Anh ngữ rất xuất sắc. Nhờ có căn bản Pháp văn nên được tuyển dụng vào quân đội Pháp, học chương trình đào tạo đặc biệt ra Thiếu úy đeo lon Tây. Từ quân đội Pháp ông chuyển qua quân đội quốc gia, làm huấn luyện viên Trường Thủ Đức cho những khóa đầu tiên.
Rồi từ quân đội chuyển qua làm cho cơ quan Viện trợ Mỹ tại Việt Nam. Với khả năng Anh ngữ và tính nết xông xáo, Peter Nhơn leo dần lên GS 13 là cấp bậc cao nhất của chuyên viên dân chính ngoại quốc làm cho chính phủ Mỹ.
Vào thời kỳ di cư 54, một triệu người Bắc vào Nam, cuốn phim Chúng tôi muốn sống ra đời với các tài tử Lê Quỳnh, Mai Trâm, nổi danh 1 thời. Nhưng ít người biết có 2 nam tài tử vai phụ xuất sắc. Một người đóng vai Chủ tịch tòa án nhân dân trong màn đấu tố địa chủ. Người thứ nhì đóng vai cán bộ xách động. Anh chàng trẻ tuổi xách động là Trần văn Nhơn. Lúc đó Nhơn là bạn của đạo diễn Vĩnh Noãn. Ông làm liên lạc viên kiêm thông dịch giữa Việt Nam và các chuyên viên điện ảnh Phi luật Tân.
Vĩnh Noãn nhờ Trần văn Nhơn nhẩy đại vào đóng vai xách động quần chúng. Anh nhập vai hết sức xuất sắc. Chỉ 1 đoạn rất ngắn, ai cũng nhớ mãi Peter, người có tên Mỹ ngay từ thập niên 1950. Một chuyện đáng lưu ý của Trần văn Nhơn là được phái bộ Hoa Kỳ giới thiệu làm thông dịch viên riêng cho đại tướng Westmoreland, tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam.
Cho đến năm 1975, chuyện hi hữu xẩy ra. Ông bà Trần văn Nhơn hoảng loạn vì những bài đồng giao loan truyền tại Saigon khi cộng sản đã vào đến ranh giới thủ đô :
“Quân nhân công chức thì tha,
Dân làm sở Mỹ, lột da đóng giầy”
Sợ quá, ông Nhơn bèn cho 4 người con đi theo chương trình trẻ mồ côi để được làm con nuôi người Mỹ khắp 4 phương trời. May mắn thay! ông bà và con cái còn lại di tản kịp thời. Gia đình đã đi tìm lại được đám con chưa kịp phân tán. Riêng câu chuyện nầy cũng đủ để làm thành 1 phim hấp dẫn.
Sau khi gia đình đoàn tụ, công việc đầu tiên của Peter Nhơn là quyết tâm ... đi làm giám đốc. Ông thành lập 1 cơ quan thiện nguyện cung cấp dịch vụ tỵ nạn tại Santa Rosa, miền Bắc Califorrnia.
Một trong các thành tích lý thú của Peter là giới thiệu nhà báo Đỗ ngọc Yến đi rửa chén cho nhà hàng Tàu. Nhưng cả 2 người di tản buồn cũng đều làm việc cầm chừng để còn tiếp tục ....Pathfinder.
Đỗ ngọc Yến đi theo tiếng gọi của truyền thông dọn về Texas rồi qua Orange County. Peter bỏ Santa Rosa ghé về làm việc 1 thời gian tại IRCC San Jose. Từ San Jose ông lại đi theo tiếng gọi đầy ánh sáng rực rỡ từ Reno qua Las Vegas. Sống ở tiểu bang Nevada, Peter Trần sớm trở thành 1 tay giang hồ chính hiệu, bơi lội trong ánh đèn mầu. “Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”. Chuyện tình duyên với các nàng tóc vàng sợi nhỏ là chuyện thường. Peter phu nhân là người Việt gốc Hoa rất hiền lành và luôn luôn bình tĩnh sống trong cảnh chờ đợi tại California.
Có 1 thời Trần văn Nhơn làm công việc tài chánh cho casino. Đêm đêm chỉ huy đếm tiền, ngồi canh kho bạc và hộ tống các nhân viên an ninh đẩy xe bọc sắt.
Đời đẹp tựa bài thơ
Nhưng một hôm ông lại trở lại với IRCC, Inc San Jose và nhận chức vụ phụ tá giám đốc.
Trong những năm sống với cơ quan IRCC, Peter Trần là người đã hội họp hàng tuần với Sở công viên địa phương San Jose và góp phần vào việc xây dựng những bước đầu của kế hoạch công viên văn hóa và kỳ đài Việt Nam trên đường Capital Expw.
Đời cứ như là mơ
Rồi lại đến 1 hôm ông từ giã Cali để lên đường. The Pathfinder không bao giờ ngồi yên 1 chỗ. Hỏi rằng bây giờ tính đi đâu. Ông cho biết đã có cơ sở làm ăn về hải sản mời cộng tác. Chúng tôi nói ngay: Chắc là đóng tàu đi đánh cá. Ông cho biết không phải đánh cá, mà là tôm cua. Ở đâu? Cuba!
Quả thực đây là cuộc phiêu lưu mạo hiểm không thể hiểu được. Hình ảnh gởi về chỉ thấy 1 ông già Việt Nam ngồi trong quán rượu tại Havana, Cuba như nhà văn Hemingway của thế kỷ trước.
Coi bộ con đường tôm cua tại đảo quốc không có tương lai. San Jose và vợ con lại đón ông trở về. Với khả năng Anh ngữ linh hoạt, Peter bắt đầu làm thông dịch cho hãng Telephone tại gia. Rồi làm thông dịch viên tòa án quận Santa Clara. Tuy nhiên,dù đã đến tuổi về hưu nhưng máu giang hồ còn chẩy trong huyết quản. Ông tham dự kỳ thi tuyển làm thông dịch viên Việt Ngữ cho bộ ngoai giao Hoa Kỳ. Và ông được tuyển dụng như là một viên chức cao niên nhất trong số các thành viên Việt Nam.
Cũng đôi lúc ưu tư ...
Ông bắt đầu công việc trong suốt gần 10 năm qua. Đối với ông đây là một công việc kỳ thú. Người thông dịch không phải chỉ đơn thuần dịch thuật. Đây là đại diện chính thức cho nước Mỹ để tiếp phái đoàn ngoại quốc nói tiêng Việt. Ông đã hướng dẫn từ 1 người đến 12 người đi thăm Hoa Kỳ, từ một tuần lễ đến 40 ngày.Vừa là đại diện bộ ngoại giao, vừa là tài xế, vừa là thông dịch, vừa là tour guide và lại là cố vấn cho mọi người. Hãy nghe kể lại về chuyến đi từ San Francisco.
Phái đoàn các luật gia Việt Nam qua thăm nước Mỹ. Thăm phân khoa luật tại Berkeley, thăm tòa án, thăm các thị xã, thăm các cơ sở tư pháp khắp nước Mỹ. Thăm các danh lam thắng cảnh. Thăm quốc hội từ tiểu bang đến liên bang. Nếu ở Việt Nam, cái gì cũng gọi là nhân dân nhưng chính phủ kiểm soát tất cả, thì ở Mỹ, suốt 1 tháng dẫn đi thăm mọi nơi, không hề thấy chính phủ ở đâu. Chỗ nào cũng là của dân, và do dân điều hành. Trường Đại học vĩ đại mấy cũng là tư nhân hoặc cơ quan bất vụ lợi. Tòa án cũng do dân xử. Ông Nhơn gọi đó là chương trình của Hoa Kỳ mở mắt Việt Nam. Ngày đầu xuống phi trường San Francisco, cả phái đoàn rất nghiêm túc chờ đón nước Mỹ đến chào mừng.
Chẳng thấy viên chức nào của chính phủ, công an hay CIA, FBI. Chỉ thấy ông Peter, hơi già, nói toàn tiếng Việt. Peter dẫn mọi người vào khu chờ đợi tại phi trường. Xong ông mới vào quầy thuê xe lấy chìa khóa chiếc xe Van thật lớn.
Ông kêu mấy tay Mỹ đen, đội mũ đỏ đến giúp đỡ xếp hành lý. Rồi ông lái về Hotel cho anh em lấy phòng. Phái đoàn gồm các ông tòa, và luật sư Việt Nam, đa số là có tuổi đảng đều ngạc nhiên thấy ông già Việt Nam lái xe ào ào, tiếng Mỹ tiếng ta như gió. Vừa phụ khiêng đồ, hướng dẫn Hotel và sau khi yên vị ông lại đại diện nước Mỹ phát cả bao thơ hàng xấp mỹ kim cho mỗi người. Quả thực đúng là xứ tự do. Cứ như thế Peter mở toang cửa nước Mỹ. Trên mọi con đường, mọi góc canh đầy đủ nhất của xã hội thực sự dân chủ. Ông nói chuyện ồn ào với vị khoa trưởng đại học, sắp xếp chương trình, dịch ngược, dịch suôi từ tranh luận đến hội thảo. Sau chuyến đi Peter không còn là hình ảnh thông ngôn trong đầu các viên chức Việt Nam. Bác Trần văn Nhơn đã trở thành ông thầy chỉ dẫn cho đám học trò bài học Tự do Dân chủ sờ được, mó được tại nước Mỹ. Quan trọng nhất là ăn tiêu được tại Mỹ quốc. Đó cũng chính là mục đích của bộ ngoại giao Hoa Kỳ.
Chuyến đi lý thú đáng ghi nhận là kỳ bác Nhơn dẫn đường cho nhà văn Nguyễn huy Thiệp thăm viếng và nói chuyện tại các đại học. Chuyến đi do hội nhà văn Mỹ đề nghị với bộ ngoại giao
Để chuẩn bị, ông Trần Văn Nhơn phải tìm đọc tất cả các tác phẩm của tác giả.Từ Tướng về hưu đến chuyện hư cấu về vua Quang Trung. Ông phải tìm hiểu về quan điểm chính trị, triết học và nghệ thuật của tác giả .
Huy Thiệp không phải là người đã được chuẩn bị để nói chuyện, dù bằng Việt Ngữ cho người ngoại quốc. Tác giả trình bầy rất Việt Nam với nhiều danh từ biền ngẫu và trừu tượng. Và đây là lần đầu Peter thấy rằng dịch ra Anh Ngữ đã gặp nhiều khó khăn. Khi diễn giả nói chuyện về thân phận con người.
Nói về 12 bến nước, bến đục bến trong, rồi bến mê bến tỉnh. Chắc chắn không thể dịch là “bến thức giấc buổi sáng hay bến coma bất tỉnh buổi chiều”. Làm sao so sánh con đò về bến mới với chuyến tàu rời Newport.
Vì vậy ông thầy thông dịch phải vất vả hàng đêm ngồi với học trò văn sĩ, để tìm hiểu thực sự anh ta muốn gửi thông điệp gì cho nước Mỹ.
Một lần có ông già tỵ nạn hỏi rằng: Khi nhà văn phản kháng nói bến đục, bến trong có phải ý nói là nước đục là cộng sản độc tài và bến trong là tự do dân chủ?
Tác giả vội vàng trả lời ngay mà không chờ thông dịch. Không, tôi không phải là nhà văn phản kháng, tôi chỉ là nhà văn thôi. Và từ đó tác giả đi nơi khác không còn nhắc đến bến bờ gì cả.
Một lần khác, Peter đang dịch thì có ông Việt Nam la lớn. Diễn giả là cộng sản. Thông ngôn là Việt gian.
Vị khoa trưởng và các giáo sư đại học thắc mắc không biết khán giả nói gì. Peter rất bình tĩnh dịch rõ từng câu. Xong bác quay lại nói với cử tọa. Xin quý vị la mắng từng câu ngắn và rõ ràng để chúng tôi dịch. Và ông dịch rõ ràng: Gentleman đó nói rằng diễn giả là cộng sản Việt Nam còn tôi thông dịch là Việt gian.
Trở lại San Jose, Peter lo việc ngày ngày cắp cặp ra tòa và bắt đầu viết sách về dòng giõi họ Trần mà ông rất hãnh diện. Bác Nhơn viết Anh Ngữ dễ dàng và trôi chẩy hơn Việt ngữ. Ông cũng không có dịp tâm sự về cuộc đời với con cái nên dự tính sẽ nhờ cuốn bút ký để nối giây thông cảm với thế hệ tương lai.
( My Dear Children,
At seventy-five and plagued with medical problems, I know I do not have much time left with you in this world. I feel I am going to die soon. It is all right. People have to die at one time or another. I have lived a long life. In my old age, I still have your caring mother; I still have a large family of many children, in-laws, and grandchildren who still love me in spite of my shortcomings.
But before leaving this world, I want to write this letter telling you a little bit about the time and life of your forefathers, the circumstances under which I grew up, how you were brought up in this world and most importantly, how you were taken to this promised land of God,
Because of the long war which spanned my entire life and the misfortunes that followed me long after our family came to the United States, I was unable to do a lot of good things for you, and I apologize to you for that. To some of you, I was even considered not a good father ).
Sau cùng tháng 4-2007, IRCC tổ chức văn nghệ “Lịch sử ngàn người viết”. Chúng tôi có dịp mời bác Trần văn Nhơn lên sân khấu lần cuối cùng với tư cách là nam tài tử còn lại của phim Chúng tôi muốn sống. Peter của chúng tôi cố gắng lắm đã đứng trên sân khấu gần 20 phút. Tai bạn nghe không rõ. Ông giơ tay chào mọi người. Peter và chúng tôi đều biết rằng đây là lần cuối.
Rồi trên sân ga đứng chờ chuyến tầu suốt
Dù 76 tuổi nhưng lực bất tòng tâm. Tất cả cơ thể đều rã rời mệt mỏi. Người tìm đường, The Pathfinder nhưng không còn tìm thấy con đường nào khác ở cõi trần gian. Hơn 1 năm trước, chúng tôi cùng bác Trần văn Nhơn ngồi xem lại đoạn đầu của của phim Chúng tôi muốn sống. Nghe bản nhạc năm xưa mà anh em chợt thấy lạnh xương sống.
“ Một mùa thu năm qua, cách mạng tiến ra đất Việt,
Bừng ngàn tiếng thanh niên xung phong phá xiềng...”
Đó là thời kỳ thập niên 40. Chúng tôi ở tuổi mới vào đời. tham gia đội ngũ thiếu niên tiền phong. Cũng hăng hái phá xiềng. Ngày nay đã 70 năm qua, lớp thanh niên ngày xưa đã ra đi gần hết, mà sao xiềng xích Việt Nam phá mãi chưa xong!
Saturday, December 6, 2008
Về Việt Nam "ĂN NHẬU" món gì ?!
Tuấn Linh
Vào đầu thế kỷ thứ 31, các nhà khoa học và khảo cổ phát hiện vùng bán đảo Đông Dương, vùng đất hình chữ S chạy dài từ Lạng Sơn tới Cà Mâu có rất nhiều thi thể qua ngàn năm vẫn còn nguyên vẹn. Dùng phương pháp phân tích Carbon các nhà khoa học đó xác định: “đa số những thi thể đó được chôn cất vào khoảng thế kỷ thứ 21. Người ta rất ngỡ ngàng và thán phục nghệ thuật ướp xác của nền văn minh bán đảo Đông Dương thời đó. Người ta cũng không tìm ra một nơi nào có kỹ thuật ướp xác có trình độ cao như vậy trên lục địa vào thời kỳ bấy giờ. Nhìn vào những vật chôn theo với thi thể như quần áo, trang sức, Người ta kết luận thuật ướp xác của dân sống tại vùng bán đảo này đã đạt tới “đỉnh cao trí tuệ” và “phổ thông quần chúng”.
Đó là chuyện năm 3010, còn bây giờ chúng ta đang ở vào thế kỷ 21, thế kỷ của “đỉnh cao trí tuệ”. Các nhà khoa học và khảo cổ thế kỷ 31 đã lầm to, vì hiện tại cái vùng đất hình chữ S đó chẳng cần có một kỹ thuật cao nào về ướp xác cả, tất cả xảy ra một cách rất tự nhiên “như người Hà Nội” cho mọi người sống ở vùng bán đảo đó.
Cách đây không lâu báo chí VN có đưa tin. Tại Tân Phú quận Tân Bình có một thanh niên tuổi khoảng 33 chết đột ngột, gia đình làm lễ an táng cho anh ta. Nhưng công an huyện nghi ngờ có chuyện mờ ám nên ra lệnh khai quật kể giảo nghiệm xác chết. Lạ thay khi mở áo quan xác chết vẫn nguyên vẹn, không có dấu hiệu thối rữa mặc dù đã chôn dưới đất cả 2 tuần lễ. Sau giảo nghiệm gia đinh xin phép giữ xác chết trong nhà. Chính quyền đia phương thấy xác không có hiện tượng thối rữa làm mất vệ sinh nên chấp thuận. Hiện xác anh thanh niên được gia đình lưu trữ trên gác. Rất nhiều người tin dị đoan tới cúng kiếng.
Nhiều người lý giải tại sao xác anh thanh niên này không thối rữa. Trước nhất anh thanh niên này chết đột ngột. Nghĩa là không chết vì bệnh lý. Công an không kết luận anh ta bị giết hại, có nghĩa anh ta không phải bị giết. Công an không nói anh ta bị chết vì độc tố, có nghĩa anh ta có thể chết vì trúng độc. Anh ta không bị người khác đầu độc, nhưng anh ta có thể tự đầu độc chính mình. Anh ta không tự tử bằng cách uống thuốc độc. Nhưng anh ta chết bằng độc tố qua thực phẩm hàng ngày mà anh tiêu thụ. Độc tố đó chính là những hóa chất giữ cho thực phẩm không bị hư thối, không bị lên men, không đổi màu. Và những hóa chất sát trùng có khả năng tiêu diệt những hoại tử. Nên khi anh ta chết, xác anh không có hoại tử nên xác không bị thư hoại, cộng với những hóa chất như Formol, Sodium Benzoate, 2,4đ, Borax ,vv… trong thực phẩm tồn đọng trong cơ thể anh, nên xác anh không hư thối được. Vâng những thi thể mà các nhà khoa học và khảo cổ thế kỷ thứ 31 khám phá ra chính là các loại thi thể như anh chàng vừa kể trên.
Tôi có người bạn mua cá Khoai về nấu canh củ. Cá Khoai thường khi nấu thịt sẽ mềm và tan cùng với khoai. Sau khi nấu người ta chỉ cần gắp nguyên bộ xương ra, nồi canh có thể ăn được. Nhưng hôm đó vợ anh bạn nấu rất lâu mà cá Khoai vẫn nguyên vẹn, vợ anh dùng đũa đâm vào cá thấy cá cứng chắc như khúc Lươn luộc. Cô vợ gọi chồng ra hỏi, anh chồng dùng đũa thử thấy cá vẫn cứng chắc, cười rồi nói với vợ “em có bỏ lộn viên Viagra vào không ?”… Sau đó vợ anh đổ nồi canh cá Khoai đi, sợ anh ăn phải ảnh hưởng như cá khoai.
Một người khác kể rằng anh thèm cá trê quê hương, khi thấy tiệm thực phẩm Á Châu có bán cá Trê Vàng, anh mua ngay một ký mục đích để chiên và kho ăn. Nhưng công việc làm ăn cần gấp anh phải có mặt tại tiểu bang khác trong ngày tới. Anh ra đi và quên khuấy ký cá trê trong cốp xe. Cả tuần lễ sau có dịp mở cốp xe anh rất ngạc nhiên khi thấy mấy con cá trê trong túi vẫn còn tươi nguyên. Trong khi chiếc xe nóng hổi và nhiệt độ bên ngoài theo đài thông báo lên đến 40oC.
Vợ tôi đi shopping về nói: “Hôm nay em thấy tại tiệm thực phẩm Á Châu bày bán tôm còn rất tươi, con nào con ấy xanh trong như mới bắt lên, em hỏi họ nói tôm VN. Thấy ngon nhưng em không giám muạ” Nghe vợ nói không mua tôi mừng quá. Tôi nói: “Tôm đó được tẩm hóa chất nên giữ lâu không hư thối, đặc biệt màu sắc không thay đổi nhìn tươi như mới đánh bắt. Nếu ăn vào rất nguy hiểm cho sức khỏẹ”
Vấn đề xử dụng hóa chất trong công nghiệp thực phẩm là chuyện bình thường, nhưng việc xử dụng hóa chất phải được kiểm soát và cho phép, thông thường mỗi hóa chất đều có quy định về mức độ xử dụng an toàn. Nếu chúng ta ăn những thực phẩm chứa nồng độ hóa chất quá cao có thể gây ngộ độc, có nhiều trường hợp đi đến tử vong, hay gây nên ung thư. Từ ngày VN mở cửa, chính quyền VN kêu gọi Việt Kiều về du lịch, mục đích móc túi “khúc ruột ngàn dậm”. Việt kiều về VN để “ăn chơi”. Về VN, Việt kiều phải ăn để đi chơi hay đi chơi cũng phải ăn. Như vậy ăn uống tại VN là chuyện vô cùng quan trọng. Nhưng vấn đề đặt ra là về VN ăn gì, uống gì để bảo đảm an toàn?.
Nếu nói về VN để “ăn Ngon và Rẻ” thì câu này cần xét lạị Ở đây tôi chỉ nói đến về VN ăn gì để an toàn thực phẩm và bảo dảm cho sức khỏe. Đa số Việt Kiều về thích hải sản: “ăn cho đã”. Lý do vì ở nước ngoài hải sản giá rất mắc. Hải sản được bán ở VN thường là tôm, cá. Những loại này được nuôi để xuất khẩu chứ không phải do đánh bắt trong sông biển. Chúng ta hãy đọc những tài liệu nói về hóa chất dùng trong thục phẫm ở VN của Ts Mai Thanh Truyết:
“.. cá Basa xuất khẩu bị trả về vì trong cá chứa lượng Fluoro- Quinolones quá cao. Tháng 7 năm rồi, tiểu bang Georgia khám phá thêm chất kháng sinh Enrofloxacine trong cá. Tôm xuất khẩu cũng bị trả vể vì chứa chất Chloramphenicol, Nitrofuran-3- amino-2-oxazole và Semicarbazide. Người ta còn tìm thấy độc chất Rhotenane trong tôm, đây là độc chất trong cây Thuốc Cá”. Những hóa chất trên đây đều được xếp vào danh sách các hóa chất bị cấm xử dụng trong kỹ nghệ biến chế thực phẩm. Để giải quyết số cá và tôm bị trả về, người ta quyết định bằng cách tung chúng ra bán tại thị trường trong nước.
Còn cua, sò, ốc, hến thì sao? Ngành trồng lúa VN chuyển đổi từ một vụ sang 2 vụ hay 3 vu, mức sản xuất lúa gạo tăng từ thiếu ăn sang có dư để xuất khẩu. Sự tăng trưởng đi kèm theo các điều kiện như xử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu rầy, thuốc trị ốc Bươu Vàng… Những hóa chất này được rải hay xịt vào ruộng lúa sẽ tan vào trong nước hay đi vào chính cây lúa. Nếu dùng các loại hóa chất không theo đúng phương pháp và số lượng, hóa chất có thể tích tụ vào hạt gạo. Hiện thời chưa có một nghiên cứu chính thức nào cho biết nồng độ những hóa chất trong gạo sản xuất tại VN. Những hóa chất độc hại ấy theo nước chảy vào sông hồ. Các sinh vật sống trong môi trường nước ấy chắc chắn mang theo những độc tố. Khi người ta dùng hóa chất Methadehyde để trị ốc Bươu Vàng, thì các loại ốc Bươu thường, ốc Gạo, ốc Hương, các loại cua, sò hến vv.. cũng đều bị ảnh hưởng. Những năm gần đây số lượng tôm, cá sông giảm tới mức báo động. Sự giảm sút này nguyên nhân chúng bi tiêu diệt bởi các hóa chất dùng trong nông nghiệp. Ở dây ta không bàn đến tình hình sức khỏe cùa người dân sống trong vùng, trực tiếp ăn uống, tắm rửa trong các ao hồ, sông rạch chứa đầy các độc tố.
Vấn đề thịt bò, heo gà, vịt … Các loại lông vũ nói chung và gà vịt nói riêng đang bị nguy hiểm bởi dịch H5N1. Cơ quan WHO tiên đoán sẽ có trận đại dịch xảy ra khi siêu vi H5N1 chụyển dạng lây từ người qua người. Hiện thời nhiều nơi báo cáo heo, cá cũng bị lây nhiễm. Như vậy vấn đề ăn thịt gà, vịt, heo rất nguy hiểm. Người ta nói nên ăn heo, gà, vịt vì đã được kiểm dịch. Nhưng làm cách nào đễ biết chắc chắn gà vịt đã được kiểm dịch. Căn cứ vào giấy tờ chứng minh, về dấu đã kiểm dịch trên gà vịt. Bạn có thể tin được tờ giấy và con dấu ở VN không? Cách tốt nhất là không nên ăn heo, gà hay vịt ở VN. Riêng về chăn nuôi Heo, người ta xử dụng một hóa chất cho Heo ăn gọi là thuốc “Siêu tăng trọng”. Heo ăn vào chỉ cần một hai ngày sau có thể tăng tới 3-4 kg. gà mái ăn vào đẻ hoài không nghỉ. Nếu chúng ta ăn nhằm thịt heo này thì chuyện gì sẽ sảy ra sau đó. Chỉ có nhà thương biết.
Không ăn được hải sản, heo, gà, vịt. Vậy chúng ta ăn rau. Chuyện trồng trọt rau cải. Hoa trái ở VN cũng không tin được. Người ta dùng 2,4đ để thúc cho cây mau phát triển. 2,4đ là loại thuốc diệt cỏ mà Mỹ đã dùng trong chiến tranh VN. Chất độc da cam chính là chất 2,4đ này. Trong lúc chính quyền VN kiện Mỹ xử dụng chất diệt cỏ này, thì trong nước việc xử dụng 2,4đ trong ngành trồng trọt rất ư là vô tư. Những cây rau muốn xanh tốt để bán có giá, người ta cũng dùng đến hóa chất này để thúc cây phát triển vài ngày trước khi thu hoạch. Trong quá trình trồng trọt người ta còn phải dùng đến hóa chất trị côn trùng, sâu bọ. Rau trái mang về nếu rửa không sạch, chuyện trúng độc là chuyện chắc chắn xẩy ra.
Cũng theo Ts Mai thanh Truyết tại Sàigòn “riêng tháng 6/2005 có 1800 người trúng độc. Gây chết 39 người”. Những trái cây nhập từ Trung Quốc vào VN như táọ nho, cam, nhãn,đều được dùng hóa chất để bảo quản như 2,4đ, 2,45-T, nhất là Sodium Benzoate (NaO-C6H) chúng có tác dụng giữ cho trái cây tươi, không bị hư thối, không đổi màu và giữ được mùi vị nguyên thủy. Nồng độ cho phép là 0.1mg/kg. nồng độ gây chết là 2mg/kg.
Vể VN thèm ăn canh cua rau đay, cà pháo nén. Món ăn đậm tình quê hương ấy chứa đựng những hóa chất với nồng độ chết người. Muốn cho cà pháo, củ kiệu, bánh tráng có màu trắng, người ta xử dụng hóa chất làm trắng có tên Chloride sodium hydrosufite. Chất này làm cho chế phẩm có màu trắng tươi trông bắt mắt, đây cũng là chất dùng trong công nghiệp sản xuất xà bông, bột giặt. Khi chất này qua thực quản gây tình trạng trúng độc, làm ngạt thở. Giảm huyết áp, nếu nặng có thể gây tử vong.
Những thành phẩm như Chả Lụa, chả Quế, người ta dùng Hàn The (Borax) đây là chất khử trùng và sâu rầy trong nông nghiệp. Nó còn được xử dụng trong kỹ nghệ sản xuất kem đánh răng và xà bông. Đối với thực phẩm trên nó có tác dụng diệt trùng, chống sự lên men, nấm mốc. Giữ cho thực phẩm không bị hư thối. Trong việc sản xuất giò chả tại VN người ta thường dùng thịt hạng xấu để có lợi nhuận cao. Chính vì vậy người ta dùng lượng Borax cao để khử mùi hôi, làm cho thịt dai. Những thịt để lâu ngày khi xử lý bằng Hàn The sẽ mất mùi hôi, làm thịt tươi lại trông như thịt tươi. Đặc biệt bánh tráng, bánh phở, bún, hủ tiếu có để Hàn The sẽ không bị mốc meo. Làm dai và dòn sợi bún, hủ tiếu. Bánh phở và bánh tráng dễ cuốn không bị gẫy. Chất này vào cơ thể gây nên đau quặn bụng, không đi cầu được, tim đập mạnh, người ra mồ hôi. Có khả năng làm loét bao tử. Nội soi thấy bao tử có đốm trắng nhiều hay từng mảng. Trường hợp nặng phải cắt bỏ phần bao tử loét.
Chuyện nước tương hay xi dầu. Ts Truyết cho chúng ta biết tháng “7/05 Bỉ trả về VN toàn bộ xì dầu hiệu Chin Su, vì họ tìm ra trong xì dầu nhập cảng từ VN có nồng độ 3-MCPD (3-monochloropane- 1,2diol) lên tới 86mg/kg trong khi mức cho phép là 0.02mg/kg tại Anh và 0.5mg/kg tại Bỉ”. Như vậy hàm lượng 3-MCPD cao gấp 172 lần mức cho phép. Sở thí nghiệm thành phố HCM ( KHCN-MT HCM) xét nghiệm qua 42 mẫu, kết quả toàn bộ dều có hàm lượng hóa chất cao hơn tiêu chuẩn cho phép là 8000 (tám ngàn) lần nghĩa là 8000mg/kg. bạn thử nghĩ xem với hàm lượng hóa chất này, bạn sẽ đi về đâu sau khi nuốt vào bụng..
Bạn có biết hiện ở VN người ta sản xuất xì dầu bằng gì không? Tôi thưa ngay bằng xương trâu, bò, heọ. nói chung các loại xương phế thải lượm được ở bất kỳ nơi nào. Tất cả đem về nấu trong acid sau dó dùng Sut Caustic để trung hòa. Sản phẩm này được vô bao bì bán ra thị trường dưới dạng “nước cốt làm xì dầu”. Từ đó người sản xuất cứ việc mua về pha với nước lạnh, muối, đường, thêm một số hóa chất giữ lâu như Borax chẳng hạn. Muốn tăng độ đạm người ta thêm vào Urê thế là sản phẩm được vô chai, tung ra thị trường. Acid dùng để nấu xương là acid Chlohydric (HCL) trong quá trình phân giải tạo ra chất 3-MPCD nguy hiểm. Muốn bảo quản các loại như tôm cá, bánh phở bánh tráng hủ tíu lâu dài, không bị hư thối , ngưới ta dùng đến Formol (Formaldehyde =HCHO). Thường Formol có mùi khó chịu nên người ta pha formol trong rượu Methanol 37-50o/o cho mất mùi. Formol là hóa chất dùng trong việc giữ xác chết không bị hư thối.
Trong sản xuất rượu trắng có kẻ còn dùng Mitox (thuốc trị rầy) thuôc này có tác dụng làm rượu trong và gây say nhanh cho người uống. Nếu pha với lượng cao, người uống bị trúng độc và chết nhanh chóng. Để có một tấm bánh tráng. Ngưới ta phải thực hiện qua nhiều giai đoạn. Những giai đoạn ấy rất là công phu. Hầu như trong các giai đoạn ấy người ta đều xử dụng hóa chất. Có những hóa chất có thể được đào thải, ngược lại cũng có những hóa chất không tan biến và tích tụ qua nhiều thế hệ như ĐT chẳng hạn, đây là chất diệt trùng. Khi xử dụng cho cây, chất này đi vào cây, vào trái. Súc vật ăn rau, trái ấy, ĐT thấm vào máu súc vật và nằm ở đó. Nếu chúng ta ăn thịt súc vật. ĐT lại đi vào cơ thể chúng ta lưu trữ ở đó, với số lượng nhỏ thì không sao, nhưng ĐT không bị đào thải, như vây ĐT có cơ hội tăng mỗi lần chúng ta ăn thịt. Tới lúc nồng độ ĐT đủ cao sẽ gây tác động nguy hiểm.
Trở lại bánh tráng. Bánh tráng làm bằng gạo, gạo từ lúa. Quá trình trồng lúa chúng ta dùng hóa chất, phân bón, những hóa chất một số lựu lại trong gạọ. Đến quá trình biến chế. Người ta dùng Hàn the để làm cho bột dai và không mốc. Ngưới ta thêm thuốc tẩy trắng để bột gạo trắng đẹp. Ngườí ta thêm formol để giử bánh không bị lên mốc vv… nói chung cái bánh chúng ta ăn có biết bao hóa chất nguy hiểm trong đó. Sở dĩ chúng ta không thấy chuyện gì. Thứ nhất nồng độ hóa chất trong bánh tráng chưa tới mức nguy hiểm. Thứ hai ảnh hưởng của hóa chất lên cơ thể con người có tính cách chậm, và lâu dài. Có khi ảnh hưởng qua thế hệ con cháu. Ví dụ chất Borax có tác dụng trụy thai, 2,4đ từ mẹ có thể làm cho thai nhi trở thành khuyết tật vv…
Nếu nhìn những phân tích trên đây, chúng ta thấy về VN ăn gì cũng nguy hiểm. Theo báo cáo của bộ y tế từ 1997 đến 2004 có 6.467.448 trường hợp trúng độc, như vậy cứ 14 người thì có một người bị trúng độc. Đây là con số được báo cáo, còn con số không được báo cáo thì không biết là bao nhiêu. Cho đến bây giờ chính quyền VN vẫn không có một phương pháp nào khả thi để kiểm soát an toàn thực phẩm. Những báo cáo có tính cách giấy tờ và bỏ lơ. “Nước đến chân mới nhảy” và “đổ thừa qua lại” là phương hướng mà chính quyền nhà nước theo đuổi. Con chung không ai khóc, làm sao vơ cho đầy túi là được.
Đến đây tôi mạn phép để nghị bạn cách giải quyết rất ư là hữu hiệu. Trước khi về VN bạn phải học cách nhịn ăn “Nhập Thất” để về VN không cẩn ăn gì hết, vừa không bị ngộ độc, lại làm giảm cân mau chóng. Theo phái Tiên Thiên Khí Công, khi bạn nhịn ăn, cơ thể bạn sẽ có cơ hội thanh tẩy những tồn đọng xấu trong bạn. Và sau đó có thể bạn sẽ đổi mới từng tế bào. Thế quân bình năng lượng sẽ được sắp xếp lại. Nhịn ăn kết hợp với hít thở đúng cách, các huyệt đạo sẽ khai thông, huyết áp bình thường lại, cân bằng lượng đường trong máu. Tiêu thụ những mỡ dư thừa, tống xuất những độc tố. Theo đó một số bệnh tật sẽ tan biến theo, bạn sẽ cảm thấy khỏe mạnh hơn và yêu đời hơn.
Ngoài ra một phương pháp cụ thể nhất, không nguy hiểm, không tốn kém, không sợ nhiễm độc, không bị bịnh cúm gà, nhất là không bị bịnh “Cúm bà”, đó là : “Không về VN"
Tuấn Linh
Vào đầu thế kỷ thứ 31, các nhà khoa học và khảo cổ phát hiện vùng bán đảo Đông Dương, vùng đất hình chữ S chạy dài từ Lạng Sơn tới Cà Mâu có rất nhiều thi thể qua ngàn năm vẫn còn nguyên vẹn. Dùng phương pháp phân tích Carbon các nhà khoa học đó xác định: “đa số những thi thể đó được chôn cất vào khoảng thế kỷ thứ 21. Người ta rất ngỡ ngàng và thán phục nghệ thuật ướp xác của nền văn minh bán đảo Đông Dương thời đó. Người ta cũng không tìm ra một nơi nào có kỹ thuật ướp xác có trình độ cao như vậy trên lục địa vào thời kỳ bấy giờ. Nhìn vào những vật chôn theo với thi thể như quần áo, trang sức, Người ta kết luận thuật ướp xác của dân sống tại vùng bán đảo này đã đạt tới “đỉnh cao trí tuệ” và “phổ thông quần chúng”.
Đó là chuyện năm 3010, còn bây giờ chúng ta đang ở vào thế kỷ 21, thế kỷ của “đỉnh cao trí tuệ”. Các nhà khoa học và khảo cổ thế kỷ 31 đã lầm to, vì hiện tại cái vùng đất hình chữ S đó chẳng cần có một kỹ thuật cao nào về ướp xác cả, tất cả xảy ra một cách rất tự nhiên “như người Hà Nội” cho mọi người sống ở vùng bán đảo đó.
Cách đây không lâu báo chí VN có đưa tin. Tại Tân Phú quận Tân Bình có một thanh niên tuổi khoảng 33 chết đột ngột, gia đình làm lễ an táng cho anh ta. Nhưng công an huyện nghi ngờ có chuyện mờ ám nên ra lệnh khai quật kể giảo nghiệm xác chết. Lạ thay khi mở áo quan xác chết vẫn nguyên vẹn, không có dấu hiệu thối rữa mặc dù đã chôn dưới đất cả 2 tuần lễ. Sau giảo nghiệm gia đinh xin phép giữ xác chết trong nhà. Chính quyền đia phương thấy xác không có hiện tượng thối rữa làm mất vệ sinh nên chấp thuận. Hiện xác anh thanh niên được gia đình lưu trữ trên gác. Rất nhiều người tin dị đoan tới cúng kiếng.
Nhiều người lý giải tại sao xác anh thanh niên này không thối rữa. Trước nhất anh thanh niên này chết đột ngột. Nghĩa là không chết vì bệnh lý. Công an không kết luận anh ta bị giết hại, có nghĩa anh ta không phải bị giết. Công an không nói anh ta bị chết vì độc tố, có nghĩa anh ta có thể chết vì trúng độc. Anh ta không bị người khác đầu độc, nhưng anh ta có thể tự đầu độc chính mình. Anh ta không tự tử bằng cách uống thuốc độc. Nhưng anh ta chết bằng độc tố qua thực phẩm hàng ngày mà anh tiêu thụ. Độc tố đó chính là những hóa chất giữ cho thực phẩm không bị hư thối, không bị lên men, không đổi màu. Và những hóa chất sát trùng có khả năng tiêu diệt những hoại tử. Nên khi anh ta chết, xác anh không có hoại tử nên xác không bị thư hoại, cộng với những hóa chất như Formol, Sodium Benzoate, 2,4đ, Borax ,vv… trong thực phẩm tồn đọng trong cơ thể anh, nên xác anh không hư thối được. Vâng những thi thể mà các nhà khoa học và khảo cổ thế kỷ thứ 31 khám phá ra chính là các loại thi thể như anh chàng vừa kể trên.
Tôi có người bạn mua cá Khoai về nấu canh củ. Cá Khoai thường khi nấu thịt sẽ mềm và tan cùng với khoai. Sau khi nấu người ta chỉ cần gắp nguyên bộ xương ra, nồi canh có thể ăn được. Nhưng hôm đó vợ anh bạn nấu rất lâu mà cá Khoai vẫn nguyên vẹn, vợ anh dùng đũa đâm vào cá thấy cá cứng chắc như khúc Lươn luộc. Cô vợ gọi chồng ra hỏi, anh chồng dùng đũa thử thấy cá vẫn cứng chắc, cười rồi nói với vợ “em có bỏ lộn viên Viagra vào không ?”… Sau đó vợ anh đổ nồi canh cá Khoai đi, sợ anh ăn phải ảnh hưởng như cá khoai.
Một người khác kể rằng anh thèm cá trê quê hương, khi thấy tiệm thực phẩm Á Châu có bán cá Trê Vàng, anh mua ngay một ký mục đích để chiên và kho ăn. Nhưng công việc làm ăn cần gấp anh phải có mặt tại tiểu bang khác trong ngày tới. Anh ra đi và quên khuấy ký cá trê trong cốp xe. Cả tuần lễ sau có dịp mở cốp xe anh rất ngạc nhiên khi thấy mấy con cá trê trong túi vẫn còn tươi nguyên. Trong khi chiếc xe nóng hổi và nhiệt độ bên ngoài theo đài thông báo lên đến 40oC.
Vợ tôi đi shopping về nói: “Hôm nay em thấy tại tiệm thực phẩm Á Châu bày bán tôm còn rất tươi, con nào con ấy xanh trong như mới bắt lên, em hỏi họ nói tôm VN. Thấy ngon nhưng em không giám muạ” Nghe vợ nói không mua tôi mừng quá. Tôi nói: “Tôm đó được tẩm hóa chất nên giữ lâu không hư thối, đặc biệt màu sắc không thay đổi nhìn tươi như mới đánh bắt. Nếu ăn vào rất nguy hiểm cho sức khỏẹ”
Vấn đề xử dụng hóa chất trong công nghiệp thực phẩm là chuyện bình thường, nhưng việc xử dụng hóa chất phải được kiểm soát và cho phép, thông thường mỗi hóa chất đều có quy định về mức độ xử dụng an toàn. Nếu chúng ta ăn những thực phẩm chứa nồng độ hóa chất quá cao có thể gây ngộ độc, có nhiều trường hợp đi đến tử vong, hay gây nên ung thư. Từ ngày VN mở cửa, chính quyền VN kêu gọi Việt Kiều về du lịch, mục đích móc túi “khúc ruột ngàn dậm”. Việt kiều về VN để “ăn chơi”. Về VN, Việt kiều phải ăn để đi chơi hay đi chơi cũng phải ăn. Như vậy ăn uống tại VN là chuyện vô cùng quan trọng. Nhưng vấn đề đặt ra là về VN ăn gì, uống gì để bảo đảm an toàn?.
Nếu nói về VN để “ăn Ngon và Rẻ” thì câu này cần xét lạị Ở đây tôi chỉ nói đến về VN ăn gì để an toàn thực phẩm và bảo dảm cho sức khỏe. Đa số Việt Kiều về thích hải sản: “ăn cho đã”. Lý do vì ở nước ngoài hải sản giá rất mắc. Hải sản được bán ở VN thường là tôm, cá. Những loại này được nuôi để xuất khẩu chứ không phải do đánh bắt trong sông biển. Chúng ta hãy đọc những tài liệu nói về hóa chất dùng trong thục phẫm ở VN của Ts Mai Thanh Truyết:
“.. cá Basa xuất khẩu bị trả về vì trong cá chứa lượng Fluoro- Quinolones quá cao. Tháng 7 năm rồi, tiểu bang Georgia khám phá thêm chất kháng sinh Enrofloxacine trong cá. Tôm xuất khẩu cũng bị trả vể vì chứa chất Chloramphenicol, Nitrofuran-3- amino-2-oxazole và Semicarbazide. Người ta còn tìm thấy độc chất Rhotenane trong tôm, đây là độc chất trong cây Thuốc Cá”. Những hóa chất trên đây đều được xếp vào danh sách các hóa chất bị cấm xử dụng trong kỹ nghệ biến chế thực phẩm. Để giải quyết số cá và tôm bị trả về, người ta quyết định bằng cách tung chúng ra bán tại thị trường trong nước.
Còn cua, sò, ốc, hến thì sao? Ngành trồng lúa VN chuyển đổi từ một vụ sang 2 vụ hay 3 vu, mức sản xuất lúa gạo tăng từ thiếu ăn sang có dư để xuất khẩu. Sự tăng trưởng đi kèm theo các điều kiện như xử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu rầy, thuốc trị ốc Bươu Vàng… Những hóa chất này được rải hay xịt vào ruộng lúa sẽ tan vào trong nước hay đi vào chính cây lúa. Nếu dùng các loại hóa chất không theo đúng phương pháp và số lượng, hóa chất có thể tích tụ vào hạt gạo. Hiện thời chưa có một nghiên cứu chính thức nào cho biết nồng độ những hóa chất trong gạo sản xuất tại VN. Những hóa chất độc hại ấy theo nước chảy vào sông hồ. Các sinh vật sống trong môi trường nước ấy chắc chắn mang theo những độc tố. Khi người ta dùng hóa chất Methadehyde để trị ốc Bươu Vàng, thì các loại ốc Bươu thường, ốc Gạo, ốc Hương, các loại cua, sò hến vv.. cũng đều bị ảnh hưởng. Những năm gần đây số lượng tôm, cá sông giảm tới mức báo động. Sự giảm sút này nguyên nhân chúng bi tiêu diệt bởi các hóa chất dùng trong nông nghiệp. Ở dây ta không bàn đến tình hình sức khỏe cùa người dân sống trong vùng, trực tiếp ăn uống, tắm rửa trong các ao hồ, sông rạch chứa đầy các độc tố.
Vấn đề thịt bò, heo gà, vịt … Các loại lông vũ nói chung và gà vịt nói riêng đang bị nguy hiểm bởi dịch H5N1. Cơ quan WHO tiên đoán sẽ có trận đại dịch xảy ra khi siêu vi H5N1 chụyển dạng lây từ người qua người. Hiện thời nhiều nơi báo cáo heo, cá cũng bị lây nhiễm. Như vậy vấn đề ăn thịt gà, vịt, heo rất nguy hiểm. Người ta nói nên ăn heo, gà, vịt vì đã được kiểm dịch. Nhưng làm cách nào đễ biết chắc chắn gà vịt đã được kiểm dịch. Căn cứ vào giấy tờ chứng minh, về dấu đã kiểm dịch trên gà vịt. Bạn có thể tin được tờ giấy và con dấu ở VN không? Cách tốt nhất là không nên ăn heo, gà hay vịt ở VN. Riêng về chăn nuôi Heo, người ta xử dụng một hóa chất cho Heo ăn gọi là thuốc “Siêu tăng trọng”. Heo ăn vào chỉ cần một hai ngày sau có thể tăng tới 3-4 kg. gà mái ăn vào đẻ hoài không nghỉ. Nếu chúng ta ăn nhằm thịt heo này thì chuyện gì sẽ sảy ra sau đó. Chỉ có nhà thương biết.
Không ăn được hải sản, heo, gà, vịt. Vậy chúng ta ăn rau. Chuyện trồng trọt rau cải. Hoa trái ở VN cũng không tin được. Người ta dùng 2,4đ để thúc cho cây mau phát triển. 2,4đ là loại thuốc diệt cỏ mà Mỹ đã dùng trong chiến tranh VN. Chất độc da cam chính là chất 2,4đ này. Trong lúc chính quyền VN kiện Mỹ xử dụng chất diệt cỏ này, thì trong nước việc xử dụng 2,4đ trong ngành trồng trọt rất ư là vô tư. Những cây rau muốn xanh tốt để bán có giá, người ta cũng dùng đến hóa chất này để thúc cây phát triển vài ngày trước khi thu hoạch. Trong quá trình trồng trọt người ta còn phải dùng đến hóa chất trị côn trùng, sâu bọ. Rau trái mang về nếu rửa không sạch, chuyện trúng độc là chuyện chắc chắn xẩy ra.
Cũng theo Ts Mai thanh Truyết tại Sàigòn “riêng tháng 6/2005 có 1800 người trúng độc. Gây chết 39 người”. Những trái cây nhập từ Trung Quốc vào VN như táọ nho, cam, nhãn,đều được dùng hóa chất để bảo quản như 2,4đ, 2,45-T, nhất là Sodium Benzoate (NaO-C6H) chúng có tác dụng giữ cho trái cây tươi, không bị hư thối, không đổi màu và giữ được mùi vị nguyên thủy. Nồng độ cho phép là 0.1mg/kg. nồng độ gây chết là 2mg/kg.
Vể VN thèm ăn canh cua rau đay, cà pháo nén. Món ăn đậm tình quê hương ấy chứa đựng những hóa chất với nồng độ chết người. Muốn cho cà pháo, củ kiệu, bánh tráng có màu trắng, người ta xử dụng hóa chất làm trắng có tên Chloride sodium hydrosufite. Chất này làm cho chế phẩm có màu trắng tươi trông bắt mắt, đây cũng là chất dùng trong công nghiệp sản xuất xà bông, bột giặt. Khi chất này qua thực quản gây tình trạng trúng độc, làm ngạt thở. Giảm huyết áp, nếu nặng có thể gây tử vong.
Những thành phẩm như Chả Lụa, chả Quế, người ta dùng Hàn The (Borax) đây là chất khử trùng và sâu rầy trong nông nghiệp. Nó còn được xử dụng trong kỹ nghệ sản xuất kem đánh răng và xà bông. Đối với thực phẩm trên nó có tác dụng diệt trùng, chống sự lên men, nấm mốc. Giữ cho thực phẩm không bị hư thối. Trong việc sản xuất giò chả tại VN người ta thường dùng thịt hạng xấu để có lợi nhuận cao. Chính vì vậy người ta dùng lượng Borax cao để khử mùi hôi, làm cho thịt dai. Những thịt để lâu ngày khi xử lý bằng Hàn The sẽ mất mùi hôi, làm thịt tươi lại trông như thịt tươi. Đặc biệt bánh tráng, bánh phở, bún, hủ tiếu có để Hàn The sẽ không bị mốc meo. Làm dai và dòn sợi bún, hủ tiếu. Bánh phở và bánh tráng dễ cuốn không bị gẫy. Chất này vào cơ thể gây nên đau quặn bụng, không đi cầu được, tim đập mạnh, người ra mồ hôi. Có khả năng làm loét bao tử. Nội soi thấy bao tử có đốm trắng nhiều hay từng mảng. Trường hợp nặng phải cắt bỏ phần bao tử loét.
Chuyện nước tương hay xi dầu. Ts Truyết cho chúng ta biết tháng “7/05 Bỉ trả về VN toàn bộ xì dầu hiệu Chin Su, vì họ tìm ra trong xì dầu nhập cảng từ VN có nồng độ 3-MCPD (3-monochloropane- 1,2diol) lên tới 86mg/kg trong khi mức cho phép là 0.02mg/kg tại Anh và 0.5mg/kg tại Bỉ”. Như vậy hàm lượng 3-MCPD cao gấp 172 lần mức cho phép. Sở thí nghiệm thành phố HCM ( KHCN-MT HCM) xét nghiệm qua 42 mẫu, kết quả toàn bộ dều có hàm lượng hóa chất cao hơn tiêu chuẩn cho phép là 8000 (tám ngàn) lần nghĩa là 8000mg/kg. bạn thử nghĩ xem với hàm lượng hóa chất này, bạn sẽ đi về đâu sau khi nuốt vào bụng..
Bạn có biết hiện ở VN người ta sản xuất xì dầu bằng gì không? Tôi thưa ngay bằng xương trâu, bò, heọ. nói chung các loại xương phế thải lượm được ở bất kỳ nơi nào. Tất cả đem về nấu trong acid sau dó dùng Sut Caustic để trung hòa. Sản phẩm này được vô bao bì bán ra thị trường dưới dạng “nước cốt làm xì dầu”. Từ đó người sản xuất cứ việc mua về pha với nước lạnh, muối, đường, thêm một số hóa chất giữ lâu như Borax chẳng hạn. Muốn tăng độ đạm người ta thêm vào Urê thế là sản phẩm được vô chai, tung ra thị trường. Acid dùng để nấu xương là acid Chlohydric (HCL) trong quá trình phân giải tạo ra chất 3-MPCD nguy hiểm. Muốn bảo quản các loại như tôm cá, bánh phở bánh tráng hủ tíu lâu dài, không bị hư thối , ngưới ta dùng đến Formol (Formaldehyde =HCHO). Thường Formol có mùi khó chịu nên người ta pha formol trong rượu Methanol 37-50o/o cho mất mùi. Formol là hóa chất dùng trong việc giữ xác chết không bị hư thối.
Trong sản xuất rượu trắng có kẻ còn dùng Mitox (thuốc trị rầy) thuôc này có tác dụng làm rượu trong và gây say nhanh cho người uống. Nếu pha với lượng cao, người uống bị trúng độc và chết nhanh chóng. Để có một tấm bánh tráng. Ngưới ta phải thực hiện qua nhiều giai đoạn. Những giai đoạn ấy rất là công phu. Hầu như trong các giai đoạn ấy người ta đều xử dụng hóa chất. Có những hóa chất có thể được đào thải, ngược lại cũng có những hóa chất không tan biến và tích tụ qua nhiều thế hệ như ĐT chẳng hạn, đây là chất diệt trùng. Khi xử dụng cho cây, chất này đi vào cây, vào trái. Súc vật ăn rau, trái ấy, ĐT thấm vào máu súc vật và nằm ở đó. Nếu chúng ta ăn thịt súc vật. ĐT lại đi vào cơ thể chúng ta lưu trữ ở đó, với số lượng nhỏ thì không sao, nhưng ĐT không bị đào thải, như vây ĐT có cơ hội tăng mỗi lần chúng ta ăn thịt. Tới lúc nồng độ ĐT đủ cao sẽ gây tác động nguy hiểm.
Trở lại bánh tráng. Bánh tráng làm bằng gạo, gạo từ lúa. Quá trình trồng lúa chúng ta dùng hóa chất, phân bón, những hóa chất một số lựu lại trong gạọ. Đến quá trình biến chế. Người ta dùng Hàn the để làm cho bột dai và không mốc. Ngưới ta thêm thuốc tẩy trắng để bột gạo trắng đẹp. Ngườí ta thêm formol để giử bánh không bị lên mốc vv… nói chung cái bánh chúng ta ăn có biết bao hóa chất nguy hiểm trong đó. Sở dĩ chúng ta không thấy chuyện gì. Thứ nhất nồng độ hóa chất trong bánh tráng chưa tới mức nguy hiểm. Thứ hai ảnh hưởng của hóa chất lên cơ thể con người có tính cách chậm, và lâu dài. Có khi ảnh hưởng qua thế hệ con cháu. Ví dụ chất Borax có tác dụng trụy thai, 2,4đ từ mẹ có thể làm cho thai nhi trở thành khuyết tật vv…
Nếu nhìn những phân tích trên đây, chúng ta thấy về VN ăn gì cũng nguy hiểm. Theo báo cáo của bộ y tế từ 1997 đến 2004 có 6.467.448 trường hợp trúng độc, như vậy cứ 14 người thì có một người bị trúng độc. Đây là con số được báo cáo, còn con số không được báo cáo thì không biết là bao nhiêu. Cho đến bây giờ chính quyền VN vẫn không có một phương pháp nào khả thi để kiểm soát an toàn thực phẩm. Những báo cáo có tính cách giấy tờ và bỏ lơ. “Nước đến chân mới nhảy” và “đổ thừa qua lại” là phương hướng mà chính quyền nhà nước theo đuổi. Con chung không ai khóc, làm sao vơ cho đầy túi là được.
Đến đây tôi mạn phép để nghị bạn cách giải quyết rất ư là hữu hiệu. Trước khi về VN bạn phải học cách nhịn ăn “Nhập Thất” để về VN không cẩn ăn gì hết, vừa không bị ngộ độc, lại làm giảm cân mau chóng. Theo phái Tiên Thiên Khí Công, khi bạn nhịn ăn, cơ thể bạn sẽ có cơ hội thanh tẩy những tồn đọng xấu trong bạn. Và sau đó có thể bạn sẽ đổi mới từng tế bào. Thế quân bình năng lượng sẽ được sắp xếp lại. Nhịn ăn kết hợp với hít thở đúng cách, các huyệt đạo sẽ khai thông, huyết áp bình thường lại, cân bằng lượng đường trong máu. Tiêu thụ những mỡ dư thừa, tống xuất những độc tố. Theo đó một số bệnh tật sẽ tan biến theo, bạn sẽ cảm thấy khỏe mạnh hơn và yêu đời hơn.
Ngoài ra một phương pháp cụ thể nhất, không nguy hiểm, không tốn kém, không sợ nhiễm độc, không bị bịnh cúm gà, nhất là không bị bịnh “Cúm bà”, đó là : “Không về VN"
Friday, December 5, 2008
TRẬN ÐÁNH ÐỨC LẬP
(Giải Ba cuộc thi Bút Ký Chiến Trường năm 1970 của Cục Tâm Lý Chiến, N.A.H)
PHẠM PHONG DINH sưu tập và biên soạn
Bọn chúng tôi gồm sáu người thuộc Tiểu Ðoàn 230 Pháo Binh đến Bộ Chỉ Huy Hành Quân Trung Ðoàn 45 thuộc Sư Ðoàn 23 Bộ Binh tại Ðức Lập, tỉnh Quảng Ðức, bằng trực thăng lúc11 giờ trưa, trong đầu còn mang theo một vài hình ảnh uy nghi của ngày kỷ niệm Cách Mạng 1.11.1970. Ăn cơm trưa xong, chúng tôi bắt tay ngay vào việc.
Sau khi nhận trách nhiệm phối hợp hỏa lực do các sĩ quan Pháo Binh Hoa Kỳ trao lại (theo sự thỏa thuận trước, trong mấy ngày đầu của cuộc chiến, công tác phối hợp hỏa lực do các sĩ quan Pháo Binh Hoa Kỳ đảm nhiệm, vì tại Ðức Lập họ có 14 khẩu đại bác). Sau khi hội đủ thành phần hỏa yểm để hoạch định công tác, sĩ quan phối hợp hỏa lực phân công người thiết lập kế hoạch pháo yểm, thiết lập hệ thống truyền tin, người ghép bản đồ, vẽ phóng đồ, đào hầm hố,... Bắt tay vào việc chưa đầy một tiếng đồng hồ, thì được tin địch bắn rơi hai trực thăng tại Ngã Ba Daksong, 14 cây số Tây Nam Ðức Lập. Lúc 2 giờ chiều, địch pháo kích Trại Biệt Kích Daksak, cách Bộ Chỉ Huy Hành Quân 5 cây số về phía Ðông Nam. Lúc 7 giờ tối, chúng lại pháo kích Căn Cứ Dorie, cách Bộ Chỉ Huy Hành Quân 14 cây số về phía Ðông Bắc. Ðã bận, chúng tôi càng bận thêm vì phải điều động các đơn vị phản pháo. Sau nửa ngày làm việc không ngừng, chúng tôi đã nhận định được tình hình và làm quen được với khung cảnh hoạt động. Thức quá khuya để làm xong cho bằng được 12 bản kế hoạch pháo yểm, chúng tôi để cả giày, trùm mền ngủ.
3.11.
Chỉ một đêm ở Ðức Lập đủ để tôi hiểu thời tiết vùng này. Lạnh hết chỗ nói ! Ngủ cả giày, với áo len, quần áo tác chiến, trùm một chiếc mền len gấp đôi, tôi vẫn phải thức dậy lúc 3 giờ sáng, để rồi thức luôn đến sáng. Sáng ra, sương mù dầy đặc mang cho tôi cảm tưởng đang sống tại miền quê một xứ Bắc Âu. Tôi quơ tay xem có ai đứng trước mặt không, vì trong óc chợt nảy ra một ý nghĩ ngộ nghĩnh: Biết đâu chẳng có một tên Cộng Sản xâm lược với khẩu AK cũng đang quờ quạng quanh đây. Cái lạnh Ðức Lập chưa đến nỗi làm nước đóng băng nhưng đủ để ngăn chúng tôi chải răng buổi sáng, là vì kem Perlon bị đông đặc, bóp mấy cũng không ra. Ðược cái là không có muỗi. Ðiều này cũng dễ hiểu, vì gió lộng suốt đêm, muỗi có mọc thêm bốn cánh nữa cũng bị thổi bay. Sương tan được một lát, hai đại đội thuộc Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân được trực thăng vận đến Ngã Ba Daksong với nhiệm vụ tiếp cứu phi công trực thăng bị nạn. Buổi chiều, địch pháo kích vào Trại Daksak hai lần, không gây thiệt hại nào.
4.11.
Mới 6 giờ sáng tình hình đã hứa hẹn nhiều sôi nổi. Hai đại đội Biệt Ðộng Quân bị địch pháo kích và tấn công dữ dội trong liên tiếp nhiều giờ. Biệt Ðộng Quân có 3 binh sĩ tử thương nhưng quân ta lượm được của địch 21 xác. Ðến 10 giờ, một cuộc hành quân giao tiếp cấp thời được tổ chức để đón hai đại đội Biệt Ðộng Quân về. Thành phần còn lại của Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân và toàn bộ Tiểu Ðoàn 1/53 được điều động từ Ðức Lập xuống phía Nam. Thế là những trận đánh xảy ra dọc đường tiến quân, trên một đoạn đường ngoằn ngoèo của Quốc Lộ 14. Ðịch từ các triền Ðồi phía Tây bắn xuống bằng đủ mọi loại súng: AK có, B40 có, trung liên, đại liên, súng cối có. Các chiến sĩ ta bám vào vệ đường phía Ðông chống trả, trong khi phi cơ bay đến oanh kích tôi bời, Pháo Binh tác xạ “như điên”.
Chiều đến, Chi Ðoàn 3/8 Thiết Kỵ và một đại đội thuộc Tiểu Ðoàn 1/45 tới tăng viện. Lại chạm địch. Những khẩu đại liên 50 trên thiết vận xa M113 lâu lâu mới gặp mục tiêu thích hợp, khạc đạn rung rinh cả khoảng rừng già. Quân ta phản công, tiến đến chân dãy đồi thì trời sập tối. Ðịch lẩn sang những triền đồi phía sau. Quân ta lùi lại chừng 500 thước giao khoán các mục tiêu cho Pháo Binh. Từ bốn căn cứ hỏa lực quanh quận lỵ Ðức lập, đạn 105 ly được phóng đi, đầu nổ nhanh có, đầu nổ chậm có, đầu nổ cao có. Hầu như suốt đêm. Khói súng quyện lấy sương mù làm cho bầu không khí tại những căn cứ hỏa lực trở nên ngột ngạt, mằn mặn.
5.11.
Ngoài những đơn vị tham chiến ngày hôm trước, Bộ Chỉ Huy Hành Quân “đầu tư” thêm Tiểu Ðoàn 2/45 và Ðại Ðội 45 Trinh Sát. Tiểu Ðoàn 2/45 làm nỗ lực chính ở phía Tây Quốc Lộ 14. Chi Ðoàn 3/8 Kỵ Binh và Ðại Ðội 45 Trinh Sát tiến trên quốc lộ. Các đơn vị khác “tả phù hữu bật”.
8 giờ 15. Lệnh xuất phát ban ra. Các cánh quân liên lạc dọc, liên lạc ngang, tiến lên. Như một mẻ lưới. Ðịch lùi xuống phục kích phía Nam chỗ phục kích ngày hôm qua. Nhìn con mồi gồm những chiếc M113 xám xanh chạy trên đường, địch giương mắt theo dõi, chờ lệnh khai hỏa. Thật dễ dàng làm sao ! Chúng không biết Tiểu Ðoàn 2/45 đang tiến ngang cạnh sườn chúng. Cho nên khi Tiểu Ðoàn 2/45 từ bên hông nổ súng tới, địch rối loạn hàng ngũ liền. Tuy vậy chúng vẫn quay đầu chống trả thật kịch liệt, kịch liệt đến nỗi quên cả Chi Ðoàn 3/8 Thiết Quân Vận và Ðại Ðội 45 Trinh Sát lúc này đang ở sau lưng chúng. Nên khi những chiếc M113 tiến gần hơn rồi nhả đạn, rồi Ðại Ðội 45 Trinh Sát hạ chiến, địch chỉ còn cách mạnh ai nấy chạy. Ðúng là một mẻ lưới.
Các đơn vị tham chiến tiếp tục tiến xuống phía Nam. Ðến 5 giờ chiều, Tiểu Ðoàn 2/45 giao tiếp được với cánh quân Mũ Nâu. Anh em ôm nhau, nước mắt rưng rưng. Tổng kết hai ngày giao tranh dữ dội: Địch 157 chết, ta 36 chết, 41 bị thương.
6.11.
Quá nửa đêm, lính gác tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân báo cáo có tiếng động khả nghi ngoài hàng rào. Trời tối, lại có sương mù. Mấy phút sau, lính gác nổ súng. Ðồng thời hỏa châu, đạn chiếu sáng rực trời. Bị lộ, phản ứng tiên khởi của địch là nã súng cối vào Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Nhưng bắn súng cối thì Ðặc Công địch chưa xung phong được, đành nằm chịu trận ngoài hàng rào, biến thành mục tiêu tốt cho Ðại Ðội 45 Trinh Sát và Ðại Ðội Chỉ Huy Công Vụ của Trung Ðoàn 45, hai đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Khi súng cối địch ngưng bắn, bao nhiêu Ðặc Công còn sống sót, còn can đảm đứng dậy, còn dám liều lĩnh xung phong ? Cuộc lục soát ngay đêm ấy và sáng hôm sau cho thấy xác tên Ðặc Công liều lĩnh nhất, nhanh chân nhất nằm trên lớp hàng rào giữa. Số còn lại rải từ lớp rào ngoài cùng ra đến các khu rừng chung quanh. Tổng cộng 24 xác, tịch thu 6 súng và vô số chất nổ. Một chiến sĩ phát biểu ý kiến của anh :
o Mình phát giác nó trước, mình ở trên cao nó ở dưới, mình có súng trong khi bọn nó nhiều tên chỉ mang những miếng chất nổ đen vừa lòng bàn tay. Mình ở trong hầm nó ở ngoài trống, mình vừa trùm mền vừa thụt ra trong khi nó cởi trần giữa đêm lạnh, nên nó phải chết.
11 giờ trưa, địch pháo kích Trại Daksak làm cháy bệnh xá. 3 giờ 15 chiều, đoàn xe tiếp tế từ Ban Mê Thuột tới. Có bánh mì, có báo. Lác đác vài người có cả thư nhà dù “xuất quân” chưa được một tuần. Công việc nặng nhọc nhất của các pháo thủ là xuống đạn : 400 quả 155 ly và 600 quả 105 ly. Mọi người đang nỗ lực làm việc bỗng vang lên một tiếng nổ lớn. Một trái lựu đạn hay một quả mìn claymore phát nổ ? Không, một cột khói đen bốc lên cách Bộ Chỉ Huy Hành Quân chừng 400 thước. Có tiếng la : “Pháo kích, pháo kích”. Trong giây lát, cả khu vực đang hoạt động bỗng vắng hoe. Chỉ còn những cấp chỉ huy đảo ngược, đảo xuôi kiểm soát, tìm hiểu sự việc. Và các quân nhân pháo thủ. Bởi một phản ứng trở thành thói quen, các pháo thủ vẫn trân trân đứng đó chuẩn bị đạn dược, chờ lệnh phản pháo.
Một tiếng rít dài trên không. Tiếng nổ thứ hai tiếp theo. Một cây cổ thụ bị chém gãy cành trụi lá. Chúng tôi đã nhận định được tình hình : Ðịch bắn hỏa tiễn 122 ly từ hướng Tây Bắc. Những toán quân tuần tiễu hoạt động bên ngoài cung cấp thêm tin tức. Chúng tôi có đủ yếu tố để phản pháo. Một phút sau, đại bác 105 ly bắt đầu bắn trả. Thêm nửa phút nữa là đại bác 155 ly. Các căn cứ hỏa lực kế cận cũng góp tiếng. Phản pháo xong, anh em pháo thủ mới có thì giờ nhìn chung quanh xem những chuyện gì đã xảy ra. Ðài tác xạ vừa hoàn thành với sườn bằng gỗ, mái bằng vĩ sắt đã không cánh mà bay. Vĩ sắt rải rác đó đây, một tấm đập vào hông một chiếc xe vận tải bị cong thành hình chữ L. Thì ra một trái hỏa tiễn với đầu nổ chậm đã chui lọt vào và phát nổ trong đài tác xạ. Không ai hề hấn gì vì chưa dọn vào. Ðài tác xạ chỉ cách khẩu đội 15 thước, nhưng mãi thi hành tác xạ, nên lúc hỏa tiễn nổ không ai để ý.
Một sự việc khác có phần lý thú đối với anh em Pháo Binh. Số là mỗi khi chiếm đóng vị trí, một trong những điều Pháo Binh phải chú ý là tà giác bực chắn. Tà giác bực chắn là góc cao của những chướng ngại vật chung quanh vị trí có thể ngăn cản đường đạn đi. Tà giác bực chắn càng lớn thì càng gây nhiều khó khăn cho việc tác xạ. Thế mà tại vị trí Bộ Chỉ Huy Hành Quân, một cây rừng cao to, chết khô, đứng sừng sững ngay trước mặt Trung Ðội 155 ly. Anh em tính hạ từ mấy này trước, nhưng sợ cây đổ làm hư xe cộ, hầm hố chung quanh. Bây giờ, nhờ một trái hỏa tiễn nổ sát gốc, cây khô vật ngã chình ình ra đó mà không gây thiệt hại nào. Một anh lính Pháo Binh bắt chéo chân, cúi đầu giở nón chào theo kiểu ảo thuật gia, bình phẩm một câu theo lồi hành văn của các ký giả thể thao :
o Các đồng chí đã bắn một trái để đời, đáng cho chúng ta giở nón cúi đầu.
7.11.
Xế trưa, một đại đội thuộc Tiểu Ðoàn 2/45 chạm địch trong khi tuần thám phía Bắc Ðức Lập, giết 2 tên, tịch thu một hầm vũ khí gồm 4 trung liên, 2 B40 và 12 súng cá nhân.
8.11.
Tình ngày hôm nay có vẻ êm ả, dạo một vòng quanh Ðức Lập. Trước hết là chợ Ðức lập. Sản phẩm địa phương bày bán thứ nào cũng rẻ hơn ở Ban Mê Thuột. Rẻ đến nổi nhiều người mệnh danh chợ Ðức Lập là siêu thị. Thịt heo 220 đồng một ký so với 400 đồng, gạo 4,500 đồng một tạ so với 6,000 tại Ban Mê thuột, v.v.. Khốn nỗi sản phẩm địa phương chỉ có vài ba thứ, những thứ khác từ Ban Mê Thuột mang đến tất nhiên đắt hơn. Phải nói đắt hơn quá nhiều mới đúng. Lại nữa, “siêu thị” thì nhỏ, binh sĩ bỗng chợt kéo đến cả ngàn nên vật giá leo thang từng ngày, từng giờ. Chỉ trong vòng một tuần lễ, giá thịt heo lên 420 đồng một ký, và gạo 6,500 đồng một tạ. Chả cần học kinh tế cũng biết luật cung cầu là thế.
Rời chợ rẽ tay trái là làng Ðức Minh gồm dân từ Nghệ An, Hà Tĩnh di cư vào. Nhờ cuộc đi dạo này, tôi tìm hiểu được phần “địa lý nhân văn và thảo mộc” như sau. Dân Ðức Minh tiếng nói nặng. Người đứng tuổi vẫn ăn mặc theo lối xưa : đàn bà vấn khăn, đàn ông quần trùng, áo dài. Con gái : xinh. Nói chung, tại Ðức Minh không có ai nghèo thật sự, mà chỉ có người giàu và người ít giàu, hay kém giàu, hay không giàu bằng. Người giàu có nhà ngói khang trang. Người ít giàu không làm được nhà ngói thì trồng thật nhiều mít cho có vẻ giàu thật sự. Có lẽ ít nơi đâu chịu ảnh hưởng của câu “nhà ngói, cây mít” hơn ở Ðức Minh. Sau mít là xoài, có thể ngoài mít và xoài, Ðức Minh không còn loại cây ăn trái nào khác. Cũng có thể nói “trên là trời, dưới là mít và xoài. Ðầu làng có con suối chảy ngang, chen chúc những cô nàng giặt lụa... Thái Lan. Về công nghệ, có một tiệm sửa đủ loại máy móc : Honda, máy cày, máy bơm nước, xe hơi, đồng hồ, v.v.. Nhà máy xay lúa hoạt động tấp nập. Ðức Minh có một trường trung tiểu học tư thục, các cô giáo ăn mặc đúng mốt Sài Gòn, thướt tha và yểu điệu.
Trở ra, đi ngược Quốc Lộ 14 chừng ba cây số là làng Tú Minh, tương tự Ðức Minh. Có khác chăng chỉ là ở Tú Minh dân cư thưa thớt hơn và người ta trồng cà phê, thay vì cấy lúa như ở Ðức Minh. Dọc Quốc Lộ 14 xuống phía Nam là làng Ðức An gồm di dân nguyên ở Quảng Nam. Phần lớn dân Ðức An làm trà, tuy nghèo hơn nhưng chống Cộng không thua dân Ðức Minh và Tú Minh.
9.11.
Buổi sáng, phóng viên các hãng thông tấn tấp nập kéo đến Bộ Chỉ Huy Hành Quân xin đi theo Tiểu Ðoàn 2/45 quay phim, viết bài. Mỗi toán phóng viên đi theo một đại đội. Lúc 3 giờ chiều, Trung Ðội Biệt Kích của Tiểu Ðoàn 2/45 chạm địch dữ dội. Dữ dội nhưng ngắn ngủi, trận đánh kéo dài không quá mười phút. Song thời gian ấy cũng đủ để anh em Biệt Kích đổi 2 người bị thương lấy 22 xác địch, 2 trung liên, 1 B40 và 2 AK. Chiều về, các phóng viên người nào cũng tiếc ngẩn ngơ vì không ai đi theo Trung Ðội Biệt Kích. Một phóng viên dậm chân than trời :
o Tiếc quá ! Ði theo cánh quân bên cạnh nghe súng nổ rần rần mà không sao qua được.
16.11.
Tình hình tuần qua không sôi động mấy nhưng hết sức căng thẳng. Công cuộc chuẩn bị vô cùng ráo riết. Tại những căn cứ quân bạn, hầm hố kiên cố được thiết lập bằng cây rừng loại lớn. Dây kẽm gai chàng chằng chịt ngang dọc. Tin tức tình báo rất dồi dào cho thấy lực lượng địch được tăng cường ngày một nhiều. Ngoài Trung Ðoàn 28, còn có sự hiện diện của Trung Ðoàn 40 Pháo, Tiểu Ðoàn 394 Pháo, Tiểu Ðoàn 37 Ðặc Công và các đơn vị địa phương. Ðể phối kiểm tin tức và thăm dò lực lượng địch, những cuộc hành quân tuần thám của quân ta được tung ra liên tiếp. Ðạn dược, thực phẩm được ùn ùn chở đến các căn cứ đóng quân.
Về phía địch, chúng gia tăng pháo kích, khi thì hỏa tiễn, khi thì súng cối, khi thì súng không giật. Những hoạt động này có lẽ chỉ có mục đích cầm chân quân ta để chúng có thì giờ chuẩn bị, chắc cũng ráo riết không thua gì ta. Tựu trung, cả hai bên đều muốn nắm chắc phần thắng nên còn rình rập nhau như hai con thú tranh mồi, gầm gừ tìm sơ hở của nhau. Song nếu các đơn vị Bộ Binh và Thiết Giáp sửa soạn kỹ càng cho công cuộc phòng thủ như vậy, thì các chiến sĩ Pháo Binh lại ở thế công hơn ai hết. Tin tức ghi nhận vị trí địch tới tấp gửi về Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực. Từng đơn vị địch được theo dõi cẩn thận trên bản đồ. Những loạt đạn “nổ đồng thời” (time on target, một lối bắn của Pháo Binh nhằm tập trung cùng một lúc hỏa lực của nhiều đơn vị vào một mục tiêu ) dồn dập phóng đi bất kể ngày đêm. Mãnh liệt đến nỗi thú rừng phải dội ngược về các căn cứ phòng thủ, giúp chiến sĩ ta đỡ phải ăn khem lối “đàn bà đẻ “.
17.11.
Buổi sáng, một trung đội thuộc Tiểu Ðoàn 1/45 chạm địch, ta 3 bị thương, địch 2 chết. Buổi chiều, Ðại Ðội 3 Tiểu Ðoàn 1/45, trong một cuộc hành quân sưu tầm tin tức đã giao phong dữ dội với một đơn vị địch, giết 32 tên, thu một số vũ khí và quân trang. Phía bạn có 7 chết, 10 bị thương. Tối đến, vị trí đóng quân của Ðại Ðội 285 Ðịa Phương Quân bị pháo kích. Pháo Binh ta phản pháo “tưng bừng”. Sáng ra, Ðại Ðội lục soát thấy 3 xác địch, tịch thu 2 AK47.
19.11.
Không phải chỉ có thú rừng dội ngược về phía những căn cứ hỏa lực vì đạn pháo binh. Mà cả địch quân nữa. Một Trung Sĩ cộng sản tên Lê Hồng Kiều ra trình diện Nghĩa Quân xã Ðức An xin hồi chánh. Kiều là Tiểu Ðội Trưởng Tiểu Ðội Trinh Sát của Tiểu Ðoàn K 3, Trung Ðoàn 28 Cộng Sản Bắc Việt thuộc Mặt Trận B3. Kiều ăn nói hoạt bát, hiểu biết khá về quân sự. Anh mặc bộ kaki vàng nhàu nát, đi dép cao su, mặt mũi phờ phạc, chân tay nứt nẻ vì thời tiết. Anh mang theo một khẩu AK, một địa bàn, nhưng đáng giá hơn cả là tấm bản đồ hành quân của Tiểu Ðoàn K3.
Kiều cho biết trong trận đánh dọc Quốc Lộ 14 ngày 4.11.1970, khi quân ta mở cuộc hành quân giao tiếp với Biệt Ðộng Quân, Tiểu Ðoàn K3 vừa chết vừa bị thương trên 50 người. Nhiệm vụ của K3 hiện nay là cùng với các Tiểu Ðoàn K1 và K2 và một số đơn vị khác chuẩn bị chiến trường đánh giao thông chiến, rồi sau đó quyết tâm đánh dứt điểm Ðức Lập. Về pháo binh địch, Kiều cho biết ngoài các loại súng cối, hỏa tiễn, Trung Ðoàn 28 còn có thể được Mặt Trận B3 đưa đơn vị Pháo 152 ly đến yểm trợ. Kiều xác nhận nhiều đơn vị cộng sản bị khốn đốn vì hỏa lực pháo binh ta. Ngay đêm hôm trước, một bộ phận Thông Tin (Truyền Tin) của K3 cũng bị tổn thất vì pháo binh. Anh cung cấp cho chúng tôi vị trí một đại đội cũng của tiểu đoàn này, đóng cách bộ phận Thông Tin 200 thước. Kiều còn tiết lộ, kể từ hôm nay địch khởi sự ra mặt công hãm ngọn đồi 804, ngọn đồi chúng tôi quen gọi là Núi Lửa, do Tiểu Ðoàn 1/45 trấn giữ.
Lúc 5 giờ chiều, quả đúng như lời Kiều nói, địch pháo kích Núi Lửa bằng súng cối 82 ly. Chúng pháo kích luôn vào đồn Ðịa Phương Quân Sarpa gần đó. Giai đoạn đầu của mặt trận công hãm mở màn ? Ðịch đã thấy được sơ hở của ta ? Hay chúng muốn đánh lạc hướng hầu thực hiện một âm mưu khác ? Thời gian sẽ cung cấp lời giáp đáp thích đáng.
20.11.
Buổi chiều, địch bắn hỏa tiễn 122 ly vào Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Lại vô sự. Một máy bay quan sát nhận ra vị trí hỏa tiễn liền điều chỉnh pháo binh tác xạ. Tác xạ có quan sát, nhất là tác xạ phản pháo, là điều chúng tôi luôn mong ước. Cho nên sau khi điều chỉnh xong, tất cả các đơn vị Pháo Binh đều tập trung hỏa lực vào mục tiêu này. Khác với những lần trước, lần này chúng tôi đã cắt ngang cuộc pháo kích của địch.
21.11.
Sáng sớm, một cặp phản lực khu trục lừng lững đảo tròn trên khu vực vị trí hỏa tiễn địch. Chiếc máy bay điều không vừa ném trái khói, một chiếc khu trục nhào xuống liền. Một trái bom vun vút lao xuống. Một cột khói bốc lên. Ở xa nhìn lại, cột khói có vẻ khác lạ vì nó lớn hơn, cao hơn, nhưng loãng hơn và không tròn trịa như thường thấy. Tiếp đến là tiếng nổ. Tiếng nổ thứ nhất được kèm theo tiếng nổ thứ hai có phần lớn và đầm hơn. Qua máy vô tuyến, chúng tôi nghe tiếng sĩ quan Ðiều Không báo cáo với giọng vui mừng:
o Có tiếng nổ phụ. Trúng hầm hỏa tiễn.
Chiếc khu trục thứ nhì nhào xuống. Lần này mục tiêu được đánh dấu rõ ràng bằng một cột khói, chớ không phải chỉ bằng trái khói. “Khán giả “ lo ngại giùm cho phi công, vì không thấy máy bay ngóc lên. Lúc nghe tiếng nổ ầm ầm, mọi người ngẩng nhìn, thấy phi cơ vụt bay ngang đầu. Thì ra cột khói tỏa quá rộng đã che lấp phi cơ trong thời gian nhào lộn.
Trong ngày, địch pháo kích sáu lần vào Núi Lửa và đồn Sarpa gây cho ta 2 chết, 1 bị thương.
22.11.
Tôi có dịp bay lên Núi Lửa để xem xét tại chỗ. Thực ra, đó là một miệng núi lửa đã tắt, hình bầu dục, dài khoảng 500 thước, rộng khoảng 300 thước, cao hơn mặt đất 80 thước, nơi trũng nhất trong lòng miệng núi có cao độ 804 so với mặt nước biển. Triền núi phía trong khá dốc, chằng chịt dây leo quấn lấy những cây cổ thụ to lớn. Giữa miệng núi, xanh rì một vạt chuối rừng rậm rạp. Trong trận Ðức lập tháng 8 và 9.1968, nhiều cuộc thư hùng đã xảy ra giữa ta và địch tại Núi Lửa này vì tính chất quan trọng của nó về mặt chiến thuật. Chiếm được Núi Lửa, kể như mặc nhiên kiểm soát được quận lỵ Ðức Lập và những làng xã lân cận. Cho nên, với mọi giá, ta phải trấn giữ, cũng như địch cố đánh chiếm Núi Lửa. Ðoán trước ý định của địch, anh em Tiểu Ðoàn 1/45 ngay từ khi chiếm ngọn núi này, đã ra công sức đào hố, đấp hầm chờ những cuộc tấn công, pháo kích sẽ xảy đến. Tại đây, hầm ếch là loại thông dụng nhất: Một giao thông hào dài, sâu chừng 3 thước, đào hườm vào trong những khoảng trống đủ cho một, hai người nằm, phía trên ken cây cứng. Bên cạnh hầm ếch đều có bậc thềm để binh sĩ nhô lên chiến đấu dễ dàng.
Khi trực thăng đáp xuống, chúng tôi phải nhảy ra thật nhanh để tránh súng cối địch và để trực thăng cất cánh liền. Khi trực thăng tới đón, chúng tôi phải lên trong vòng năm giây đồng hồ. Trung bình cứ năm lần hạ cánh, trực thăng bị pháo kích bốn lần, hoặc bằng súng cối, hoặc bằng hỏa tiễn.
24.11.
Trận đánh của Ðại Ðội 2, Tiểu Ðoàn 1/45 lúc 8 giờ 50 và lúc 3 giờ 50 chiều trên Núi Lửa gây cho địch 5 chết, 1 B40 bị tịch thu. 10 giờ tối, sau khi pháo kích ba lần không hiệu quả vào Núi Lửa, địch quay lại tấn công Trung Ðội Nghĩa Quân xã Ðức An. Nghĩa Quân phục kích nghênh chiến ngoài hàng rào xã giết 5 tên, thu 2 AK. Những người thường nghi ngờ tinh thần chống cộng của di dân là những người đầu tiên chặc lưỡi thán phục. Giết 5 tên địch, lấy 2 khẩu súng không phải là kỳ công đối với các anh Nghĩa Quân, nhưng nếu đặt mình vào hoàn cảnh lúc bấy giờ mới hiểu rằng thắng lợi ấy không dễ thực hiện. Lực lượng quân ta bị công hãm, việc liên lạc với tiền đồn Núi Lửa bị cắt đứt, tinh thần căng thẳng sau một thời gian dài chuẩn bị và mục kích những trận đánh lớn... Những yếu tố ấy chắc chắn ảnh hưởng mạnh mẽ tới tinh thần và hoạt động của chiến sĩ Nghĩa Quân xã Ðức An. Thế mà, thay vì có thể đến trú đóng chung với Ðại Ðội 285 Ðịa Phương Quân đồn Sarpa, Nghĩa Quân Ðức An ngày đêm vẫn tuần phòng, phục kích để giữ làng, bảo vệ dân, mặc dầu biết mình ở thế thất lợi.
27.11.
Xế trưa, Trung Ðội Biệt Kích của Tiểu Ðoàn 1/45, lâu nay vẫn án ngữ một đường xâm nhập của địch gần quận lỵ Ðức Lập, được trực thăng vận đến Núi Lửa trả cho đơn vị gốc để tăng cường phòng thủ. Trung Ðội vửa nhảy khỏi trực thăng trên một ngọn đồi nhỏ dưới chân Núi Lửa là địch pháo như mưa. Anh em vừa phân tán vừa tiến lên đỉnh núi vô sự.
Mười phút sau, một chiếc trực thăng bị bắn rơi ngay chỗ Trung Ðội vửa đáp. Chưa kịp nghỉ, Trung Ðội có việc liền : tiếp cứu phi công. Mới bò lên, bây giờ bò xuống. Bò xuống đón, phi công lại bò lên. Công việc hoàn tất trong vòng nửa tiếng đồng hồ, không có tổn thất. Chiếc trực thăng được khu trục đến oanh kích phá hủy.
Xẩm tối, một ổ phục kích của Tiểu Ðoàn 1/45 thấy thấp thoáng mấy tên địch từ chân núi bò lên. Chờ mục tiêu tiến đến vừa tầm súng, một loạt đạn bắn ra chưa kịp dứt, tên đi đầu đã giơ tay với khẩu súng AK đeo sau lưng, nòng chúc xuống. Một hồi chánh viên. Anh khai tên Phan Ðình Bát, cấp bậc Trung Sĩ, thuộc Ðại Ðội 3, Tiểu Ðoàn K1, Trung Ðoàn 28 Bắc Việt. Ngày hôm trước, đại đội anh đến thay thế Ðại Ðội 1, vì Ðại Ðội 1 bị tổn thất trên 50% quân số gây ra bởi hỏa lực Pháo Binh và Không Quân của ta. Ðược hỏi về mấy người đi cùng, Bát cho biết họ cũng ra hồi chánh như anh, nhưng bất ngờ bị ổ phục kích bắn nên truồi xuống.
28.11.
Không hiểu có phải để nâng cao tinh thần đồng bọn, hầu giảm thiểu số hồi chánh viên hay không mà trong vòng 24 giờ từ lúc anh Phan Ðình Bát ra trình diện, địch pháo kích cả thảy mười lần vào Tiểu Ðoàn 1/45. Tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân, 27.11 và 28.11.1970 là hai ngày hết sức bận rộn. Theo lệnh Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, Tiểu Ðoàn 1/45 sẽ được Tiểu Ðoàn 3/45 đến thay thế nhiệm vụ. Toàn bộ Trung Ðoàn 45 và Thiết Ðoàn 8 Kỵ Binh hỗ trợ cuộc hoán đổi này. Nỗ lực chính gồm Tiểu Ðoàn 2/45 và Chi Ðoàn 1/8 Chiến xa. Nỗ lực phụ gồm Tiểu Ðoàn 4/45 và Chi Ðoàn 3/8 Thiết Kỵ. Lực lượng trừ bị chính là đơn vị “lên phiên”, tức Tiểu Ðoàn 3/45. Chúng tôi nhận chỉ thị, thu thập tin tức, thảo luận, thiết kế.
5 giờ chiều, sau buổi họp trình bày kế hoạch, Bộ Chỉ Huy Hành Quân phổ biến lệnh hành quân. Các đơn vị tham chiến hầu như phải làm việc suốt đêm để nghiên cứu và chuyển kế hoạch chi tiết xuống các thành phần phụ thuộc. Ngày mai hẳn phải khác những ngày trước.
29.11.
Chúng tôi dậy từ 5 giờ sáng, sửa soạn bắn chuẩn bị. Dưới hầm Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực và Ðài Tác Xạ, điện thoại reo liên hồi. Những chi tiết cuối cùng được chuyển đạt cho các đơn vị Pháo Binh. Ngoài vị trí đại bác, các pháo thủ lặng lẽ tháo đạn, ráp đầu nổ, kiểm soát súng. Chúng tôi dự tính bắn 2,000 quả cho cuộc hành quân ngày hôm nay.
7 giờ 30, chúng tôi nhận thêm một Trung Ðội 155 ly từ Ban Mê Thuột tới.
8 giờ, qua máy vô tuyến, một sĩ quan tại Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực đếm lùi:
o 60, 50, 39, 38, 4, 3, 2, 1... Nổ đồng thời !
Hai chục giây sau, những tiếng nổ từ vùng mục tiêu dội lại. Trong sương mai, tiếng nổ trở nên lớn hơn, rền rĩ hơn, âm u như vang vọng từ đáy vực sâu.
8 giờ 20, các cánh quân rời tuyến xuất phát trong tiếng ì ầm của đại bác tiếp tục bắn. Một vài cuộc chạm súng diễn ra, song địch quân bị đánh guc ngay bởi lực lượng hùng hậu của quân ta. Các sĩ quan tham mưu xê dịch ước hiệu của quân bạn trên bản đồ. Ðường tiến quân được nối dài... Cho đến 11 giờ, một lực lượng cộng quân cấp tiểu đoàn tổ chức hầm hố kiên cố trên sườn đồi dùng mọi loại súng dội như mưa vào Tiểu Ðoàn 2/45. Chi Ðoàn 1/8 Chiến Xa dàn đội hình hàng ngang trợ lực 2/45 phản công. Trong khu rừng rậm hoang vu, chiến xa đè cây đổ ngã như những con quái vật hung hãn, các chiến sĩ Bộ Binh nương theo chiến xa tiến lên. Nhưng rồi những chiếc M41 phải dừng lại, vì càng vào sâu cây cối càng lớn. Ðịch đã khéo chọn địa điểm phục kích. Tuy nhiên, tại đây cộng quân không ngờ chúng lại là mục tiêu của TOT (time on target) đã được Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực dự trù sẵn.
Theo lời yêu cầu của sĩ quan Tiền Sát Tiểu Ðoàn 2/45, loạt đại bác đầu tiên đã bắn xuống ầm ầm. Toán Tiến Sát kế cận báo cáo trở ngại. Sĩ quan Tiền Sát Tiểu Ðoàn2/45 xin bắn hiệu quả. Chỉ trong vòng 12 phút, với tất cả lực lượng Pháo Binh khả dụng, chúng tôi đã bắn đi 480 quả đạn 105 ly và 155 ly. Trong lúc đang tác xạ, Tiểu Ðoàn Trưởng 2/45 reo lên trong máy vô tuyến :
o Hay lắm ! Tôi quan sát cả xác địch văng lên.
Sĩ quan Tiền Sát báo cáo thấy súng của địch tung lên lẫn trong cát bụi. Anh phải báo cáo tới lần thứ ba chúng tôi mới nghe được, vì anh nằm cách mục tiêu chỉ có 150 thước, tiếng nổ át mất tiếng gọi. Cuộc tác xạ Pháo Binh chấm dứt làm chấm dứt luôn trận đánh. Bốn bề trở nên vắng lặng vì địch quân bị nhiều thương vong, phần im lìm trốn chạy. Tiểu Ðoàn 2/45 lục soát trên mặt đất ghi nhận trên 40 xác địch, tịch thu 8 súng, nhưng khẩu nào cũng hư hỏng vì mảnh đạn. Trưa nay, mãi đến 2 giờ anh em Pháo Binh mới ăn cơm. Người nào người ấy mệt nhoài vì làm việc quần quật từ sáng sớm. Người ngồi, kẻ đứng, ai cũng vội vã nuốt cho đầy bụng càng lẹ càng tốt. Biết đâu chẳng có nhiệm vụ tác xạ khác ngay bây giờ ? Riêng Ðại Úy Pháo Ðội Trưởng chưa ăn. Ông lợi dụng thời gian nghỉ bắn để kiểm soát lại những khẩu đại bác. Ông đến chỗ chiến sĩ đang ăn cơm loan báo kết quả tác xạ đạt được. Không ai bảo ai, ngần ấy cái miệng reo vang, ngần ấy đôi tay cầm đũa đưa lên khua lấy khua để. Có anh khua luôn cả chén cơm chan canh làm nước canh đổ đầy đầu người đứng kế cận. Một binh sĩ vừa tu bổ đại bác xong, cầm cái bơm mỡ nhảy lên chồm chồm làm một cục mỡ bơm súng rớt xuống chảo canh, váng nổ lều bều. Mỡ mặc mỡ, mọi người vẫn điềm nhiên ăn ngon lành, hể hả. Tinh thần lên cao khiến quên hết mệt mỏi.
Lại nói về cuộc hành quân. Bởi mục đích chính là hoán đổi hai Tiểu Ðoàn 1/45 và 3/45 nên Tiểu Ðoàn 2/45 không có thì giờ lục soát kỹ mục tiêu Pháo Binh tác xạ. Vì vậy, trong các công sự đổ nát, đến bây giờ cũng chẳng ai biết bao nhiêu địch đã bị vùi thây. Kiểm điểm tổn thất bạn, có 2 chết, 4 bị thương, 1 chiến xa hư. Các cánh quân lại tiếp tục nhiệm vụ và hoàn tất công tác, trở về vị trí lúc 11 giờ đêm.
30.11.
Ðể “chào mừng” Tiểu Ðoàn 3/45, tảng sáng địch bắn vào Núi Lửa 50 quả đạn B40, gây cho 2 binh sĩ tử thương và 3 bị thương. Từ đó đến chiều, địch còn pháo kích và tấn kích thêm 7 lần nữa. Nhờ những cuộc tấn kích, Ðại Ðội 1 của 3/45 san bằng được cách biệt: Địch 3 chết.
1.12.
Tiểu Ðoàn 3/45 với lính còn khỏe, mang cho khu vực Núi Lửa một bộ mặt mới. Nhiều mũi dùi được phóng ra, nới rộng khu vực ta kiểm soát. Sáng nay, sau khi bị pháo, 2 chiến sĩ bị thương, chúng tôi nghe đại úy Tiểu Ðoàn Trưởng ra lệnh trong máy vô tuyến cho một sĩ quan Ðại Ðội Trưởng đang săn địch dưới chân núi :
o Ði cho cẩn thận. Ráng trả thù nghe mày.
Câu nói thật ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa, nhắc nhở vị Ðại Ðội Trưởng phải vận dụng mọi khả năng để giết địch mà không gây thiệt hại cho quân ta. Ðại Ðội không chạm địch mạnh, chỉ lẻ tẻ nhiều lần. Tuy thế, tổng kết trong ngày, Ðại Ðội hạ được đúng 20 tên, thu 1 B40, 1 AK.
7.12.
Trong sáu ngày từ 2.12. đến 7.12.1970, địch pháo kích 65 lần vào Núi Lửa, Ðồn Sarpa, Trại Daksak và Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Cũng trong thời gian này, Tiểu Ðoàn 3/45 trong những cuộc hành quân tuần thám chung quanh Núi Lửa, chạm địch tất cả 11 lần. Tổn thất bạn gồm có 3 chết, trong đó có 1 phóng viên hãng CBS người Pháp, 1 M113 cháy, 1 trực thăng bị bắn rơi. Về phía địch có 12 chết, 2 về hồi chánh.
8.12.
Sau một thời gian tảo thanh quanh Núi Lửa, Tiểu Ðoàn 3/45 đã có thể mở rộng hoạt động ra các vùng đồi núi phụ cận. Các cánh quân, với sự yểm trợ mạnh mẽ của Pháo Binh, cẩn thận tiến chiếm từng cao điểm. Tại một địa điểm phía Ðông Núi Lửa, Ðại Ðội 1 khám phá 20 ngôi mả mới chôn của địch. Một khoảng rừng khá rộng xung quanh địa điểm này bị tàn phá vì bom và đạn pháo binh. Anh em đào thử một mả thấy ba xác địch nhưng không dám đào tiếp vì mùi hôi thối nồng nặc.
9.12.
Trung Ðội Biệt Kích Tiểu Ðoàn 3/45 hoạt động phía Ðông Bắc Núi Lửa phá hủy nhiều hầm hố của địch, tịch thu một số đạn dược và mặt nạ phòng hơi độc. Trong ngày, địch pháo kích dữ dội sáu lần vào Căn Cứ Núi Lửa. Trước những sự kiện xảy ra, nhất là sự kiện địch không còn chủ trương kháng cự trong mấy ngày qua, Bộ Chỉ Huy Hành Quân cấp tốc triệu tập một cuộc họp để nhận định tình hình. Sau phần thảo luận căn cứ vào những dữ kiện thu thập được từ tin tức tình báo giá trị cao, từ việc địch thay đổi chiến thuật đến những dấu vết tàn phá ghi nhận trên chiến địa, chúng tôi đi đến kết luận là tổn thất của địch rất cao, nên nếu không phải chúng đang chủ trương từ bỏ ý định đánh Ðức Lập, ít nhất cúng cũng tạm lui để chấn chỉnh hàng ngũ. Những cuộc pháo kích dữ dội chỉ nhằm mục đích che đậy ý định của chúng. Do đó Bộ Chỉ Huy Hành Quân lợi dụng ưu thế hiện có, dự trù tung ra những cuộc hành quân tấn sát biên giới Việt ố Miên để truy lùng và phá vỡ kế hoạch của chúng.
11.12.
Sau một ngày thảo kế hoạch, cuộc hành quân truy lùng đầu tiên được thực hiện. Ðại Ðội 3, Tiểu Ðoàn 3/45 khám phá một tiểu đội địch nằm chết ngỗn ngang cách Núi Lửa chừng hai cây số. Càng đi xa càng thấy nhiều dấu vết tàn phá. Một cánh tay vắt vẻo trên cành cây. Những hầm hố sập đổ vì bom đạn. Rải rác khắp nơi đủ loại đạn của địch. Chúng tôi đã ước đoán đúng. Ðịch đang vội vã trốn chạy, bỏ cả quân dụng cùng xác đồng bọn, không kịp mang theo hay chôn cất.
12.12.
Tại phía Bắc khu vực Ðại Ðội 3, Ðại Ðội 1 gặp một toán địch đang lom khom cuốc đất. Súng nổ, địch bỏ chạy. Ðại Ðội 1 ào lên, thấy một hố dài với 37 xác địch nát bấy vì đạn pháo binh hoặc cháy nám vì bom xăng đặc. Cộng thêm 2 xác quân ta mới phơ xong là 39. Chung quanh khu vực này, đạn dược vất ngỗn ngang, ê hề. Ðạn súng cối 60 ly, 82 ly, 122 ly, đạn B40, lựu đạn, mìn, cộng chung chừng một tấn. Ðại Ðội phải để lại một trung đội lấp mả và phá hủy đạn dược.
13.12.
Ðại Ðội 2 đi hai ngày mà chưa thấy gì, ngoại trừ vết máu và vỏ đạn. Ðã vậy, xế trưa Ðại Ðội còn chạm địch. Rừng quá rậm, không rõ địch tình ra sao, nên Ðại Ðội Trưởng cho ngừng lại và áp dụng đúng quan niệm “sử dụng tối đa hỏa lực phi pháo tiêu diệt địch”. Thế là Pháo Binh lại có dịp ra tay. Sau ba loạt điều chỉnh là những loạt bắn hiệu quả. Vài anh lính Bộ Binh ở tuyến đầu nhổm dậy coi kết quả liền bị “bản năng sinh tồn” dán sát xuống mặt đất. Gần quá, mảnh đạn bay chíu chíu ngang đầu.
15 phút sau, Ðại Ðội tiến lên lục soát, đếm trên 40 xác địch, thịt xương nát bấy, vung vãi lẫn lộn với súng đạn. Một bộ phận địch cách đó 300 thước không bị thiệt hại vì pháo binh, liền rót súng cối vào Ðại Ðội. Sau cái phất tay của Trung Úy Ðại Ðội Trưởng, cả Ðại Ðội xông về hướng đặt súng địch. Phản ứng của Trung Úy Ðại Ðội Trưởng thật lẹ. Mấy giây đồng hồ sau, Ðại Ðội ra khỏi vùng nguy hiểm, rồi mấy phút sau, Ðại Ðội chiếm được ngọn đồi nhỏ kế cận, tịch thu một bàn tiếp hậu súng cối 60 ly. Ðịch chạy vội, chỉ mang được cây súng. Sĩ quan Tiền Sát nói với trung úy đại đội trưởng:
o Trung úy liều quá ! Chưa hiểu rõ tình hình đã xung phong sang, rủi bị phục kích là kẹt cả lũ.
o Thanh toán xong bọn chận đánh, đâu còn gì đáng ngán. Hàng ngũ chúng đang rối loạn, mình phải truy kích gấp. Ở lại chẳng kiếm thêm được gì còn bị sứt mẻ là khác.
15.12.
Xã Ðức An và khu vực quanh Núi Lửa dần dần lấy lại bộ mặt quen thuộc. Binh sĩ ngược xuôi lùng địch, lấy nước, tắm giặt. Dân chúng qua lại chăm nom vườn tược, ruộng đồng. Và để được tận mắt nhìn cái hố bom, hố đạn, xác chiếc trực thăng cháy, cái hầm sập mái chôn cả chục tên Cộng Sản xâm lược.
Buổi chiều, dân Ðức An tự động lũ lượt kéo nhau lên Núi Lửa với ba gánh bánh tét. Có lẽ từ ngày khai thiên lập địa, hôm nay Núi Lửa mới tiếp nhận một số người đông như thế. Mới mấy ngày trước Núi Lửa còn là tử địa, bây giờ cũng chính Núi Lửa lại là nơi nườm nượp cả quân và dân, tạo một niềm cảm thông hết sức chân thật.
24.12.
Tại Ðức Lập, một đoàn người khá dài kéo nhau đến Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Vài người giàu tưởng tượng nghĩ ngay đến một cuộc khiếu nại, đòi bồi thường, yêu cầu này nọ... Ðoàn người tới gần. Chúng tôi nhận ra Cha Sở Tú Minh đi đầu. Ði cuối là một con bò mộng. Cha Sở nói :
o Họ đạo chúng tôi đến cám ơn anh em chiến sĩ đã đánh nhau can trường để chúng tôi dù không hưởng được cả mùa Giáng Sinh vui vẻ, nhưng ít nhất cũng hưởng được ngày lễ Sinh Nhật tưng bừng. Con bò này thể hiện một phần nhỏ lòng biết ơn ấy.
Ðêm xuống, giữa chốn rừng xanh hiu quạnh và xa lạ của một phần đất nước thân yêu, những ngọn đèn ngôi sao rực sáng. Có phải đó là những ngôi sao dẫn đường cho chúng tôi chiến đấu, để đạt đến cuộc sống thanh bình mà Chúa Cứu Thế hằng phán.
(Trích trong tác phẩm THIÊN HÙNG CA QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA của PHẠM PHONG DINH)
(Giải Ba cuộc thi Bút Ký Chiến Trường năm 1970 của Cục Tâm Lý Chiến, N.A.H)
PHẠM PHONG DINH sưu tập và biên soạn
Bọn chúng tôi gồm sáu người thuộc Tiểu Ðoàn 230 Pháo Binh đến Bộ Chỉ Huy Hành Quân Trung Ðoàn 45 thuộc Sư Ðoàn 23 Bộ Binh tại Ðức Lập, tỉnh Quảng Ðức, bằng trực thăng lúc11 giờ trưa, trong đầu còn mang theo một vài hình ảnh uy nghi của ngày kỷ niệm Cách Mạng 1.11.1970. Ăn cơm trưa xong, chúng tôi bắt tay ngay vào việc.
Sau khi nhận trách nhiệm phối hợp hỏa lực do các sĩ quan Pháo Binh Hoa Kỳ trao lại (theo sự thỏa thuận trước, trong mấy ngày đầu của cuộc chiến, công tác phối hợp hỏa lực do các sĩ quan Pháo Binh Hoa Kỳ đảm nhiệm, vì tại Ðức Lập họ có 14 khẩu đại bác). Sau khi hội đủ thành phần hỏa yểm để hoạch định công tác, sĩ quan phối hợp hỏa lực phân công người thiết lập kế hoạch pháo yểm, thiết lập hệ thống truyền tin, người ghép bản đồ, vẽ phóng đồ, đào hầm hố,... Bắt tay vào việc chưa đầy một tiếng đồng hồ, thì được tin địch bắn rơi hai trực thăng tại Ngã Ba Daksong, 14 cây số Tây Nam Ðức Lập. Lúc 2 giờ chiều, địch pháo kích Trại Biệt Kích Daksak, cách Bộ Chỉ Huy Hành Quân 5 cây số về phía Ðông Nam. Lúc 7 giờ tối, chúng lại pháo kích Căn Cứ Dorie, cách Bộ Chỉ Huy Hành Quân 14 cây số về phía Ðông Bắc. Ðã bận, chúng tôi càng bận thêm vì phải điều động các đơn vị phản pháo. Sau nửa ngày làm việc không ngừng, chúng tôi đã nhận định được tình hình và làm quen được với khung cảnh hoạt động. Thức quá khuya để làm xong cho bằng được 12 bản kế hoạch pháo yểm, chúng tôi để cả giày, trùm mền ngủ.
3.11.
Chỉ một đêm ở Ðức Lập đủ để tôi hiểu thời tiết vùng này. Lạnh hết chỗ nói ! Ngủ cả giày, với áo len, quần áo tác chiến, trùm một chiếc mền len gấp đôi, tôi vẫn phải thức dậy lúc 3 giờ sáng, để rồi thức luôn đến sáng. Sáng ra, sương mù dầy đặc mang cho tôi cảm tưởng đang sống tại miền quê một xứ Bắc Âu. Tôi quơ tay xem có ai đứng trước mặt không, vì trong óc chợt nảy ra một ý nghĩ ngộ nghĩnh: Biết đâu chẳng có một tên Cộng Sản xâm lược với khẩu AK cũng đang quờ quạng quanh đây. Cái lạnh Ðức Lập chưa đến nỗi làm nước đóng băng nhưng đủ để ngăn chúng tôi chải răng buổi sáng, là vì kem Perlon bị đông đặc, bóp mấy cũng không ra. Ðược cái là không có muỗi. Ðiều này cũng dễ hiểu, vì gió lộng suốt đêm, muỗi có mọc thêm bốn cánh nữa cũng bị thổi bay. Sương tan được một lát, hai đại đội thuộc Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân được trực thăng vận đến Ngã Ba Daksong với nhiệm vụ tiếp cứu phi công trực thăng bị nạn. Buổi chiều, địch pháo kích vào Trại Daksak hai lần, không gây thiệt hại nào.
4.11.
Mới 6 giờ sáng tình hình đã hứa hẹn nhiều sôi nổi. Hai đại đội Biệt Ðộng Quân bị địch pháo kích và tấn công dữ dội trong liên tiếp nhiều giờ. Biệt Ðộng Quân có 3 binh sĩ tử thương nhưng quân ta lượm được của địch 21 xác. Ðến 10 giờ, một cuộc hành quân giao tiếp cấp thời được tổ chức để đón hai đại đội Biệt Ðộng Quân về. Thành phần còn lại của Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân và toàn bộ Tiểu Ðoàn 1/53 được điều động từ Ðức Lập xuống phía Nam. Thế là những trận đánh xảy ra dọc đường tiến quân, trên một đoạn đường ngoằn ngoèo của Quốc Lộ 14. Ðịch từ các triền Ðồi phía Tây bắn xuống bằng đủ mọi loại súng: AK có, B40 có, trung liên, đại liên, súng cối có. Các chiến sĩ ta bám vào vệ đường phía Ðông chống trả, trong khi phi cơ bay đến oanh kích tôi bời, Pháo Binh tác xạ “như điên”.
Chiều đến, Chi Ðoàn 3/8 Thiết Kỵ và một đại đội thuộc Tiểu Ðoàn 1/45 tới tăng viện. Lại chạm địch. Những khẩu đại liên 50 trên thiết vận xa M113 lâu lâu mới gặp mục tiêu thích hợp, khạc đạn rung rinh cả khoảng rừng già. Quân ta phản công, tiến đến chân dãy đồi thì trời sập tối. Ðịch lẩn sang những triền đồi phía sau. Quân ta lùi lại chừng 500 thước giao khoán các mục tiêu cho Pháo Binh. Từ bốn căn cứ hỏa lực quanh quận lỵ Ðức lập, đạn 105 ly được phóng đi, đầu nổ nhanh có, đầu nổ chậm có, đầu nổ cao có. Hầu như suốt đêm. Khói súng quyện lấy sương mù làm cho bầu không khí tại những căn cứ hỏa lực trở nên ngột ngạt, mằn mặn.
5.11.
Ngoài những đơn vị tham chiến ngày hôm trước, Bộ Chỉ Huy Hành Quân “đầu tư” thêm Tiểu Ðoàn 2/45 và Ðại Ðội 45 Trinh Sát. Tiểu Ðoàn 2/45 làm nỗ lực chính ở phía Tây Quốc Lộ 14. Chi Ðoàn 3/8 Kỵ Binh và Ðại Ðội 45 Trinh Sát tiến trên quốc lộ. Các đơn vị khác “tả phù hữu bật”.
8 giờ 15. Lệnh xuất phát ban ra. Các cánh quân liên lạc dọc, liên lạc ngang, tiến lên. Như một mẻ lưới. Ðịch lùi xuống phục kích phía Nam chỗ phục kích ngày hôm qua. Nhìn con mồi gồm những chiếc M113 xám xanh chạy trên đường, địch giương mắt theo dõi, chờ lệnh khai hỏa. Thật dễ dàng làm sao ! Chúng không biết Tiểu Ðoàn 2/45 đang tiến ngang cạnh sườn chúng. Cho nên khi Tiểu Ðoàn 2/45 từ bên hông nổ súng tới, địch rối loạn hàng ngũ liền. Tuy vậy chúng vẫn quay đầu chống trả thật kịch liệt, kịch liệt đến nỗi quên cả Chi Ðoàn 3/8 Thiết Quân Vận và Ðại Ðội 45 Trinh Sát lúc này đang ở sau lưng chúng. Nên khi những chiếc M113 tiến gần hơn rồi nhả đạn, rồi Ðại Ðội 45 Trinh Sát hạ chiến, địch chỉ còn cách mạnh ai nấy chạy. Ðúng là một mẻ lưới.
Các đơn vị tham chiến tiếp tục tiến xuống phía Nam. Ðến 5 giờ chiều, Tiểu Ðoàn 2/45 giao tiếp được với cánh quân Mũ Nâu. Anh em ôm nhau, nước mắt rưng rưng. Tổng kết hai ngày giao tranh dữ dội: Địch 157 chết, ta 36 chết, 41 bị thương.
6.11.
Quá nửa đêm, lính gác tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân báo cáo có tiếng động khả nghi ngoài hàng rào. Trời tối, lại có sương mù. Mấy phút sau, lính gác nổ súng. Ðồng thời hỏa châu, đạn chiếu sáng rực trời. Bị lộ, phản ứng tiên khởi của địch là nã súng cối vào Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Nhưng bắn súng cối thì Ðặc Công địch chưa xung phong được, đành nằm chịu trận ngoài hàng rào, biến thành mục tiêu tốt cho Ðại Ðội 45 Trinh Sát và Ðại Ðội Chỉ Huy Công Vụ của Trung Ðoàn 45, hai đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Khi súng cối địch ngưng bắn, bao nhiêu Ðặc Công còn sống sót, còn can đảm đứng dậy, còn dám liều lĩnh xung phong ? Cuộc lục soát ngay đêm ấy và sáng hôm sau cho thấy xác tên Ðặc Công liều lĩnh nhất, nhanh chân nhất nằm trên lớp hàng rào giữa. Số còn lại rải từ lớp rào ngoài cùng ra đến các khu rừng chung quanh. Tổng cộng 24 xác, tịch thu 6 súng và vô số chất nổ. Một chiến sĩ phát biểu ý kiến của anh :
o Mình phát giác nó trước, mình ở trên cao nó ở dưới, mình có súng trong khi bọn nó nhiều tên chỉ mang những miếng chất nổ đen vừa lòng bàn tay. Mình ở trong hầm nó ở ngoài trống, mình vừa trùm mền vừa thụt ra trong khi nó cởi trần giữa đêm lạnh, nên nó phải chết.
11 giờ trưa, địch pháo kích Trại Daksak làm cháy bệnh xá. 3 giờ 15 chiều, đoàn xe tiếp tế từ Ban Mê Thuột tới. Có bánh mì, có báo. Lác đác vài người có cả thư nhà dù “xuất quân” chưa được một tuần. Công việc nặng nhọc nhất của các pháo thủ là xuống đạn : 400 quả 155 ly và 600 quả 105 ly. Mọi người đang nỗ lực làm việc bỗng vang lên một tiếng nổ lớn. Một trái lựu đạn hay một quả mìn claymore phát nổ ? Không, một cột khói đen bốc lên cách Bộ Chỉ Huy Hành Quân chừng 400 thước. Có tiếng la : “Pháo kích, pháo kích”. Trong giây lát, cả khu vực đang hoạt động bỗng vắng hoe. Chỉ còn những cấp chỉ huy đảo ngược, đảo xuôi kiểm soát, tìm hiểu sự việc. Và các quân nhân pháo thủ. Bởi một phản ứng trở thành thói quen, các pháo thủ vẫn trân trân đứng đó chuẩn bị đạn dược, chờ lệnh phản pháo.
Một tiếng rít dài trên không. Tiếng nổ thứ hai tiếp theo. Một cây cổ thụ bị chém gãy cành trụi lá. Chúng tôi đã nhận định được tình hình : Ðịch bắn hỏa tiễn 122 ly từ hướng Tây Bắc. Những toán quân tuần tiễu hoạt động bên ngoài cung cấp thêm tin tức. Chúng tôi có đủ yếu tố để phản pháo. Một phút sau, đại bác 105 ly bắt đầu bắn trả. Thêm nửa phút nữa là đại bác 155 ly. Các căn cứ hỏa lực kế cận cũng góp tiếng. Phản pháo xong, anh em pháo thủ mới có thì giờ nhìn chung quanh xem những chuyện gì đã xảy ra. Ðài tác xạ vừa hoàn thành với sườn bằng gỗ, mái bằng vĩ sắt đã không cánh mà bay. Vĩ sắt rải rác đó đây, một tấm đập vào hông một chiếc xe vận tải bị cong thành hình chữ L. Thì ra một trái hỏa tiễn với đầu nổ chậm đã chui lọt vào và phát nổ trong đài tác xạ. Không ai hề hấn gì vì chưa dọn vào. Ðài tác xạ chỉ cách khẩu đội 15 thước, nhưng mãi thi hành tác xạ, nên lúc hỏa tiễn nổ không ai để ý.
Một sự việc khác có phần lý thú đối với anh em Pháo Binh. Số là mỗi khi chiếm đóng vị trí, một trong những điều Pháo Binh phải chú ý là tà giác bực chắn. Tà giác bực chắn là góc cao của những chướng ngại vật chung quanh vị trí có thể ngăn cản đường đạn đi. Tà giác bực chắn càng lớn thì càng gây nhiều khó khăn cho việc tác xạ. Thế mà tại vị trí Bộ Chỉ Huy Hành Quân, một cây rừng cao to, chết khô, đứng sừng sững ngay trước mặt Trung Ðội 155 ly. Anh em tính hạ từ mấy này trước, nhưng sợ cây đổ làm hư xe cộ, hầm hố chung quanh. Bây giờ, nhờ một trái hỏa tiễn nổ sát gốc, cây khô vật ngã chình ình ra đó mà không gây thiệt hại nào. Một anh lính Pháo Binh bắt chéo chân, cúi đầu giở nón chào theo kiểu ảo thuật gia, bình phẩm một câu theo lồi hành văn của các ký giả thể thao :
o Các đồng chí đã bắn một trái để đời, đáng cho chúng ta giở nón cúi đầu.
7.11.
Xế trưa, một đại đội thuộc Tiểu Ðoàn 2/45 chạm địch trong khi tuần thám phía Bắc Ðức Lập, giết 2 tên, tịch thu một hầm vũ khí gồm 4 trung liên, 2 B40 và 12 súng cá nhân.
8.11.
Tình ngày hôm nay có vẻ êm ả, dạo một vòng quanh Ðức Lập. Trước hết là chợ Ðức lập. Sản phẩm địa phương bày bán thứ nào cũng rẻ hơn ở Ban Mê Thuột. Rẻ đến nổi nhiều người mệnh danh chợ Ðức Lập là siêu thị. Thịt heo 220 đồng một ký so với 400 đồng, gạo 4,500 đồng một tạ so với 6,000 tại Ban Mê thuột, v.v.. Khốn nỗi sản phẩm địa phương chỉ có vài ba thứ, những thứ khác từ Ban Mê Thuột mang đến tất nhiên đắt hơn. Phải nói đắt hơn quá nhiều mới đúng. Lại nữa, “siêu thị” thì nhỏ, binh sĩ bỗng chợt kéo đến cả ngàn nên vật giá leo thang từng ngày, từng giờ. Chỉ trong vòng một tuần lễ, giá thịt heo lên 420 đồng một ký, và gạo 6,500 đồng một tạ. Chả cần học kinh tế cũng biết luật cung cầu là thế.
Rời chợ rẽ tay trái là làng Ðức Minh gồm dân từ Nghệ An, Hà Tĩnh di cư vào. Nhờ cuộc đi dạo này, tôi tìm hiểu được phần “địa lý nhân văn và thảo mộc” như sau. Dân Ðức Minh tiếng nói nặng. Người đứng tuổi vẫn ăn mặc theo lối xưa : đàn bà vấn khăn, đàn ông quần trùng, áo dài. Con gái : xinh. Nói chung, tại Ðức Minh không có ai nghèo thật sự, mà chỉ có người giàu và người ít giàu, hay kém giàu, hay không giàu bằng. Người giàu có nhà ngói khang trang. Người ít giàu không làm được nhà ngói thì trồng thật nhiều mít cho có vẻ giàu thật sự. Có lẽ ít nơi đâu chịu ảnh hưởng của câu “nhà ngói, cây mít” hơn ở Ðức Minh. Sau mít là xoài, có thể ngoài mít và xoài, Ðức Minh không còn loại cây ăn trái nào khác. Cũng có thể nói “trên là trời, dưới là mít và xoài. Ðầu làng có con suối chảy ngang, chen chúc những cô nàng giặt lụa... Thái Lan. Về công nghệ, có một tiệm sửa đủ loại máy móc : Honda, máy cày, máy bơm nước, xe hơi, đồng hồ, v.v.. Nhà máy xay lúa hoạt động tấp nập. Ðức Minh có một trường trung tiểu học tư thục, các cô giáo ăn mặc đúng mốt Sài Gòn, thướt tha và yểu điệu.
Trở ra, đi ngược Quốc Lộ 14 chừng ba cây số là làng Tú Minh, tương tự Ðức Minh. Có khác chăng chỉ là ở Tú Minh dân cư thưa thớt hơn và người ta trồng cà phê, thay vì cấy lúa như ở Ðức Minh. Dọc Quốc Lộ 14 xuống phía Nam là làng Ðức An gồm di dân nguyên ở Quảng Nam. Phần lớn dân Ðức An làm trà, tuy nghèo hơn nhưng chống Cộng không thua dân Ðức Minh và Tú Minh.
9.11.
Buổi sáng, phóng viên các hãng thông tấn tấp nập kéo đến Bộ Chỉ Huy Hành Quân xin đi theo Tiểu Ðoàn 2/45 quay phim, viết bài. Mỗi toán phóng viên đi theo một đại đội. Lúc 3 giờ chiều, Trung Ðội Biệt Kích của Tiểu Ðoàn 2/45 chạm địch dữ dội. Dữ dội nhưng ngắn ngủi, trận đánh kéo dài không quá mười phút. Song thời gian ấy cũng đủ để anh em Biệt Kích đổi 2 người bị thương lấy 22 xác địch, 2 trung liên, 1 B40 và 2 AK. Chiều về, các phóng viên người nào cũng tiếc ngẩn ngơ vì không ai đi theo Trung Ðội Biệt Kích. Một phóng viên dậm chân than trời :
o Tiếc quá ! Ði theo cánh quân bên cạnh nghe súng nổ rần rần mà không sao qua được.
16.11.
Tình hình tuần qua không sôi động mấy nhưng hết sức căng thẳng. Công cuộc chuẩn bị vô cùng ráo riết. Tại những căn cứ quân bạn, hầm hố kiên cố được thiết lập bằng cây rừng loại lớn. Dây kẽm gai chàng chằng chịt ngang dọc. Tin tức tình báo rất dồi dào cho thấy lực lượng địch được tăng cường ngày một nhiều. Ngoài Trung Ðoàn 28, còn có sự hiện diện của Trung Ðoàn 40 Pháo, Tiểu Ðoàn 394 Pháo, Tiểu Ðoàn 37 Ðặc Công và các đơn vị địa phương. Ðể phối kiểm tin tức và thăm dò lực lượng địch, những cuộc hành quân tuần thám của quân ta được tung ra liên tiếp. Ðạn dược, thực phẩm được ùn ùn chở đến các căn cứ đóng quân.
Về phía địch, chúng gia tăng pháo kích, khi thì hỏa tiễn, khi thì súng cối, khi thì súng không giật. Những hoạt động này có lẽ chỉ có mục đích cầm chân quân ta để chúng có thì giờ chuẩn bị, chắc cũng ráo riết không thua gì ta. Tựu trung, cả hai bên đều muốn nắm chắc phần thắng nên còn rình rập nhau như hai con thú tranh mồi, gầm gừ tìm sơ hở của nhau. Song nếu các đơn vị Bộ Binh và Thiết Giáp sửa soạn kỹ càng cho công cuộc phòng thủ như vậy, thì các chiến sĩ Pháo Binh lại ở thế công hơn ai hết. Tin tức ghi nhận vị trí địch tới tấp gửi về Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực. Từng đơn vị địch được theo dõi cẩn thận trên bản đồ. Những loạt đạn “nổ đồng thời” (time on target, một lối bắn của Pháo Binh nhằm tập trung cùng một lúc hỏa lực của nhiều đơn vị vào một mục tiêu ) dồn dập phóng đi bất kể ngày đêm. Mãnh liệt đến nỗi thú rừng phải dội ngược về các căn cứ phòng thủ, giúp chiến sĩ ta đỡ phải ăn khem lối “đàn bà đẻ “.
17.11.
Buổi sáng, một trung đội thuộc Tiểu Ðoàn 1/45 chạm địch, ta 3 bị thương, địch 2 chết. Buổi chiều, Ðại Ðội 3 Tiểu Ðoàn 1/45, trong một cuộc hành quân sưu tầm tin tức đã giao phong dữ dội với một đơn vị địch, giết 32 tên, thu một số vũ khí và quân trang. Phía bạn có 7 chết, 10 bị thương. Tối đến, vị trí đóng quân của Ðại Ðội 285 Ðịa Phương Quân bị pháo kích. Pháo Binh ta phản pháo “tưng bừng”. Sáng ra, Ðại Ðội lục soát thấy 3 xác địch, tịch thu 2 AK47.
19.11.
Không phải chỉ có thú rừng dội ngược về phía những căn cứ hỏa lực vì đạn pháo binh. Mà cả địch quân nữa. Một Trung Sĩ cộng sản tên Lê Hồng Kiều ra trình diện Nghĩa Quân xã Ðức An xin hồi chánh. Kiều là Tiểu Ðội Trưởng Tiểu Ðội Trinh Sát của Tiểu Ðoàn K 3, Trung Ðoàn 28 Cộng Sản Bắc Việt thuộc Mặt Trận B3. Kiều ăn nói hoạt bát, hiểu biết khá về quân sự. Anh mặc bộ kaki vàng nhàu nát, đi dép cao su, mặt mũi phờ phạc, chân tay nứt nẻ vì thời tiết. Anh mang theo một khẩu AK, một địa bàn, nhưng đáng giá hơn cả là tấm bản đồ hành quân của Tiểu Ðoàn K3.
Kiều cho biết trong trận đánh dọc Quốc Lộ 14 ngày 4.11.1970, khi quân ta mở cuộc hành quân giao tiếp với Biệt Ðộng Quân, Tiểu Ðoàn K3 vừa chết vừa bị thương trên 50 người. Nhiệm vụ của K3 hiện nay là cùng với các Tiểu Ðoàn K1 và K2 và một số đơn vị khác chuẩn bị chiến trường đánh giao thông chiến, rồi sau đó quyết tâm đánh dứt điểm Ðức Lập. Về pháo binh địch, Kiều cho biết ngoài các loại súng cối, hỏa tiễn, Trung Ðoàn 28 còn có thể được Mặt Trận B3 đưa đơn vị Pháo 152 ly đến yểm trợ. Kiều xác nhận nhiều đơn vị cộng sản bị khốn đốn vì hỏa lực pháo binh ta. Ngay đêm hôm trước, một bộ phận Thông Tin (Truyền Tin) của K3 cũng bị tổn thất vì pháo binh. Anh cung cấp cho chúng tôi vị trí một đại đội cũng của tiểu đoàn này, đóng cách bộ phận Thông Tin 200 thước. Kiều còn tiết lộ, kể từ hôm nay địch khởi sự ra mặt công hãm ngọn đồi 804, ngọn đồi chúng tôi quen gọi là Núi Lửa, do Tiểu Ðoàn 1/45 trấn giữ.
Lúc 5 giờ chiều, quả đúng như lời Kiều nói, địch pháo kích Núi Lửa bằng súng cối 82 ly. Chúng pháo kích luôn vào đồn Ðịa Phương Quân Sarpa gần đó. Giai đoạn đầu của mặt trận công hãm mở màn ? Ðịch đã thấy được sơ hở của ta ? Hay chúng muốn đánh lạc hướng hầu thực hiện một âm mưu khác ? Thời gian sẽ cung cấp lời giáp đáp thích đáng.
20.11.
Buổi chiều, địch bắn hỏa tiễn 122 ly vào Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Lại vô sự. Một máy bay quan sát nhận ra vị trí hỏa tiễn liền điều chỉnh pháo binh tác xạ. Tác xạ có quan sát, nhất là tác xạ phản pháo, là điều chúng tôi luôn mong ước. Cho nên sau khi điều chỉnh xong, tất cả các đơn vị Pháo Binh đều tập trung hỏa lực vào mục tiêu này. Khác với những lần trước, lần này chúng tôi đã cắt ngang cuộc pháo kích của địch.
21.11.
Sáng sớm, một cặp phản lực khu trục lừng lững đảo tròn trên khu vực vị trí hỏa tiễn địch. Chiếc máy bay điều không vừa ném trái khói, một chiếc khu trục nhào xuống liền. Một trái bom vun vút lao xuống. Một cột khói bốc lên. Ở xa nhìn lại, cột khói có vẻ khác lạ vì nó lớn hơn, cao hơn, nhưng loãng hơn và không tròn trịa như thường thấy. Tiếp đến là tiếng nổ. Tiếng nổ thứ nhất được kèm theo tiếng nổ thứ hai có phần lớn và đầm hơn. Qua máy vô tuyến, chúng tôi nghe tiếng sĩ quan Ðiều Không báo cáo với giọng vui mừng:
o Có tiếng nổ phụ. Trúng hầm hỏa tiễn.
Chiếc khu trục thứ nhì nhào xuống. Lần này mục tiêu được đánh dấu rõ ràng bằng một cột khói, chớ không phải chỉ bằng trái khói. “Khán giả “ lo ngại giùm cho phi công, vì không thấy máy bay ngóc lên. Lúc nghe tiếng nổ ầm ầm, mọi người ngẩng nhìn, thấy phi cơ vụt bay ngang đầu. Thì ra cột khói tỏa quá rộng đã che lấp phi cơ trong thời gian nhào lộn.
Trong ngày, địch pháo kích sáu lần vào Núi Lửa và đồn Sarpa gây cho ta 2 chết, 1 bị thương.
22.11.
Tôi có dịp bay lên Núi Lửa để xem xét tại chỗ. Thực ra, đó là một miệng núi lửa đã tắt, hình bầu dục, dài khoảng 500 thước, rộng khoảng 300 thước, cao hơn mặt đất 80 thước, nơi trũng nhất trong lòng miệng núi có cao độ 804 so với mặt nước biển. Triền núi phía trong khá dốc, chằng chịt dây leo quấn lấy những cây cổ thụ to lớn. Giữa miệng núi, xanh rì một vạt chuối rừng rậm rạp. Trong trận Ðức lập tháng 8 và 9.1968, nhiều cuộc thư hùng đã xảy ra giữa ta và địch tại Núi Lửa này vì tính chất quan trọng của nó về mặt chiến thuật. Chiếm được Núi Lửa, kể như mặc nhiên kiểm soát được quận lỵ Ðức Lập và những làng xã lân cận. Cho nên, với mọi giá, ta phải trấn giữ, cũng như địch cố đánh chiếm Núi Lửa. Ðoán trước ý định của địch, anh em Tiểu Ðoàn 1/45 ngay từ khi chiếm ngọn núi này, đã ra công sức đào hố, đấp hầm chờ những cuộc tấn công, pháo kích sẽ xảy đến. Tại đây, hầm ếch là loại thông dụng nhất: Một giao thông hào dài, sâu chừng 3 thước, đào hườm vào trong những khoảng trống đủ cho một, hai người nằm, phía trên ken cây cứng. Bên cạnh hầm ếch đều có bậc thềm để binh sĩ nhô lên chiến đấu dễ dàng.
Khi trực thăng đáp xuống, chúng tôi phải nhảy ra thật nhanh để tránh súng cối địch và để trực thăng cất cánh liền. Khi trực thăng tới đón, chúng tôi phải lên trong vòng năm giây đồng hồ. Trung bình cứ năm lần hạ cánh, trực thăng bị pháo kích bốn lần, hoặc bằng súng cối, hoặc bằng hỏa tiễn.
24.11.
Trận đánh của Ðại Ðội 2, Tiểu Ðoàn 1/45 lúc 8 giờ 50 và lúc 3 giờ 50 chiều trên Núi Lửa gây cho địch 5 chết, 1 B40 bị tịch thu. 10 giờ tối, sau khi pháo kích ba lần không hiệu quả vào Núi Lửa, địch quay lại tấn công Trung Ðội Nghĩa Quân xã Ðức An. Nghĩa Quân phục kích nghênh chiến ngoài hàng rào xã giết 5 tên, thu 2 AK. Những người thường nghi ngờ tinh thần chống cộng của di dân là những người đầu tiên chặc lưỡi thán phục. Giết 5 tên địch, lấy 2 khẩu súng không phải là kỳ công đối với các anh Nghĩa Quân, nhưng nếu đặt mình vào hoàn cảnh lúc bấy giờ mới hiểu rằng thắng lợi ấy không dễ thực hiện. Lực lượng quân ta bị công hãm, việc liên lạc với tiền đồn Núi Lửa bị cắt đứt, tinh thần căng thẳng sau một thời gian dài chuẩn bị và mục kích những trận đánh lớn... Những yếu tố ấy chắc chắn ảnh hưởng mạnh mẽ tới tinh thần và hoạt động của chiến sĩ Nghĩa Quân xã Ðức An. Thế mà, thay vì có thể đến trú đóng chung với Ðại Ðội 285 Ðịa Phương Quân đồn Sarpa, Nghĩa Quân Ðức An ngày đêm vẫn tuần phòng, phục kích để giữ làng, bảo vệ dân, mặc dầu biết mình ở thế thất lợi.
27.11.
Xế trưa, Trung Ðội Biệt Kích của Tiểu Ðoàn 1/45, lâu nay vẫn án ngữ một đường xâm nhập của địch gần quận lỵ Ðức Lập, được trực thăng vận đến Núi Lửa trả cho đơn vị gốc để tăng cường phòng thủ. Trung Ðội vửa nhảy khỏi trực thăng trên một ngọn đồi nhỏ dưới chân Núi Lửa là địch pháo như mưa. Anh em vừa phân tán vừa tiến lên đỉnh núi vô sự.
Mười phút sau, một chiếc trực thăng bị bắn rơi ngay chỗ Trung Ðội vửa đáp. Chưa kịp nghỉ, Trung Ðội có việc liền : tiếp cứu phi công. Mới bò lên, bây giờ bò xuống. Bò xuống đón, phi công lại bò lên. Công việc hoàn tất trong vòng nửa tiếng đồng hồ, không có tổn thất. Chiếc trực thăng được khu trục đến oanh kích phá hủy.
Xẩm tối, một ổ phục kích của Tiểu Ðoàn 1/45 thấy thấp thoáng mấy tên địch từ chân núi bò lên. Chờ mục tiêu tiến đến vừa tầm súng, một loạt đạn bắn ra chưa kịp dứt, tên đi đầu đã giơ tay với khẩu súng AK đeo sau lưng, nòng chúc xuống. Một hồi chánh viên. Anh khai tên Phan Ðình Bát, cấp bậc Trung Sĩ, thuộc Ðại Ðội 3, Tiểu Ðoàn K1, Trung Ðoàn 28 Bắc Việt. Ngày hôm trước, đại đội anh đến thay thế Ðại Ðội 1, vì Ðại Ðội 1 bị tổn thất trên 50% quân số gây ra bởi hỏa lực Pháo Binh và Không Quân của ta. Ðược hỏi về mấy người đi cùng, Bát cho biết họ cũng ra hồi chánh như anh, nhưng bất ngờ bị ổ phục kích bắn nên truồi xuống.
28.11.
Không hiểu có phải để nâng cao tinh thần đồng bọn, hầu giảm thiểu số hồi chánh viên hay không mà trong vòng 24 giờ từ lúc anh Phan Ðình Bát ra trình diện, địch pháo kích cả thảy mười lần vào Tiểu Ðoàn 1/45. Tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân, 27.11 và 28.11.1970 là hai ngày hết sức bận rộn. Theo lệnh Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, Tiểu Ðoàn 1/45 sẽ được Tiểu Ðoàn 3/45 đến thay thế nhiệm vụ. Toàn bộ Trung Ðoàn 45 và Thiết Ðoàn 8 Kỵ Binh hỗ trợ cuộc hoán đổi này. Nỗ lực chính gồm Tiểu Ðoàn 2/45 và Chi Ðoàn 1/8 Chiến xa. Nỗ lực phụ gồm Tiểu Ðoàn 4/45 và Chi Ðoàn 3/8 Thiết Kỵ. Lực lượng trừ bị chính là đơn vị “lên phiên”, tức Tiểu Ðoàn 3/45. Chúng tôi nhận chỉ thị, thu thập tin tức, thảo luận, thiết kế.
5 giờ chiều, sau buổi họp trình bày kế hoạch, Bộ Chỉ Huy Hành Quân phổ biến lệnh hành quân. Các đơn vị tham chiến hầu như phải làm việc suốt đêm để nghiên cứu và chuyển kế hoạch chi tiết xuống các thành phần phụ thuộc. Ngày mai hẳn phải khác những ngày trước.
29.11.
Chúng tôi dậy từ 5 giờ sáng, sửa soạn bắn chuẩn bị. Dưới hầm Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực và Ðài Tác Xạ, điện thoại reo liên hồi. Những chi tiết cuối cùng được chuyển đạt cho các đơn vị Pháo Binh. Ngoài vị trí đại bác, các pháo thủ lặng lẽ tháo đạn, ráp đầu nổ, kiểm soát súng. Chúng tôi dự tính bắn 2,000 quả cho cuộc hành quân ngày hôm nay.
7 giờ 30, chúng tôi nhận thêm một Trung Ðội 155 ly từ Ban Mê Thuột tới.
8 giờ, qua máy vô tuyến, một sĩ quan tại Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực đếm lùi:
o 60, 50, 39, 38, 4, 3, 2, 1... Nổ đồng thời !
Hai chục giây sau, những tiếng nổ từ vùng mục tiêu dội lại. Trong sương mai, tiếng nổ trở nên lớn hơn, rền rĩ hơn, âm u như vang vọng từ đáy vực sâu.
8 giờ 20, các cánh quân rời tuyến xuất phát trong tiếng ì ầm của đại bác tiếp tục bắn. Một vài cuộc chạm súng diễn ra, song địch quân bị đánh guc ngay bởi lực lượng hùng hậu của quân ta. Các sĩ quan tham mưu xê dịch ước hiệu của quân bạn trên bản đồ. Ðường tiến quân được nối dài... Cho đến 11 giờ, một lực lượng cộng quân cấp tiểu đoàn tổ chức hầm hố kiên cố trên sườn đồi dùng mọi loại súng dội như mưa vào Tiểu Ðoàn 2/45. Chi Ðoàn 1/8 Chiến Xa dàn đội hình hàng ngang trợ lực 2/45 phản công. Trong khu rừng rậm hoang vu, chiến xa đè cây đổ ngã như những con quái vật hung hãn, các chiến sĩ Bộ Binh nương theo chiến xa tiến lên. Nhưng rồi những chiếc M41 phải dừng lại, vì càng vào sâu cây cối càng lớn. Ðịch đã khéo chọn địa điểm phục kích. Tuy nhiên, tại đây cộng quân không ngờ chúng lại là mục tiêu của TOT (time on target) đã được Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực dự trù sẵn.
Theo lời yêu cầu của sĩ quan Tiền Sát Tiểu Ðoàn 2/45, loạt đại bác đầu tiên đã bắn xuống ầm ầm. Toán Tiến Sát kế cận báo cáo trở ngại. Sĩ quan Tiền Sát Tiểu Ðoàn2/45 xin bắn hiệu quả. Chỉ trong vòng 12 phút, với tất cả lực lượng Pháo Binh khả dụng, chúng tôi đã bắn đi 480 quả đạn 105 ly và 155 ly. Trong lúc đang tác xạ, Tiểu Ðoàn Trưởng 2/45 reo lên trong máy vô tuyến :
o Hay lắm ! Tôi quan sát cả xác địch văng lên.
Sĩ quan Tiền Sát báo cáo thấy súng của địch tung lên lẫn trong cát bụi. Anh phải báo cáo tới lần thứ ba chúng tôi mới nghe được, vì anh nằm cách mục tiêu chỉ có 150 thước, tiếng nổ át mất tiếng gọi. Cuộc tác xạ Pháo Binh chấm dứt làm chấm dứt luôn trận đánh. Bốn bề trở nên vắng lặng vì địch quân bị nhiều thương vong, phần im lìm trốn chạy. Tiểu Ðoàn 2/45 lục soát trên mặt đất ghi nhận trên 40 xác địch, tịch thu 8 súng, nhưng khẩu nào cũng hư hỏng vì mảnh đạn. Trưa nay, mãi đến 2 giờ anh em Pháo Binh mới ăn cơm. Người nào người ấy mệt nhoài vì làm việc quần quật từ sáng sớm. Người ngồi, kẻ đứng, ai cũng vội vã nuốt cho đầy bụng càng lẹ càng tốt. Biết đâu chẳng có nhiệm vụ tác xạ khác ngay bây giờ ? Riêng Ðại Úy Pháo Ðội Trưởng chưa ăn. Ông lợi dụng thời gian nghỉ bắn để kiểm soát lại những khẩu đại bác. Ông đến chỗ chiến sĩ đang ăn cơm loan báo kết quả tác xạ đạt được. Không ai bảo ai, ngần ấy cái miệng reo vang, ngần ấy đôi tay cầm đũa đưa lên khua lấy khua để. Có anh khua luôn cả chén cơm chan canh làm nước canh đổ đầy đầu người đứng kế cận. Một binh sĩ vừa tu bổ đại bác xong, cầm cái bơm mỡ nhảy lên chồm chồm làm một cục mỡ bơm súng rớt xuống chảo canh, váng nổ lều bều. Mỡ mặc mỡ, mọi người vẫn điềm nhiên ăn ngon lành, hể hả. Tinh thần lên cao khiến quên hết mệt mỏi.
Lại nói về cuộc hành quân. Bởi mục đích chính là hoán đổi hai Tiểu Ðoàn 1/45 và 3/45 nên Tiểu Ðoàn 2/45 không có thì giờ lục soát kỹ mục tiêu Pháo Binh tác xạ. Vì vậy, trong các công sự đổ nát, đến bây giờ cũng chẳng ai biết bao nhiêu địch đã bị vùi thây. Kiểm điểm tổn thất bạn, có 2 chết, 4 bị thương, 1 chiến xa hư. Các cánh quân lại tiếp tục nhiệm vụ và hoàn tất công tác, trở về vị trí lúc 11 giờ đêm.
30.11.
Ðể “chào mừng” Tiểu Ðoàn 3/45, tảng sáng địch bắn vào Núi Lửa 50 quả đạn B40, gây cho 2 binh sĩ tử thương và 3 bị thương. Từ đó đến chiều, địch còn pháo kích và tấn kích thêm 7 lần nữa. Nhờ những cuộc tấn kích, Ðại Ðội 1 của 3/45 san bằng được cách biệt: Địch 3 chết.
1.12.
Tiểu Ðoàn 3/45 với lính còn khỏe, mang cho khu vực Núi Lửa một bộ mặt mới. Nhiều mũi dùi được phóng ra, nới rộng khu vực ta kiểm soát. Sáng nay, sau khi bị pháo, 2 chiến sĩ bị thương, chúng tôi nghe đại úy Tiểu Ðoàn Trưởng ra lệnh trong máy vô tuyến cho một sĩ quan Ðại Ðội Trưởng đang săn địch dưới chân núi :
o Ði cho cẩn thận. Ráng trả thù nghe mày.
Câu nói thật ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa, nhắc nhở vị Ðại Ðội Trưởng phải vận dụng mọi khả năng để giết địch mà không gây thiệt hại cho quân ta. Ðại Ðội không chạm địch mạnh, chỉ lẻ tẻ nhiều lần. Tuy thế, tổng kết trong ngày, Ðại Ðội hạ được đúng 20 tên, thu 1 B40, 1 AK.
7.12.
Trong sáu ngày từ 2.12. đến 7.12.1970, địch pháo kích 65 lần vào Núi Lửa, Ðồn Sarpa, Trại Daksak và Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Cũng trong thời gian này, Tiểu Ðoàn 3/45 trong những cuộc hành quân tuần thám chung quanh Núi Lửa, chạm địch tất cả 11 lần. Tổn thất bạn gồm có 3 chết, trong đó có 1 phóng viên hãng CBS người Pháp, 1 M113 cháy, 1 trực thăng bị bắn rơi. Về phía địch có 12 chết, 2 về hồi chánh.
8.12.
Sau một thời gian tảo thanh quanh Núi Lửa, Tiểu Ðoàn 3/45 đã có thể mở rộng hoạt động ra các vùng đồi núi phụ cận. Các cánh quân, với sự yểm trợ mạnh mẽ của Pháo Binh, cẩn thận tiến chiếm từng cao điểm. Tại một địa điểm phía Ðông Núi Lửa, Ðại Ðội 1 khám phá 20 ngôi mả mới chôn của địch. Một khoảng rừng khá rộng xung quanh địa điểm này bị tàn phá vì bom và đạn pháo binh. Anh em đào thử một mả thấy ba xác địch nhưng không dám đào tiếp vì mùi hôi thối nồng nặc.
9.12.
Trung Ðội Biệt Kích Tiểu Ðoàn 3/45 hoạt động phía Ðông Bắc Núi Lửa phá hủy nhiều hầm hố của địch, tịch thu một số đạn dược và mặt nạ phòng hơi độc. Trong ngày, địch pháo kích dữ dội sáu lần vào Căn Cứ Núi Lửa. Trước những sự kiện xảy ra, nhất là sự kiện địch không còn chủ trương kháng cự trong mấy ngày qua, Bộ Chỉ Huy Hành Quân cấp tốc triệu tập một cuộc họp để nhận định tình hình. Sau phần thảo luận căn cứ vào những dữ kiện thu thập được từ tin tức tình báo giá trị cao, từ việc địch thay đổi chiến thuật đến những dấu vết tàn phá ghi nhận trên chiến địa, chúng tôi đi đến kết luận là tổn thất của địch rất cao, nên nếu không phải chúng đang chủ trương từ bỏ ý định đánh Ðức Lập, ít nhất cúng cũng tạm lui để chấn chỉnh hàng ngũ. Những cuộc pháo kích dữ dội chỉ nhằm mục đích che đậy ý định của chúng. Do đó Bộ Chỉ Huy Hành Quân lợi dụng ưu thế hiện có, dự trù tung ra những cuộc hành quân tấn sát biên giới Việt ố Miên để truy lùng và phá vỡ kế hoạch của chúng.
11.12.
Sau một ngày thảo kế hoạch, cuộc hành quân truy lùng đầu tiên được thực hiện. Ðại Ðội 3, Tiểu Ðoàn 3/45 khám phá một tiểu đội địch nằm chết ngỗn ngang cách Núi Lửa chừng hai cây số. Càng đi xa càng thấy nhiều dấu vết tàn phá. Một cánh tay vắt vẻo trên cành cây. Những hầm hố sập đổ vì bom đạn. Rải rác khắp nơi đủ loại đạn của địch. Chúng tôi đã ước đoán đúng. Ðịch đang vội vã trốn chạy, bỏ cả quân dụng cùng xác đồng bọn, không kịp mang theo hay chôn cất.
12.12.
Tại phía Bắc khu vực Ðại Ðội 3, Ðại Ðội 1 gặp một toán địch đang lom khom cuốc đất. Súng nổ, địch bỏ chạy. Ðại Ðội 1 ào lên, thấy một hố dài với 37 xác địch nát bấy vì đạn pháo binh hoặc cháy nám vì bom xăng đặc. Cộng thêm 2 xác quân ta mới phơ xong là 39. Chung quanh khu vực này, đạn dược vất ngỗn ngang, ê hề. Ðạn súng cối 60 ly, 82 ly, 122 ly, đạn B40, lựu đạn, mìn, cộng chung chừng một tấn. Ðại Ðội phải để lại một trung đội lấp mả và phá hủy đạn dược.
13.12.
Ðại Ðội 2 đi hai ngày mà chưa thấy gì, ngoại trừ vết máu và vỏ đạn. Ðã vậy, xế trưa Ðại Ðội còn chạm địch. Rừng quá rậm, không rõ địch tình ra sao, nên Ðại Ðội Trưởng cho ngừng lại và áp dụng đúng quan niệm “sử dụng tối đa hỏa lực phi pháo tiêu diệt địch”. Thế là Pháo Binh lại có dịp ra tay. Sau ba loạt điều chỉnh là những loạt bắn hiệu quả. Vài anh lính Bộ Binh ở tuyến đầu nhổm dậy coi kết quả liền bị “bản năng sinh tồn” dán sát xuống mặt đất. Gần quá, mảnh đạn bay chíu chíu ngang đầu.
15 phút sau, Ðại Ðội tiến lên lục soát, đếm trên 40 xác địch, thịt xương nát bấy, vung vãi lẫn lộn với súng đạn. Một bộ phận địch cách đó 300 thước không bị thiệt hại vì pháo binh, liền rót súng cối vào Ðại Ðội. Sau cái phất tay của Trung Úy Ðại Ðội Trưởng, cả Ðại Ðội xông về hướng đặt súng địch. Phản ứng của Trung Úy Ðại Ðội Trưởng thật lẹ. Mấy giây đồng hồ sau, Ðại Ðội ra khỏi vùng nguy hiểm, rồi mấy phút sau, Ðại Ðội chiếm được ngọn đồi nhỏ kế cận, tịch thu một bàn tiếp hậu súng cối 60 ly. Ðịch chạy vội, chỉ mang được cây súng. Sĩ quan Tiền Sát nói với trung úy đại đội trưởng:
o Trung úy liều quá ! Chưa hiểu rõ tình hình đã xung phong sang, rủi bị phục kích là kẹt cả lũ.
o Thanh toán xong bọn chận đánh, đâu còn gì đáng ngán. Hàng ngũ chúng đang rối loạn, mình phải truy kích gấp. Ở lại chẳng kiếm thêm được gì còn bị sứt mẻ là khác.
15.12.
Xã Ðức An và khu vực quanh Núi Lửa dần dần lấy lại bộ mặt quen thuộc. Binh sĩ ngược xuôi lùng địch, lấy nước, tắm giặt. Dân chúng qua lại chăm nom vườn tược, ruộng đồng. Và để được tận mắt nhìn cái hố bom, hố đạn, xác chiếc trực thăng cháy, cái hầm sập mái chôn cả chục tên Cộng Sản xâm lược.
Buổi chiều, dân Ðức An tự động lũ lượt kéo nhau lên Núi Lửa với ba gánh bánh tét. Có lẽ từ ngày khai thiên lập địa, hôm nay Núi Lửa mới tiếp nhận một số người đông như thế. Mới mấy ngày trước Núi Lửa còn là tử địa, bây giờ cũng chính Núi Lửa lại là nơi nườm nượp cả quân và dân, tạo một niềm cảm thông hết sức chân thật.
24.12.
Tại Ðức Lập, một đoàn người khá dài kéo nhau đến Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Vài người giàu tưởng tượng nghĩ ngay đến một cuộc khiếu nại, đòi bồi thường, yêu cầu này nọ... Ðoàn người tới gần. Chúng tôi nhận ra Cha Sở Tú Minh đi đầu. Ði cuối là một con bò mộng. Cha Sở nói :
o Họ đạo chúng tôi đến cám ơn anh em chiến sĩ đã đánh nhau can trường để chúng tôi dù không hưởng được cả mùa Giáng Sinh vui vẻ, nhưng ít nhất cũng hưởng được ngày lễ Sinh Nhật tưng bừng. Con bò này thể hiện một phần nhỏ lòng biết ơn ấy.
Ðêm xuống, giữa chốn rừng xanh hiu quạnh và xa lạ của một phần đất nước thân yêu, những ngọn đèn ngôi sao rực sáng. Có phải đó là những ngôi sao dẫn đường cho chúng tôi chiến đấu, để đạt đến cuộc sống thanh bình mà Chúa Cứu Thế hằng phán.
(Trích trong tác phẩm THIÊN HÙNG CA QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA của PHẠM PHONG DINH)
Đà Lạt Trời Mưa
Tôi đến Đà Lạt đúng vào một ngày mưa. Mưa tầm tã. Ngồi trong nhà Thủy Tạ, nhìn những hạt mưa bay giăng kín rừng thông, phủ mờ khu phố Hoà Bình, và rơi lả tả xuống mặt hồ Xuân Hương, tôi mơ hồ như những giọt nước mắt của người góa phụ đã từng một thời nhan sắc.Người con gái vừa đến gặp tôi làm cho tôi mỉm cười với sự so sánh lạ lùng này. Bởi cô ta cũng xinh đẹp, và dù có nở nụ cười tỏ ra mừng rỡ khi chào tôi, vẫn không giấu được nét buồn trong đôi mắt. Một nỗi buồn có cái gì xót xa sâu lắng lắm.
Tôi đã đến thành phố này nhiều lần. Lần cuối cùng vào mùa Giáng Sinh năm 1970, khi đơn vị tôi may mắn được lệnh về đây phối họp hành quân giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường. Bao nhiêu năm trong rừng núi tây nguyên gió lạnh mưa mùa, rồi xuống bờ biển Phan Thiết với những động cát trơ trọi nóng như lửa đốt, bất ngờ được về Đà lạt, cho dù chỉ sau một ngày ở thành phố, đơn vị tôi lại được đổ xuống những rừng thông xa tít, nhưng đám lính tráng bọn tôi vẫn có cái cảm giác như được đi nghỉ mát. Người ta nói đúng, Đà Lạt dễ thương như những cô gái với gò má trắng hồng và đôi môi mộng đỏ để ai một lần lên xứ Hoa Đào mà lòng không vấn vương. Đà lạt cũng là nơi có nhiều huyền thoại về những mối tình đẹp và buồn của các cô sinh viên với những chàng trai mang alpha đỏ theo nghiệp kiếm cung, mà tôi đã đọc được trong những bài thơ thật buồn của Lệ Khánh từng vang tiếng một thời..
Nhưng đó là Đà Lạt của ngày xưa. Còn hôm nay tôi đến Đà Lạt, với ngổn ngang những nỗi buồn nặng trĩu trong lòng, và Đà Lạt bây giờ chỉ là một thành phố chết.
Tôi ra tù, trong thời gian còn bị quản chế, trong túi không có bất cứ một tờ giấy nào. Ngay tấm “Giấy Ra Trại” cũng đã bị công an xã giữ. Nhờ thằng em cùng đơn vị cũ, có lò bánh mì ở Tháp Chàm, gởi tôi theo một chiếc xe bộ đội nhận mối chở bánh mì với tiền thù lao khá, tôi mới có mặt ở đây. Anh tài xế sau khi giao mấy thùng bánh mì, còn gởi tôi cho cô “chủ nhiệm” quán Thủy Tạ (bây giờ là của nhà nước), bảo là ông anh họ, để tôi yên lòng không bị hỏi giấy tờ. Quán vắng tanh.Tôi chọn cái bàn nhỏ xa phía trước và gọi hai tách trà nóng. Tôi cũng chỉ đủ tiền để trà hai tách trà này.
- Anh chờ em có lâu không ?
Tôi giật mình khi nghe cô gái hỏi
- Không sao, tôi chờ cũng đã khá lâu, nhưng được gặp chị hôm nay là tôi mừng lắm rồi.
Điều mà ai cũng ái ngại khi phải mang tin buồn đến cho một người. Đặc biệt người đó lại lại là một cô con gái đẹp, như cô gái đang ngồi trước mặt tôi đây.
Tôi dè dặt :
- Chắc chị đã biết, như trong lá thư tôi gởi. Tôi là bạn tù của Thống, và hôm nay muốn gặp chị là để nhắn lại những điều Thống đã nhờ tôi.
- Em biết là anh Thống đã chết từ năm 1978, nhưng mãi đến năm ngoái , em mới được phường đưa “Giấy Báo Tin”. Em không biết làm sao báo cho mẹ anh ấy biết. Bà ở bên Mỹ nhưng em không liên lạc được.
Tôi bất ngờ, nhưng chợt thấy một chút yên lòng khi nghĩ là cô sẽ không còn đột ngột nhận một tin buồn từ chính miệng của tôi .
- Chị đã biết tin buồn về Thống. Như vậy cũng là may, chứ không phải người tù nào chết mà người nhà cũng được báo tin. Hôm nay, dù hoàn cảnh khó khăn, tôi cũng phải tìm gặp chị đề nói lại cùng chị những lời trăn trối cuối cùng, và trao cho chị những kỷ vật mà anh Thống nhờ tôi trao lại chị.
- Cả tuần nay lòng em rất bồn chồn, mong sớm được gặp anh. Vì em không biết anh Thống chết ở đâu và mồ mả ra sao. Nhiều lần nằm mơ, em thấy anh Thống, nhưng chưa bao giờ nghe anh ấy bảo là anh đã chết.
Tôi lấy trong túi ra để trên bàn một sợi dây đeo một tấm ảnh nhỏ được lồng vào trong cái khung có hình trái tim đẽo bằng gỗ mun -loại gỗ quý mà chúng tôi thường tìm được ở khu rừng Việt Bắc- , một chiếc vòng nhỏ làm bằng nhôm xinh xắn, có khắc đậm sáu chữ Lê Minh Thống & Hà Nhất Anh, và trịnh trọng đứng lên đưa cho cô.
Nhất Anh chính là cô gái, và Minh Thống là tên một người bạn tù của tôi. Anh đã chết sau gần hai năm bị chuyển ra ngoài bắc.
Tôi gặp Thống ở trại Lào Cai, khi hai thằng vừa trong nam mới chuyển ra. Sau hơn một năm cả hai cùng chuyển về trại Hang Dơi thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn và may mắn được “biên chế” về cùng một tổ. Thống tốt ngiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, được chuyển sang không quân, lái phản lực. Trong thời gian học trường Võ Bị, Thống quen Nhất Anh , khi ấy đang là sinh viên của trường Chính trị Kinh Doanh. Thống chỉ còn bà mẹ già và cô em gái ở Sài Gòn. Cuộc tình của cô sinh viên Đà Lạt và chàng cựu sinh viên sĩ quan alpha đỏ kéo dài khá lâu. Hai người đã làm lễ hỏi. Nếu Thống không sang Mỹ học phi hành và nếu không có ngày 30 tháng tư, thì hai người đã làm đám cưới .
Những ngày cuối cùng khi Sài gòn hấp hối, Thống được bạn bè thu xếp hai chỗ trên trực thăng để bay ra hạm đội Mỹ, nhưng Thống lại dành cho mẹ và cô em gái. Gởi mẹ và em cho thằng bạn thân, Thống nói dối với mẹ là anh sẽ đi sau.
Thống liều lĩnh tìm mọi cách chạy về Đà lạt. Chưa kịp đón Nhất Anh, thì Sài Gòn mất. Thống nằm ở nhà Nhất Anh một tuần rồi ra trình diện “uỷ ban quân quản”, nhưng người ta chỉ cấp giấy chứng nhận và ghi là phải về Sài Gòn trình diện chính quyền địa phương ngay. Trở lại Sài Gòn, nhà bị tịch thu, Thống phải ở ké nhà một người bà con trước khi vào trại cải tạo.
Mấy năm trong tù, Thống có liên lạc được với Nhất Anh. Nhưng vài tháng mới nhận được một lá thư ngắn, chỉ hỏi thăm vài câu và khuyên “học tập tốt để sớm được khoan hồng về với nhân dân”. Bao nhiêu nhung nhớ yêu thương đều phải dấu kín ở trong lòng. Trong tờ khai lý lịch, Thống ghi Hà Nhất Anh là vợ, cũng là người thân duy nhất, và địa chỉ của Nhất Anh cũng là nơi anh xin cư trú sau này .
Thống to con đẹp trai, nhưng dường như tình yêu dễ làm cho Thống yếu lòng. Có những ngày đi chặt nứa trong rừng, Thống chỉ ngồi khóc và thì thầm gọi tên người yêu. Mấy lần không mang về đủ nứa, bị phạt cắt bớt một nửa phần ăn vốn đã ít oi, nhưng vẫn không ngăn được nước mắt của Thống. Dường như khi lòng đang thương nhớ ai, thì cái đầu không còn điều khiển đôi tay được nữa. Nhiều hôm tôi phải vận động anh em nhường bớt một chút phần ăn cho Thống, và chia nhau đi lấy thêm nứa cho Thống có đủ chỉ tiêu để không bị phạt.
Thống còn trẻ, nhưng cũng như hầu hết sĩ quan xuất thân từ Đà Lạt, dù ở binh chủng nào cũng kiêu hùng và thăng tiến rất nhanh. Thống nhỏ hơn tôi sáu tuổi, nên xem tôi như người anh. Có điều gì vui buồn, Thống tìm tôi chia sẻ. Tôi luôn an ủi và khuyến khích để anh có thêm nghị lực. Thống có gì khó khăn tôi sẳn sàng hết lòng giúp Thống.
Sau này, đội tù của tôi được phân công đi lấy gỗ về xây dựng hội trường. Họ bắt chúng tôi phải tìm những cây gỗ lớn và thẳng. Có những thân cây lớn đến hai vòng tay ôm không hết. Trời mùa đông với những cơn mưa phùn không dứt, nên những con đường mòn trơn như mỡ, chúng tôi chia từng nhóm hai mươi người vừa kéo vừa bẩy cho từng thân cây lăn theo những con đường mòn ấy từ trên núi cao lao xuống suối để cho nó trôi về bên hông trại.
Ăn uống quá thiếu thốn, đám tù chúng tôi triền miên trong cơn đói. Sức ngày càng yếu mà phải lao động quá nặng nhọc, nên chỉ sau một tuần lấy cây, người nào cũng mệt lả. Một hôm đang lấy sức bật một thân cây xuống bờ suối, Thống mệt quá nên lảo đảo rồi ngã sấp trên thân cây, đúng lúc cây này lăn xuống suối, bật luôn theo Thống. Chúng tôi chỉ còn nghe tiếng hét của Thống trước khi anh bị văng xuống lòng suối nằm sâu dưới vực.
Trời nhá nhem tối, cả hơn bốn mươi thằng tù chia nhau trèo xuống suối đi tìm Thống. Gần nửa giờ sau chính tổ của tôi tìm được Thống. Anh nằm bất động bên bờ suối. Rất may là ở một nơi không có đá. Thống thoi thóp thở, nhưng không còn cử động được.
Chúng tôi nhanh chóng kết một cái bè gỗ, rồi theo dòng suối, cùng nhau đẩy anh về trại. Sau hơn một tiếng đồng hồ trong trạm xá, Thống tỉnh lại, mở hé mắt nhìn mọi người. Khi nhận ra tôi, Thống thì thào :
- Nếu sau này anh còn sống mà về được, nhớ tìm giùm Hà Nhất Anh và nói là em xin lỗi nàng. Mong nàng hãy sớm lấy chồng và quên em đi.
Tôi nắm chặt đôi vai lạnh lẽo của Thống :
- Thống yên chí, tôi sẽ làm bất cứ điều gì mà Thống dặn dò.
Thống cố gắng mở lớn mắt nhìn tôi như cầu khẩn :
- Nhờ anh giữ lại cái vòng nhôm trong balô và tấm ảnh em đang mang trong cổ này, trao lại cho Nhất Anh. Nhớ nói giùm là em xin lỗi cô ta.. xin lỗi cô ta ..
Ngày hôm sau, một buổi chiều mưa buồn ảm đạm, dưới sự kiềm soát của hai vệ binh, tôi cùng ba người bạn tù đẩy xác Thống trên một chiếc xe “cải tiến” ra chôn dưới triền núi, bên một hốc đá . Chúng tôi đào huyệt đúng vào lúc cơn mưa trút xuống. Huyệt đào tới đâu thì nước ngập theo tới ấy. Tôi năn nỉ xin hai vệ binh cho chúng tôi tìm một nơi khác cao hơn, và chờ cơn mưa tạnh bớt, nhưng không được đồng ý, mà còn bị quát tháo, bảo phải “chôn khẩn trương lên mà về ngay”. Tôi phải ngồi đè trên xác Thống, lềnh bềnh trên nước, để cho ba người bạn tù kia lấp đất.
Chuyện xảy ra đã hơn sáu năm rồi. Thời gian có biết bao sự đổi thay. Tôi cũng đã nghe và chứng kiến không ít những điều phản trắc. Không biết bây giờ Nhất Anh đã có chồng chưa và trong cảnh đổi đời kéo theo bao cay đắng, liệu trong lòng cô có còn lưu luyến chút tình xưa.
Đắn đo giây lát rồi tôi cũng quyết định phải nói hết những gì tôi biết và nhất là những điều mà Thống, trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã nhờ tôi nếu còn có dịp trở về, hãy nói lại cùng nàng.
Nghe tôi kể xong mọi điều, Nhất Anh vẫn ngồi yên bất động. Im lặng một lúc tôi nghe tiếng nàng khóc. Hai tay nắm chặt các kỷ vật mà tôi vừa trao lại cho nàng. Ngoài trời những cơn mưa càng vần vũ. Tiếng mưa như thấu hiểu được nỗi niềm, từng đợt trút xuống mái nhà Thủy Tạ làm át đi tiếng sụt sùi, để cho nàng khóc. Tôi cũng đã không cầm được nước mắt.
- Em cám ơn anh, và xin lỗi .. em đã không nén được xúc động.
Tôi cũng kịp lấy lại bình tĩnh và tìm lời an ủi nàng :
- Dù sao mọi việc cũng đã qua rồi. Sau cái ngày nước mất nhà tan, biết có bao cảnh chia lìa tang tóc. Thôi thì tôi cầu mong Nhất Anh sớm nguôi được nỗi buồn này và có thêm nhiều nghị lực để mà bước tới, như lời trối trăn của Thống. Nhất Anh còn trẻ mà, còn cả một con đường thật dài trước mặt. Còn tôi, trong hoàn cảnh này, cũng chẳng biết rồi đời sẽ ra sao. Thôi đành phó cho trời đất đẩy đưa.
Nhất Anh vẫn ngồi bất động, không nói lời nào. Nhìn đồng hồ treo trên vách, nhớ tới lời hẹn của anh tài xế, tôi khẽ gọi nàng :
- Chị Nhất Anh ! Chỉ còn 15 phút nữa là anh tài xế sẽ quay lại đón tôi. Sau này nếu chị có cần gì ở tôi, cứ liên lạc với tôi nghe !
Tôi nói cốt chỉ để an ủi thôi. Chứ tôi thì còn khả năng gì mà giúp nàng. Hơn nữa thời buổi nhiễu nhương này, dễ gì mà liên lạc được với nhau.
Nhất Anh lấy tay lau nước mắt, ngước lên nhìn tôi, ngần ngừ vài giây rồi lên tiếng :
- Nhờ anh vẽ lại và hướng dẫn cho em nơi chôn cất anh Thống. Sau này biết đâu có dịp may, em sẽ tìm ra thăm anh ấy.
Tôi đứng lên đến quày trả tiền hai tách trà, và xin một tờ giấy trắng. Tôi ngồi vẽ khá tỷ mỷ và hướng dẫn cho Nhất Anh con đường đến trại tù, và mộ của Thống nằm bên hốc đá trên triền núi, phía sau trại tù chừng một cây số. Cũng may là có cái hốc đá lớn duy nhất, để có thể định hướng được ngôi mộ nằm ở nơi nào giữa vùng rừng núi bao la.
Nhất Anh đứng dậy mặc lại áo mưa, xúc động nói lời chia tay, rồi đạp xe đi. Tôi nhìn theo bóng dáng nhỏ nhắn của nàng lảo đảo xiêu vẹo dưới cơn mưa tầm tã mà ngậm ngùi lo âu cho số phận của nàng. Tôi nghĩ có lẽ không bao giờ tôi còn có dịp gặp lại Nhất Anh.
Mùa hè năm ấy, vợ chồng tôi sang Cali thăm mấy cô con gái, nhân tiện chúng tôi đến thăm gia đình ông anh họ ở thành phố biển San Diego. Giáng Sinh năm 1970, nhân cuộc hành quân bất ngờ ở Đà Lạt, tôi có ghé thăm anh chị. Khi ấy anh làm ở trung tâm điện lực Đa Nhim và vợ anh là giáo sư dạy trường Bùi thị Xuân Đà Lạt. Anh chị rời Việt Nam từ những ngày Sài Gòn hấp hối, nên cũng đã hơn ba mươi năm rồi bây giờ anh em mới gặp lại nhau. Anh lớn hơn tôi gần mười tuổi, vừa bà con lại vừa là học trò cưng của ba tôi lúc anh còn học ở trường Pháp Việt, nên anh chị rất quý chúng tôi, nhất quyết bắt vợ chồng tôi phải ở lại nhà anh chị một tuần để cùng đi chơi với anh chị. Sau một ngày đi khắp nơi ở San Diego, chúng tôi đi một vòng sang khu nghỉ mát Cancun bên Mexcico. Đến ngày thứ bảy cuối tuần anh chị rủ chúng tôi đi tham dự buổi họp mặt của Hội Đồng Hương Đà Lạt, tổ chức tại Anaheim, gần khu Little Saigon, nhân tiện sau đó anh chị đưa tôi về lại nhà cô con gái ở Fullerton, cũng rất gần nơi ấy. Gia đình anh được giấy mời với bốn chỗ ngồi. Vợ chồng đứa con trai lớn không đi, nhường chỗ cho chúng tôi. Bảo là chú thím ở tận bắc Âu, lâu lắm mới có dịp gặp nhiều đồng hương.
Không ngờ đã rời khỏi quê hương khá lâu, nhưng những người Đà Lạt còn giữ cái tình đồng hương đậm đà như thế. Cả hội trường khoảng một ngàn chỗ ngồi chật cứng. Nghe bà chị nói là họ đã đến từ khắp nơi trên nước Mỹ và Canada, một số từ Úc và Âu châu. Chưa tới giờ khai mạc, mọi người ngồi nói chuyện líu lo với những tiếng cười nghe như dư âm của một thời trai trẻ. Những cô gái với đồng phục áo dài trắng trong ban tổ chức đang chuẩn bị cho bài quốc ca, vẫn còn dáng dấp của Đà Lạt ngày xưa: môi đỏ má trắng hồng .
Chúng tôi ngồi ở dãy bàn đầu dành cho quan khách, cùng với gia đình của hai vị cựu giáo sư Bùi Thị Xuân khác. Trên sân khấu, một cái phông lớn là hình ảnh của khu chợ Hòa Bình và một mảng của hồ Xuân Hương trong sương mù. Tôi thầm phục người họa sĩ Đà Lạt nào đã vẽ bức tranh thật sống động. Tôi có cảm giác như mình đang ở một nơi nào đó trên thành phố thơ mộng một thời này. Ai đó đã nói đúng “người Việt nào ra đi cũng mang theo quê hương”.
Khi nghe cô MC giới thiệu thành phần ban tổ chức cuộc họp mặt hôm nay, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy toàn là phái nữ.. Nhưng đến khi chị trưởng ban tổ chức có đôi lời cùng đồng hương, tôi mới hiểu Buổi họp mặt này là do các cựu nữ sinh trường Bùi Thị Xuân đảm trách.
Đang vui tôi bỗng ngậm ngùi khi một chị trong Ban Tổ Chức lên trình bày về hoàn cảnh thương tâm của nhà thơ Lệ Khánh. Bây giờ tôi mới biết Lệ Khánh là con gái của phó trưởng ty cảnh sát Đà Lạt và có cuộc hôn nhân thật buồn với một nhà thơ quân đội, lại là sĩ quan cấp tá trong ngành Tâm Lý Chiến. Bao nhiêu điều ấy đã đưa nhà thơ nổi danh một thời của xứ sương mù vào bước đường cùng, phải đi bán hàng rong, bán từng trái cà trái ớt trong cơn bệnh hoạn, và đứa con trai duy nhất phải đi ở mướn cho người ta. Ban tổ chức kêu gọi tình thương của những cựu Bùi Thị Xuân, của những người Đà Lạt cũ. Tôi thầm cám ơn tấm lòng của những người Đà Lạt và nghĩ đây là một việc rất nên làm.
Đến phần văn nghệ, cô MC giới thiệu “nhạc phẩm Ai Lên Xứ Hoa Đào với một giọng hát truyền cảm của một Bùi Thị Xuân ngày trước, đã từng làm điêu đứng bao trái tim học sinh, sinh viên Đà Lạt”.
Lời giới thiệu đó không có một chút cường điệu nào. Giọng hát cất lên cao vút làm cả hội trường im lặng trong khi lòng tôi lắng xuống thẫn thờ. Không phải vì giọng hát truyền cảm, mà vì người hát ấy chính là Hà Nhất Anh, người con gái có một mối tình buồn với người bạn tù của tôi ngày trước. Gần hai mươi năm rồi, khuôn mặt có đôi chút đổi thay, nhưng tôi vẫn nhận ra. Cũng với nhan sắc ấy, nhưng với nụ cười rạng rỡ, không còn nét buồn nào đọng trên đôi mắt.
Thấy tôi nhìn đăm đăm lên sân khấu, bà chị đập vai tôi :
- Bộ có quen hay sao mà nhìn dữ vậy ? Hay lại là một người xưa ?
Tôi quay lại, đúng vào lúc bài hát vừa chấm dứt. Chờ cho những tràng pháo tay, cùng những tiếng la hét lắng xuống, tôi ôm vai bà chị :
- Đúng là có quen, nhưng không phài người xưa của em, mà là hôn thê của một thằng bạn tù của em, đã chết ngoài Bắc ! Chính em là người đã trao lại cho cô ấy những kỷ vật của anh ta, khi em vừa mới ra tù.
- Cô ấy là học trò cũ của chị, để chị gọi cô ấy lại nghe .
Tôi chưa kịp trả lời, thì bà chị đã vẫy tay gọi một cô trong ban tiếp tân nhờ đi mời “ca sĩ Hà Anh”.
Cô đến nhoẻn miệng cười, cúi đầu chào anh chị tôi và các thầy cô giáo cùng bàn, rồi khựng lại khi nhìn vợ chồng tôi, gật đầu nhưng không nói lời nào. Thấy tôi ngồi gần bà chị, nên cô nhìn bà chị như muốn hỏi chúng tôi là ai. Bà chị cười chỉ vào tôi :
- Đã gặp nhau rồi mà không còn nhận ra sao?
Cô nhìn tôi, rồi lắc đầu :
- Xin lỗi, em không nhớ ra .
Tôi có một chút khó chịu trong lòng. Hóa ra người đàn bà cũng dễ quên, ngay cả những kỷ niệm đáng ra phải nhớ trong đời. Giữ lịch sự, tôi nhìn cô :
- Có phải chị là hôn thê của anh Lê Minh Thống ? - Tôi là người đã trao cho chị những kỷ vật của anh ấy ở nhà Thủy Tạ, khi tôi vừa mới ra tù. Chị không còn nhớ ?
Cô ta khựng lại giây lát, nhưng rồi lắc đầu :
- Xin lỗi , em không nhớ. Có lẽ anh nhầm em với … ai đó !
Cô chào tất cả mọi người rồi vội vã quay về phía sau sân khấu.
Tôi nhìn sang ông anh bà chị nói cho đỡ ngượng:
- Chắc bây giờ chị ta đang hạnh phúc, nên không muốn nhắc lại chuyện tình xưa.
Trên sân khấu, chương trình văn nghệ nối tiếp bằng một hài kịch. Thiên hạ cười ầm ĩ, trong lúc lòng tôi dửng dưng với một chút bẽ bàng. Buổi họp mặt chấm dứt, tôi theo ông anh bà chị bước ra khỏi hội trường. Trong lòng không còn cái háo hức của lúc mới bước vào đây. Trống rỗng và một chút bực dọc.
Tôi đang đứng chờ ông anh bà chị đi lấy xe, thì một bàn tay đâp trên vai tôi. Quay lại, tôi ngạc nhiên khi nhận ra Hà Nhất Anh. Cô đưa cho tôi mảnh giấy, rồi bảo nhỏ, trước khi chạy nhanh về phía hội trường :
- Em xin lỗi, nhưng Anh nhớ phải đến nghe !
Tôi mở vội tấm giấy ra đọc. Chỉ có số điện thoại và địa chỉ, cùng với một dòng ngắn ngủi: “Suốt ngày mai, chủ nhật, em sẽ chờ anh ở nhà “
Tôi cảm giác có điều gì lạ lắm. Và dường như cô ta muốn dấu mọi người . Nghĩ như vậy nên tôi không nói lại với ông anh bà chị và ngay cả vợ tôi. Ông anh bà chị đưa vợ chồng tôi về Fullerton, rồi hẹn quay lại sáng thứ bảy tới đưa chúng tôi đi thăm mấy người đồng hương và cũng là học trò cũ của cha tôi ngày trước.
Tôi nhờ cô con gái lớn gọi phôn, hẹn đến gặp vào lúc hai giờ chiều chủ nhật. Cô con gái chở vợ chồng tôi tới trước cổng nhà, sau khi xem đúng địa chỉ, bấm chuông, rồi lái xe đi, bảo khi nào cần gọi cellphone, sẽ quay lại đón.
Một ngôi nhà nhỏ, khá xinh, có trồng nhiều loại hoa Đà Lạt, nằm trong khu Fountain Valley yên tĩnh. Người ra mở cổng là một người đàn ông trẻ, khá bảnh trai với hàng ria mép. Anh gật đầu chào, nở nụ cười rất tươi bắt tay chúng tôi, giới thiệu tên, nói năng lễ phép bặt thiệp :
- Cám ơn anh chị đến thăm. Bà xã em mừng lắm, đợi mong từ sáng tới giờ .
Tôi bước vào sân nhà, với một ý nghĩ vừa thoáng trong đầu: Được một người chồng như thế, hèn gì cô ta chóng quên mối tình xưa.
Nhất Anh mang nước ra mời chúng tôi, vui vẻ, thân tình, khác hẳn với Nhất Anh trong hội trường ngày hôm qua. Tôi im lặng, bởi không biết phải nói điều gì, ngồi chờ cô ta lên tiếng trước. Một lúc im lặng, tôi bất ngờ nhìn thấy cô ta khóc. Anh chồng đưa giấy cho cô lau nước mắt .
- Mong anh chị tha lỗi cho em. Ngày hôm qua khi gặp anh, nghe anh nhắc tới anh Thống em xúc động lắm, lại biết chính anh là người đã mang về những kỷ vật của anh Thống nữa. Nhưng hôm qua đông người quá, em không tiện nói.
Tôi đỡ lời :
- Tôi hiểu. Làm sao mà chị có thể quên được mối tình đầu, vừa đẹp lại vừa buồn, nhất là anh Thống đã ở lại và bị chết oan ức cũng vì quá yêu chị. Phải không ?
Rồi quay sang anh chồng, tôi lên giọng như một nhà tâm lý học:
- Ai lại chẳng có mối tình đầu. Và người chồng nào lại không tôn trọng cái kỷ niệm đẹp đó của vợ mình, phải không anh ?
Anh ta không trả lời, chỉ cúi xuống với một chút bối rối.
- Xin lỗi anh. Em không phải là chị Nhất Anh, và cũng không phải là người yêu của anh Thống!
Tôi bất ngờ, vừa ngượng ngùng vừa hụt hẩng khi nghe câu nói của người con gái, mà tôi đã chắc nịch là Hà Nhất Anh. Bây giờ người bối rối lại chính là tôi .
Cô gái hạ giọng :
- Em là em kế của chị ấy và cũng là đứa em duy nhất. Ba má em chỉ sinh có hai đứa con gái. Chị em giống nhau lắm, nên có nhiều người cũng lầm.
Tôi nhìn cô ngờ vực :
- Tôi nhớ ngày hôm qua khi MC giới thiệu chị lên hát, cũng với tên là Hà-Anh mà ? Tôi nghĩ Hà Nhất Anh, nhưng khi qua Mỹ người ta thường bỏ đi chữ lót .
- Đúng ra tên em là Hà Nhị Anh, nhưng bây giờ trong giấy tờ, em mang tên chị em: Hà Nhất Anh, mà Nhất Anh hay Nhị Anh gì sang đây, như anh nói, cũng đều gọi Hà Anh như nhau mà anh. .
Đến lúc này thì tôi không còn hiểu gì nữa. Cô ta đứng lên nhoẻn miệng cười và mời vợ chồng tôi theo cô lên từng trên, cô bảo :
- Anh chị cứ theo em lên trên này thì hiểu nhiều hơn .
Ba tấm ảnh để trên bàn thờ nhỏ. Tôi nhận ra Thống và Nhất Anh, mặc dù lúc chụp những tấm ảnh này hai người còn rất trẻ. Còn tấm ảnh thứ ba, một người con gái khác, tôi không nhận ra ai. Tôi chưa kịp hỏi thì cô gái lại sụt sùi:
- Chị Nhất Anh đã chết khá lâu rồi anh ạ. Vào một ngày mùa đông mưa tầm tã, chị ấy đạp xe đi đâu không biết, cả nhà chờ cơm tới tối vẫn chưa thấy về. Từ trước chị không bao giờ đi đâu một mình vào buổi tối. Cả nhà em và mấy người bạn hàng xóm chia nhau đi tìm. Em đạp xe đi khắp nơi. Trời mưa lớn quá nên em lạnh cóng. Đường xá vắng tanh không một bóng người. Cuối cùng thì chính em tìm ra chị ấy. Chị nằm bất động bên bờ hồ Xuân Hương, không xa nhà Thủy Tạ bao xa.
Tôi giật mình hoảng hốt :
- Ở gần nhà Thủy Tạ, bên bờ hồ Xuân Hương ? Rồi có tìm được chiếc xe đạp và cái gì nữa không ?
- Chiếc xe đạp rớt xuống hồ, ngày hôm sau người ta mới tìm thấy.
- Và chị đã chết ? Tôi hỏi
- Không, khi ấy thì chị còn sống, nhưng bất tỉnh và mình mẩy thì lạnh cóng. Vào bệnh viện, nửa giờ sau chị tỉnh lại, nhưng rất yếu chưa nói được. Khi thay áo cho chị, em thấy trong túi áo có một sợi dây đeo cổ có tấm ảnh của chị và một chiếc vòng nhôm có khắc tên chị và tên anh Thống
- Không có tờ bản đồ vẽ trại tù và nơi mộ anh Thống ?
- Có chứ ! Chính nhờ tấm bản đồ đó mà vợ chồng em, cách nay ba năm về Việt Nam, ra tận nơi tìm được, rồi thuê người lấy hài cốt của anh Thống mang về chôn trên Đà Lạt . Cám ơn anh đã vẽ cái bản đồ khá chi tiết và chính xác.
- Còn chị Hà Nhất Anh ?
- Hai tuần sau, chị khá hơn nhiều, nói năng tỉnh táo, bệnh viện cho xuất viện bảo về nhà điều trị, bồi dưỡng là chị sẽ khỏe thôi. Nhưng không ngờ về nhà mấy hôm thì lên cơn sốt nặng rồi hôn mê trở lại. Đưa vào bệnh viện thì chị mất. Người ta bảo là chị bị sưng phổi cấp tính. Mà thời ấy có thuốc men gì đâu mà chửa. Trong mấy ngày tinh táo, chị thường nhắc tới anh Thống, năn nỉ ba má em tìm mọi cách đem anh Thống về Đà Lạt, và báo cho mẹ anh ấy biết. Lúc trước bà thương quí chị lắm, nên chị cũng rất thương và lo lắng cho bà, khi em gái anh Thống vừa quá trẻ lại vừa yếu đuối. Không ngờ đó lại là những lời trăn trối của chị.
Tôi thầm nghĩ, chính vì đi gặp tôi hôm ấy mà Nhất Anh chết. Chắc cô đã xúc động nhiều lắm. Lòng tôi chùng xuống. Tôi có cái cảm giác đau đớn như vừa có những nhát chém vô hình nào đó trong lòng mình. Tôi lấy lại bình tĩnh :
- Như vậy là bây giờ mộ của Thống nằm trên Đà lạt .
- Dạ. Anh nằm bên cạnh chị Nhất Anh. Vợ chồng em mua lại mảnh đất tư gần khu rừng Ái Ân. Từ đó anh Thống có thể nhìn thấy Trường Võ Bị của anh lúc xưa và đỉnh núi Lâm Viên mà anh đã từng chinh phục.
- Đồi thông hai mộ . Tự dưng tôi buột miệng.
Đến lúc này tôi mới thấy cô nhoẻn miệng cười :
- Sau ngày 30 tháng 4/75, ở Đà lạt có khá nhiều “đồi thông hai mộ”. Có dịp anh chị về Đà Lạt, ghé lại Rừng Ái Ân hỏi thăm, là người ta biết hai ngôi mộ của anh chị Thống-Anh.
- Thế rồi, cô có liên lạc được mẹ và em gái của anh Thống ?
Cô không trả lời, mà lại mời vợ chồng tôi bước sang phòng bên cạnh. Căn phòng rộng, thoáng mát, có cửa kính lớn nhìn ra công viên phía trước. Một bà cụ tóc bạc trắng, nhưng da dẻ hồng hào, đôi mắt sáng, ngồi trên chiếc xe lăn. Khi tôi cúi đầu chào bà , cô gái giới thiệu :
- Anh này là bạn tù của anh Thống ở ngoài Bắc.
Rồi quay sang tôi :
- Chắc anh ngạc nhiên lắm, đây chính là mẹ của anh Thống.
Bà cụ ôm lấy tôi, nước mắt trào ra trên đôi gò má. Bà hỏi tôi về Thống trong những ngày ở tù và vì sao mà Thống chết. Nhưng tôi chỉ kể vài kỷ niệm về Thống trong những lúc vui vẻ, và không dám nói cho bà nghe về cái chết thảm thương của Thống. Tôi nói dối là Thống chết vì bệnh kiết lỵ nặng mà nhà tù không có thuốc. Tôi tưởng nói dối như vậy cho cụ yên lòng, không ngờ cụ đã khóc ngất lên. Tôi chỉ còn biết ôm vai bà cụ mà im lặng.
Một lúc sau, bà cụ mới tỉnh táo và kể lại tai nạn xe hơi đã làm chết cô con gái, em Thống và làm tê liệt đôi chân của bà. Nhìn sang cô gái, bà cụ thỏ thẻ :
- Cũng nhờ vợ chồng cháu nó đây mà bác còn sống đến bây giờ.
Nhị Anh nắm tay bà cụ :
- Má coi vợ chồng em không khác gì con ruột của má. Em sang đây sau khi em gái anh Thống chết. Tấm ảnh trên bàn thờ lúc nãy là của cô ấy. Cô nhỏ hơn em tới sáu tuồi. Lúc ấy má đang làm chủ mấy sạp may, đã lo lắng tiền bạc cho em sang đây và cho em tiếp tục học xong đại học nữa. Ngôi nhà này là của má cho vợ chồng em đó chứ.
Vợ chồng tôi chào bà cụ, chúc bà sức khỏe và hứa bất cứ lúc nào có dịp sang Cali, sẽ ghé lại thăm bà.
Khi bắt tay từ biệt vợ chồng Hà Nhị Anh, chợt nhớ tới một điều, nên tôi hỏi cô :
- Khi nãy tôi có nghe chị nói là bây giờ tên tuổi của chị trong giấy tờ lại là tên tuổi chị Nhất Anh. Sao vậy ?
Cô gái vẫn còn nắm chặt bàn tay tôi, kéo tôi ra xa, nhìn quanh rồi hạ giọng :
- Chính nhờ cái giấy của trại tù báo tin anh Thống chết, trong đó có ghi tên chị Nhất Anh là vợ, nên em đã thay chị ấy mà sang đây theo diện dành cho vợ tù nhân cải tạo bị chết trong tù. Em thấy xấu hổ lắm khi phải làm điều gian dối ấy, tội lớn lắm đối với luật pháp Hoa Kỳ, nhưng đó lại là ước mong của mẹ anh Thống, và của cả chị Nhất Anh trước khi chết nữa. Em săn sóc cho má bao nhiêu năm nay, nên má thương em như con gái má. Biết đâu đây là sự sắp xếp nhiệm màu từ chị Nhất Anh - anh Thống? Hơn nữa nhìn em cũng giống chị em lắm, và tên em với tên chị ấy cũng như nhau mà. Nhưng anh nhớ phải tuyệt đối giữ hộ cho em điều bí mật này nghe .
Vâng! Chính vì tôi đã giữ cho cô cái điều bí mật đó, nên hai cái tên Hà Nhất Anh, Hà Nhị Anh mà các bạn vừa đọc được trong truyện, đều không phải là tên thật của hai chị em nàng.
NGHỀ ĂN XIN CỦA VIỆT CỘNG
Đinh Lâm Thanh
Paris 30.11.2008
'Ăn xin' thường bị xếp vào vị trí thấp kém nhất trong xã hội vì nghề nầy chỉ dành cho những kẻ đáng thương như trẻ nhỏ, người già cô đơn, nghèo khó hay tật nguyền không đủ khả năng làm việc. Tuy nhiên, thời gian và không gian đã thay đổi khá nhiều về chuyện 'chẳng đặng đừng' nầy, có nơi hoàn toàn đảo ngược vị thế trong xã hội và xem 'bị gậy' là một nghề cao quý chỉ dành riêng cho một tập đoàn hay vài giới chức nào đó. Chuyện như thần thoại, nói ra chẳng một ai tin, nhưng nghề nầy đang phát triển mạnh dưới thiên đường cọng sản Việt Nam hiện nay !
Trừ một vài quốc gia ở Bắc Âu, tôi không thấy hành khất ăn xin ngoài đường, còn lại không nhiều thì ít xứ nào cũng có, mỗi nơi mang một hình thức, một sắc thái khác nhau. Để mở đầu bài viết, xin đề cập đến hai nơi có hình thức ăn xin hơi khác thường :
Ở Pháp, trước kia thành phần đi xin đa số là các ông các bà làm biếng, lúc nào người cũng nồng nặc mùi rượu, suốt ngày lang thang trong các trạm xe điện ngầm. Thỉnh thoảng người ta cũng bắt gặp vài ông già dẫn chó đi xin, ngồi nơi công cộng với chiếc mũ, cái thau nhựa và miếng giấy cứng ghi hàng chữ : Một euros cho chó và một euros cho …tôi ! Không ai ngạc nhiên khi cái thau trước mặt con chó được nhiều tiền của khách qua đường trong lúc chiếc mũ của ông già chẳng có một cắc bạc nào ! Kể từ ngày cọng sản Đông Âu sụp đổ thì một số dân nghèo ở đây chọn nghề cái bang tìm cách tiến về hướng Tây và nước Pháp, là nơi hành nghề hữu hiệu và thích hợp nhất. Từ đó Paris trở thành trung tâm của hai bang 'hát dạo' và 'thông điệp' hành nghề trên các chuyến xe điện ngầm. 'Cái bang văn hóa' thì có vẻ lịch sự (lên métro vừa đàn vừa hát những bài khá quen thuộc, đúng giọng, đúng điệu…ai cho tiền thì cám ơn mà không cho cũng cám ơn !) hơn 'cái bang thông điệp', gồm đa số người trẻ, vào các toa xe điện ngầm với một xấp 'thông điệp'trong tay. Họ đến trước măt mỗi người, chẳng nói chẳng rằng, lẳng lặng để trước mặt một tờ giấy. Sau khi đi hết vòng rồi quay trở lại thu hồi thông điệp và chuyển qua toa xe khác. Vì không nói được tiếng Pháp nên để thông điệp trong đó ghi vỏn vẹn mấy chữ : Vui lòng cho xin ít Euros...để ăn !
Không biết Paris có phải vùng đất béo bở hay không mà còn quyến rũ thêm nhiều đạo quân ăn xin đến từ các xứ 'rệp' Bắc Phi. Đặc biệt đạo quân ăn xin nầy toàn đàn bà và con nít, họ tụ tập ở những nơi công cọng, trước các tiệm ăn và dưới hầm xe điện ngầm. Mỗi bà đều bày hàng vài ba đứa trẻ làm cảnh, ăn mặc bẩn thỉu hôi hám để khơi động từ tâm của khách qua đường. Ngoài ra cũng còn những trường hợp ăn xin lạ lùng ở thủ đô nước Pháp, người đi ăn xin che kín mặt mình bằng cách nằm sấp út mặt sát đất, dùng hai tay ôm lấy đầu và bất động suốt ngày, phía trước là chiếc mũ với hai chữ 'Tôi đói'! Dù có ai để tiền vào mũ cũng ít khi nghe được một tiếng cám ơn ! Cách đây vài năm, tôi gặp trường hợp ăn xin của một đồng bào mình ngay trước cửa chợ Tăng Frère, anh còn trẻ, chận tôi lại với một giọng nói rất chân tình : Thưa bác, bác giúp con một ít tiền để mua vé máy bay trở về Mỹ. Không đợi phản ứng của tôi, người bạn trẻ tiếp : Con là dân Mỹ, đi du lịch bị móc túi mất hết tiền bạc, bây giờ không biết làm sao…Tôi bấm bụng giúp anh một ít với lời hướng dẫn, anh nên đến ban xã hội tòa thị chính nơi tạm trú, trình bày hoàn cảnh với họ, tôi tin rằng nơi đây sẽ lo cho anh phương tiện trở lại Mỹ ( Những trường hợp đặc biệt như thế nầy chắc chắn phòng xã hội của bất cứ thành phố nào cũng giúp phương tiện sống và vé may bay cho nạn nhân). Tưởng câu chuyện đã được giải quyết tốt đẹp, không ngờ khoảng gần một năm sau, tôi gặp lại người thanh niên nầy với bài bản y như ngày trước !!!
Ở Rio De Janeiro và São Paulo (Brésil), số trẻ em ăn xin đông gấp mười lần người lớn, họ được các tay trùm tập trung và huấn luyện thành những đạo quân chuyên nghiệp, chia vùng, phân công tác và tổ chức như quân đội : Có lính, có quan và có tướng ! Lính, hành nghề suốt ngày đêm kiếm cho đủ tiền đem nộp để được…ăn và được đi xin một cách yên ổn ! Quan, trực tiếp chỉ huy, đứng trung gian hưởng lợi và tướng thì sống nhà lầu, đi xe hơi !!!
Trở lại với Việt Nam, trước năm 1975 thành phần ăn xin ở miền Nam thật ra cũng ít, người ta chỉ bắt gặp tại nhà gare, bến xe đò hay trong các khu vực ăn uống của thủ đô Sàigòn cũng như tại các thành phố lớn. Phần nhiều là trẻ nhỏ, các ông bà làm biếng và những người tật nguyền. Cũng có những trường hợp lưu manh trong nghề như giả vờ bệnh tật, đi khập khểnh, chống gậy, cột vào tay chân những miếng thịt có mùi thúi ….Nghề ăn xin thời đó có thể nói là khá giả, nhưng từ ngày 'được giải phóng', cách mạng đã ưu ái tập trung và đẩy toàn bộ đi lao động ở các vùng kinh tế mới. Nhưng đừng lầm và đừng vội mừng cho rằng nhờ cách mạng mà miền Nam hết người ăn xin! Các bạn trẻ sinh sau năm 1975 chắc không biết chuyện nầy. Thời đó không còn cá nhân hay băng nhóm ăn xin nữa mà có cả chục triệu người phải chấp nhận cái nghề 'chẳng đặng đừng' để sống lây lất qua ngày ! Cách mạng là bọn đói rách kinh niên, suốt đời rau khoai, gia tài chỉ có cái nón cối và đôi dép râu đang hăm hở vào 'ăn xin của nhân dân' thì chúng đâu chịu để cho cả triệu người của miền Nam hành nghề cạnh tranh! Thế là chính sách đẩy toàn thể 'cái bang thật', 'cái bang chẳng đặng đừng' lên núi hay xuống biển để cách mạng độc quyền hành nghề. Và khi đã là vua uy quyền một cõi thì các đạo quân cái bang mặc áo vàng, áo màu xanh cứt ngựa, đầu đội nón cối…vứt ngay 'bị gậy'vào thùng rác, mặt vênh váo, vai mang AK và biến 'nghề ăn xin' thành 'nghề ăn cướp'. Để khỏi mất công mất thời giờ, chúng vào nhà ai không cần phải van xin mà tự nhiên như người Hà Nội, thấy cái gì thì cứ việc vác về cho tiện sổ sách, xem như quà chiến thắng !
Viết đến đây tôi nhớ lại chuyện cũ trước năm 1975, cái loa Hà Nội tuyên truyền rằng, dân miền Nam nghèo đói đến nỗi con trai không có tiền cắt tóc, con gái không đủ vải che thân, trên người chỉ mặc một chiếc váy nhỏ xíu đưa ngay cái 'bẹn' ra ngoài, rồi chúng kêu gọi người dân dù có đói rách đến đâu cũng phải cắn hạt gạo ra làm hai gởi vào nuôi miền Nam ruột thịt ! Thế rồi khi Việt Nam Cọng Hòa vừa rơi vào tay cọng sản, thật đáng thương và tội nghiệp cho các cụ già lặn lội từ miền Bắc vào tìm kiếm thân nhân, tay ôm tay xách gồm gói muối vừng, vài củ khoai và mấy ký đậu phộng để cứu đói người thân. Nhưng rồi các cụ lại ngoan ngoãn trở thành người ăn xin lương thiện, nghĩa là ai cho cái gì cũng hoan hỷ nhận…rồi bế, xách, lê lết cỏng đem về Bắc làm quà cho bà con cháu chắt. Tiếp sau đó từng đạo 'quân ăn xin không lương thiện', đi dép râu đội nón cối mang AK hùng hổ xuôi Nam, vừa thấy cái gì là vơ ngay cái đó. Chúng vào nhà dân, để súng lên bàn giở trò hăm dọa, khổ chủ đành phải bấm bụng bố thí xem như cúng cô hồn để xin hai chữ bình an. Những ai lớn tuổi chắc vẫn còn nhớ, trong những năm đầu mất nước, người ta thấy từ chiếc bàn, cái ghế, cái đài (radio), cái đổng (đồng hồ), cái TV, cái máy chém (quạt máy), cái tủ lạnh cho đến những thứ lỉnh kỉnh như nồi niêu soong chảo, chén bát…được đạo quân 'ăn xin có môn bài' tay ôm, tay xách, đội lên đầu, đeo vào cổ, chen lấn nhau trong các ngỏ hẻm, trên đường phố rồi giành giật nhau từng cái vé xe đò cũng như tàu hỏa để chở chiến lợi phẩm ra Bắc.
Trên đây tôi chỉ trình bày sơ qua chuyện ăn xin của người ít lương thiện và đạo quân có môn bài dưới thiên đường xã hội chủ nghĩa. Tuy những chuyện nầy có viết ra cả ngàn trang giấy cũng không bao giờ hết, nhưng cũng cần ghi ra đây để đưa vào lịch sử : Một đám ăn mày đói rách từ rừng chui ra và lập một kỷ nguyên mới được người đời xem là khuôn vàng thước ngọc của xã hội chủ nghĩa, 'cướp giật là vinh quang ! '. Trước tiên chúng biến hàng chục triệu người miền Nam từ triệu phú ra bị gậy và đuổi đi nơi khác chơi : Lên vùng kinh tế ăn xin với cọp beo hay vác bị gậy ra biển ăn mày với cá mập. Từ đó Việt Nam chỉ còn một băng đảng bị gậy duy nhất và vĩ đại nhất của địa cầu để ăn xin với quốc tế và móc túi 'khúc ruột ngàn dặm'.
Mỗi khi thiên tai lụt lội đổ xuống đầu người dân vô tội thì chính là cơ hội ngàn vàng của bọn cái bang nhà nước. Chẳng thấy tên nào ló mặt ra giúp chén cơm, cái mền, viên thuốc hay vài đồng bạc cho dân mà tranh nhau hăm hở kêu gọi quốc tế giúp đở, van xin khúc ruột ngàn dặn mở hồ bao. Tập đoàn cọng sản ăn xin nầy đã nhân danh thiên tại lụt lội để hành động đúng theo đường lối tốt đẹp của xã hội chủ nghĩa và đỉnh cao trí tuệ loài người. Nếu có ông sư, ông cha nào quyên được tiền từ nước ngoài hay các tổ chức nhân đạo quốc tế trích quỹ cứu trợ để cấp cứu thì chúng yêu cầu đừng trao phẩm vật tiền bạc cho nạn nhân, cứ đưa cho chúng nó là xong chuyện !
Nhờ thiên tai hàng năm các tập đoàn ăn xin đều làm ăn phát đạt. Biết rằng người nước ngoài cũng như các tổ chức quốc tế sẵn sàng giúp đở nạn nhân Việt Nam, do đó từ trung ương đến địa phương chúng tranh nhau dựng thêm những hội từ thiện, nhà may mắn, làng tình thương…một mặt làm mẫu trình diễn với quốc tế, chụp hình quảng cáo đồng thời đào tạo một số cán bộ từ trong nước ra đến hải ngoại với mục đích móc túi người Việt Tự Do và phá rối cộng đồng. Chúng giở trò láu cá bằng cách lợi dụng lòng nhân đạo, tình đồng hương để xin tiền mà còn tạo cơ hội quấy rối cộng đồng nước ngoài và cờ Quốc Gia Vàng Ba Sọc Đỏ. Mới đây không lâu, một số cố đạo áo đen, sư thích đỏ ruột được phép ra nước ngoài moi tiền con chiên Phật tử, nhưng cái trò ma giáo vẫn không quên là yêu cầu những nơi chúng đến không được treo cờ Quốc Gia… Thế thì đi ăn xin mà lại chưởi cha người ta nữa thì chỉ có loài thú vô học mới đem cái ngu ngốc của chúng ra áp dụng tại các quốc gia tự do ở Âu Mỹ. Nhưng trò khốn nạn nầy vẫn được vài nhóm cò mồi sống bám đáy quần cọng sản dụ được một số người nhẹ dạ ở hải ngoại. Thế mới lạ !
Tiến thêm một bước nữa là chính bọn cầm quyền đích thân ra nước ngoài ăn xin, các chuyến đi đều do những tên số một số hai trong cái gọi là nhà cầm quyền dẫn đầu. Thay thế bị gậy bằng áo veste, cà vạt, cặp da…ngồi chật cả chuyến bay rồi tiền hô hậu ủng ra ngoại quốc không ngoài mục đích van lạy quốc tế vào Việt Nam đầu tư cứu đói. Đặc biệt tên cầm đầu còn xử đụng một chiêu bài có một không hai trong lịch sữ quảng cáo của nhân loại. Vì lo sợ không ai thèm đem tiền của đến cho bọn chơi trò bài ba lá, tên trưởng đoàn cũng là vua hiện giờ của Việt Nam, đóng vai ma cô đem gái ra dụ những tên già hảo ngọt thích của lạ. Nó mời gọi mọi người nên đến Việt Nam đầu tư vì tại đây có nhiều gái đẹp, tha hồ mà…! Mấy trường đại học chuyên về quảng cáo, kinh tế, tài chánh và đầu tư trên thế giới nên cấp ngay cho tên ma cô nầy bằng 'tiến sĩ cò mồi' để thay cái bằng 'tiến sĩ cầu muối' mà nó đã chôm chĩa được.
Vừa bước vào thế kỷ 21 mà những bộ óc của 'đỉnh cao trí tuệ loài người' cọng sản Việt Nam đã phát minh ra được nguyên tắc câu khách thần sầu quỷ khóc nầy thì trong vài năm nữa không biết chúng còn bao nhiêu chiêu để đem ra phô trương ở nước ngoài nữa đây !
Màn 'vua' đem gái ra kêu gọi mọi người đến Việt Nam thưởng thức xem chừng như các đại thần trong ổ chính trị không vừa ý nên chúng lại cho thi hành một trò mới : Dùng gái đẹp (lại cũng gái nữa !) đi xin thay cho bọn chúng : Cô Tim tóc vàng da trắng, sau một thời gian huấn luyện được các bang chủ đỏ cho ra ngoài với chiếc áo dài và vài giọt nước mắt. Thế là cả đám cò mồi bu vào tổ chức ăn có. Đồng bào hải ngoại nghe nói đến một cô gái ngoại quốc da trắng tóc vàng, hy sinh cuộc đời cá nhân để dấn thân cho các trẻ em nghèo khó tật nguyền tại Việt Nam thì ai cũng động lòng trắc ẩn. Có người cho rằng cô Tim chỉ cần nhỏ vai giọt nước mắt và ngậm miệng là đủ ăn tiền, ít ra cũng kiếm được vài triệu để đưa về cho quan thầy. Tại sao lại ngu ngơ tuyên bố hách xì xằng làm gì, đòi hạ cờ Quốc Gia xuống khi có mặt cô ta để bị cộng đồng xem như hủi và đuổi như đuổi tà ! Theo tôi cô Tim đâu ngu, có tuyên bố như vậy thì ít ra cũng hưởng mười phần trăm tiền thưởng của bang chủ. Nếu cô sinh viên balô ngày nào trở lại Thụy sĩ thì cuộc đời của cô cũng vắt giò lên đầu chạy ăn kiếm từng bữa súp bữa bánh mì, chứ đâu được như bây giờ, có tiền đầy túi, lên xe xuống ngựa ra nước ngoài du lịch như đi chợ !
Thành thật mà nói thì cọng sản đã thành công về trò ma giáo, bịp được một số người nước ngoài nhịn thuốc lá, nhịn ăn phở và vui vẻ trút hồ bao góp tiền cho bọn cái bang đỏ qua Pháp trên bốn chuyến bay để tổ chức một đêm dạ vũ, khoe khoang bằng cách đãi tiệc trên hai ngàn người tại Palais des Congrès (Porte Maillot- Paris 17) trong tháng vừa qua với phí tổn gần 20 triệu dollars! Đồng bào hải ngoại hãy mở mắt ra mà xem, tiền mồ hôi của mỗi đồng hương đóng góp chưa mua được một điếu xìgà cho chúng !
Qua những sự việc trên, bây giờ thì cả thế giới mới ngã ngửa ra nghề ăn xin của cái xứ gọi là 'đỉnh cao trí tuệ loài người' và 'chiếc nôi của nhân loại' đúng thật là siêu việt !
Đinh Lâm Thanh
Paris 30.11.2008
'Ăn xin' thường bị xếp vào vị trí thấp kém nhất trong xã hội vì nghề nầy chỉ dành cho những kẻ đáng thương như trẻ nhỏ, người già cô đơn, nghèo khó hay tật nguyền không đủ khả năng làm việc. Tuy nhiên, thời gian và không gian đã thay đổi khá nhiều về chuyện 'chẳng đặng đừng' nầy, có nơi hoàn toàn đảo ngược vị thế trong xã hội và xem 'bị gậy' là một nghề cao quý chỉ dành riêng cho một tập đoàn hay vài giới chức nào đó. Chuyện như thần thoại, nói ra chẳng một ai tin, nhưng nghề nầy đang phát triển mạnh dưới thiên đường cọng sản Việt Nam hiện nay !
Trừ một vài quốc gia ở Bắc Âu, tôi không thấy hành khất ăn xin ngoài đường, còn lại không nhiều thì ít xứ nào cũng có, mỗi nơi mang một hình thức, một sắc thái khác nhau. Để mở đầu bài viết, xin đề cập đến hai nơi có hình thức ăn xin hơi khác thường :
Ở Pháp, trước kia thành phần đi xin đa số là các ông các bà làm biếng, lúc nào người cũng nồng nặc mùi rượu, suốt ngày lang thang trong các trạm xe điện ngầm. Thỉnh thoảng người ta cũng bắt gặp vài ông già dẫn chó đi xin, ngồi nơi công cộng với chiếc mũ, cái thau nhựa và miếng giấy cứng ghi hàng chữ : Một euros cho chó và một euros cho …tôi ! Không ai ngạc nhiên khi cái thau trước mặt con chó được nhiều tiền của khách qua đường trong lúc chiếc mũ của ông già chẳng có một cắc bạc nào ! Kể từ ngày cọng sản Đông Âu sụp đổ thì một số dân nghèo ở đây chọn nghề cái bang tìm cách tiến về hướng Tây và nước Pháp, là nơi hành nghề hữu hiệu và thích hợp nhất. Từ đó Paris trở thành trung tâm của hai bang 'hát dạo' và 'thông điệp' hành nghề trên các chuyến xe điện ngầm. 'Cái bang văn hóa' thì có vẻ lịch sự (lên métro vừa đàn vừa hát những bài khá quen thuộc, đúng giọng, đúng điệu…ai cho tiền thì cám ơn mà không cho cũng cám ơn !) hơn 'cái bang thông điệp', gồm đa số người trẻ, vào các toa xe điện ngầm với một xấp 'thông điệp'trong tay. Họ đến trước măt mỗi người, chẳng nói chẳng rằng, lẳng lặng để trước mặt một tờ giấy. Sau khi đi hết vòng rồi quay trở lại thu hồi thông điệp và chuyển qua toa xe khác. Vì không nói được tiếng Pháp nên để thông điệp trong đó ghi vỏn vẹn mấy chữ : Vui lòng cho xin ít Euros...để ăn !
Không biết Paris có phải vùng đất béo bở hay không mà còn quyến rũ thêm nhiều đạo quân ăn xin đến từ các xứ 'rệp' Bắc Phi. Đặc biệt đạo quân ăn xin nầy toàn đàn bà và con nít, họ tụ tập ở những nơi công cọng, trước các tiệm ăn và dưới hầm xe điện ngầm. Mỗi bà đều bày hàng vài ba đứa trẻ làm cảnh, ăn mặc bẩn thỉu hôi hám để khơi động từ tâm của khách qua đường. Ngoài ra cũng còn những trường hợp ăn xin lạ lùng ở thủ đô nước Pháp, người đi ăn xin che kín mặt mình bằng cách nằm sấp út mặt sát đất, dùng hai tay ôm lấy đầu và bất động suốt ngày, phía trước là chiếc mũ với hai chữ 'Tôi đói'! Dù có ai để tiền vào mũ cũng ít khi nghe được một tiếng cám ơn ! Cách đây vài năm, tôi gặp trường hợp ăn xin của một đồng bào mình ngay trước cửa chợ Tăng Frère, anh còn trẻ, chận tôi lại với một giọng nói rất chân tình : Thưa bác, bác giúp con một ít tiền để mua vé máy bay trở về Mỹ. Không đợi phản ứng của tôi, người bạn trẻ tiếp : Con là dân Mỹ, đi du lịch bị móc túi mất hết tiền bạc, bây giờ không biết làm sao…Tôi bấm bụng giúp anh một ít với lời hướng dẫn, anh nên đến ban xã hội tòa thị chính nơi tạm trú, trình bày hoàn cảnh với họ, tôi tin rằng nơi đây sẽ lo cho anh phương tiện trở lại Mỹ ( Những trường hợp đặc biệt như thế nầy chắc chắn phòng xã hội của bất cứ thành phố nào cũng giúp phương tiện sống và vé may bay cho nạn nhân). Tưởng câu chuyện đã được giải quyết tốt đẹp, không ngờ khoảng gần một năm sau, tôi gặp lại người thanh niên nầy với bài bản y như ngày trước !!!
Ở Rio De Janeiro và São Paulo (Brésil), số trẻ em ăn xin đông gấp mười lần người lớn, họ được các tay trùm tập trung và huấn luyện thành những đạo quân chuyên nghiệp, chia vùng, phân công tác và tổ chức như quân đội : Có lính, có quan và có tướng ! Lính, hành nghề suốt ngày đêm kiếm cho đủ tiền đem nộp để được…ăn và được đi xin một cách yên ổn ! Quan, trực tiếp chỉ huy, đứng trung gian hưởng lợi và tướng thì sống nhà lầu, đi xe hơi !!!
Trở lại với Việt Nam, trước năm 1975 thành phần ăn xin ở miền Nam thật ra cũng ít, người ta chỉ bắt gặp tại nhà gare, bến xe đò hay trong các khu vực ăn uống của thủ đô Sàigòn cũng như tại các thành phố lớn. Phần nhiều là trẻ nhỏ, các ông bà làm biếng và những người tật nguyền. Cũng có những trường hợp lưu manh trong nghề như giả vờ bệnh tật, đi khập khểnh, chống gậy, cột vào tay chân những miếng thịt có mùi thúi ….Nghề ăn xin thời đó có thể nói là khá giả, nhưng từ ngày 'được giải phóng', cách mạng đã ưu ái tập trung và đẩy toàn bộ đi lao động ở các vùng kinh tế mới. Nhưng đừng lầm và đừng vội mừng cho rằng nhờ cách mạng mà miền Nam hết người ăn xin! Các bạn trẻ sinh sau năm 1975 chắc không biết chuyện nầy. Thời đó không còn cá nhân hay băng nhóm ăn xin nữa mà có cả chục triệu người phải chấp nhận cái nghề 'chẳng đặng đừng' để sống lây lất qua ngày ! Cách mạng là bọn đói rách kinh niên, suốt đời rau khoai, gia tài chỉ có cái nón cối và đôi dép râu đang hăm hở vào 'ăn xin của nhân dân' thì chúng đâu chịu để cho cả triệu người của miền Nam hành nghề cạnh tranh! Thế là chính sách đẩy toàn thể 'cái bang thật', 'cái bang chẳng đặng đừng' lên núi hay xuống biển để cách mạng độc quyền hành nghề. Và khi đã là vua uy quyền một cõi thì các đạo quân cái bang mặc áo vàng, áo màu xanh cứt ngựa, đầu đội nón cối…vứt ngay 'bị gậy'vào thùng rác, mặt vênh váo, vai mang AK và biến 'nghề ăn xin' thành 'nghề ăn cướp'. Để khỏi mất công mất thời giờ, chúng vào nhà ai không cần phải van xin mà tự nhiên như người Hà Nội, thấy cái gì thì cứ việc vác về cho tiện sổ sách, xem như quà chiến thắng !
Viết đến đây tôi nhớ lại chuyện cũ trước năm 1975, cái loa Hà Nội tuyên truyền rằng, dân miền Nam nghèo đói đến nỗi con trai không có tiền cắt tóc, con gái không đủ vải che thân, trên người chỉ mặc một chiếc váy nhỏ xíu đưa ngay cái 'bẹn' ra ngoài, rồi chúng kêu gọi người dân dù có đói rách đến đâu cũng phải cắn hạt gạo ra làm hai gởi vào nuôi miền Nam ruột thịt ! Thế rồi khi Việt Nam Cọng Hòa vừa rơi vào tay cọng sản, thật đáng thương và tội nghiệp cho các cụ già lặn lội từ miền Bắc vào tìm kiếm thân nhân, tay ôm tay xách gồm gói muối vừng, vài củ khoai và mấy ký đậu phộng để cứu đói người thân. Nhưng rồi các cụ lại ngoan ngoãn trở thành người ăn xin lương thiện, nghĩa là ai cho cái gì cũng hoan hỷ nhận…rồi bế, xách, lê lết cỏng đem về Bắc làm quà cho bà con cháu chắt. Tiếp sau đó từng đạo 'quân ăn xin không lương thiện', đi dép râu đội nón cối mang AK hùng hổ xuôi Nam, vừa thấy cái gì là vơ ngay cái đó. Chúng vào nhà dân, để súng lên bàn giở trò hăm dọa, khổ chủ đành phải bấm bụng bố thí xem như cúng cô hồn để xin hai chữ bình an. Những ai lớn tuổi chắc vẫn còn nhớ, trong những năm đầu mất nước, người ta thấy từ chiếc bàn, cái ghế, cái đài (radio), cái đổng (đồng hồ), cái TV, cái máy chém (quạt máy), cái tủ lạnh cho đến những thứ lỉnh kỉnh như nồi niêu soong chảo, chén bát…được đạo quân 'ăn xin có môn bài' tay ôm, tay xách, đội lên đầu, đeo vào cổ, chen lấn nhau trong các ngỏ hẻm, trên đường phố rồi giành giật nhau từng cái vé xe đò cũng như tàu hỏa để chở chiến lợi phẩm ra Bắc.
Trên đây tôi chỉ trình bày sơ qua chuyện ăn xin của người ít lương thiện và đạo quân có môn bài dưới thiên đường xã hội chủ nghĩa. Tuy những chuyện nầy có viết ra cả ngàn trang giấy cũng không bao giờ hết, nhưng cũng cần ghi ra đây để đưa vào lịch sử : Một đám ăn mày đói rách từ rừng chui ra và lập một kỷ nguyên mới được người đời xem là khuôn vàng thước ngọc của xã hội chủ nghĩa, 'cướp giật là vinh quang ! '. Trước tiên chúng biến hàng chục triệu người miền Nam từ triệu phú ra bị gậy và đuổi đi nơi khác chơi : Lên vùng kinh tế ăn xin với cọp beo hay vác bị gậy ra biển ăn mày với cá mập. Từ đó Việt Nam chỉ còn một băng đảng bị gậy duy nhất và vĩ đại nhất của địa cầu để ăn xin với quốc tế và móc túi 'khúc ruột ngàn dặm'.
Mỗi khi thiên tai lụt lội đổ xuống đầu người dân vô tội thì chính là cơ hội ngàn vàng của bọn cái bang nhà nước. Chẳng thấy tên nào ló mặt ra giúp chén cơm, cái mền, viên thuốc hay vài đồng bạc cho dân mà tranh nhau hăm hở kêu gọi quốc tế giúp đở, van xin khúc ruột ngàn dặn mở hồ bao. Tập đoàn cọng sản ăn xin nầy đã nhân danh thiên tại lụt lội để hành động đúng theo đường lối tốt đẹp của xã hội chủ nghĩa và đỉnh cao trí tuệ loài người. Nếu có ông sư, ông cha nào quyên được tiền từ nước ngoài hay các tổ chức nhân đạo quốc tế trích quỹ cứu trợ để cấp cứu thì chúng yêu cầu đừng trao phẩm vật tiền bạc cho nạn nhân, cứ đưa cho chúng nó là xong chuyện !
Nhờ thiên tai hàng năm các tập đoàn ăn xin đều làm ăn phát đạt. Biết rằng người nước ngoài cũng như các tổ chức quốc tế sẵn sàng giúp đở nạn nhân Việt Nam, do đó từ trung ương đến địa phương chúng tranh nhau dựng thêm những hội từ thiện, nhà may mắn, làng tình thương…một mặt làm mẫu trình diễn với quốc tế, chụp hình quảng cáo đồng thời đào tạo một số cán bộ từ trong nước ra đến hải ngoại với mục đích móc túi người Việt Tự Do và phá rối cộng đồng. Chúng giở trò láu cá bằng cách lợi dụng lòng nhân đạo, tình đồng hương để xin tiền mà còn tạo cơ hội quấy rối cộng đồng nước ngoài và cờ Quốc Gia Vàng Ba Sọc Đỏ. Mới đây không lâu, một số cố đạo áo đen, sư thích đỏ ruột được phép ra nước ngoài moi tiền con chiên Phật tử, nhưng cái trò ma giáo vẫn không quên là yêu cầu những nơi chúng đến không được treo cờ Quốc Gia… Thế thì đi ăn xin mà lại chưởi cha người ta nữa thì chỉ có loài thú vô học mới đem cái ngu ngốc của chúng ra áp dụng tại các quốc gia tự do ở Âu Mỹ. Nhưng trò khốn nạn nầy vẫn được vài nhóm cò mồi sống bám đáy quần cọng sản dụ được một số người nhẹ dạ ở hải ngoại. Thế mới lạ !
Tiến thêm một bước nữa là chính bọn cầm quyền đích thân ra nước ngoài ăn xin, các chuyến đi đều do những tên số một số hai trong cái gọi là nhà cầm quyền dẫn đầu. Thay thế bị gậy bằng áo veste, cà vạt, cặp da…ngồi chật cả chuyến bay rồi tiền hô hậu ủng ra ngoại quốc không ngoài mục đích van lạy quốc tế vào Việt Nam đầu tư cứu đói. Đặc biệt tên cầm đầu còn xử đụng một chiêu bài có một không hai trong lịch sữ quảng cáo của nhân loại. Vì lo sợ không ai thèm đem tiền của đến cho bọn chơi trò bài ba lá, tên trưởng đoàn cũng là vua hiện giờ của Việt Nam, đóng vai ma cô đem gái ra dụ những tên già hảo ngọt thích của lạ. Nó mời gọi mọi người nên đến Việt Nam đầu tư vì tại đây có nhiều gái đẹp, tha hồ mà…! Mấy trường đại học chuyên về quảng cáo, kinh tế, tài chánh và đầu tư trên thế giới nên cấp ngay cho tên ma cô nầy bằng 'tiến sĩ cò mồi' để thay cái bằng 'tiến sĩ cầu muối' mà nó đã chôm chĩa được.
Vừa bước vào thế kỷ 21 mà những bộ óc của 'đỉnh cao trí tuệ loài người' cọng sản Việt Nam đã phát minh ra được nguyên tắc câu khách thần sầu quỷ khóc nầy thì trong vài năm nữa không biết chúng còn bao nhiêu chiêu để đem ra phô trương ở nước ngoài nữa đây !
Màn 'vua' đem gái ra kêu gọi mọi người đến Việt Nam thưởng thức xem chừng như các đại thần trong ổ chính trị không vừa ý nên chúng lại cho thi hành một trò mới : Dùng gái đẹp (lại cũng gái nữa !) đi xin thay cho bọn chúng : Cô Tim tóc vàng da trắng, sau một thời gian huấn luyện được các bang chủ đỏ cho ra ngoài với chiếc áo dài và vài giọt nước mắt. Thế là cả đám cò mồi bu vào tổ chức ăn có. Đồng bào hải ngoại nghe nói đến một cô gái ngoại quốc da trắng tóc vàng, hy sinh cuộc đời cá nhân để dấn thân cho các trẻ em nghèo khó tật nguyền tại Việt Nam thì ai cũng động lòng trắc ẩn. Có người cho rằng cô Tim chỉ cần nhỏ vai giọt nước mắt và ngậm miệng là đủ ăn tiền, ít ra cũng kiếm được vài triệu để đưa về cho quan thầy. Tại sao lại ngu ngơ tuyên bố hách xì xằng làm gì, đòi hạ cờ Quốc Gia xuống khi có mặt cô ta để bị cộng đồng xem như hủi và đuổi như đuổi tà ! Theo tôi cô Tim đâu ngu, có tuyên bố như vậy thì ít ra cũng hưởng mười phần trăm tiền thưởng của bang chủ. Nếu cô sinh viên balô ngày nào trở lại Thụy sĩ thì cuộc đời của cô cũng vắt giò lên đầu chạy ăn kiếm từng bữa súp bữa bánh mì, chứ đâu được như bây giờ, có tiền đầy túi, lên xe xuống ngựa ra nước ngoài du lịch như đi chợ !
Thành thật mà nói thì cọng sản đã thành công về trò ma giáo, bịp được một số người nước ngoài nhịn thuốc lá, nhịn ăn phở và vui vẻ trút hồ bao góp tiền cho bọn cái bang đỏ qua Pháp trên bốn chuyến bay để tổ chức một đêm dạ vũ, khoe khoang bằng cách đãi tiệc trên hai ngàn người tại Palais des Congrès (Porte Maillot- Paris 17) trong tháng vừa qua với phí tổn gần 20 triệu dollars! Đồng bào hải ngoại hãy mở mắt ra mà xem, tiền mồ hôi của mỗi đồng hương đóng góp chưa mua được một điếu xìgà cho chúng !
Qua những sự việc trên, bây giờ thì cả thế giới mới ngã ngửa ra nghề ăn xin của cái xứ gọi là 'đỉnh cao trí tuệ loài người' và 'chiếc nôi của nhân loại' đúng thật là siêu việt !
Tâm như thủy !!!
Cách đây hai năm vào ngày sinh nhật, chị nhận được một món quà từ một người bạn ở Hà Nội, một món quà mà khi mở ra chị bất ngờ quá đỗi, chỉ là ba chữ Hán viết trên một tấm giấy dó giản dị: "Tâm như thủy", với lời đề tặng:
"Tặng cho em ba chữ để tự khuyên mình. Cho dù ở hoàn cảnh nào, cho dù gặp phải bất cứ điều gì em hãy cố giữ lòng mình được thanh thản, yên tĩnh, nhẹ nhàng, trong trẻo như làn nước. Tất cả rồi cũng sẽ qua đi, như có, như không, như vui, như buồn. Tất cả đều có ý nghĩa và tất cả cũng đều vô nghĩa. Giữ lại là có, trôi đi là không. Chẳng cần vướng bận điều gì."
Vậy là đã hơn hai năm rồi, hơn hai năm chị cố làm theo lời khuyên này, thật là khó khăn để có thể làm cho tâm hồn mình được nhẹ nhàng, thanh thản, trong trẻo như một làn nước trước những khó khăn, đau khổ mà ta gặp trong cuộc sống. Có những khi chị tưởng mình phải bỏ cuộc, có những khi chị cứ cố giữ trong lòng mình những điều phiền muộn để rồi phải đau khổ vì chúng. Nhiều khi chị tự làm khổ mình vì những điều đã trôi đi rất xa, vì những người không xứng đáng với tình cảm của chị và biết bao những giọt nước mắt đã rơi trong những đêm mất ngủ.
Nhưng rồi thời gian trôi qua, chị nghiệm ra rằng mọi nỗi buồn mà ta gặp trong đời sẽ mãi mãi làm ta đau khổ nếu ta cứ nhìn vào nó để mà sống, nhưng nếu ta để cho nó qua đi và không bận tâm đến nó nữa, coi như nó chỉ là một cái vấp trên con đường thênh thang mà ta bước, một áng mây đen vụt bay qua trên bầu trời tươi sáng thì ta sẽ dễ dàng vượt qua mọi đau khổ và mỉm cười với cuộc sống còn quá nhiều khó khăn trước mặt.
Trôi qua là hết, hãy để cho mọi nỗi buồn của em trôi qua, đừng giữ lại, đừng để cho nó làm em phải mệt mỏi, phải khổ sở nữa. Nếu như vì một lí do gì đó mà một người em yêu thương bỏ em để ra đi thì cũng đừng vì thế mà rơi tõm vào đau buồn và u uất, tất cả đều có thể xẩy ra, hôm nay là như vậy, nhưng ngày mai lại khác đi mất rồi, người ta vẫn sai lầm nhưng cũng có thể sửa chữa sai lầm một khi người ta vẫn sống và còn thời gian, còn nghị lực và niềm tin yêu vào cuộc sống, vào tình người.
Sống trên cuộc đời ai chẳng muốn mình được hạnh phúc, ai chẳng muốn được mãi mãi bên cạnh những người mình yêu thương và tình yêu là điều mà ai cũng mong ước có được, nhưng cuộc sống bắt buộc ta phải sống hết mình với nó, trải qua những khó khăn và thử thách, chịu đựng những đổ vỡ và mất mát, nước mắt và nụ cười đan xen. Và chị, và em, và tất cả mọi người ai cũng đều phải tranh đấu để vươn lên và vượt qua mọi đau khổ để sống, để mang tới cho mình và người mình yêu thương những niềm hạnh phúc.
Không có một công thức chung cho tất cả mọi người để đạt được một cuộc sống hạnh phúc và vì thế trong mỗi hoàn cảnh người ta phải biết cách vượt lên, biết cách đi qua những đau khổ và đừng bao giờ chờ đợi ai giúp đỡ, thương yêu mình khi chính mình không muốn giúp mình, không biết thương yêu bản thân.
Chị không muốn em đọc bài viết này như đọc một bài học trong sách giáo khoa, giáo điều và cứng nhắc, em hãy đọc nó như đọc một lời tâm sự của người đi trước, chị chỉ là một người đi trước và muốn chia sẻ với em những gì mà chị đã trải nghiệm, bởi vì chị cũng giống em thôi, cũng từng là một cô gái yếu mềm và dễ vỡ…
Có người hỏi chị: làm sao để có thể mỉm cười tươi tắn như thế, làm sao để có thể đi qua mọi nỗi buồn mà không cho nó để lại dấu ấn gì trên khuôn mặt mình, làm sao để có thể rộn ràng như là hoa và nắng luôn tràn ngập trong tim? Làm sao… Làm sao…Hãy làm tâm hồn ta trong trẻo như nước thì sẽ được như thế, luôn luôn là thế.
Vô ảnh thường giao tâm tựa thuỷ
Hữu ngôn tự giác khí như sương.
Cách đây hai năm vào ngày sinh nhật, chị nhận được một món quà từ một người bạn ở Hà Nội, một món quà mà khi mở ra chị bất ngờ quá đỗi, chỉ là ba chữ Hán viết trên một tấm giấy dó giản dị: "Tâm như thủy", với lời đề tặng:
"Tặng cho em ba chữ để tự khuyên mình. Cho dù ở hoàn cảnh nào, cho dù gặp phải bất cứ điều gì em hãy cố giữ lòng mình được thanh thản, yên tĩnh, nhẹ nhàng, trong trẻo như làn nước. Tất cả rồi cũng sẽ qua đi, như có, như không, như vui, như buồn. Tất cả đều có ý nghĩa và tất cả cũng đều vô nghĩa. Giữ lại là có, trôi đi là không. Chẳng cần vướng bận điều gì."
Vậy là đã hơn hai năm rồi, hơn hai năm chị cố làm theo lời khuyên này, thật là khó khăn để có thể làm cho tâm hồn mình được nhẹ nhàng, thanh thản, trong trẻo như một làn nước trước những khó khăn, đau khổ mà ta gặp trong cuộc sống. Có những khi chị tưởng mình phải bỏ cuộc, có những khi chị cứ cố giữ trong lòng mình những điều phiền muộn để rồi phải đau khổ vì chúng. Nhiều khi chị tự làm khổ mình vì những điều đã trôi đi rất xa, vì những người không xứng đáng với tình cảm của chị và biết bao những giọt nước mắt đã rơi trong những đêm mất ngủ.
Nhưng rồi thời gian trôi qua, chị nghiệm ra rằng mọi nỗi buồn mà ta gặp trong đời sẽ mãi mãi làm ta đau khổ nếu ta cứ nhìn vào nó để mà sống, nhưng nếu ta để cho nó qua đi và không bận tâm đến nó nữa, coi như nó chỉ là một cái vấp trên con đường thênh thang mà ta bước, một áng mây đen vụt bay qua trên bầu trời tươi sáng thì ta sẽ dễ dàng vượt qua mọi đau khổ và mỉm cười với cuộc sống còn quá nhiều khó khăn trước mặt.
Trôi qua là hết, hãy để cho mọi nỗi buồn của em trôi qua, đừng giữ lại, đừng để cho nó làm em phải mệt mỏi, phải khổ sở nữa. Nếu như vì một lí do gì đó mà một người em yêu thương bỏ em để ra đi thì cũng đừng vì thế mà rơi tõm vào đau buồn và u uất, tất cả đều có thể xẩy ra, hôm nay là như vậy, nhưng ngày mai lại khác đi mất rồi, người ta vẫn sai lầm nhưng cũng có thể sửa chữa sai lầm một khi người ta vẫn sống và còn thời gian, còn nghị lực và niềm tin yêu vào cuộc sống, vào tình người.
Sống trên cuộc đời ai chẳng muốn mình được hạnh phúc, ai chẳng muốn được mãi mãi bên cạnh những người mình yêu thương và tình yêu là điều mà ai cũng mong ước có được, nhưng cuộc sống bắt buộc ta phải sống hết mình với nó, trải qua những khó khăn và thử thách, chịu đựng những đổ vỡ và mất mát, nước mắt và nụ cười đan xen. Và chị, và em, và tất cả mọi người ai cũng đều phải tranh đấu để vươn lên và vượt qua mọi đau khổ để sống, để mang tới cho mình và người mình yêu thương những niềm hạnh phúc.
Không có một công thức chung cho tất cả mọi người để đạt được một cuộc sống hạnh phúc và vì thế trong mỗi hoàn cảnh người ta phải biết cách vượt lên, biết cách đi qua những đau khổ và đừng bao giờ chờ đợi ai giúp đỡ, thương yêu mình khi chính mình không muốn giúp mình, không biết thương yêu bản thân.
Chị không muốn em đọc bài viết này như đọc một bài học trong sách giáo khoa, giáo điều và cứng nhắc, em hãy đọc nó như đọc một lời tâm sự của người đi trước, chị chỉ là một người đi trước và muốn chia sẻ với em những gì mà chị đã trải nghiệm, bởi vì chị cũng giống em thôi, cũng từng là một cô gái yếu mềm và dễ vỡ…
Có người hỏi chị: làm sao để có thể mỉm cười tươi tắn như thế, làm sao để có thể đi qua mọi nỗi buồn mà không cho nó để lại dấu ấn gì trên khuôn mặt mình, làm sao để có thể rộn ràng như là hoa và nắng luôn tràn ngập trong tim? Làm sao… Làm sao…Hãy làm tâm hồn ta trong trẻo như nước thì sẽ được như thế, luôn luôn là thế.
Vô ảnh thường giao tâm tựa thuỷ
Hữu ngôn tự giác khí như sương.
CON RỄ THỦ TƯỚNG
Con rễ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là Henry Nguyễn (tên tiếng Việt là Nguyễn Bảo Hoàng), là con trai cưng của Nguyễn Bang, nguyên là một thứ trưởng của chính quyền Sài Gòn trước 1975. Cả gia đình Nguyễn Bang đã lên đường rời VN chỉ vài ngày trước 30/4/75 và định cư ở Mỹ ngay sau đó ở bang Chicago. Chị của Henry là 1 cô gái đẹp và lấy chồng là con trai 1 gia đình tài phiệt Mỹ tên là Thomas Cornor, kể từ đó gia đình Nguyễn Bang và Henry Nguyễn tham gia vào nhóm tài phiệt này. Anh rể Henry là Thomas sau đó lập một công ty viễn thông để làm ăn với VN mang tên VITC từ năm 2002, quan hệ móc nối rất chặt với các quan chức bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Thông tin Truyền thông) và tập đoàn VNPT. Lúc đó Nguyễn Bang là Chủ tịch VITC, Thomas Cornor là Tổng giam đốc còn Henry làm Giám đốc kinh doanh. Ngay từ những ngày đầu vào VN làm ăn, gia đình này đã đặt mục tiêu phải tiếp cận, móc nối và cấu kết với các quan chức cấp cao nhất của Chính phủ VN.
Sau đó, cách đây gần 3 năm, Henry bỗng dưng nổi lên làm Tổng Giám đốc quỹ đầu tư IDG Venture tại VN với số vốn 100 triệu USD (mới tăng thêm 200 triệu). Điều này làm người ta đồn đoán rằng tiền này thực chất đến từ gia đình Cornor và Nguyễn Bang dù rằng nó mang danh nghĩa của IDG. Cũng có thể IDG huy động vốn từ gia đình Henry cho việc đầu tư tại VN. Quỹ này chuyên đầu tư mua các công ty tại VN và có quan hệ làm ăn rất chặt chẽ với quỹ Viet Capital do cô Phượng, con gái của Thủ tướng làm chủ. Kết quả cuối cùng của sự phối hợp này thì giờ các bạn biết rồi, Herny và Phượng vừa cưới nhau. Sau khi làm thông gia với Thủ tướng, gia đình Nguyễn Bang lại được chấp thêm cánh, trở thành một thế lực mạnh trong giới tài phiệt Mỹ làm ăn tại VN. Ông ta đang liên tục "rao giảng" lợi thế này bên Mỹ.
Về phía Thủ tướng, chắc ông ta cũng cần cuộc hôn nhân này để củng cố cho thế lực của mình, nhưng điều này đang trở thành vấn đề mà các đối thủ trong nội bộ của ông chơi lại ông. Theo một qui định lâu đời của Đảng, Đảng viên không được phép cho con kết hôn với những gia đình có dính trực hệ 3 đời đến "Ngụy" quyền. Qui định này gần đây trở nên mờ nhạt và ít ai tuân thủ nhưng vẫn chưa có quyết định nào xóa bỏ giá trị của nó. Do vậy việc con gái mình lấy con trai 1 cựu quan chức cao cấp của "Ngụy" quyền đang trở thành 1 nguy cơ tấn công vào Thủ Tướng. Hiện nay chưa nổi lên các chiến dịch tấn công rõ ràng nhưng sóng ngầm bên trong đang phát triển, chưa biết sẽ diễn tiến thế nào.
Skarlor post lại từ nguồn: Change We Need blog
__._,_.___
Con rễ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là Henry Nguyễn (tên tiếng Việt là Nguyễn Bảo Hoàng), là con trai cưng của Nguyễn Bang, nguyên là một thứ trưởng của chính quyền Sài Gòn trước 1975. Cả gia đình Nguyễn Bang đã lên đường rời VN chỉ vài ngày trước 30/4/75 và định cư ở Mỹ ngay sau đó ở bang Chicago. Chị của Henry là 1 cô gái đẹp và lấy chồng là con trai 1 gia đình tài phiệt Mỹ tên là Thomas Cornor, kể từ đó gia đình Nguyễn Bang và Henry Nguyễn tham gia vào nhóm tài phiệt này. Anh rể Henry là Thomas sau đó lập một công ty viễn thông để làm ăn với VN mang tên VITC từ năm 2002, quan hệ móc nối rất chặt với các quan chức bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Thông tin Truyền thông) và tập đoàn VNPT. Lúc đó Nguyễn Bang là Chủ tịch VITC, Thomas Cornor là Tổng giam đốc còn Henry làm Giám đốc kinh doanh. Ngay từ những ngày đầu vào VN làm ăn, gia đình này đã đặt mục tiêu phải tiếp cận, móc nối và cấu kết với các quan chức cấp cao nhất của Chính phủ VN.
Sau đó, cách đây gần 3 năm, Henry bỗng dưng nổi lên làm Tổng Giám đốc quỹ đầu tư IDG Venture tại VN với số vốn 100 triệu USD (mới tăng thêm 200 triệu). Điều này làm người ta đồn đoán rằng tiền này thực chất đến từ gia đình Cornor và Nguyễn Bang dù rằng nó mang danh nghĩa của IDG. Cũng có thể IDG huy động vốn từ gia đình Henry cho việc đầu tư tại VN. Quỹ này chuyên đầu tư mua các công ty tại VN và có quan hệ làm ăn rất chặt chẽ với quỹ Viet Capital do cô Phượng, con gái của Thủ tướng làm chủ. Kết quả cuối cùng của sự phối hợp này thì giờ các bạn biết rồi, Herny và Phượng vừa cưới nhau. Sau khi làm thông gia với Thủ tướng, gia đình Nguyễn Bang lại được chấp thêm cánh, trở thành một thế lực mạnh trong giới tài phiệt Mỹ làm ăn tại VN. Ông ta đang liên tục "rao giảng" lợi thế này bên Mỹ.
Về phía Thủ tướng, chắc ông ta cũng cần cuộc hôn nhân này để củng cố cho thế lực của mình, nhưng điều này đang trở thành vấn đề mà các đối thủ trong nội bộ của ông chơi lại ông. Theo một qui định lâu đời của Đảng, Đảng viên không được phép cho con kết hôn với những gia đình có dính trực hệ 3 đời đến "Ngụy" quyền. Qui định này gần đây trở nên mờ nhạt và ít ai tuân thủ nhưng vẫn chưa có quyết định nào xóa bỏ giá trị của nó. Do vậy việc con gái mình lấy con trai 1 cựu quan chức cao cấp của "Ngụy" quyền đang trở thành 1 nguy cơ tấn công vào Thủ Tướng. Hiện nay chưa nổi lên các chiến dịch tấn công rõ ràng nhưng sóng ngầm bên trong đang phát triển, chưa biết sẽ diễn tiến thế nào.
Skarlor post lại từ nguồn: Change We Need blog
__._,_.___
Subscribe to:
Posts (Atom)
Blog Archive
-
▼
2026
(1837)
-
▼
July
(326)
- Tổng Thống Donald TrumpHôm nay tôi cuối cùng đã hi...
- Sử Dụng Chung Cư Có Thời Hạn | Bắt Khám Sức Khoẻ Đ...
- "Những Thay Đổi Ở Tuổi 73" Tôi, Trần Văn Giang, bắ...
- F4 năm xưaCâu chuyện về chiếc máy bay F-4 đẩy một ...
- Người Tài Xế Xe Tải Xăm Trổ Và Mạng Lưới Thiên Thầ...
- Mậu Thân và Thầy chùa thiên mụÔng là thầy chùa ở T...
- “AI “ CƯỚP VIỆC? VẬY TƯƠNG LAI ĐI VỀ ĐÂU?Mười năm ...
- NHỮNG KẺ BÁN LINH HỒN CHO QUỶ !Khi ông Trump vận đ...
- Cha con 'vua rác' David Dương và các phi vụ tai ti...
- Mạng lưới lừa đảo vừa từ Cambodia qua Malaysia lập...
- David Schertler, một trong nhóm khoảng nửa tá luật...
- 20 năm sau vụ ngoại tình chấn động California, hôm...
- Tân tổng thống của Peru, bà Keiko Fujimori vừa tuy...
- Cơ quan Thuế quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ (CBP)...
- Thị trưởng New York cho công khai địa chỉ và danh ...
- Mặt dầy?Quân Alameda - nơi hội đồng quận vừa...
- CHUYỆN TÔI CHỤP CỔ VẬT CHAMPA30 năm trước -hàng xó...
- “Bị kẻ ngu ghét bỏ đôi khi chỉ là cái giá phải trả...
- Tổng thống Donald Trump và nữ phóng viên Kaitlan C...
- Lừa đảo ở Cambodia52 người Việt bị bắt tại Cambod...
- TÔN TRUNG SƠN GẶP TỐNG KHÁNH LINH VÀ THỐT LÊN CÂU ...
- Phó Thống đốc Dân chủ đương nhiệm của Hawaii, bà S...
- DÂN BIỂU THOMAS MASSIE HỢP TÁC VỚI ĐẢNG DÂN CHỦ TH...
- "Cực hữu" hoá ra lại bình thường, đôi khi còn "dễ ...
- FOOTSCRAY, MelbourneKhu ngoại ô nổi tiếng của Melb...
- Vì Sao Tôi Viết "Mỳ Quảng" Mà Không Viết "Mi...
- Quyền sở hữu trí tuệ Khác với mấy tháng trước, nay...
- NỖI ĐAU TUỔI XẾ CHIỀUỞ đây, chúng ta không bàn chu...
- NHỚ TÔ MÌ ‘THẤT NGHIỆP’ Ở TÂN ĐỊNH, SÀI GÒN XƯA1.T...
- LEAGUE CITY: CẢNH SÁT TÓM GỌN ĐƯỜNG DÂY TRỘM CẮP H...
- NHẬT KÝ CỦA THỊ NỞChủ nhật, mới 6 giờ kém, còn đan...
- Ba tháng trước — ngày 25 tháng 4 năm 2026.Một sự k...
- 5 tách cà phê: bạn sống thêm bao lâu?Là người uống...
- TỶ PHÚ KỸ THUẬT NAM HÀN CÓ THỂ PHẢI TRẢ GẦN $1 TỶ ...
- Tin VắnFB Le Hoang- Nghe dân biểu Harriet Hageman...
- Đại chủng viện Thánh Giuse Sài GònNằm bên trong Đạ...
- Niềm tinHồi nhỏ mình chơi coins thì nghe người ta ...
- Những Lá Thư Không Bao Giờ Đến Trước đây, mỗi lần ...
- Gian lận bầu cửGian lận bầu cử không chỉ ri...
- GIÁO CHỦ MỚI IRAN NGUY HIỂM HƠN CHA? HỒ SƠ BIDEN V...
- NỘI CHIẾN BẮC NAM TẠI TRẠI TỊ NẠN HONG KONG…1- Hươ...
- THẬT RA ÔNG TRUMP KHÔNG TỐT NHƯ MÌNH ĐÃ NGHĨĐó giờ...
- Bước chậm lại giữa nhân gian vội vãĐể mang đến hạn...
- Đàn BàTôi đi chợ về với nét mặt bơ phờ xơ xác chồn...
- Inside the Underground Movement to Restore the Rep...
- Cựu Giám đốc FBI Comey lặng lẽ hợp tác với tư cách...
- 11 NGƯỜI BỊ TRUY TỐ LIÊN BANG SAU CÁI CHẾT CỦA 7 D...
- Từ hôm nay, 24/07/2026, Mỹ chính thức áp 12.5% lên...
- Các hoạt động lừa đảo tại CambodiaThủ tướng Hun Ma...
- Giám đốc FBI Kash Patel qua Bắc Kinh"Tôi đã trở lạ...
- Woman who fled communism ERUPTS at DSA leader - Ca...
- Tin VắnFB Le Hoang-Tổ chức realamerica.vote đưa...
- Patriot Says Americans Pay… While Illegals Come First
- Hoa Kỳ khẳng định vai trò chiến lược tại Đông Nam ...
- Ngoại trưởng Marco Rubio vừa chính thức công bố ch...
- Ngành đi lừaHôm qua, ngày 21 tháng 7, Liên Hợp Quố...
- Một Ngày Trong Đời Của Ông JohnbNăm 2050Lúc bấy gi...
- HAI Ổ BÁNH MÌCó những cuộc gặp gỡ chỉ kéo dài vài ...
- Phi công Hải Quân Hoa Kỳ Dieter Dengle - 23 ngày t...
- TÔI CHÍNH THỨC TRỞ THÀNH CƯ DÂN ARIZONA!Từ sau cơn...
- Bài học Na Uy: Câu chuyện "hũ gạo" và tầm nhìn xuy...
- NẾU MỸ XẾP THỨ HAI...THÌ TÔI THẬT SỰ KHÔNG BIẾT AI...
- Siết Chặt Thẻ Xanh | Mỹ Quýnh Sập Cầu Huyết Mạch V...
- NGUYỄN TẤT NHIÊN - THI SĨ TÀI HOA BẠC MỆNH…Nguyễn ...
- Susan Kokinda: Globalism Must Die
- VỀ CÁI CHẾT CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGSau một phần t...
- NHỮNG ĐOẠN ĐƯỜNG TỪ TRONG HỒI ỨCTưởng nhớ LÊ MINH ...
- To Kill A PriestĐó là tựa đề của một cuộn phim do ...
- Chế độ quái ácTại Việt Nam ngày nay, những người x...
- "Cô Độc Phong Sát": Phong Thủy Làng Phong Cùi - Là...
- Tin VắnFB Le Hoang- 2 vụ án nhưng kết quả kha...
- Philippines và Trung cộng mới đụng độ tại Bãi Cỏ M...
- Hai anh em người Ấn Độ "tự nộp mình" khi cả gan đế...
- Mục sư Ezra Jin Mingri (Kim Minh Nhật) và gia đình...
- Đại học Harvard bị điều traPhụ tá Tổng chưởng lý b...
- Một Cái Tên Xuất Hiện Trong Hồ Sơ, Và Cách Người T...
- CHA ƠI!Cha ơi! Tiếng gọi cha trong vô vọng, có chú...
- PhiếmHôm trước đi ăn với thằng bạn, nó kể chuyện. ...
- GIỌT MÁU ĐÀOMỗi thứ Tư chồng tôi lại rời nhà đi từ...
- NĂM CHỊ EM GÁIHồi xưa từ Sài Gòn qua California ở ...
- THẦN TƯỢNG MỘT NGƯỜI KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ PHẢI HẠ THẤ...
- Tại sao phim đề tài Miền Nam nhưng tâm lý và văn h...
- Ba Kẻ Đối Đầu, Một Kẻ Đáng SợTháng 9 năm 1780, bên...
- THƯỢNG ĐẾ CỦA SPINOZAKhi A. Einstein giảng bài tại...
- CHUYỆN TÌNH CỦA “NGÔI SAO TỬ TẾ NHẤT THẾ GIỚI” - K...
- NGƯƠÌ PHI CÔNG TRỰC THĂNG NỔI TIẾNG( Chuyện thật đ...
- Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hôm nay 20/7/2026, công bố mộ...
- Cảnh sát Anaheim, Quận Cam mới tịch thu gần 1 tấn ...
- Bắt tại chỗ một tên vừa tấn công văn phòng thực đị...
- Mamdani đòi bắt Thủ tướng Netanyahu. Ngựa non háu ...
- CHUYỆN DÀI NGÔN NGỮ MIỀN NAM ĐÃ DẦN BỊ BẮC CỘNG HÓ...
- Tin VắnFB Le Hoang- Hai quân nhân Hoa Kỳ ở Jordan...
- ĐỘI VÔ ĐỊCH WORLD CUP 2026 SẼ NHẬN $51 TRIỆU MỸ KI...
- NGƯỜI KHÁCH ĐI XETrung chạy xích lô cũng hơn ba n...
- Ngôi Nhà Tuổi Thơ Của Tổng Thống Donald J. Trump Đ...
- Ngôi chùa không mái(Phóng tác theo chuyện kể của b...
- TƯỞNG NIỆM 70 NĂM BÀ “CÁT HANH LONG”- NGUYỄN THỊ N...
- TÀN TRO DƯỚI GÓT CHÂN TRẦN(Lời nói đầu: đây là 1 c...
- World Cup do Mỹ cùng đăng cai đông vui nhất lịch s...
- Marco Rubio: Nước Mỹ sẽ không còn phớt lờ mối đe d...
- Kể chuyện trị bệnh tuyến giápCó lần mình bị đau cổ...
- Bầu cử gian lậnNhiều chuyện bầu cử gian lậ...
- Flock camera và Palantir softwareFlock Camera là...
- Thanh niên Công giáo Pakistan Akash Bashir và “Hồ ...
- Nghệ sĩ bất đồng chính kiến nổi tiếng người Cuba L...
- ĐIỀM BÁONăm 1972, mùa gió chướng thổi dọc sông Tiề...
- Ký Ức Pulau BidongĐã hơn 45 năm trôi qua kể từ ngà...
- PHÓ TỔNG THỐNG JD VANCE CẢNH BÁO CHIẾN TRANH TOÀN ...
- Thống tướng Douglas MacArthur có công lao thế nào ...
- CIA cố tình giấu Tổng thống Trump thông tin về sự ...
- DỌN NHÀ RA SÂN BÁN "VE CHAI", AI NGỜ KIẾM ĐƯỢC CẢ ...
- TRUNG QUỐC BẮT GIỮ NHÀ KHOA HỌC MỸ VÌ "CHIẾC CHÌA ...
- Mỡ heoMỡ heo bị đẩy ra khỏi nhà bếp không phải vì ...
- Tổng thống Trump vừa đăng lại bài phát biểu của JF...
- TUỞNG TUI MUỐN SỐNG LẲM HẢ?Ðang chạy ngon lành trê...
- Xôi ĐậuQuê tui ở Long An - cái xứ mà trời đất cũng...
- ĐÈO HẢI VÂN – CHÚNG TA ĐANG LÀM GÌ VỚI THIÊN NHIÊN...
- Bắc Kinh vừa giáng một đòn phản bội địa chính trị ...
- Một kỷ niệm đẹp ở CaliforniaMùa thu năm 1992 hai a...
- Dòng Đời Đưa ĐẩyPhan Thanh Tâm nguyên là một ký gi...
- TẠ ƠN PULAU BIDONG - HÒN ĐẢO CƯU MANG NHỮNG MẢNH Đ...
- Người Mỹ gốc ViệtTheo số liệu Cục Thống kê Dân số ...
- BẠN ĐÃ SẴN SÀNG CHƯA? Vì tối nay, tâm điểm sẽ là P...
- TẠI SAO TÔI YÊU NƯỚC MỸMột anh bạn ngoại quốc hỏi:...
- Chiều muộn, cơn mưa vẫn kéo dài.Trong căn nhà nhỏ ...
- HẬN THÙ KHÔN NGUÔIChúng ta thường tiếc nuối những ...
- Có những người đi ngang cuộc đời mình nhanh như cơ...
- Văn hóa NhậtNgười Nhật không kết hôn, không sinh c...
-
▼
July
(326)