Vô Nam: Chuyến Đi Định Mệnh
Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC
Không gian: thành phố Hà Nội. Thời gian: sau Hiệp định chia đôi đất nước năm 1954. Nơi chốn: khu dân cư ở Hàm Long, không cách bao xa với nhà thờ Hàm Long.
Khi tôi đang làm hai quả trứng chiên định ăn cho xong bữa tối thì anh chị Dục về.
Anh Dục vừa bằng tuổi anh Lân tôi, còn chị thì trẻ hơn vài ba tuổi. Anh chị lấy nhau đã lâu nhưng chưa có đứa con nào. Anh Dục làm thư ký vật liệu cho một toà báo Pháp từ khi anh chị bỏ vùng Vẹm vào thành tức khoảng năm 1950. Ăn tiêu chẳng bao nhiêu mà người Pháp trả lương cũng khá nên chị Dục chỉ ở nhà nấu nướng và làm việc vặt, mình anh đi làm cũng dư dả.
Mỗi thứ bảy hoặc chủ nhật, các bà Sơ (Pháp và Việt) từ nhiều dòng tu ở Hà Nội vào các nhà thương Bạch Mai, Saint Paul v.v...săn sóc các thương bệnh binh của quân đội Pháp và quân đội Quốc gia (lúc đó thuộc quyền Quốc trưởng Bảo Đại) thì chị Dục cùng đi với các Sơ thay băng, tắm rửa, cho ăn, cho uống hoặc ngồi chuyện trò cho các thương bệnh binh này có thêm nguồn an ủi vì y tá và các phụ y tá không mướn đủ.
Nhiều nữ sinh Hà Nội đã theo các bà Sơ đi làm công tác thiện nguyện này, không thiếu trường hợp kẻ đi săn sóc lại hạp nhãn với mấy anh thương binh. Thế là sau khi thương tích tạm lành, một đám cưới xẩy ra. Người làng tôi, anh Đạc đi Nhảy Dù quân đội Quốc gia bị thương về nằm Saint Paul rồi cũng lấy một cô. Năm 1954, hai người vào Nam sinh một đàn con ở trong Nam.
Chị Dục vào trong bếp, hỏi tôi:
“Chú Vũ làm cái gì đó?”
“Anh chị mới về? Em đang tính làm vài cái trứng gà au plat ăn với bánh mì cho xong bữa. Em đã vào tiệm phở Hàm Long mà buồn quá, lủi thủi có một mình, lại ra về.”
“Tôi có gà luộc và phở gà. Chú đừng chiên trứng nữa, ngồi ăn với chúng tôi cho vui.”
Trong khi anh Dục đi tắm thì tôi phụ chị hâm nồi nước dùng, chặt con gà sống thiến khá béo, rửa húng cây, thái hành ngò, lá chanh, nấu nước trụng bánh phở vì chị có đủ thứ.
Bia Ô-mền còn lại hai chai lại có nước đá, tôi với anh Dục chén chú chén anh. Thịt gà sống thiến ở Hà Nội lúc đó phải nói rằng tuyệt. Nó là gà rẫy, nuôi bằng cám với bột ngô, thịt rất thơm ngon, gà mái dầu Tây Ninh sau này ở trong Nam cũng ngon nhưng vẫn thua. Những năm đó, khác hẳn với bây giờ ở Hoa Kỳ, gà, vịt, lợn phải béo ăn mới ngon; không ai sợ mỡ. Đình đám ở nhà quê và ngay cả ở thành phố, thợ cỗ thái thịt lợn luộc chỉ có 20% thịt còn toàn là mỡ, ai nấy thưởng thức tận tình bởi cả năm ít được ăn thịt.
Thức ăn ngon nhưng bữa ăn vẫn thế nào! Có lẽ cả hai anh chị Dục và tôi đều nghĩ rằng đây là bữa chót ăn tại Hà Nội và chẳng bao giờ còn ngồi ở Hà Nội mà ăn một bữa cơm như thế này nữa.
Người Quốc gia lúc đó, trong đó có cả người Pháp, hay nói cho rõ hơn là những người không Cộng sản, đã thua và phải đi. Lính Lê dương, lính Pháp trong binh đội Pháp lúc đó, không phải người nào cũng là lính đánh thuê. Rất nhiều người có lý tưởng là phải tận diệt Cộng sản vì Cộng sản gieo rắc đói khổ, dã man, hung tàn và tam vô. Tôi đã nói chuyện với vài người lính Lê Dương. Họ bảo:
“Chúng tôi cũng có lý tưởng chứ. Chúng tôi muốn giúp dân Việt Nam sống yên bình với Dân chủ, Tự do Hạnh phúc, Văn Minh, Tiến bộ. Muốn thế phải diệt trừ Cộng sản mà Hồ chí Minh là lãnh tụ. Nhiều đồng đội của chúng tôi bị bắt, bị tra tấn, chết đi sống lại. Họ dã man vô cùng, không tuân theo một định ước quốc tế nào về tù binh. Họ bán tù binh cho Trung cộng, cho Liên Sô để những nước này khai thác tin tức và hành hạ dã man. Chúng tôi đã biết Cộng sản là thế nào khi họ xâm chiếm Tiệp khắc, Lỗ ma ni, Hung gia Lợi, Ba lan và nhiều nước nhỏ xung quanh Liên Sô... Cộng sản còn tàn độc hơn Phát xít Hitler và quân phiệt Nhật.
Trong bọn chúng tôi cũng có những tên lính làm bậy nhưng chúng hành động vì thiếu thốn sinh lý (quân đội nào chẳng thế). Ngay bọn Việt Cộng cũng có kẻ túng quá hiếp dâm gái quê. Nhưng lính Pháp chúng tôi không bắn bậy người dân bao giờ nhất là không lấy tài vật của ai trong khi quân đội Việt cộng thì bắn bừa bãi, coi sinh mạng người dân như cỏ rác, hơn nữa hễ có dịp là bất cứ tài vật nào chúng cũng lấy hoặc phá cho tan tành.”
Đấy là những lời tố cáo thẳng thắn của các lính Pháp thời gian được đưa sang Việt Nam đánh nhau với Việt Minh từ 1945 đến 1954.
Tôi không biết những luận điệu này các báo Pháp có khai thác không chứ báo chí của người Việt Quốc gia thì không. Chính vì vậy, một đứa trẻ nít cũng chê ngành tuyên truyền chiến tranh chính trị, tâm lý chiến của người Việt Quốc gia. Hai mươi mốt năm ở miền Nam, 80% những người này chỉ cố đào sâu những “Cậu chó, Chú Tư Cầu (Lê Xuyên), Mười đêm ngà ngọc (Mai Thảo), Yêu nhau bằng mồm (Hoàng hải Thuỷ), Vòng tay học trò (Nguyễn thị Hoàng, Một ngày của Nhã (?), Mèo đêm (Thuỵ Vũ), Loan mắt Nhung (Nguyễn thuỵ Long)...” và rất nhiều tiểu thuyết khác (trong đó có cả Kim Dung, văn sĩ Tàu), cũng như những dòng Thơ tình ái làm băng hoại tinh thần thanh niên:
Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi vui với ai?
Hoặc là:
Anh đợi em từ ba mươi năm
Uổng hoa phong nhuỵ hoài trăng rằm!
Vũ hoàng Chương
Người Việt Nam theo Tàu với cái học cử nghiệp, kỹ thuật dốt nát, thuốc men kém cỏi, lý sự cùn (ngày nay vẫn còn y, chỉ quen phét lác một tấc đến trời) tuổi thọ trung bình chỉ được hơn 50, đợi em đến 30 năm là quá nửa đời người, đợi để làm cái gì đây? Nhưng những tư tưởng bá láp đó nhập nhiễm vào đầu óc thanh niên nam nữ, nhất là trong giai đoạn chiến tranh, thật tai hại vô cùng!
Nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà đông...
Nhưng xa nhau mà không bảo gì nhau...
Nguyên Sa
Thương thương, nhớ nhớ, mơ mơ màng màng, day dứt (chứ không phải da diết) với những mối tình dang dở, ngụp lặn trong bể dục, bể hiện sinh bất cần đời, nhắm mắt trước chiến cuộc ác liệt mỗi ngày bao nhiêu người trai nằm xuống, những văn sĩ, thi sĩ này (nếu chúng ta có thể gọi họ là văn, thi sĩ) thật đắc tội với đất nước dân tộc. Ngay thời bình, xuất bản những Cậu chó, chú Tư Cầu, Vòng tay học trò, Mười đêm ngà ngọc...cũng còn phải thận trọng vì ảnh hưởng tai hại của chúng cho lớp trẻ con cháu mình.
Đại khái một đoạn văn tiêu biểu của ông Mai Thảo:
“Hơn 11 giờ trưa mình mới mở được mắt ra. Đêm qua nhảy với chàng về khuya quá, hơn hai giờ sáng chàng mới đưa về tới nhà, chàng lại đòi vào nhà, lại uống thêm một chầu nữa, chàng ép mình uống với chàng mặc dầu ở Lệ Uyển mình có uống vài ly rồi. Chàng đòi ngủ lại, thế là hai đứa lại mê đi trong trận bão tình tơi bời hoa lá...lúc ngủ thì đã gần sáng.
Chàng đã dậy và về lúc nào mình ngủ say không biết!
Hôm nay phải mặc cái áo dài nào đây?
Mất miền Nam vì sao? Vì chính những cái đó cũng như hiện tại, Việt gian Cộng sản chỉ muốn Người Việt ở hải ngoại sao lãng chuyện chống Cộng cho chúng nhờ nên chúng rất thích người Việt xem hết cuốn DVD này đến cuốn DVD khác của Thuý Nga Paris, nghe ông MC Ngã ba ông Tạ (danh từ của ông NS Nguyễn văn Chức) thuyết minh về bông lúa đỏ và trực thăng của quân đội Mỹ đang xả đại liên vào đoàn người chạy trốn trên đường.
Từ những sự việc nhìn thấy, ta có thể kết luận rằng rất đông người miền Nam CH khi xưa nay rất dễ tính, dễ quên và dễ chịu nhục, nhất là các ông HO đã mô tả bên trên.
Dễ tính đến nỗi ngày nay, ở hải ngoại vẫn có những cây viết tự nhận là Phê bình Văn học, lôi Cậu chó, Chú Tư Cầu, Vòng tay học trò ra mà tung hô vạn tuế chẳng biết ngượng là gì đến nỗi Truyện ngắn Bóng đè cũng nhào vào khen lấy khen để. Đúng là một bọn mù, nếu không mù thì ăn tiền của Cộng sản viết để ca tụng văn học XHCN thối tha của chúng hoặc để đánh lạc hướng những mũi dùi đang đâm vào mặt bọn chóp bu do những hành động bán biển dâng đất cho Tàu phù của chúng.
Quá truỵ lạc và sa đoạ đến nỗi Việt gian cộng sản bảo thi sĩ Vũ hoàng Chương, con chim đầu đàn của Văn học Nghệ thuật miền Nam trong 21 năm, khi ông trình diện đi tù (cải tạo):
“Thơ văn của anh chỉ để đầu độc quần chúng”
Nhà văn, nhà báo trong vùng Quốc gia (tức miền Nam) trong 21 năm từ 1954 đến 1975, (ngoại trừ vài tờ báo của Quân đội và các Nha Tuyên Uý Phật giáo, Công giáo, Tin Lành) bảy, tám mươi phần trăm đã chẳng đóng góp vào công cuộc chống Cộng cấp bách và cần thiết để sống còn (cho chính bản thân mình và gia đình mình) nhưng chỉ tìm cách bươi móc, vu khống, bôi nhọ chính quyền người QG của mình, có khi ra mặt ủng hộ bọn Cộng sản không hiểu vì ăn tiền của chúng, vì là tay sai của chúng hay bị chúng lừa. Đó là những kẻ “ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng sản” vô liêm sỉ và hèn hạ. Chúng rất dễ dàng vào phe với những kẻ biểu tình phá rối (Ngô bá Thành, ni sư Huỳnh Liên, bọn trốn quân dịch ở chùa Ấn quang cùng CS giả dạng nhà sư Thích trí Quang), chúng rất dễ dàng đâm những nhát dao chí tử vào lưng Quân lực VNCH đang ngày đêm đi truy lùng giặc Cộng bảo vệ an ninh cho chính những nhà văn nhà báo này và dân chúng.
Ba tờ nhật báo ở Sàigòn: Đại dân tộc của Võ long Triều, Tin Sáng của Dân biểu CS nằm vùng Ngô công Đức và Điện tín, DBCS nằm vùng Lý quý Chung chủ trương, là ba tờ báo của Cộng sản. Cộng sản dùng ba tờ này đánh phá chính phủ và QLVNCH tơi bời bằng những thêu dệt, vu khống nhưng những người ngày nay nghèo mạt rệp do VC vào bóc lột đến tận xương tuỷ, thí dụ giới xích lô, ba gác v.v...lại thích đọc những tờ báo CS chửi chính phủ QG như thế! Tên Huỳnh bá Thành (hoạ sĩ Ớt) chuyên vẽ biếm hoạ cho tờ Đại dân tộc chính là một Trung tá công an CS. Y thường vào Hạ Viện VNCH lấy tin, anh em Dân biểu chúng tôi đều nhẵn mặt y nhưng lúc ấy không ai biết y là trung tá công an CS, cơ quan tình báo của tướng Nguyễn khắc Bình và An ninh quân đội của Đỗ Mậu vẫn nằm ngủ chẳng biết gì ngoài việc lĩnh lương và hưởng mọi đặc quyền đặc lợi của miền Nam.
Dân oan ngày nay đi khiếu kiện bị mất nhà, mất đất có thiếu gì những kẻ xưa kia đã giấu diếm cán binh VC trong nhà, nuôi chúng ăn cho béo để chúng đánh lại QLVNCH. Ngày nay chúng trả ơn đích đáng!
Có những tên nhà báo thiên CS hoặc tư thù viết liên tu bất tận rằng anh em ông Ngô đình Diệm gia đình trị, không cần biết đúng hay sai. Họ bị chính những tên CS nằm vùng như Lý quý Chung, Ngô công Đức, Nguyễn đắc Xuân, Phan xuân Huy, Nguyễn văn Binh...cho vào xiếc. Họ tự cầm dao chặt tay chặt chân mình. Việt cộng vào thì họ què cụt và nhiều kẻ phải chết, có khi chết vẫn chưa hiểu ra hậu quả việc mình làm! Nhà báo Chu tử chết vì đạn pháo kích của Việt cộng khi ông đang ở trên con tầu Việt Nam Thương tín trên sông Sàigòn ngày 30-4-75, nhưng khi còn làm báo Sống, ông vẫn viết và để cho những thân hữu của ông là bọn CS nằm vùng hoặc thiên Cộng viết bài đả kích nặng nề chính quyền miền Nam.
Những tạp chí Văn, Sáng tạo của Mai thảo, Thanh tâm Tuyền, Doãn quốc Sỹ, Nguyễn sĩ Tế, Trần thanh Hiệp...ngoài những bài Văn, Thơ phản chiến còn xúi đám thanh niên trốn quân dịch, thơ sầu đời, chán đời, làm thui chột dũng khí của thanh niên đến tuổi tòng quân diệt giặc.
Tên nhạc sĩ Trịnh công Sơn là một tay sai đắc lực cho CS, khỏi cần nêu ra, bạn đọc cũng dư biết những bản nhạc phản chiến y viết cho những ca sĩ ngô nghê vô ý thức hát đêm hát ngày trên đài phát thanh Sàigòn. Anh nhạc sĩ già mất nết họ Phạm cũng có vài bài, nay chán cơm Mỹ thì về lòn trôn CS chơi, kiếm gái nhí, may ra chúng vứt cho cái xương cái xẩu cũng tương tựa tên liếm trôn, bợ dái Nguyễn cẩu Kỳ.
Tóm lại, ở một thời đại mà người Quốc gia miền Nam phải chống nhau với VC sinh tử để sống còn lại đẻ ra một đám nhà văn, nhà thơ no ăn rửng mỡ và thiển cận này chỉ sản xuất ra những đống rác hôi thối, khăm khẳm mùi hôi nách và son phấn của gái nhảy, mùi thuốc phiện, mùi huýt-ki, đem những rác rến hôi thối đó vào trong những bài tuỳ bút, truyện dài, truyện ngắn, thơ (đa phần là thơ vô nghĩa) dựng lên bảo rằng đó là văn chương hiện sinh để đầu độc giới trẻ, cũng không khác bao nhiêu với truyện “Bóng Đè” của Đỗ hoàng Diệu hiện nay ở Hà Nội mà hàng trăm Nhà Văn Bắc Việt hồ hởi hô hoán lên rằng đó là Văn học Nghệ thuật chính hiệu bà lang Trọc!
Thực sự nó chỉ là một đoạn văn khiêu dâm, loạn luân bỉ ổi chưa từng thấy trên Văn đàn quốc tế. Nếu Văn học Nghệ thuật của một quốc gia mà chỉ có bấy nhiêu với những câu khen Hồ tặc và khen đảng gẫy lưỡi từ một em bé thi vào lớp 6 thì ôi thôi, nền văn hoá văn học của quốc gia ấy đã phá sản y như thị trường chứng khoán và trị giá đồng bạc Việt Nam vài tháng nay.
Nửa thập niên 70, mỗi ngày hàng chục, có khi hàng trăm chiếc quan tài phủ cờ vàng chở vào nghĩa trang Quân đội Biên Hoà và Hạnh Thông tây nhưng các văn, thi sĩ này thì vẫn ngụp lặn trong những ao hồ đầy xú uế của dâm ô, thơ văn vô nghĩa và dăm ba câu triết hiện sinh của Nietzche, Camus, Sartre, Sagan v.v... vô cùng sa đoạ trong khi cuộc chiến 1954-1975 là một cuộc chiến sinh tử, một mất một còn với Cộng sản mà bất cứ công dân nào, từ già đến trẻ, từ trí thức đến bình dân thảy đều có trách nhiệm tuỳ theo tuổi tác và chức nghiệp.
Đó cũng là lỗi của ông tướng Trần văn Trung, quá tầm thường về kỹ thuật chiến tranh tâm lý, đã chỉ hưởng tối đa phúc lợi quyền cao chức trọng của miền Nam, của quân đội mà ngốc nghếch ngây ngô như một thằng mán về thành phố, mới nên cớ sự.
Ở miền Nam thì thế, còn miền Bắc thì sao?
Đấy cũng chính là thời kỳ ở ngoài Bắc Việt văn nghệ sĩ (80-90%) đang làm tôi mọi cho Nga-Tàu, đứng đầu là Tố Hữu, Chế lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận. Chúng ta hãy nghe vài câu của Tố Hữu:
Giết giết nữa bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít ta lin bất diệt!
Và:
Thương biết mấy nghe con học nói
Tiếng đầu lòng con gọi Xít ta lin
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười!
Xít ta lin! Xít ta lin! Đời đời cây đại thụ!
Rất sơ sài (bởi loạt bài này đã dài), tôi đã trưng lên hai hình ảnh của Văn học nghệ thuật hai miền Nam-Bắc thời kỳ 54-75.
Một bên là những tên rượu chè, thuốc phiện, gái điếm, dâm ô, sa đoạ, trốn lính... không còn biết trời đâu đất đâu đến nỗi mất cả nước mà vẫn như mơ ngủ, đi trình diện tù cải tạo cũng còn muốn mang theo cái bàn đèn thuốc phiện, sang đến Mỹ còn khoe là tôi viết tuỳ bút không ai bằng! Chẳng biết nhục là gì cũng chẳng biết vì sao mà mất nước?
Bên kia là những tên nô lệ đói rách quì mọp mà liếm trôn Tàu-Nga mất hết nhân cách con người trong khi vẫn hách xì xằng với đồng bào, vẫn trù dập người có tinh thần yêu nước nhưng không cùng thờ Mác-Mao với chúng.
Đó là hình ảnh giới làm VHNT nước ta ở hai miền Nam-Bắc 21 năm mà giới này chính là giới trí thức, cái bộ não của quốc gia. Mất nước như ngày nay với Tàu đỏ cũng đúng thôi!(Mời vào vnfa.com, Thảo luận với Võ văn Kiệt và Góp ý với Bùi Tín, cùng tác giả.)
Cứ xem như hiện tại, có thiếu gì những cấp Tá, Uý trở thành HO, xưa kia đi tù cải tạo gần táng mạng (nhiều kẻ đã bỏ thây nơi rừng thiêng nước độc), được VC tha cho về, được người Mỹ cưu mang cho sang Hoa Kỳ định cư, cả gia đình sung sướng tưởng như được lên Niết bàn. Ấy vậy mà chỉ có mấy năm, no ăn rửng mỡ, có chút tiền già, tiền bệnh (có kẻ khai gian) lại rủ nhau về Việt Nam khúm núm lễ phép chào hỏi và nịnh bợ từ thằng công an, thằng phường trưởng mà đi.
Số HO ấy không ít, có những kẻ đi đi về về cả năm, bảy lần, mười lần, đi về như đi chợ, về làm ăn với Cộng sản. Lẽ dĩ nhiên rừng nào cọp đó, muốn được mọi sự dễ dãi phải đút lót, mời ăn, thưa gửi lễ phép với những thằng VC chỉ đáng tuổi con, tuổi cháu mình.
Một tên trước kia là Trung tá, Lý KV, xuất thân từ trường Đà lạt, về nịnh bợ làm ăn với VC từ khi Mỹ bỏ cấm vận thập niên 90. Có những tên già đem tiền về mua gái trẻ đáng tuổi con, tuổi cháu để dâm dục. Đúng là một bọn vô liêm sỉ, không biết nhục là gì! Đã không biết nhục là gì thì chúng đâu còn nghĩ đến đất nước? Chúng đã quá dễ quên cái thời kỳ phải đi bốc cứt và viên cứt trong trại tù. Tôi nói người Việt, một số đông, dễ tính và dễ quên là vì vậy.
***
Sáng sớm hôm sau, Kim Vân và Ngân Hà đến địa chỉ mới tôi cho thực sớm. Sau bữa cơm tối hôm qua, anh chị Dục và tôi đã dùng xe người quen đến đây khoảng 10 giờ tối vì phải đề phòng e có những bất trắc xẩy ra trước khi lên máy bay thì hỏng hết. Mấy năm rồi ở chung với Pháp mà không lo Pháp bắt sảng (trừ phi đi làm chính trị, vào hội kín chống Pháp) nhưng ở chung với Việt Minh thì phải coi chừng. Chúng muốn bắt mình lúc nào cũng được không vì lí do gì hết, thích bắt là bắt. Coi Phạm Giao, con trai ông Phạm Quỳnh, vợ đẹp mà bị Trần huy Liệu giết tốt. Còn hàng ngàn hàng vạn trường hợp như vậy. Tôi thì Phong và Chủng, câu chuyện quí bạn đọc đã hiểu.
Khoảng 8 giờ sáng, chúng tôi ngồi hai taxi vào phi trường Gia Lâm. Lúc ngồi ở phòng đợi, Kim Vân thì thầm thuật lại cho tôi nghe:
“Hôm qua, khi em ở nhà anh về thì anh Phong đã đi chơi hay đi họp với đồng đội chi đó. Anh Chủng cũng không có đó nên em nói hết cho bố mẹ nghe.
Em nói bố mẹ nên cho anh Phong rõ là em chỉ có thể lấy anh chứ em không đồng ý lấy ai cả và em đã có thai với anh. Bố mẹ bảo bố mẹ đã nói điều đó với anh Phong (chỉ chưa nói là đã có thai) nhưng Phong không chịu. Anh Phong nói em phải lấy Chủng vì Chủng có tương lai lắm. Nếu anh Phong còn gặp anh lảng vảng ở Hà Nội, anh ấy sẽ báo cho bọn an ninh tình báo của đảng (CS) băt nhốt anh ngay, vu cho anh là thông ngôn cho Tây, Việt gian phản động. Em nghe mà rùng mình!
Em cũng nói anh đã xin được 3 chỗ trên máy bay cho hai anh em mình và Ngân Hà. Còn bố mẹ phải ra ga hàng Cỏ xuống Hải Phòng. Lúc đầu Hà nói Hà không đi khi không có bố mẹ nhưng bố bảo con phải đi với Vũ và Kim Vân. Đi với bố mẹ rất nguy hiểm chưa chắc gì đã thoát được xuống Cảng mà con phải vào Nam đi học thêm, đi làm xây dựng sự nghiệp tương lai chứ ở với Việt cộng thì chỉ có đi cào cỏ tát nước, lấy một anh bộ đội nữa là xong, suốt đời ngu dốt, nghèo nàn, thất học.
Bố mẹ khuyên mãi rồi Hà mới bằng lòng cùng em sáng nay đi sang đây. Trước khi đi, em và Hà ôm bố mẹ mà khóc vì chẳng biết có còn gặp lại nhưng bố nói, phải nín ngay và lo đi sớm kẻo anh Phong về hoặc Chủng tới thì hỏng hết mọi việc. Đêm rồi bố mẹ và tụi em đâu có ngủ, chỉ ngồi bàn tính chuyện đi suốt đêm. May là anh Phong đi họp suốt đêm không về.
Bố mẹ ngồi bàn chuyện ra ga hàng Cỏ xuống Cảng. Bố bảo bác Kình đi hụt về cho bố hay đám phụ nữ tuyên vận của Việt cộng đông lắm. Họ tổ chức từng nhóm dàn ra các nhà ga xe lửa. Họ thấy các ông già bà cả như hai bác Kình liền thân mật đến bảo:
- Bố mẹ đi đâu đây? Vào Nam làm gì, bây giờ nước nhà độc lập rồi vào trong Nam để chịu khổ à? Trong ấy đói kém, vất vả lắm, không đủ gạo ăn phải ăn bobo, cám, ngô, khoai thay cơm. Ở lại bác Hồ cho lo mỗi gia đình đầy đủ, cơm gạo dư thừa, trường học cho trẻ nhỏ cho đến sinh viên đại học. Việt Nam sẽ giầu mạnh sung túc hạnh phúc lắm, lúc đó bố mẹ có muốn trở về cũng không được.
Bác Kình cũng nói họ khéo nói lắm, người không cương quyết thì nghe vậy là ở lại, nhưng hai bác quyết đi thì chúng cản cho lỡ chuyến tầu.
Cũng có người đi xe ca. Nếu đi xe ca (xe chuyến) thì phải cố làm sao đến được phần đất của Pháp (khoảng chưa đến Kiến An) thì an toàn. Phần gần phía Hà Nội, tức phần có nhiều Việt cộng thì phải nói dối là có người nhà ở Cảng sắp chết, có khi phải tìm cách hối lộ cho chúng.
Có đoạn phải đi bộ khoảng 100m, sau đó mới lên xe (xe đã đi qua cái cổng có cây chắn) rồi mới lên xe đi tiếp tục. Người nào cũng đánh sóng trong bụng vì chỉ sợ bị chúng bắt sảng, kẹt lại mà hạn 300 ngày ở Cảng Hải Phòng gần hết.
Uỷ Hội quốc tế kiểm soát đình chiến gồm đủ thứ người da đen, da trắng, mặc kaki vàng, đội mũ calô vàng. Đúng ra, họ sẽ làm biên bản mỗi khi có xẩy ra biến cố nhưng vì họ (đa số là lính các nước CS) cũng nể nang VM nên chỉ làm biên bản trường hợp nào có sự níu kéo rõ ràng quá mà thôi.
Có nhiều người đã tránh đi ngang qua những nút chặn bằng cách lội ruộng vòng vào trong làng rồi mới vòng ra lên đường ô-tô. Có người mang sẵn tiền hoặc vàng, nói miệng không được thì bỏ tiền, bỏ vàng ra hối lộ. Bọn cán binh CS chúng ăn tiền như nhái vì chúng đói rách lâu ngày.
Bác Kình bảo hai bác bị chúng cản trở nên phải trở về Hà Nội, hai bác sẽ lừa dịp đi nữa, đi nữa cho kỳ xuống đến Hải Phòng mới thôi.
Nếu bọn Việt cộng không ngăn cản thì 80% dân Bắc Việt vào Nam hết nghĩa là có những làng, những huyện đi không còn một người. Nhưng chúng đã ngăn cản tối đa vì sợ mất mặt với quốc tế. Cách mạng, giải phóng, Dân chủ, Tự do, Hạnh phúc, Ấm no gì mà người dân không một ai muốn ở với “đến cái cột đèn nó cũng muốn đi”. Đó là một điều nhục nhã.”
Kim Vân thì thầm vào tai tôi đại ý như vậy.
Đúng 10 giờ, tất cả hành khách ra sân bay để lên phi cơ. Đó là ba chiếc máy bay Mỹ mỗi chiếc chở khoảng 150 người. Một sĩ quan Mỹ đứng ngay cửa phi cơ gọi tên từng người, có một sĩ quan Việt Nam phụ tá. Chỉ nửa giờ sau hành khách đã lên đầy đủ và thắt giây an toàn. Cánh cửa phi cơ đóng lại và phi cơ chạy vào phi đạo rồi bốc lên nhẹ nhàng. Tôi và Kim Vân ngồi kế cửa sổ nên cố nhìn qua cửa kính xuống phía dưới. “Hà Nội ơi! tạm biệt Hà Nội nhé!” Có cái gì dâng lên chận lấy cổ làm tôi nghẹn ngào.
Kim Vân có lẽ cũng có cảm giác đau đớn như tôi. Vân nắm lấy tay tôi như tìm một sự an ủi.
Tôi không dám nghĩ nhiều đến mẹ tôi e chảy nước mắt. Tôi lại lo không biết ông bà phán Quế có xuống Hải Phòng được không hay bị cán bộ nữ tuyên vận cản lại. Nếu ông bà phán Quế không đi được vào Nam thì Kim Vân và Ngân Hà sẽ buồn lắm, khó nguôi ngoai đi được. Nhưng trong hoàn cảnh này, không làm thế nào hơn được. Tôi, Vân và Hà còn là quá may có máy bay đi, lại không bị Phong và Chủng cản trở vì họ không ngờ. Tôi chắc khi về nhà không thấy Vân và Hà đâu, Phong sẽ cật vấn ông bà phán Quế dữ lắm và khi biết Vân và Hà đã đi rồi thì chắc Phong sẽ điên lên.
***
Hình như có lệnh trên nên ba chiếc máy bay chúng tôi đi đổ người xuống sân bay Nha trang. Nha trang cũng được, tôi nhủ thầm, miễn là ra khỏi miền Bắc. Nha Trang lại đẹp với thành phố nhỏ và hiền hoà, với bãi biển cát trắng phau với hàng dừa nghiêng bóng tuyệt đẹp.
Chính phủ miền Nam, lúc đó là Thủ tướng Ngô đình Diệm, phát mùng mền, quần áo, gạo và tiền cho chúng tôi sống tạm. Mỗi gia đình được một khoảng bằng hai căn nhà trong cái ba-rắc (baraque) lớn, mỗi ba-rắc chứa cả ba, bốn chục gia đình.
Chúng tôi có tiền ra chợ Nguyễn Hoàng mua thức ăn về nấu nướng. Đèn cồn nấu bằng dầu hôi là thông dụng lúc đó. Bát, đũa, nồi, xoong chúng tôi chỉ cần vừa đủ bởi đây chỉ là ở tạm, nơi định cư cuối cùng phải là Sàigòn.
Ba tháng sau, tôi và Vân gặp hai bác Kình ở trong “ba-rắc” F. Bác trai kể chuyện cho chúng tôi nghe:
“Ông bà phán Quế đã lừa được Phong để ra ga hàng Cỏ, mua vé tầu hoả xuống Hải phòng. Nhưng Phong quỉ quái hơn. Anh ta xin được giấy xuống công tác Hải Phòng, vào khu lều của người di cư tạm trú kiếm ra được ông bà phán Quế, cật vấn ông bà phán Quế là Kim Vân và Ngân Hà đang ở đâu? Ông phán Quế bảo: Chắc Vũ, Vân và Hà đã vào đến Sàigòn làm Phong tức cành hông.
Phong muối mặt bắt ông bà phán Quế phải trở về Hà Nội, không cho di cư vào Nam. Ông bà phán Quế trước không đồng ý nói thế nào cũng phải đi theo Vân và Hà vì là con gái yếu đuối. Còn Phong đã trưởng thành, có thể sống một mình được nhưng giằng co mãi mà Phong cứ nằng nặc đòi hai ông bà phải trở về. Phong nói Phúc đã chết, giờ chỉ còn lại bố mẹ và Phong, bố mẹ bằng mọi giá phải về. Phong lên văn phòng Uỷ hội quốc tế di cư 1954 nói với Uỷ Hội gạch tên ông bà phán Quế không phát “vé” xuống tầu há mồm. Uỷ hội trả lời Phong rằng UH không có quyền gì với hai ông bà. Đi hay ở là tuỳ họ. Do níu kéo, cuối cùng ông bà phán Quế phải ở lại.
Kim Vân, tôi và Ngân Hà ở Nha Trang 6 tháng, sau đó chúng tôi lên xe lửa vào Sàigòn.
Một thành phố lớn, đẹp, khang trang và dân tình hiền hoà hiện ra trước mắt chúng tôi. Mới đầu nghe người Sàigòn nói cứ ríu rít như chim, giọng của họ nhẹ hơn giọng người Bắc. Tiền cắc thiếu nên lúc cần thối, kẻ bán người mua cứ việc xé đôi tờ giấy bạc ra trả. Một đồng xé đôi, mỗi nửa là 50 xu. Năm đồng xé đôi thành 2 nửa mỗi nửa hai đồng rưỡi.
Sau 3 tháng có chỗ ở đàng hoàng, tôi kiếm được một công việc làm thư ký cho Nha Nhân Viên Bộ Quốc Phòng, lương tiền cũng đủ sống, mãi đến cuối năm 1956 tôi mới bắt đầu đi học những lớp đêm và hè năm 1959, đậu xong bằng Tú Tài II Toán, tôi chuyển sang nghề dạy Toán Lý Hoá cho các lớp đi thi Trung học đệ nhất cấp. Mùa hè năm 1965, tôi lại chuyển khoa dạy một lần nữa (sau khi đậu Cử nhân Văn chương trường Đại học Văn khoa Sàigòn) là chỉ chuyên dạy Triết cho các lớp thi Tú tài II, Việt văn cho các lớp thi Tú tài I và Anh ngữ cho nhiều lớp cả đệ Nhị và đệ nhất cấp.(vietnamexodus.org Văn học).
Vì di chuyển nhiều, sức yếu không chịu đựng quen, lại lo lắng chuyện gia đình, cha mẹ phải ở lại không có hi vọng gặp lại, Kim Vân vào đến Nha Trang thì bị sẩy thai.
Tôi cũng hỗ trợ cho Vân và Hà đi học buổi tối và cả hai đã đậu Tú Tài I sau 4 năm học tối còn ban ngày thì phải đi bán hàng cho người quen ở chợ Bến Thành để kiếm sống.
Tôi vẫn yêu Hà Nội với những kỷ niệm đẹp nhưng có lẽ Sàigòn mới chính là nơi đã đào tạo nên con người tôi như ngày nay. Sàigòn là một bà mẹ, một ông bố luôn luôn nâng giấc và săn sóc tôi với tất cả lòng trìu mến, yêu thương.Tôi mãi mãi nhớ ơn Sàigòn!
6-2008
Wednesday, October 1, 2008
Du học sinh: Con sóng ngầm của VC tại hải ngoại
Đặng thiên Sơn
Vấn đề du học sinh Việt Nam tại hải ngoại hiện nay là một vấn đề nhạy cảm. Đề cập đến chuyện này thiếu khách quan thì sẽ dẫn đến những điều không vui, vì sự liên hệ của các du học sinh đối với người Việt đang sống tại hải ngoại không nhỏ. Tuy nhiên, vì lợi ích chung của đất nước mà người Việt trong và ngoài nước đang theo đuổi là lật đổ bạo quyền Việt cộng, người Việt quốc gia tại hải ngoại không thể thiếu cảnh giác, để cho Việt Cộng và tay sai nhởn nhơ thi hành nghị quyết 36 của chúng.
Đây là nghị quyết mà Việt cộng muốn "nắm đầu, xỏ mũi" người Việt tại hải ngoại, với mục đích làm giảm tiềm năng yểm trợ các lực lượng đấu tranh dân chủ trong nước đang nổi lên.
Qua những sự kiện như cản trở nghị quyết cờ vàng, từ chối cầm cờ vàng khi được ông David Mac trao tặng, rồi đến trở mặt bất ngờ để từ chối cái tên "Little Sàigòn" của bà Madison trong đêm 20/11/07 đã cho thấy những dấu hiệu bất thường trong sinh hoạt chính trị của người Việt hải ngoại.
Người ta còn nhớ trong đêm 20/11/07 tại phiên họp của HĐTP San Jose, một du học sinh trong phần phát biểu đã nói một câu khó nghe của một "con két" được huấn luyện thuần thục rằng: "Quí vị đã bầu cho cô Madison thì phải để cho cô ấy chỉ huy quí vị". Để rồi tiếp theo đó vào đầu năm 2008, một số du học sinh Việt Nam đã đứng ra tổ chức buổi triển lãm lấy tên "Taste Vietnam" tại đại học Standford, Bắc Cali để quảng bá cho CSVN. Sau đó không lâu một sự kiện khác là cờ Việt cộng được treo lên tại thư viện trường Trung học San Jose hồi tháng 6/08. Nhưng những hoạt động của du học sinh VN chưa hết, vì vào ngày 03 tháng 10/08 tới đây một "Taste Vietnam" tương tự sẽ được tổ chức tại Queensland, Úc Châu.
Những việc làm liên tục của du học sinh như vậy, đã cho thấy đây không phải đơn thuần là việc "đi học" để mở mang kiến thức, để có một trình độ kỹ thuật cao, mà rỏ ràng còn là những hành động chính trị được thi hành theo chỉ thị được giao phó và học đường là một môi trường PHI CHÍNH TRỊ được chọn để tuyên truyền cho CSVN.
Đã là người Việt tỵ nạn, không ai muốn cộng đồng chia tam, xẻ tứ, sống với những người chung quanh mà không tin tưởng nhau và nghi ngờ lẫn nhau. Sống như vậy có gì là vui? Chẳng những không vui mà những ý niệm này còn làm giảm sức mạnh cộng đồng, còn khiến chính quyền địa phương hay các sắc dân khác ngỡ ngàng "không hiểu nổi" mặc dù thành tích đóng góp của cộng đồng VN nổi bật hơn những cộng đồng khác. Đây là điều mâu thuẩn đáng buồn, nhưng không có gì phải ngạc nhiên, vì người ngoài cuộc làm sao hiểu thấu được nỗi niềm của những người tỵ nạn cộng sản. Do đó, họ có hiểu hay không cũng không quan trọng bằng chính người quốc gia chúng ta phải tìm đủ mọi cách để ngăn chận và đập tan âm mưu của Việt Cộng nhằm phân hóa cộng đồng người Việt tỵ nạn CS.
Khi chưa có du học sinh rần rộ được "xuất cảng" ra nước ngoài, hai thành phần được Việt cộng xử dụng đánh phá cộng đồng Việt Nam hải ngoại là:
1./- Cán bộ VC, đã được cài nằm vùng từ trước năm 1975: Đây là các du học sinh ngày nay đã ở vào lứa tuổi 55 trở lên. Bọn nằm vùng này, ngày nay đã đạt được những bằng cấp, có nghề nghiệp vững chắc trong mọi lãnh vực từ công chức, tư chức, thương mại nơi địa phương chúng cư trú.
2./- Cán bộ VC được cài ra hải ngoại sau năm 1975 theo các ngõ vượt biên, đoàn tụ, ngoại giao, H.O.
Bây giờ là giai đoạn hai thành phần nằm vùng nói trên đang từ từ lui vào bóng tối giữ vai trò cố vấn, chỉ đạo cho một đoàn quân hùng hậu mới: Đoàn quân "DU HỌC SINH". Với số lượng hàng chục ngàn du học sinh Việt Nam tại hải ngoại hiện nay, chúng ta có thể khẳng định đây là lực lượng nhân sự nồng cốt của Việt Cộng đang ảnh hưởng lớn lao đến tiền đồ chống cộng của Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại.
Để có luận cứ vững với tiền đề được đưa ra, cộng đồng người Việt quốc gia phải có một nhận xét khách quan để tìm hiểu du học sinh từ đâu mà có, do đâu mà ra. Họ là thành phần nào trong xã hội Việt Nam cộng sản hiện nay. Họ là con cái nhà ai? Hoàn cảnh? Gia thế ra làm sao, mà được nhà nước Việt Cộng tin tưởng cho ra nước ngoài du học.
Không nói ra, nhưng ai cũng biết du học sinh của nước Việt Nam Cộng Sản là những thanh niên, thiếu nữ sanh sau năm 1975 tức là lứa tuổi từ 16, 17 đến 25, 30. Thế hệ thanh niên, thiếu nữ này từ khi mở mắt chào đời, thì chung quanh họ là lá cờ máu, cờ đỏ sao vàng, kèm ảnh "bác Hồ vĩ đại" trên tường, những hình ảnh này đã ăn sâu vào tiềm thức của họ ngay từ thuở lọt lòng.
Từ lớp mẫu giáo họ đã được quàng khăn đỏ, được nhồi sọ "bác hồ" là "vị cha già dân tộc" "bác Hồ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta" "Đảng cộng sản VN muôn năm" "Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa VN bách chiến bách thắng muôn năm" vân vân và vân vân.
Nói một cách dễ hiểu du học sinh VN là những người đã được Cộng Sản Việt Nam đào tạo theo căn bản "định hướng xã hội chủ nghĩa" có đủ tiêu chuẩn "hồng và chuyên" từ lúc là thiếu nhi quàng khăn đỏ, cháu ngoan "bác Hồ", cho đến lúc tốt nghiệp trung học phổ thông, tốt nghiệp đại học.
Và điều quan trọng khác mà mọi người cần phải biết rõ, du học sinh VN tại hải ngoại là thành phần được Cộng Sản Việt Nam ưu đãi (dù do TIỀN TÀI hay THẾ LỰC). Cho nên quyền lợi của họ luôn luôn gắn chặt với quyền lợi của "bác và đảng". Do đó, có thể nói họ rất trung thànhh với chế độ. Vì nhận được đặc ân của "bác và đảng" thành phần du học sinh này sẵn sàng biến thành những nhân viên tình báo, những kẻ phá hoại, gây rối, gây xáo trộn cộng đồng hải ngoại khi được lệnh và khi được giựt dây.
Đa số du học sinh là thành phần đối tượng đảng. Đây là thành phần trong chính sách trồng người của VC. Du học sinh là thành phần đã được đào luyện trong lò "Thép đã tôi thế đấy" của Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam . Là một lực lượng có tổ chức, hoạt động có bài bản đặt dưới sự điều động, chỉ huy và sai khiến của các tòa lãnh sự hay đại sứ VC tại hải ngoại vì danh sách, nơi ăn chốn ở, việc làm của du học sinh trong tay các cơ quan này.
Chính vì thế không có lý do gì các du học sinh lại đi nghe theo lời của các đoàn thể, tổ chức quốc gia tại hải ngoại để chống lại Việt cộng. Trong suốt 30 trường các du học sinh đã được nhồi sọ về đảng CSVN thần thánh. Ngược lại họ không có một chút ấn tượng nào về VNCH, về một thể chế tự do miền Nam, ngoài hình ảnh một số người còn sót lại của chế độ "Mỹ - Ngụy" đã bị sụp đổ. Nên chuyện họ THỰC TÂM tham dự vào các cuộc biểu tình, xuống đường để đi chống lại "bác và đảng", những là thần tượng của họ, là ân nhân của họ là chuyện không tưởng, không thể xảy ra, không bao giờ có. Những hình ảnh du học sinh VN tại Pháp, Anh quốc và Đức cầm cờ đỏ sao vàng lên án Trung cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa đã nói lên quan điểm biểu tượng quốc gia của họ.
Với lực lượng đang có hàng chục ngàn du học sinh tại hải ngoại, Cộng Sản Việt Nam đang thực hiện việc hàng ngũ hóa và sẽ biến thành phần này thành một lực lượng chính trị trên mặt trận ngoại giao.
Thành phần Việt gian cộng sản này, sẽ dần dần kiếm cách để cờ đỏ sao vàng xuất hiện nhiều nơi. Để rồi dựa vào đó các cơ quan truyền thông thân cộng xuyên tạc chính nghĩa quốc gia của cộng đồng Người Việt tại hải ngoại. Bọn VC nằm vùng sẽ lợi dụng tình trạng nhiều đảng phái, tổ chức muốn thỏa hiệp, hòa giải với CSVN, để thực hiện mưu đồ nhuộm đỏ cộng đồng VNHN. Việt cộng nhuộm đỏ CĐVNHN qua chính sách khuyến khích, giúp đỡ, tạo điều kiện dễ dàng cho du học sinh sau khi học hết chương trình tìm cách ở lại vĩnh viễn tại Hoa kỳ. Số du học sinh sau khi mãn chương trình học vấn họ tìm cách định cư luôn nơi hải ngoại bằng hình thức lập gia đình với một công dân Hoa Kỳ hay ở lại vì lý nghề nghiệp.
Để hổ trợ cho âm mưu nhuộm đỏ cộng đồng VNHN, truyền thông là công cụ hàng đầu của Việt cộng. Tại hải ngoại, những cái loa tuyên truyền cho Việt cộng được khôn khéo ngụy trang dưới lớp áo quốc gia, được núp dưới cái dù cờ vàng ba sọc đỏ.
Với phương tiện tài chánh dồi dào, Cộng Sản Việt Nam vừa trực tiếp điều hành các cơ sở truyền thông vừa hợp tác với các cơ quan truyền thông người Việt đã có sẵn. Lợi dụng "đệ tứ quyền" trên đất Mỹ, bọn Việt gian sẽ viết những bài báo, những bài tường thuật sinh hoạt cộng đồng "hai mặt", chuyên chở ý nghĩa chung chung để gây hoang mang dư luận. Trong lớp vỏ "hồn Việt Cộng, áo Quốc gia" này, VC dựng ra những luận điệu bất thường, để tạo nên sự tranh cãi, gây rối loạn cộng đồng.
Những cơ quan tuyên truyền thông được VC yểm trợ, là những cơ quan thường có những hình thức "chống cộng vô thưởng, vô phạt". Đây là thủ đoạn chống cộng có "lisence" của Việt cộng và tay sai nằm vùng. Ngoài truyền hình, truyền thanh, báo chí, CSVN tăng cường và cho nở rộ sự đánh phá, đầu độc cộng đồng Việt hải ngoại qua hệ thống mạng lưới truyền thông toàn cầu. Và số du học sinh VN cộng sản nhúng tay vào công tác này của VC không phải là con số ít.
Du học sinh Việt Nam đang sống tại nước ngoài, nơi cư trú của họ được ước tính như sau:
- 10% sống nội trú tại các trường: Đây là thành phần con ông cháu cha, cán bộ cao cấp gộc của CSVN có tiền bạc ăn cướp của dân.
- 90% sống trong các gia đình có thân nhân định cư tại hải ngoại từ lâu theo các diện: Việt cộng có trước năm 1975, diện vượt biên, diện đoàn tụ, diện H.O. Đây là thành phần con, cháu cán bộ trung cấp, hay có thân nhân liên hệ chặc chẽ với VC.
Với nơi cư trú như trên đã cho thấy du học sinh VN sống trà trộn trong cộng đồng. Đã cho thấy cộng đồng người Việt chống cộng tại hải ngoại đang bị đặt vào tình trạng "nuôi khỉ dòm nhà".
Để tránh tình trạng lịch sử đau lòng tái diễn như trước năm 1975. Tức là hình ảnh ban đêm đồng bào quốc gia và con cháu là VC ra đào đường đấp mô, để rồi sáng hôm sau cũng chính họ và con cháu là thành phần quốc gia đi phá mô, dẹp đường. Đây là hình ảnh mâu thuẫn, nực cười.
Vì vậy, để tránh việc đau lòng xảy ra, thiết nghĩ mọi người vì lợi ích chung của đất nước hãy theo dõi để phát hiện kịp thời những tên Việt cộng, những du học sinh VC đang trong tư thế sẵn sàng tạo ra những tình huống bất lợi cho cộng đồng, cho an ninh địa phương. Đây là nhiệm vụ của mọi người trong cộng đồng.
Chúng ta không phân biệt họ, nhưng không tha thứ cho những tên tay sai Việt gian cộng sản hoặc vì lý do nào đó đã, đang làm lợi cho CSVN
Source : www.trangdenonline.com
Đặng thiên Sơn
Vấn đề du học sinh Việt Nam tại hải ngoại hiện nay là một vấn đề nhạy cảm. Đề cập đến chuyện này thiếu khách quan thì sẽ dẫn đến những điều không vui, vì sự liên hệ của các du học sinh đối với người Việt đang sống tại hải ngoại không nhỏ. Tuy nhiên, vì lợi ích chung của đất nước mà người Việt trong và ngoài nước đang theo đuổi là lật đổ bạo quyền Việt cộng, người Việt quốc gia tại hải ngoại không thể thiếu cảnh giác, để cho Việt Cộng và tay sai nhởn nhơ thi hành nghị quyết 36 của chúng.
Đây là nghị quyết mà Việt cộng muốn "nắm đầu, xỏ mũi" người Việt tại hải ngoại, với mục đích làm giảm tiềm năng yểm trợ các lực lượng đấu tranh dân chủ trong nước đang nổi lên.
Qua những sự kiện như cản trở nghị quyết cờ vàng, từ chối cầm cờ vàng khi được ông David Mac trao tặng, rồi đến trở mặt bất ngờ để từ chối cái tên "Little Sàigòn" của bà Madison trong đêm 20/11/07 đã cho thấy những dấu hiệu bất thường trong sinh hoạt chính trị của người Việt hải ngoại.
Người ta còn nhớ trong đêm 20/11/07 tại phiên họp của HĐTP San Jose, một du học sinh trong phần phát biểu đã nói một câu khó nghe của một "con két" được huấn luyện thuần thục rằng: "Quí vị đã bầu cho cô Madison thì phải để cho cô ấy chỉ huy quí vị". Để rồi tiếp theo đó vào đầu năm 2008, một số du học sinh Việt Nam đã đứng ra tổ chức buổi triển lãm lấy tên "Taste Vietnam" tại đại học Standford, Bắc Cali để quảng bá cho CSVN. Sau đó không lâu một sự kiện khác là cờ Việt cộng được treo lên tại thư viện trường Trung học San Jose hồi tháng 6/08. Nhưng những hoạt động của du học sinh VN chưa hết, vì vào ngày 03 tháng 10/08 tới đây một "Taste Vietnam" tương tự sẽ được tổ chức tại Queensland, Úc Châu.
Những việc làm liên tục của du học sinh như vậy, đã cho thấy đây không phải đơn thuần là việc "đi học" để mở mang kiến thức, để có một trình độ kỹ thuật cao, mà rỏ ràng còn là những hành động chính trị được thi hành theo chỉ thị được giao phó và học đường là một môi trường PHI CHÍNH TRỊ được chọn để tuyên truyền cho CSVN.
Đã là người Việt tỵ nạn, không ai muốn cộng đồng chia tam, xẻ tứ, sống với những người chung quanh mà không tin tưởng nhau và nghi ngờ lẫn nhau. Sống như vậy có gì là vui? Chẳng những không vui mà những ý niệm này còn làm giảm sức mạnh cộng đồng, còn khiến chính quyền địa phương hay các sắc dân khác ngỡ ngàng "không hiểu nổi" mặc dù thành tích đóng góp của cộng đồng VN nổi bật hơn những cộng đồng khác. Đây là điều mâu thuẩn đáng buồn, nhưng không có gì phải ngạc nhiên, vì người ngoài cuộc làm sao hiểu thấu được nỗi niềm của những người tỵ nạn cộng sản. Do đó, họ có hiểu hay không cũng không quan trọng bằng chính người quốc gia chúng ta phải tìm đủ mọi cách để ngăn chận và đập tan âm mưu của Việt Cộng nhằm phân hóa cộng đồng người Việt tỵ nạn CS.
Khi chưa có du học sinh rần rộ được "xuất cảng" ra nước ngoài, hai thành phần được Việt cộng xử dụng đánh phá cộng đồng Việt Nam hải ngoại là:
1./- Cán bộ VC, đã được cài nằm vùng từ trước năm 1975: Đây là các du học sinh ngày nay đã ở vào lứa tuổi 55 trở lên. Bọn nằm vùng này, ngày nay đã đạt được những bằng cấp, có nghề nghiệp vững chắc trong mọi lãnh vực từ công chức, tư chức, thương mại nơi địa phương chúng cư trú.
2./- Cán bộ VC được cài ra hải ngoại sau năm 1975 theo các ngõ vượt biên, đoàn tụ, ngoại giao, H.O.
Bây giờ là giai đoạn hai thành phần nằm vùng nói trên đang từ từ lui vào bóng tối giữ vai trò cố vấn, chỉ đạo cho một đoàn quân hùng hậu mới: Đoàn quân "DU HỌC SINH". Với số lượng hàng chục ngàn du học sinh Việt Nam tại hải ngoại hiện nay, chúng ta có thể khẳng định đây là lực lượng nhân sự nồng cốt của Việt Cộng đang ảnh hưởng lớn lao đến tiền đồ chống cộng của Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại.
Để có luận cứ vững với tiền đề được đưa ra, cộng đồng người Việt quốc gia phải có một nhận xét khách quan để tìm hiểu du học sinh từ đâu mà có, do đâu mà ra. Họ là thành phần nào trong xã hội Việt Nam cộng sản hiện nay. Họ là con cái nhà ai? Hoàn cảnh? Gia thế ra làm sao, mà được nhà nước Việt Cộng tin tưởng cho ra nước ngoài du học.
Không nói ra, nhưng ai cũng biết du học sinh của nước Việt Nam Cộng Sản là những thanh niên, thiếu nữ sanh sau năm 1975 tức là lứa tuổi từ 16, 17 đến 25, 30. Thế hệ thanh niên, thiếu nữ này từ khi mở mắt chào đời, thì chung quanh họ là lá cờ máu, cờ đỏ sao vàng, kèm ảnh "bác Hồ vĩ đại" trên tường, những hình ảnh này đã ăn sâu vào tiềm thức của họ ngay từ thuở lọt lòng.
Từ lớp mẫu giáo họ đã được quàng khăn đỏ, được nhồi sọ "bác hồ" là "vị cha già dân tộc" "bác Hồ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta" "Đảng cộng sản VN muôn năm" "Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa VN bách chiến bách thắng muôn năm" vân vân và vân vân.
Nói một cách dễ hiểu du học sinh VN là những người đã được Cộng Sản Việt Nam đào tạo theo căn bản "định hướng xã hội chủ nghĩa" có đủ tiêu chuẩn "hồng và chuyên" từ lúc là thiếu nhi quàng khăn đỏ, cháu ngoan "bác Hồ", cho đến lúc tốt nghiệp trung học phổ thông, tốt nghiệp đại học.
Và điều quan trọng khác mà mọi người cần phải biết rõ, du học sinh VN tại hải ngoại là thành phần được Cộng Sản Việt Nam ưu đãi (dù do TIỀN TÀI hay THẾ LỰC). Cho nên quyền lợi của họ luôn luôn gắn chặt với quyền lợi của "bác và đảng". Do đó, có thể nói họ rất trung thànhh với chế độ. Vì nhận được đặc ân của "bác và đảng" thành phần du học sinh này sẵn sàng biến thành những nhân viên tình báo, những kẻ phá hoại, gây rối, gây xáo trộn cộng đồng hải ngoại khi được lệnh và khi được giựt dây.
Đa số du học sinh là thành phần đối tượng đảng. Đây là thành phần trong chính sách trồng người của VC. Du học sinh là thành phần đã được đào luyện trong lò "Thép đã tôi thế đấy" của Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam . Là một lực lượng có tổ chức, hoạt động có bài bản đặt dưới sự điều động, chỉ huy và sai khiến của các tòa lãnh sự hay đại sứ VC tại hải ngoại vì danh sách, nơi ăn chốn ở, việc làm của du học sinh trong tay các cơ quan này.
Chính vì thế không có lý do gì các du học sinh lại đi nghe theo lời của các đoàn thể, tổ chức quốc gia tại hải ngoại để chống lại Việt cộng. Trong suốt 30 trường các du học sinh đã được nhồi sọ về đảng CSVN thần thánh. Ngược lại họ không có một chút ấn tượng nào về VNCH, về một thể chế tự do miền Nam, ngoài hình ảnh một số người còn sót lại của chế độ "Mỹ - Ngụy" đã bị sụp đổ. Nên chuyện họ THỰC TÂM tham dự vào các cuộc biểu tình, xuống đường để đi chống lại "bác và đảng", những là thần tượng của họ, là ân nhân của họ là chuyện không tưởng, không thể xảy ra, không bao giờ có. Những hình ảnh du học sinh VN tại Pháp, Anh quốc và Đức cầm cờ đỏ sao vàng lên án Trung cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa đã nói lên quan điểm biểu tượng quốc gia của họ.
Với lực lượng đang có hàng chục ngàn du học sinh tại hải ngoại, Cộng Sản Việt Nam đang thực hiện việc hàng ngũ hóa và sẽ biến thành phần này thành một lực lượng chính trị trên mặt trận ngoại giao.
Thành phần Việt gian cộng sản này, sẽ dần dần kiếm cách để cờ đỏ sao vàng xuất hiện nhiều nơi. Để rồi dựa vào đó các cơ quan truyền thông thân cộng xuyên tạc chính nghĩa quốc gia của cộng đồng Người Việt tại hải ngoại. Bọn VC nằm vùng sẽ lợi dụng tình trạng nhiều đảng phái, tổ chức muốn thỏa hiệp, hòa giải với CSVN, để thực hiện mưu đồ nhuộm đỏ cộng đồng VNHN. Việt cộng nhuộm đỏ CĐVNHN qua chính sách khuyến khích, giúp đỡ, tạo điều kiện dễ dàng cho du học sinh sau khi học hết chương trình tìm cách ở lại vĩnh viễn tại Hoa kỳ. Số du học sinh sau khi mãn chương trình học vấn họ tìm cách định cư luôn nơi hải ngoại bằng hình thức lập gia đình với một công dân Hoa Kỳ hay ở lại vì lý nghề nghiệp.
Để hổ trợ cho âm mưu nhuộm đỏ cộng đồng VNHN, truyền thông là công cụ hàng đầu của Việt cộng. Tại hải ngoại, những cái loa tuyên truyền cho Việt cộng được khôn khéo ngụy trang dưới lớp áo quốc gia, được núp dưới cái dù cờ vàng ba sọc đỏ.
Với phương tiện tài chánh dồi dào, Cộng Sản Việt Nam vừa trực tiếp điều hành các cơ sở truyền thông vừa hợp tác với các cơ quan truyền thông người Việt đã có sẵn. Lợi dụng "đệ tứ quyền" trên đất Mỹ, bọn Việt gian sẽ viết những bài báo, những bài tường thuật sinh hoạt cộng đồng "hai mặt", chuyên chở ý nghĩa chung chung để gây hoang mang dư luận. Trong lớp vỏ "hồn Việt Cộng, áo Quốc gia" này, VC dựng ra những luận điệu bất thường, để tạo nên sự tranh cãi, gây rối loạn cộng đồng.
Những cơ quan tuyên truyền thông được VC yểm trợ, là những cơ quan thường có những hình thức "chống cộng vô thưởng, vô phạt". Đây là thủ đoạn chống cộng có "lisence" của Việt cộng và tay sai nằm vùng. Ngoài truyền hình, truyền thanh, báo chí, CSVN tăng cường và cho nở rộ sự đánh phá, đầu độc cộng đồng Việt hải ngoại qua hệ thống mạng lưới truyền thông toàn cầu. Và số du học sinh VN cộng sản nhúng tay vào công tác này của VC không phải là con số ít.
Du học sinh Việt Nam đang sống tại nước ngoài, nơi cư trú của họ được ước tính như sau:
- 10% sống nội trú tại các trường: Đây là thành phần con ông cháu cha, cán bộ cao cấp gộc của CSVN có tiền bạc ăn cướp của dân.
- 90% sống trong các gia đình có thân nhân định cư tại hải ngoại từ lâu theo các diện: Việt cộng có trước năm 1975, diện vượt biên, diện đoàn tụ, diện H.O. Đây là thành phần con, cháu cán bộ trung cấp, hay có thân nhân liên hệ chặc chẽ với VC.
Với nơi cư trú như trên đã cho thấy du học sinh VN sống trà trộn trong cộng đồng. Đã cho thấy cộng đồng người Việt chống cộng tại hải ngoại đang bị đặt vào tình trạng "nuôi khỉ dòm nhà".
Để tránh tình trạng lịch sử đau lòng tái diễn như trước năm 1975. Tức là hình ảnh ban đêm đồng bào quốc gia và con cháu là VC ra đào đường đấp mô, để rồi sáng hôm sau cũng chính họ và con cháu là thành phần quốc gia đi phá mô, dẹp đường. Đây là hình ảnh mâu thuẫn, nực cười.
Vì vậy, để tránh việc đau lòng xảy ra, thiết nghĩ mọi người vì lợi ích chung của đất nước hãy theo dõi để phát hiện kịp thời những tên Việt cộng, những du học sinh VC đang trong tư thế sẵn sàng tạo ra những tình huống bất lợi cho cộng đồng, cho an ninh địa phương. Đây là nhiệm vụ của mọi người trong cộng đồng.
Chúng ta không phân biệt họ, nhưng không tha thứ cho những tên tay sai Việt gian cộng sản hoặc vì lý do nào đó đã, đang làm lợi cho CSVN
Source : www.trangdenonline.com
Tình bạn qua thơ văn và truyện kể
Võ Thu Tịnh
1.Tình bạn, một nhu cầu của con người
Người đời, không ai là không có bạn. Bạn đồng môn (cùng học thầy, một trường), đồng khoa (cùng đỗ một khoa), đồng liêu (cùng làm quan với nhau), đồng hương (cùng một quê quán), đồng ngũ (cùng đi lính với nhau), đồng niên (cùng một lứa tuổi) … hoặc quen nhau từ thuở nhỏ, hoặc ra đời mới biết nhau. Nhưng có người thân, kẻ sơ và trong số các bạn ấy, nếu có được người nào đồng tâm, đồng ý thì đó là những bạn thân mà ta thường gọi là bạn tri âm, hay tri kỷ.
Từ « tri kỷ » vốn nghĩa là « biết/ mình », thường dùng để chỉ nhũng người bạn thân, biết rõ tình cảnh, tâm sự lẫn nhau, nên thông cảm, thương yêu, khoan nhượng nhau, như:
Tình bạn tri kỷ giữa Bảo Thúc, Quản Trọng
- « Quản Trọng thuở hàn vi cùng Bảo Thúc đi buôn, cứ chia lời thì Quản Trọng chiếm lấy phần hơn. Nhưng Bảo Thúc không hề chê Quản Trọng là tham, vì biết Quản Trọng nghèo hơn mình. Đến khi Quản Trọng gặp nạn công tử Củ, Bảo Thúc cố sức giúp cho thoát nạn, rồi tiến cử Quản Trọng lên vua Tề Hoàn Công để làm tướng, còn Bảo Thúc lại chịu ở hàng dưới, mà cũng không lấy thế làm hiềm. Về sau Quản Trọng sắp mất, vua hỏi ai thay được chức tướng ấy thì Quản Trọng tiến cử người khác, không tiến cử Bảo Trọng. Bảo Thúc không giận, vì phục Quản Trọng coi việc nước trọng hơn tình anh em bạn bè. Còn Quản Trọng phục cái độ lượng rộng rãi của Bảo Thúc, và thường có câu: « Sinh ra ta là cha mẹ, mà biết được bụng ta là Bảo Thúc ».
Còn từ « tri âm » vốn nghĩa là « biết/ tiếng (đàn) », nói rộng ra cũng chỉ những người bạn thân, qua tiếng đàn mà biết được chí hướng, tâm sự của nhau, nên quí thương nhau, như:
Tình bạn tri âm giữa Bá Nha,Tử Kỳ
- « Bá Nha, đời Tống, đi sứ nước Sở về, gặp đêm trung thu, ngừng thuyền mé rừng, lấy đàn kìm ra gảy. Trên bờ có Chung Tử Kỳ đi đốn củi, dừng chân lại nghe lóng. Bá Nha đang đàn, bỗng đứt giây, cho rằng có người rình nghe, mà ban đêm giữa rừng tất phải là quân trộm cướp, liền sai lính lên bờ tìm bắt. Tử Kỳ liền lớn tiếng thưa:
- « Xin đại nhân chớ nghi, tôi là đứa đốn củi, thấy đại nhân đàn hay nên dừng chân nghe thử ». Bá Nha hỏi:
- « Ngươi là một tiều phu sao lại biết nghe đàn? »
-Thưa Thánh nhân có câu « Hễ trong nhà có quân tử, thì ngoài cửa có quân tử đến. »
-Vậy, ta vừa đàn bản gì đây?
-Thưa, bài « Khổng-tử than tiếc thầy Nhan Hồi. »
Bá Nha liền mời Tử Kỳ xuống thuyền đàm đạo. Rồi sửa dây, tưởng mình đang ở non cao, đàn tiếp một bản. Bá Nha khen: « Ý đại nhân vòi vọi trên đỉnh núi ». Bá Nha lại gảy thêm một bản nữa, tưởng mình ở trên mặt nước. Bá Nha thưa: « Hay! Hay! Cuộn cuộn, chí đại nhân như nước chảy ». Hai bên liền kết bạn với nhau. Giao ước năm sau gặp lại. Đúng hẹn Bá Nha đến, Tử Kỳ đã qua đời. Bá Nha khóc thảm thiết, khảy một bản đàn để điếu trước mồ Tử Kỳ, rồi bẻ gảy đàn, thề trọn đời chẳng đàn nữa, vì không còn ai là bạn « tri âm » với mình. »
Ngoài vợ, ngoài chồng ra, con người cũng cần có một số bạn thân giúp ta cảm thấy số kiếp bớt cô đơn, giúp ta xác nhận hiện hữu « cái ta » của mình giữa đời sống nầy. G. Herbert cho rằng: « Sống không có bạn, đó là chết mà không có nhân chứng ».
Trong tình bạn tri âm, tri kỷ cần nhất là sự chia xẻ tâm tình, an ủi, khuyến khích, điều hơn lẽ thiệt lúc khó khăn, khi gặp tai nạn nguy cấp thì chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Người Anh có câu: « A friend in need is a friend indeed », nghĩa là một người bạn khi cần kiếp mới là một người bạn chân thật.
2. Bản chất của tình bạn thân
Tình bạn là một thành tố của bản chất con người, một bản chất « vốn tương đối mà lại hướng về tuyệt đối », bao giờ cũng khao khát vươn lên cao, bao giờ cũng hướng thượng:
Nhà Nho coi tình bạn hữu như một đạo trong « ngũ luân » (đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, và đạo bầu bạn), và coi sự giao du tìm bạn tri kỷ, tri âm như một điều kiện cần thiết cho sự tiến bộ bản thân. Thầy Tăng-tử, trong Luận Ngữ, chủ trương « dĩ văn hội hữu, dĩ hữu phụ nhân », (1) nhờ văn hóa mà tập họp bạn hữu, nhờ bạn hữu mà giúp cho nhau đạt đến đức « nhân », là lý tưởng tối thượng của Nho giáo.
Ngày xưa, triết gia Tây phương Aristote, trong Ethique à Nicomaque cũng cho rằng: « Tình bạn tuyệt hảo là tình bạn của những người đạo đức, và họ giống nhau trong đạo đức, vì những người bạn ấy cùng mong chúc những điều tốt lành cho nhau [...] Tình bạn không phải chỉ là một sự cần thiết, mà còn là một sự cao quí nữa ». (2)
Theo Phật giáo, tình bạn hữu hòa đồng với lòng từ bi hỉ xả đối với chúng sinh: « Tôn kính, yêu thương và cúng dường chư Phật, làm cho chúng sinh hoan hỉ tức là cho chư Phật hoan hỉ. » (3)
Theo Cơ Đốc giáo, tình bạn « thông công trong Chúa » là một trong bốn yếu tố căn bản đã duy trì và phát triển Hội thánh đầu tiên, là một đặc ân Chúa ban cho ta để thấy được nơi người bạn Chúa đã chọn cho mình, những điều hay, đẹp giữa muôn vàn những điều hay, đẹp nơi những người khác trên thế gian nầy, do Chúa ban cho. (4) Tình bạn mà theo Đa-vít là còn quí trọng hơn tình yêu đôi lứa nam nữ: Thấy cha mình là Sau-lơ, vì ghen ghét tài đức, tìm cách sát hại bạn thân của mình là Đa-vít, Giô-na-than đã lập mưu cứu Đa-vít thoát chết nhiều lần. (5) Về sau, khi nghe tin Giô-na-than bị tử nạn, Đa-vít khóc lên: « Giô-na-than, anh ơi! lòng tôi quặn thắc vì anh… Nghĩa bầu bạn của anh lấy làm quí hơn tình thương người nữ. » (6)
3. Thể hiện tình bạn tri âm, tri kỷ
Tình bạn thân, tri âm tri kỷ tuyệt đỉnh thể hiện qua lòng chung thủy và hy sinh cho nhau.
a- Thủy chung với bạn
Truyện Tử Dữ với Dương Tiêu Sơn
- « Ngày xưa, Dương Tiêu Sơn là một bậc trung thần, thấy Nghiêm Tung chuyên quyền làm bậy, liền dâng sớ hạch tội, bị Ngiêm Tung bắt bỏ tù. Các quan đều sợ hãi, không ai dám vào thăm. Chỉ có Từ Tử Dữ ngày ngày đem cho cơm, rượu. Dưong Tiêu Sơn bảo Từ Tử Dữ rằng: « Anh chớ hay lại thăm tôi, e rồi lại bị liên lụy. »
Từ Tử Dũ đáp: « Bạn hữu với nhau, chỉ quí về lúc nầy mà thôi. Luân lý ta cốt trọng về trung nghĩa, mà bây giờ anh bị kẻ gian thần ức hiếp, lẽ nào tôi lại bỏ anh hay sao? Anh cứ để tôi đi lại thăm anh, dẫu có làm sao nữa, thì tôi cũng chẳng thiết gì quan chức đâu, xin anh đừng ngại! » (7)
Ngày xưa cũng có chuyện về hai bạn chí thân Lưu Bình và Dương Lễ, đã từng đem trình diễn trên sân khấu hát chèo, nổi tiếng một thời:
Truyện Lưu Bình và Dương Lễ
- « Lưu Bình và Dương Lễ là hai bạn rất thân thiết. Dương Lễ nhà nghèo, còn Lưu Bình giàu có, đem bạn về nhà ở, ăn cùng mâm, học cùng đèn, tình bạn hữu rất là tương đắc. Dương Lễ biết phận mình nhà nghèo nên ráng học, còn Lưu Bình cậy mình có của nên lười biếng, ham chơi.
Đến khoa thi, Dương Lễ thi đậu được bổ ra làm quan. Lưu Bình thi rớt nên sinh ra chán nản, ăn chơi hơn trước, thi mãi không đậu, của tiền khánh tận. Sực nhớ đến bạn ngày xưa là Dương Lễ nên tìm đến để nhờ giúp đỡ. Dương Lễ lánh mặt không tiếp, dọn cơm hẩm với dĩa cà thâm để đãi, có vẻ khinh bạc. Lưu Bình tức giận tủi nhục ra về, dọc đường ghé lại quán trọ, làm quen với một thiếu phụ tên là Châu Long đang kén chồng. Nghe Lưu Bình thi hỏng luôn hai khóa, Châu Long kiếm lời an ủi, khuyên nên bền chí, nàng sẽ lo liệu mọi việc để cho Lưu Bình yên lòng ăn học, giao hẹn khi nào thi đỗ mới tính việc vợ chồng. Trai tài gái sắc cùng sống chung một nhà, có khi Lưu Bình không nén được lòng, muốn cùng ân ái, Châu Long cương quyết từ chối, nhắc lại lời giao hẹn lúc mới gặp nhau.
Nhờ sự khuyến khích giúp đỡ của Châu Long nên Lưu Bình ráng sức học hành tiến bộ, đến khoa thi năm đó thi đỗ cao. Trở về nhà thì không thấy Châu Long đâu nữa. Hỏi thăm khắp nơi không ai biết nàng ở đâu, Lưu Bình cũng không hiểu vì sao Châu Long lại biến mất vào lúc mình đã hiển đạt, nên đâm ra lo lắng, đau khổ, nhớ thương. Lưu Bình tìm đến thăm Dương Lễ để mắng mỏ mấy câu cho hả giận. Dương Lễ vui vẻ đón tiếp. Lưu Bình toan mở miệng mỉa mai trách móc, thì bỗng thấy Châu Long từ trong bước ra chào. Dương Lễ mới giới thiệu nàng là thiếp thứ ba của mình. Lưu Bình hiểu ngay rằng trước đây Dương Lễ sở dĩ bạc đãi là để khích khí mình, sợ mình không có nơi nương tựa mà bê trễ việc học hành, rồi sai vợ lẽ là Châu Long thay mặt đi giúp đỡ mình ăn học cho thành tài. Từ đó Lưu Bình và Dương Lễ sống với nhau thân tình, khắng khít hơn xưa. »
Việc ra mặt khích khí bạn, rồi ngầm giúp đỡ cho trọn tình thủy chung như thế, cũng thường thấy ở phương Đông chúng ta:
Truyện Tô Tần và Trương Nghi
« Xưa, Tô Tần và Trương Nghi là bạn thân. Tô Tần được vua Triệu trọng dụng, Trương Nghi đến gặp để nhờ bạn tiến cử. Tô Tần ra mặt bạc đãi và nhục mạ, Trương Nghi tức giận, nghĩ rằng chư hầu không đâu có thể nhờ được, chỉ có nước Tần mới đủ lực lượng đánh được Triệu để mình trả thù tên bạn họ Tô bội bạc nầy. Trương Nghi liền đi sang nước Tần. Tô Tần cho môn hạ lén lút theo Trương Nghi tìm cách làm thân và giúp cho tiền bạc, xe ngựa. Nhờ đó mà Nghi yết kiến được Tần Huệ Vương, và được vua dùng làm khách khanh, cùng mưu việc đánh chư hầu. Khi môn hạ Tô Tần từ giả ra về, Trương Nghi nói : « Nhờ ông mà tôi được hiển đạt, tôi sắp báo ân, sao ông lại bỏ đi? ». Người kia nói: « Nguyên Tô quân lo Tần đánh Triệu, lại cho rằng ngoài ngài ra không ai có thể nắm quyền bính nước Tần, nên khích khí ngài rồi ngầm sai tôi theo hầu hạ ngài để làm trọn mưu đồ của Tô quân. Nay ngài đã được dùng, tôi xin về báo lại ».
Trương Nghi than: « Thế là ta mắc mưu Tô quân mà không biết. Ông tạ ân Tô quân hộ ta. Trong thời gian Tô quân ở Triệu, Nghi nầy đâu dám nói đến chuyện đánh Triệu. » (8)
b- Hy sinh cho bạn
« Chẳng có tình yêu nào lớn hơn là vì bạn mà phó mạng sống của mình! » như trong Tân Ước thánh Giăng đã chép. (9) Và đôi khi gặp gỡ nhau trên chính nghĩa, trên một lý tưởng cao thượng, thì dù « trong giây phút » cũng đủ cho đôi bên trở thành bạn tri kỷ, đồng tâm đồng chí, đến có thể hy sinh cho nhau:
Truyện Lương Ngọc Quyến và Trịnh Cấn
- « Lương Ngọc Quyến con cụ cử Lương Văn Can, là người đã sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục, khởi xướng phong trào Duy Tân. Năm 1905, Lương Ngọc Quyến sang Nhật, được Phan Bội Châu đưa vào học ở Chấn Võ học hiệu, rồi ông cùng người em là Lương Nhị Khanh (?) và hai người bạn nữa, là 4 học sinh Việt Nam đầu tiên vào học trường võ bị Nhật. Năm 1915, người Anh bắt ông giao cho Pháp, giải về nước, bị kết án khổ sai chung thân giam tại khám Thái Nguyên. Trong cảnh bị xiềng xích như thế, ông vẫn lấy lời hơn lẽ thiệt đem chính nghĩa quốc gia ra thuyết phục đội Trịnh Cấn (tức đội Cấn) trong quân đội Pháp, rồi hai bên kết bạn đồng tâm, đồng chí với nhau trong công cuộc giải phóng đất nước. Đêm 30 tháng 8 năm 1917, đội Cấn cùng ba trăm binh sĩ Việt đứng lên khởi nghĩa, Lương Ngọc Quyến là cố vấn kiêm phó tư lệnh.
Nghĩa quân làm chủ tình hình 7 ngày (tính giờ thì được 5 ngày), sau yếu thế bị phản công, rút lui vào rừng. Lương Ngọc Quyến bị tra tấn tù đày, tàn phế không đi theo được, nên tự sát để đội Cấn cùng các bạn nghĩa quân được dễ dàng rút lui, bảo tồn lực lượng ». (10)
c- Những bạn phản trắc gian tà
Các nhóm bạn đồng môn, đồng khoa, đồng liêu, đồng hương, đồng ngũ … thường tập họp thành đoàn thể để bày tỏ tinh thần đoàn kết với nhau, chính yếu là để bảo vệ, đề cao uy tín của thầy dạy mình, của hạng người đỗ đạt, của tầng lớp quan lại, của địa phương của mình… Trong số bạn thuộc các loại nầy, thường có những kẻ ganh tài, tranh quyền, tranh chức, đưa đến chỗ tìm cách sát hại lẫn nhau:
Truyện Bàng Quyên và Tôn Tẩn
- « Tôn Tẩn và Bàng Quyên cùng học binh pháp, là bạn đồng môn. Sau Bàng Quyên làm quan nước Ngụy, được Huệ Vương phong chức tướng quân, nhưng vẫn biết mình không giỏi bằng Tôn Tẩn, nên ngầm sai người mời Tôn Tẩn đến. Rồi mượn pháp luật tìm cách trị tội chặt hai chân của Tôn Tẩn và chạm vào mặt để bạn mình không dám xuất đầu lộ diện. Nhưng Tôn Tẩn lén gặp sứ nước Tề, rồi được đưa về Tề, tướng nước Tề là Điền Kỵ phục tài, vua Tề phong làm quân sư, ngồi trong xe kín bàn mưu kế. Về sau, trong một trận chiến, Tôn Tẩn phục binh ban đêm vây Bàng Quyên, ra lệnh cho quân lính thấy chỗ nào có lửa thì bắn vào. Rồi cho khắc trên thân cây trên đường Bàng Quyên hành quân mấy chữ: « Đây là nơi Bàng Quyên bị giết chết ». Bàng Quyên kéo quân đến đấy, thấy có chữ trên thân cây, sai quân đốt lửa lên để đọc, bị quân của Tôn Tẩn thấy có lửa bắn đến như mưa, Bàng Quyên biết không thể thoát được, phải tự đâm cổ chết.
Trong cổ tích ta cũng có một chuyện « phản bạn » như thế:
Truyện hai người bạn đồng ngũ
- « Xưa có hai người ở tỉnh xa, cùng đi lính ở một đơn vị và kết bạn với nhau rất thân thiết. Đến lúc thôi lính về nhà, thì một người làm nên giàu có, còn người kia vẫn nghèo đói. Người nhà giàu nhớ bạn, đến hỏi thăm, thấy bạn nghèo cực, liền đưa cho vay mười lạng bạc để làm vốn.
Cách mấy năm sau, không được tin tức gì của bạn, người nhà giàu nghĩ bụng rằng: « Bạn ta có lẽ đang còn túng nên chưa có tiền trả cho ta. Âu là bây giờ ta sang thăm anh ấy, đem theo thêm mười lạng bạc, nếu quả anh ta còn nghèo đói thì ta lại đưa giúp anh lần nữa ». Đến nơi thấy nhà bạn trang hoàng lịch sự, thì người kia đem bạc giấu ở trên đầu cổng rồi mới vào nhà. Vợ chồng bạn thấy mặt ngỡ là sang đòi nợ, mời vào nhà thiết đãi ăn uống tử tế, rồi lập tâm bất nhân đợi đến khuya giết quách đi, và đem xác chôn dưới gốc cây khế. Hồn người chết nhập vào cây khế, rồi sau nhập vào trái khế, vợ anh ấy ăn trái khế, sinh ra một con trai. Đứa bé lớn lên không biết nói. Cha mẹ nó than thở mãi. Một hôm đứa bé bật miệng bảo cha mẹ mời quan huyện đến nó sẽ nói cho xem. Quan huyện đến, đứa bé liền kể chuyện đầu đuôi. Quan huyện cho đào dưới gốc khế quả có xác chết, và trên đầu cổng có muời lạng bạc. Chứng cớ rõ ràng, hai vợ chồng kia phải thú nhận hết tội. Đứa bé xin quan về nhà cũ. » (11)
4. Tình bạn trong thơ văn Việt Nam
Đông phương ngày xưa, tình bạn cũng như tình yêu, suốt đời tha thiết, thâm trầm, lắng đọng vào bên trong, không sôi nổi, bồng bột ra ngoài. « Quân tử chi giao đạm nhược thủy », sự giao thiệp giữa người quân tử với nhau lạt như nước lã. Ngày xưa, có khi hai người bạn (hay hai tình nhân) gặp nhau, chỉ ngồi hằng giờ không nói năng gì. Họ đã « đối diện đàm tâm » , mà tâm tình lại thông cảm sâu sắc với nhau, đượm đà tha thiết hơn bao nhiêu lời môi miếng dông dài.
Trong thơ văn xưa, người ta thường nhắc đến bài Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê, bạn đồng khoa và đồng liêu:
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngùi ngùi lòng ta:
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.
Kính yêu từ trước nhẫn sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời.
Cũng có lúc cùng nơi dặm khách,
Tiếng suối reo lóc lách lưng đèo,
Có khi từng gác cheo leo,
Khúc vui con hát, lựa chiều cầm xoang.
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
Chén quỳnh tương măm máp bầu xuân.
Có khi bàn soạn câu văn,
Biết bao đông bích điển phần (12) trước sau!
Nguyễn Khuyến nhắc lại gần đây đã gặp lại Dương Khuê:
Cầm tay hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can.
Thế mà nay, Nguyễn Khuyến nhiều tuổi hơn còn sống, bạn ông ít tuổi hơn lại sớm qua đời:
Mà sao bác vội về ngay,
Chợt nghe tôi những chân tay rụng rời.
Cho nên, ông buồn, ông nhớ, ông chán. Bạn mất đi, là mất theo cái vui của cuộc đời ông:
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua, không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo chẳng viết,
Viết cho ai, ai biết mà đưa?
*
Tưởng có thể tìm thấy một tình bạn đặc thù Việt Nam trong mấy vần thơ của Nguyễn Khuyến vừa dẫn ra trên đây.
Nguyễn Khuyến là một thi sĩ đã đi tiền phong tiêu biểu cho loại thơ thăng hoa tình bạn, giọng thơ chân thành, tứ thơ chan chứa cảm tình thoát ra khỏi mọi khuôn sáo ước lệ và nếp suy tư quá duy lý của thời đại Nho giáo lúc bấy giờ. Tình bạn đặc thù Việt Nam ngày xưa nầy tuy mặn nồng mà có vẻ như lạnh nhạt, « quân tử chi giao đạm nhược thủy », sự giao thiệp giữa những người bạn (trong hàng quân tử) là như nước lã, không vồn vã, màu mè như kẻ tiểu nhân. Các cụ gặp nhau, có khi chỉ « đối diện đàm tâm » hằng giờ ngồi nhìn nhau, không nói lấy một câu! Và giữa vợ chồng ngày xưa cũng thường như thế. Khi cụ Phan Bội Châu bị bắt, giải về nước, cụ Bà đến thăm một lần ở thành Nghệ-an, hai bên im lặng nhìn nhau suốt hơn nửa tiếng đồng hồ, rồi cụ Bà chỉ buông một câu: « Vợ chồng ly biệt hơn hai mươi năm, nay được một lần gặp mặt thầy, trong lòng tôi đã mãn túc rồi … Từ nay, thầy làm gì, tùy ý thầy, đừng bận bịu vì vợ con! »
Các cụ thời xưa có cái thú bầu bạn thông cảm tâm tình với nhau trong im lặng, một im lặng hùng hồn hơn muôn vàn lời trao gửi vồn vã, quấn quít nhau. Chính Nguyễn Khuyến cũng đã giải bày cảnh tiếp khách « suông tình » ấy qua hai câu kết bài thơ Đường như sau:
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta.
Trước thềm đệ tam thiên kỷ, khi nhắc lại tình bạn xa xưa trong dĩ vãng, trầm lặng, không vồn vập sôi nổi, mà lắng kết vào trong, thông cảm khoan thứ, cầu mong điều lành cho nhau, sẵn sàng cứu giúp dù phải phá chấp, hy sinh, chúng ta không ra ngoài mục đích hài hòa những mối tương giao tình tự ấy cho thích ứng với nếp sống hiện đại, - một nếp sống vì quá xô bồ, hối hả, căng thẳng theo vận tốc cơ giới, nên đã thấy manh nha một khuynh hướng phản ứng đòi con người phải được quyền có những phút giây im lặng, trầm tĩnh trong cuộc sống hằng ngày, - những giây phút có tính chất như cái mà ta gọi là « thiền định », - để tình tự lắng vào bên trong, để có dịp bắt gặp lại hồn mình, và nhất là để giúp ta thông cảm với tâm linh của người tri kỷ, tri âm một cách thấm thía, sâu sắc hơn.
Một nhu cầu thoát ly, dù hiếm hoi hay chỉ trong chốc lát, để được sống thực sự với bạn bè và với chính mình.
CHÚ THÍCH:
(1)- Luận ngữ , Nhan Uyên, XII, 23.
(2)- Aristote, Ethique à Nicomaque VIII : « La parfaite amitié est celle des hommes vertueux et qui sont semblables en vertu: car ces amis-là se souhaitent pareillement du bien les uns aux autres. Non seulement l'amitié est une chose nécessaire, mais elle est aussi une chose noble » (trad. Tricot).
(3)- Kinh Hoa Nghiêm.
(4)- Công vụ 2: 42; C.S. Lewis, The four loves, Collins Paris 1989, trang 83.
(5)- I Sa-mu-ên, 20: 1- 43.
(6)- II Sa-mu-ên, 1: 26.
(7)- Trần Trọng Kim, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận, Quốc Văn Giáo Khoa Thư, lớp Sơ đẳng, Việt Nam tiểu học tùng thư, Hànội trước 1945.
(8)- Sử Ký Tư Mã Thiên, Nhữ Thành dịch, Hànội 1988, trang 406.
(9)- Giăng 15:13.
(10)- Nguyễn Q.Thắng, Nguyễn Bá Thế, Từ điển Nhân vật lịch sử V.N., Khoa học Xã hội , Hà Nội 1992, Lương Ngọc Quyến, tr. 418- 419.
(11)- Truyện cổ nước Nam, Nguyễn Văn Ngọc, truyện « Sinh con rồi mới sinh cha ».
(12)- Đông bích : vách phía đông. Đường thi có câu: « Đông bích đồ thư phủ » (vách phía đông chứa sách vở). Điển phần : Nghiêu điển, Thuấn điển (là sách )
Võ Thu Tịnh
1.Tình bạn, một nhu cầu của con người
Người đời, không ai là không có bạn. Bạn đồng môn (cùng học thầy, một trường), đồng khoa (cùng đỗ một khoa), đồng liêu (cùng làm quan với nhau), đồng hương (cùng một quê quán), đồng ngũ (cùng đi lính với nhau), đồng niên (cùng một lứa tuổi) … hoặc quen nhau từ thuở nhỏ, hoặc ra đời mới biết nhau. Nhưng có người thân, kẻ sơ và trong số các bạn ấy, nếu có được người nào đồng tâm, đồng ý thì đó là những bạn thân mà ta thường gọi là bạn tri âm, hay tri kỷ.
Từ « tri kỷ » vốn nghĩa là « biết/ mình », thường dùng để chỉ nhũng người bạn thân, biết rõ tình cảnh, tâm sự lẫn nhau, nên thông cảm, thương yêu, khoan nhượng nhau, như:
Tình bạn tri kỷ giữa Bảo Thúc, Quản Trọng
- « Quản Trọng thuở hàn vi cùng Bảo Thúc đi buôn, cứ chia lời thì Quản Trọng chiếm lấy phần hơn. Nhưng Bảo Thúc không hề chê Quản Trọng là tham, vì biết Quản Trọng nghèo hơn mình. Đến khi Quản Trọng gặp nạn công tử Củ, Bảo Thúc cố sức giúp cho thoát nạn, rồi tiến cử Quản Trọng lên vua Tề Hoàn Công để làm tướng, còn Bảo Thúc lại chịu ở hàng dưới, mà cũng không lấy thế làm hiềm. Về sau Quản Trọng sắp mất, vua hỏi ai thay được chức tướng ấy thì Quản Trọng tiến cử người khác, không tiến cử Bảo Trọng. Bảo Thúc không giận, vì phục Quản Trọng coi việc nước trọng hơn tình anh em bạn bè. Còn Quản Trọng phục cái độ lượng rộng rãi của Bảo Thúc, và thường có câu: « Sinh ra ta là cha mẹ, mà biết được bụng ta là Bảo Thúc ».
Còn từ « tri âm » vốn nghĩa là « biết/ tiếng (đàn) », nói rộng ra cũng chỉ những người bạn thân, qua tiếng đàn mà biết được chí hướng, tâm sự của nhau, nên quí thương nhau, như:
Tình bạn tri âm giữa Bá Nha,Tử Kỳ
- « Bá Nha, đời Tống, đi sứ nước Sở về, gặp đêm trung thu, ngừng thuyền mé rừng, lấy đàn kìm ra gảy. Trên bờ có Chung Tử Kỳ đi đốn củi, dừng chân lại nghe lóng. Bá Nha đang đàn, bỗng đứt giây, cho rằng có người rình nghe, mà ban đêm giữa rừng tất phải là quân trộm cướp, liền sai lính lên bờ tìm bắt. Tử Kỳ liền lớn tiếng thưa:
- « Xin đại nhân chớ nghi, tôi là đứa đốn củi, thấy đại nhân đàn hay nên dừng chân nghe thử ». Bá Nha hỏi:
- « Ngươi là một tiều phu sao lại biết nghe đàn? »
-Thưa Thánh nhân có câu « Hễ trong nhà có quân tử, thì ngoài cửa có quân tử đến. »
-Vậy, ta vừa đàn bản gì đây?
-Thưa, bài « Khổng-tử than tiếc thầy Nhan Hồi. »
Bá Nha liền mời Tử Kỳ xuống thuyền đàm đạo. Rồi sửa dây, tưởng mình đang ở non cao, đàn tiếp một bản. Bá Nha khen: « Ý đại nhân vòi vọi trên đỉnh núi ». Bá Nha lại gảy thêm một bản nữa, tưởng mình ở trên mặt nước. Bá Nha thưa: « Hay! Hay! Cuộn cuộn, chí đại nhân như nước chảy ». Hai bên liền kết bạn với nhau. Giao ước năm sau gặp lại. Đúng hẹn Bá Nha đến, Tử Kỳ đã qua đời. Bá Nha khóc thảm thiết, khảy một bản đàn để điếu trước mồ Tử Kỳ, rồi bẻ gảy đàn, thề trọn đời chẳng đàn nữa, vì không còn ai là bạn « tri âm » với mình. »
Ngoài vợ, ngoài chồng ra, con người cũng cần có một số bạn thân giúp ta cảm thấy số kiếp bớt cô đơn, giúp ta xác nhận hiện hữu « cái ta » của mình giữa đời sống nầy. G. Herbert cho rằng: « Sống không có bạn, đó là chết mà không có nhân chứng ».
Trong tình bạn tri âm, tri kỷ cần nhất là sự chia xẻ tâm tình, an ủi, khuyến khích, điều hơn lẽ thiệt lúc khó khăn, khi gặp tai nạn nguy cấp thì chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Người Anh có câu: « A friend in need is a friend indeed », nghĩa là một người bạn khi cần kiếp mới là một người bạn chân thật.
2. Bản chất của tình bạn thân
Tình bạn là một thành tố của bản chất con người, một bản chất « vốn tương đối mà lại hướng về tuyệt đối », bao giờ cũng khao khát vươn lên cao, bao giờ cũng hướng thượng:
Nhà Nho coi tình bạn hữu như một đạo trong « ngũ luân » (đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, và đạo bầu bạn), và coi sự giao du tìm bạn tri kỷ, tri âm như một điều kiện cần thiết cho sự tiến bộ bản thân. Thầy Tăng-tử, trong Luận Ngữ, chủ trương « dĩ văn hội hữu, dĩ hữu phụ nhân », (1) nhờ văn hóa mà tập họp bạn hữu, nhờ bạn hữu mà giúp cho nhau đạt đến đức « nhân », là lý tưởng tối thượng của Nho giáo.
Ngày xưa, triết gia Tây phương Aristote, trong Ethique à Nicomaque cũng cho rằng: « Tình bạn tuyệt hảo là tình bạn của những người đạo đức, và họ giống nhau trong đạo đức, vì những người bạn ấy cùng mong chúc những điều tốt lành cho nhau [...] Tình bạn không phải chỉ là một sự cần thiết, mà còn là một sự cao quí nữa ». (2)
Theo Phật giáo, tình bạn hữu hòa đồng với lòng từ bi hỉ xả đối với chúng sinh: « Tôn kính, yêu thương và cúng dường chư Phật, làm cho chúng sinh hoan hỉ tức là cho chư Phật hoan hỉ. » (3)
Theo Cơ Đốc giáo, tình bạn « thông công trong Chúa » là một trong bốn yếu tố căn bản đã duy trì và phát triển Hội thánh đầu tiên, là một đặc ân Chúa ban cho ta để thấy được nơi người bạn Chúa đã chọn cho mình, những điều hay, đẹp giữa muôn vàn những điều hay, đẹp nơi những người khác trên thế gian nầy, do Chúa ban cho. (4) Tình bạn mà theo Đa-vít là còn quí trọng hơn tình yêu đôi lứa nam nữ: Thấy cha mình là Sau-lơ, vì ghen ghét tài đức, tìm cách sát hại bạn thân của mình là Đa-vít, Giô-na-than đã lập mưu cứu Đa-vít thoát chết nhiều lần. (5) Về sau, khi nghe tin Giô-na-than bị tử nạn, Đa-vít khóc lên: « Giô-na-than, anh ơi! lòng tôi quặn thắc vì anh… Nghĩa bầu bạn của anh lấy làm quí hơn tình thương người nữ. » (6)
3. Thể hiện tình bạn tri âm, tri kỷ
Tình bạn thân, tri âm tri kỷ tuyệt đỉnh thể hiện qua lòng chung thủy và hy sinh cho nhau.
a- Thủy chung với bạn
Truyện Tử Dữ với Dương Tiêu Sơn
- « Ngày xưa, Dương Tiêu Sơn là một bậc trung thần, thấy Nghiêm Tung chuyên quyền làm bậy, liền dâng sớ hạch tội, bị Ngiêm Tung bắt bỏ tù. Các quan đều sợ hãi, không ai dám vào thăm. Chỉ có Từ Tử Dữ ngày ngày đem cho cơm, rượu. Dưong Tiêu Sơn bảo Từ Tử Dữ rằng: « Anh chớ hay lại thăm tôi, e rồi lại bị liên lụy. »
Từ Tử Dũ đáp: « Bạn hữu với nhau, chỉ quí về lúc nầy mà thôi. Luân lý ta cốt trọng về trung nghĩa, mà bây giờ anh bị kẻ gian thần ức hiếp, lẽ nào tôi lại bỏ anh hay sao? Anh cứ để tôi đi lại thăm anh, dẫu có làm sao nữa, thì tôi cũng chẳng thiết gì quan chức đâu, xin anh đừng ngại! » (7)
Ngày xưa cũng có chuyện về hai bạn chí thân Lưu Bình và Dương Lễ, đã từng đem trình diễn trên sân khấu hát chèo, nổi tiếng một thời:
Truyện Lưu Bình và Dương Lễ
- « Lưu Bình và Dương Lễ là hai bạn rất thân thiết. Dương Lễ nhà nghèo, còn Lưu Bình giàu có, đem bạn về nhà ở, ăn cùng mâm, học cùng đèn, tình bạn hữu rất là tương đắc. Dương Lễ biết phận mình nhà nghèo nên ráng học, còn Lưu Bình cậy mình có của nên lười biếng, ham chơi.
Đến khoa thi, Dương Lễ thi đậu được bổ ra làm quan. Lưu Bình thi rớt nên sinh ra chán nản, ăn chơi hơn trước, thi mãi không đậu, của tiền khánh tận. Sực nhớ đến bạn ngày xưa là Dương Lễ nên tìm đến để nhờ giúp đỡ. Dương Lễ lánh mặt không tiếp, dọn cơm hẩm với dĩa cà thâm để đãi, có vẻ khinh bạc. Lưu Bình tức giận tủi nhục ra về, dọc đường ghé lại quán trọ, làm quen với một thiếu phụ tên là Châu Long đang kén chồng. Nghe Lưu Bình thi hỏng luôn hai khóa, Châu Long kiếm lời an ủi, khuyên nên bền chí, nàng sẽ lo liệu mọi việc để cho Lưu Bình yên lòng ăn học, giao hẹn khi nào thi đỗ mới tính việc vợ chồng. Trai tài gái sắc cùng sống chung một nhà, có khi Lưu Bình không nén được lòng, muốn cùng ân ái, Châu Long cương quyết từ chối, nhắc lại lời giao hẹn lúc mới gặp nhau.
Nhờ sự khuyến khích giúp đỡ của Châu Long nên Lưu Bình ráng sức học hành tiến bộ, đến khoa thi năm đó thi đỗ cao. Trở về nhà thì không thấy Châu Long đâu nữa. Hỏi thăm khắp nơi không ai biết nàng ở đâu, Lưu Bình cũng không hiểu vì sao Châu Long lại biến mất vào lúc mình đã hiển đạt, nên đâm ra lo lắng, đau khổ, nhớ thương. Lưu Bình tìm đến thăm Dương Lễ để mắng mỏ mấy câu cho hả giận. Dương Lễ vui vẻ đón tiếp. Lưu Bình toan mở miệng mỉa mai trách móc, thì bỗng thấy Châu Long từ trong bước ra chào. Dương Lễ mới giới thiệu nàng là thiếp thứ ba của mình. Lưu Bình hiểu ngay rằng trước đây Dương Lễ sở dĩ bạc đãi là để khích khí mình, sợ mình không có nơi nương tựa mà bê trễ việc học hành, rồi sai vợ lẽ là Châu Long thay mặt đi giúp đỡ mình ăn học cho thành tài. Từ đó Lưu Bình và Dương Lễ sống với nhau thân tình, khắng khít hơn xưa. »
Việc ra mặt khích khí bạn, rồi ngầm giúp đỡ cho trọn tình thủy chung như thế, cũng thường thấy ở phương Đông chúng ta:
Truyện Tô Tần và Trương Nghi
« Xưa, Tô Tần và Trương Nghi là bạn thân. Tô Tần được vua Triệu trọng dụng, Trương Nghi đến gặp để nhờ bạn tiến cử. Tô Tần ra mặt bạc đãi và nhục mạ, Trương Nghi tức giận, nghĩ rằng chư hầu không đâu có thể nhờ được, chỉ có nước Tần mới đủ lực lượng đánh được Triệu để mình trả thù tên bạn họ Tô bội bạc nầy. Trương Nghi liền đi sang nước Tần. Tô Tần cho môn hạ lén lút theo Trương Nghi tìm cách làm thân và giúp cho tiền bạc, xe ngựa. Nhờ đó mà Nghi yết kiến được Tần Huệ Vương, và được vua dùng làm khách khanh, cùng mưu việc đánh chư hầu. Khi môn hạ Tô Tần từ giả ra về, Trương Nghi nói : « Nhờ ông mà tôi được hiển đạt, tôi sắp báo ân, sao ông lại bỏ đi? ». Người kia nói: « Nguyên Tô quân lo Tần đánh Triệu, lại cho rằng ngoài ngài ra không ai có thể nắm quyền bính nước Tần, nên khích khí ngài rồi ngầm sai tôi theo hầu hạ ngài để làm trọn mưu đồ của Tô quân. Nay ngài đã được dùng, tôi xin về báo lại ».
Trương Nghi than: « Thế là ta mắc mưu Tô quân mà không biết. Ông tạ ân Tô quân hộ ta. Trong thời gian Tô quân ở Triệu, Nghi nầy đâu dám nói đến chuyện đánh Triệu. » (8)
b- Hy sinh cho bạn
« Chẳng có tình yêu nào lớn hơn là vì bạn mà phó mạng sống của mình! » như trong Tân Ước thánh Giăng đã chép. (9) Và đôi khi gặp gỡ nhau trên chính nghĩa, trên một lý tưởng cao thượng, thì dù « trong giây phút » cũng đủ cho đôi bên trở thành bạn tri kỷ, đồng tâm đồng chí, đến có thể hy sinh cho nhau:
Truyện Lương Ngọc Quyến và Trịnh Cấn
- « Lương Ngọc Quyến con cụ cử Lương Văn Can, là người đã sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục, khởi xướng phong trào Duy Tân. Năm 1905, Lương Ngọc Quyến sang Nhật, được Phan Bội Châu đưa vào học ở Chấn Võ học hiệu, rồi ông cùng người em là Lương Nhị Khanh (?) và hai người bạn nữa, là 4 học sinh Việt Nam đầu tiên vào học trường võ bị Nhật. Năm 1915, người Anh bắt ông giao cho Pháp, giải về nước, bị kết án khổ sai chung thân giam tại khám Thái Nguyên. Trong cảnh bị xiềng xích như thế, ông vẫn lấy lời hơn lẽ thiệt đem chính nghĩa quốc gia ra thuyết phục đội Trịnh Cấn (tức đội Cấn) trong quân đội Pháp, rồi hai bên kết bạn đồng tâm, đồng chí với nhau trong công cuộc giải phóng đất nước. Đêm 30 tháng 8 năm 1917, đội Cấn cùng ba trăm binh sĩ Việt đứng lên khởi nghĩa, Lương Ngọc Quyến là cố vấn kiêm phó tư lệnh.
Nghĩa quân làm chủ tình hình 7 ngày (tính giờ thì được 5 ngày), sau yếu thế bị phản công, rút lui vào rừng. Lương Ngọc Quyến bị tra tấn tù đày, tàn phế không đi theo được, nên tự sát để đội Cấn cùng các bạn nghĩa quân được dễ dàng rút lui, bảo tồn lực lượng ». (10)
c- Những bạn phản trắc gian tà
Các nhóm bạn đồng môn, đồng khoa, đồng liêu, đồng hương, đồng ngũ … thường tập họp thành đoàn thể để bày tỏ tinh thần đoàn kết với nhau, chính yếu là để bảo vệ, đề cao uy tín của thầy dạy mình, của hạng người đỗ đạt, của tầng lớp quan lại, của địa phương của mình… Trong số bạn thuộc các loại nầy, thường có những kẻ ganh tài, tranh quyền, tranh chức, đưa đến chỗ tìm cách sát hại lẫn nhau:
Truyện Bàng Quyên và Tôn Tẩn
- « Tôn Tẩn và Bàng Quyên cùng học binh pháp, là bạn đồng môn. Sau Bàng Quyên làm quan nước Ngụy, được Huệ Vương phong chức tướng quân, nhưng vẫn biết mình không giỏi bằng Tôn Tẩn, nên ngầm sai người mời Tôn Tẩn đến. Rồi mượn pháp luật tìm cách trị tội chặt hai chân của Tôn Tẩn và chạm vào mặt để bạn mình không dám xuất đầu lộ diện. Nhưng Tôn Tẩn lén gặp sứ nước Tề, rồi được đưa về Tề, tướng nước Tề là Điền Kỵ phục tài, vua Tề phong làm quân sư, ngồi trong xe kín bàn mưu kế. Về sau, trong một trận chiến, Tôn Tẩn phục binh ban đêm vây Bàng Quyên, ra lệnh cho quân lính thấy chỗ nào có lửa thì bắn vào. Rồi cho khắc trên thân cây trên đường Bàng Quyên hành quân mấy chữ: « Đây là nơi Bàng Quyên bị giết chết ». Bàng Quyên kéo quân đến đấy, thấy có chữ trên thân cây, sai quân đốt lửa lên để đọc, bị quân của Tôn Tẩn thấy có lửa bắn đến như mưa, Bàng Quyên biết không thể thoát được, phải tự đâm cổ chết.
Trong cổ tích ta cũng có một chuyện « phản bạn » như thế:
Truyện hai người bạn đồng ngũ
- « Xưa có hai người ở tỉnh xa, cùng đi lính ở một đơn vị và kết bạn với nhau rất thân thiết. Đến lúc thôi lính về nhà, thì một người làm nên giàu có, còn người kia vẫn nghèo đói. Người nhà giàu nhớ bạn, đến hỏi thăm, thấy bạn nghèo cực, liền đưa cho vay mười lạng bạc để làm vốn.
Cách mấy năm sau, không được tin tức gì của bạn, người nhà giàu nghĩ bụng rằng: « Bạn ta có lẽ đang còn túng nên chưa có tiền trả cho ta. Âu là bây giờ ta sang thăm anh ấy, đem theo thêm mười lạng bạc, nếu quả anh ta còn nghèo đói thì ta lại đưa giúp anh lần nữa ». Đến nơi thấy nhà bạn trang hoàng lịch sự, thì người kia đem bạc giấu ở trên đầu cổng rồi mới vào nhà. Vợ chồng bạn thấy mặt ngỡ là sang đòi nợ, mời vào nhà thiết đãi ăn uống tử tế, rồi lập tâm bất nhân đợi đến khuya giết quách đi, và đem xác chôn dưới gốc cây khế. Hồn người chết nhập vào cây khế, rồi sau nhập vào trái khế, vợ anh ấy ăn trái khế, sinh ra một con trai. Đứa bé lớn lên không biết nói. Cha mẹ nó than thở mãi. Một hôm đứa bé bật miệng bảo cha mẹ mời quan huyện đến nó sẽ nói cho xem. Quan huyện đến, đứa bé liền kể chuyện đầu đuôi. Quan huyện cho đào dưới gốc khế quả có xác chết, và trên đầu cổng có muời lạng bạc. Chứng cớ rõ ràng, hai vợ chồng kia phải thú nhận hết tội. Đứa bé xin quan về nhà cũ. » (11)
4. Tình bạn trong thơ văn Việt Nam
Đông phương ngày xưa, tình bạn cũng như tình yêu, suốt đời tha thiết, thâm trầm, lắng đọng vào bên trong, không sôi nổi, bồng bột ra ngoài. « Quân tử chi giao đạm nhược thủy », sự giao thiệp giữa người quân tử với nhau lạt như nước lã. Ngày xưa, có khi hai người bạn (hay hai tình nhân) gặp nhau, chỉ ngồi hằng giờ không nói năng gì. Họ đã « đối diện đàm tâm » , mà tâm tình lại thông cảm sâu sắc với nhau, đượm đà tha thiết hơn bao nhiêu lời môi miếng dông dài.
Trong thơ văn xưa, người ta thường nhắc đến bài Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê, bạn đồng khoa và đồng liêu:
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngùi ngùi lòng ta:
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.
Kính yêu từ trước nhẫn sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời.
Cũng có lúc cùng nơi dặm khách,
Tiếng suối reo lóc lách lưng đèo,
Có khi từng gác cheo leo,
Khúc vui con hát, lựa chiều cầm xoang.
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
Chén quỳnh tương măm máp bầu xuân.
Có khi bàn soạn câu văn,
Biết bao đông bích điển phần (12) trước sau!
Nguyễn Khuyến nhắc lại gần đây đã gặp lại Dương Khuê:
Cầm tay hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can.
Thế mà nay, Nguyễn Khuyến nhiều tuổi hơn còn sống, bạn ông ít tuổi hơn lại sớm qua đời:
Mà sao bác vội về ngay,
Chợt nghe tôi những chân tay rụng rời.
Cho nên, ông buồn, ông nhớ, ông chán. Bạn mất đi, là mất theo cái vui của cuộc đời ông:
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua, không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo chẳng viết,
Viết cho ai, ai biết mà đưa?
*
Tưởng có thể tìm thấy một tình bạn đặc thù Việt Nam trong mấy vần thơ của Nguyễn Khuyến vừa dẫn ra trên đây.
Nguyễn Khuyến là một thi sĩ đã đi tiền phong tiêu biểu cho loại thơ thăng hoa tình bạn, giọng thơ chân thành, tứ thơ chan chứa cảm tình thoát ra khỏi mọi khuôn sáo ước lệ và nếp suy tư quá duy lý của thời đại Nho giáo lúc bấy giờ. Tình bạn đặc thù Việt Nam ngày xưa nầy tuy mặn nồng mà có vẻ như lạnh nhạt, « quân tử chi giao đạm nhược thủy », sự giao thiệp giữa những người bạn (trong hàng quân tử) là như nước lã, không vồn vã, màu mè như kẻ tiểu nhân. Các cụ gặp nhau, có khi chỉ « đối diện đàm tâm » hằng giờ ngồi nhìn nhau, không nói lấy một câu! Và giữa vợ chồng ngày xưa cũng thường như thế. Khi cụ Phan Bội Châu bị bắt, giải về nước, cụ Bà đến thăm một lần ở thành Nghệ-an, hai bên im lặng nhìn nhau suốt hơn nửa tiếng đồng hồ, rồi cụ Bà chỉ buông một câu: « Vợ chồng ly biệt hơn hai mươi năm, nay được một lần gặp mặt thầy, trong lòng tôi đã mãn túc rồi … Từ nay, thầy làm gì, tùy ý thầy, đừng bận bịu vì vợ con! »
Các cụ thời xưa có cái thú bầu bạn thông cảm tâm tình với nhau trong im lặng, một im lặng hùng hồn hơn muôn vàn lời trao gửi vồn vã, quấn quít nhau. Chính Nguyễn Khuyến cũng đã giải bày cảnh tiếp khách « suông tình » ấy qua hai câu kết bài thơ Đường như sau:
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta.
Trước thềm đệ tam thiên kỷ, khi nhắc lại tình bạn xa xưa trong dĩ vãng, trầm lặng, không vồn vập sôi nổi, mà lắng kết vào trong, thông cảm khoan thứ, cầu mong điều lành cho nhau, sẵn sàng cứu giúp dù phải phá chấp, hy sinh, chúng ta không ra ngoài mục đích hài hòa những mối tương giao tình tự ấy cho thích ứng với nếp sống hiện đại, - một nếp sống vì quá xô bồ, hối hả, căng thẳng theo vận tốc cơ giới, nên đã thấy manh nha một khuynh hướng phản ứng đòi con người phải được quyền có những phút giây im lặng, trầm tĩnh trong cuộc sống hằng ngày, - những giây phút có tính chất như cái mà ta gọi là « thiền định », - để tình tự lắng vào bên trong, để có dịp bắt gặp lại hồn mình, và nhất là để giúp ta thông cảm với tâm linh của người tri kỷ, tri âm một cách thấm thía, sâu sắc hơn.
Một nhu cầu thoát ly, dù hiếm hoi hay chỉ trong chốc lát, để được sống thực sự với bạn bè và với chính mình.
CHÚ THÍCH:
(1)- Luận ngữ , Nhan Uyên, XII, 23.
(2)- Aristote, Ethique à Nicomaque VIII : « La parfaite amitié est celle des hommes vertueux et qui sont semblables en vertu: car ces amis-là se souhaitent pareillement du bien les uns aux autres. Non seulement l'amitié est une chose nécessaire, mais elle est aussi une chose noble » (trad. Tricot).
(3)- Kinh Hoa Nghiêm.
(4)- Công vụ 2: 42; C.S. Lewis, The four loves, Collins Paris 1989, trang 83.
(5)- I Sa-mu-ên, 20: 1- 43.
(6)- II Sa-mu-ên, 1: 26.
(7)- Trần Trọng Kim, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận, Quốc Văn Giáo Khoa Thư, lớp Sơ đẳng, Việt Nam tiểu học tùng thư, Hànội trước 1945.
(8)- Sử Ký Tư Mã Thiên, Nhữ Thành dịch, Hànội 1988, trang 406.
(9)- Giăng 15:13.
(10)- Nguyễn Q.Thắng, Nguyễn Bá Thế, Từ điển Nhân vật lịch sử V.N., Khoa học Xã hội , Hà Nội 1992, Lương Ngọc Quyến, tr. 418- 419.
(11)- Truyện cổ nước Nam, Nguyễn Văn Ngọc, truyện « Sinh con rồi mới sinh cha ».
(12)- Đông bích : vách phía đông. Đường thi có câu: « Đông bích đồ thư phủ » (vách phía đông chứa sách vở). Điển phần : Nghiêu điển, Thuấn điển (là sách )
Thượng du, niềm thương nhớ
Lâm Chương
Ngược dòng Thác Bà, lên tận thượng nguồn dựng trại. Trại nằm trong thung lũng, sát chân núi. Núi không có tên. Núi chập chùng trùng điệp, đếm không hết. Cả một vùng bao la núi non hiểm trở trải dài lên tận biên giới, mang chung một tên Hoàng Liên Sơn.
Một thời kỳ nô lệ xa xôi, người da đen Phi Châu bị lùa xuống tàu đi biệt xứ. Tôi cũng bị lùa xuống tàu, nhưng chưa ra khỏi lằn ranh xứ sở. Thời gian không lâu mà tưởng chừng qua một kiếp. Bỏ đời cũ. Quên những buộc ràng quá khứ. Trong nghiệt ngã, suy tư nhiều sẽ không sống nổi. Dằn vặt với thương đau, sẽ không còn mạng trở về. Tinh thần đi xuống, thân xác không thể đi lên. Hãy xem mọi sự hành xác là bình thường. Tôi nghĩ thế, và thản nhiên “chém tre đẵn gỗ trên ngàn”, dựng trại.
Lán trại lợp bằng nứa, chung quanh có rào. Hàng rào cũng làm bằng nứa bắt chéo vào nhau, đầu chông nhọn hoắt. Trưởng trại nói rào để cản thú dữ, nhưng ai cũng biết rào để ngăn người từ trong thoát ra ngoài. Cổng trại là lối ra vào độc nhất, có chòi canh kiểm soát. Bên hông trại, còn một chòi canh nữa, cao bằng ngọn cây để quan sát toàn trại. Trên đó, đặt một họng súng đại liên chỉa mũi vào trại. Nơi miền cao thôn bản, súng đạn là thứ duy nhất tượng trưng văn minh của người miền xuôi.
Ở đây, không đo thời gian bằng kim đồng hồ. Trưa nghe chim bắt-cô-trói-cột kêu trên đầu núi, biết đang mùa hạ. Đêm nằm nghe cú rúc ngoài đầu hồi, biết đang mùa đông. Thung lũng ít chịu mặt trời. Âm khí núi rừng pha trong sương đục, nhòa nhòa lán trại. Cái lạnh rờn rợn nhiễm vào người, lâu dần thành quen. Thiên nhiên tập cho con người biết chịu đựng. Về với thiên nhiên, thở cùng cỏ cây. Đi trên đất ẩm, nghe mùi rong rêu lá mục. Làm quen với muỗi đói vắt rừng. Coi thường độc trùng rắn rít. Ngồi lặng hàng giờ, ngắm những bông hoa dại âm thầm ngoi lên từ kẽ đá. Thưởng thức tinh hoa của đất trời, cũng là một cách dưỡng sinh. Dựa lưng gốc đại thụ, thấu lẽ câm nín ngàn đời. Quên chuyện ngày trước. Bỏ chuyện ngày sau. Sống đời hoang dã. Thú rừng vô tâm không biết buồn. Ai nặng thất tình lục dục dễ bỏ mình giữa chốn thâm sơn. Gió lớn bốn phương về ngang thung lũng, bỗng trở mình cuộn thành cơn lốc. Lá khô bị hốt lên cao, rồi tung ra như bướm tan đàn bay tứ tán. Cái nóng mùa khô gió Lào không đủ ấm lòng thung lũng. Gió rừng không sát đất. Gió rì rào trên đọt cây. Dường xa xôi vọng lại. Dường gần gũi bên mình. Đời đang khốn khó mà nghe như có tiếng thì thầm của một quê nhà cách trở.
Ở đây, thường nghe gió hú. Các cụ già người Dao ngồi hơ tay bên bếp lửa chiều đông, kể bao nhiêu là chuyện âm hồn nương theo gió, về đậu trên ngọn rừng tru thảm khốc. Thầy Mo thương những hồn cô quạnh, không nỡ đuổi đi. Tôi, người mạt khách phương xa. Nghe chuyện thần linh ma quỷ. Nghe truyền thuyết bao đời cha ông của người Tày người Dao. Nghe bài ca gắn bó núi rừng. Thấm thía muốn trở thành người của thượng du để đêm đêm nằm dưới mái nhà sàn, thấy cây cỏ mọc đầy trong giấc chiêm bao. Tôi, kẻ trí cùn, không thuộc hết bài trường ca thôn bản, viết lại bằng mường tượng nhớ nhớ quên quên:
Bản ta có bếp lửa bằng tuổi ngôi nhà
Có người già bằng cây cổ thụ
Sống trăm năm bóng đè ngọn núi
Sinh con đẻ cái
Ở cùng cây rừng
Ở cùng đá núi
Đất cho cái ăn lấy từ nương rẫy
Nước cho cái uống lấy từ khe xanh
Thịt da thấm sương mù
Bàn tay rắn rỏi
Vỡ đất cho hạt lên mầm
Buổi sáng giắt con dao quắm
Vác cái xà gạc trên vai
Đội lá rẻ gai vào rừng
Bắt con mang con mển
Bắt con nhím con trăn
Chặt cây giang cây nứa cây vầu
Đốn cây trắc cây lim cây gụ
Đẽo gỗ làm nhà sàn
Nuôi bếp lửa trừ tà xâm nhập
Bản ta có thầy Mo
Quen với Thần Rừng Thần Núi
Biết vẽ bùa làm phép
Gọi âm binh che chở bản làng
Không sợ con cú mèo trù rủa
Không sợ con beo con báo
Về rình trong đêm tối
Thầy Mo gọi ông Trời
Cho cái mưa cái nắng
Nuôi cây lớn lên nuôi người lớn lên
Giống dòng đời đời nối tiếp ...
Tôi không hiểu ngôn ngữ người sắc tộc. Nhưng khi cụ già người Dao cất giọng, nghe như tiếng kêu trầm thống và một nỗi gì như nỗi tàn phai đang đổ xuống núi rừng lồng lộng hoàng hôn. Không như ngâm thơ. Không như hát tân cổ nhạc. Không như tụng kinh. Cái âm lên không bổng, xuống không trầm. Ê a lê lết kéo dài áo nảo. Từa tựa như pháp sư đọc thần chú. Một sắc thái hoàn toàn riêng biệt. Lẩn khuất trong lời ca, có niềm bi tráng. Cụ già chuyển ngữ bằng lời Việt. Tôi rắp tâm ghi nhớ trong lòng, mà lòng tôi thì nhòa dần theo ngày tháng nắng mưa.
Những chiều thu yên ả, ngồi trên lưng chừng núi nhìn xuống rừng. Khói nghi ngút bốc lên từ những mái nhà sàn, núp sau vòm cây. Nhớ cái bếp người thượng du. Đóm lửa đầu tiên thỉnh từ thầy Mo đem về gầy nên bếp lửa. Và đóm lửa ấy, âm ỉ ngún hoài theo thời gian, tồn tại cùng với ngôi nhà. Người Dao tin rằng lửa xua đi bóng tối ma quỷ. Muốn cho nhà cửa bình yên, phải giữ lửa hoài trong bếp. Tôi cũng muốn tin như thế, tin bất cứ điều gì huyền bí để trong tuyệt vọng, tinh thần còn có thiêng liêng làm chỗ dựa.
Những người khách bất đắc dĩ từ phương Nam xa xôi đến đây, đều ghê mùa đông Việt Bắc. Mùa đông. Ngày chưa chiều, trời đã chạng vạng từ lúc mới ra đi.
Mùa đông đến mưa phùn gió bấc
Suốt mùa đông không thấy mặt trời
Ngày xám âm u. Mưa phùn nhẹ như sương muối, thấm ẩm áo quần. Gió bấc hiu hiu, thổi cái buốt luồn vào tận xương. Vác bó nứa dài lê thê xuống núi. Đất nhão. Dốc trơn. Trượt té. Vấp ngã. Tay chân xây xước, chảy máu mà không đau. Da thịt lạnh tê, mất cảm giác.
Đường đi khó
Không khó vì ngăn sông cách núi
Mà khó vì lòng người ngại núi e sông
Có thật vậy không? Câu nói của Nguyễn Bá Học một thời lấy làm kim chỉ nam, dù hàm chỉ nghĩa bóng, giờ đây, bỗng thấy sáo rỗng. Những ai đang trên dốc đời khổ sở mới biết được cây thập tự giá trên vai Chúa Giê-Su nặng dường nào. Có vào địa ngục mới cảm thông kẻ chịu cảnh A Tỳ. Ngồi một chỗ lý thuyết suông, nói những câu triết lý để đời dễ hơn là đối mặt với thực tại gian truân. Những hình nhân tiều tụy rách rưới, vượt qua được một mùa đông là đi thêm một chặng đường vô vọng. Sự vô vọng giết người. Càng lấn sâu vào con đường vô vọng, càng gần sự chết. Chết đủ mọi cách. Đói làm suy dinh dưỡng, thân xác không còn sức đề kháng với bệnh tật. Thậm chí, cảm xoàng cũng chết. Chung quy, cũng vì không thấy được ánh sáng phía cuối con đường vô vọng.
Tôi có người bạn cùng cảnh ngộ, khi đi tiêu thấy phân có lẩn chút đàm, ứa nước mắt. Tao tới số rồi. Nếu mày còn có ngày về, cho vợ con tao biết ngày cúng giỗ. Anh bị kiết lỵ. Bị kiết lỵ coi như Ngọc Hoàng giũ sổ. Tất cả thuốc men đã bị tịch thu từ lúc mới đặt chân ra đất Bắc. Ở đây, rau sam đâm dập, vắt lấy nước uống được coi là thuốc trị bệnh kiết lỵ. Ban đầu, anh còn đi ra nhà cầu. Ngày thứ hai, tôi đào cái hố nhỏ ngoài vách lán cho anh ngồi đó. Tôi phải đi rừng. Không ai săn sóc, anh bò ra hố giữa cái lạnh mùa đông dao cắt. Sau, anh nằm luôn trong lán sạp. Ỉa ra máu. Không cần mặc quần nữa. Một kẻ có quyền từ trên khung xuống, đứng nhìn anh. Mặt lạnh. Không biểu hiện căm thù hay thương xót. Không ai có thể đoán được trong cái đầu ấy đang nghĩ gì. Hỏi có cần gì không? Bạn tôi thều thào, xin một cục đường và gói mì ăn liền. Câu trả lời dứt khoát. Đường, có ngay. Mì, xứ này không đào đâu ra được. Yêu cầu đã thỏa mãn một nửa như ân huệ cuối cùng. Tôi đưa bạn về đất, an nghỉ dưới chân đồi. Nước mắt tôi chảy ngược, không có giọt nào nhỏ xuống cho anh.
Thời mạt vận quỷ thần quay mặt
Nghiến chặc răng kình với tai ương
Người bỏ cuộc đi về với đất
Chiếu bó thây nằm lại rẫy nương
Bốn mùa đều có người đi không trở lại. Nhưng mùa đông khắc nghiệt là thời điểm dễ nhất để vĩnh biệt thế gian. Tử Thần lãng vãng đâu đây, làm sao lánh mặt? Tôi nhớ loáng thoáng trong Thiền Luận: “Tất cả đều là phương tiện tu hành”. Trước nghịch cảnh, tôi áp dụng ngay câu này để hóa giải mọi thương đau, biến nhọc nhằn thành phương tiện. Bàng Uẩn xem bửa củi gánh nước là thần thông diệu dụng. Sao tôi không xem đốn cây cuốc đất là một cách tập dưỡng sinh? Và, tôi đã đi qua mùa đông, đi qua nhiều mùa đông rét mướt bằng sự thư thái riêng tôi. Một kẻ có quyền sau nhiều ngày nhận xét, đã phê bình cách làm việc của tôi: “Giơ cuốc lên, cò ỉa. Hạ cuốc xuống, mối xông”. Câu nói làm tôi sửng sốt. Diễn tả động tác chậm, không có cái chậm nào bằng. Từ từ giơ cuốc lên, chậm như ngừng lại. Thời gian lâu đủ để con cò đậu trên cái cuốc và ỉa. Hạ xuống cũng chậm, đến nỗi trước khi nhấc cuốc lên thì mối đã xông thành tổ. Một lối diễn tả độc đáo. Rất bình dân mà cũng rất tuyệt vời. Tôi mãi lấy làm lý thú vì câu nói ngộ nghĩnh, quên cái hậu quả tai hại sau khi bị phê bình. Cứ thế, thân bị kềm chế mà ý thì phất phơ như chuyện đùa. Tưởng như hồn và xác chẳng dính dấp gì nhau.
Nhiều đêm. Tôi nghe tiếng chắc lưỡi của những người chung quanh. Những con Thạch Sùng không ngủ, nằm trằn trọc nuối tiếc hoài một thời quyền uy son vàng đã mất. Cánh cửa quá khứ đã khép lại. Nhưng cái dư âm vi vu còn đủ sức ném bao người qua cửa tử. Nuối tiếc và thống hận là chất cường toan bào mòn tâm phế. Người xưa uất khí mà trào máu họng. Đời nay, không thấy có ai. Lác đác có dăm anh hùng sĩ khí thì đã cầm súng tự bắn vào đầu, chết hết rồi. Kể chi những kẻ bợ đít mà nên danh phận. Ngồi trên đầu thiên hạ mà chăn dân. Nằm trên bụng đàn bà mà xua quân vào trận mạc. Gặp thế biến, phóng nước đại tháo thân nhanh hơn ngựa chạy trường đua. Bao giờ thấy những phường cẩu trệ bất nhân chiếm giữ những ngôi vị trọng yếu quốc gia là điềm báo trước một chế độ suy tàn. Đó là quy luật của mỗi lần lịch sử sắp sang trang. Và cái hậu quả tất yếu của nó, một số người sẽ bị xô xuống hầm tai họa. Trách ai thì chuyện cũng đã rồi. Chắc lưỡi là buông thêm một dấu chấm than (!), tượng hình cho giọt nước mắt rớt xuống đời mình. Đời mình vốn đã ướt đẫm từ khi lầm lỡ đem thân giao cho kẻ ác. Thôi thì lo “bảo tinh, dưỡng khí, tồn thần”, giữ cái bổn mạng được ngày nào hay ngày ấy. Sầu bi là tự nghiến đứt sợi dây đang treo mình trên vực thẳm.
Nếu không mặc cảm lưu đày thì sống với núi rừng là một kỳ thú. Người Tày người Dao sinh ra, lớn lên ở đây. Một nơi mà ánh sáng văn minh chưa hề chiếu rọi. Trong nhà họ, ngoài những cái cuốc con dao cái rìu làm bằng kim khí, tất cả những vật dụng còn lại đều bằng gỗ hoặc đất nung: ống bương đựng nước, nồi đất nấu cơm…
Những ngôi nhà sàn thường được dựng gần nguồn nước. Trên thế núi cao, mây ngấm hơi nước vào đất, chảy ra từ trong khe đá. Người ta dùng cây bương, đục bỏ những cái mắc làm máng dẫn nước. Nhiều cây bương nối nhau thành cái máng dài, đưa nước về tận chân nhà sàn. Nguồn nước vô tận ấy, chảy hoài không dứt. Người thượng du lợi dụng nguồn nước thiên nhiên để làm cối nước giã gạo theo nguyên tắc đánh đu, đòn bẫy. Buổi sáng, trước khi “giắt con dao quắm, vác cái xà gạc” lên rừng, họ cho một lượng thóc vừa đủ ăn trong ngày vào cối. Cứ vài phút, cái chày giã xuống một lần đều đặn. Chiều về, họ trút thóc ra nia, sàng sãy lấy gạo nấu cơm. Và, trên nóc nhà sàn, khói chiều nghi ngút bốc lên. Đời sống đơn giản, êm đềm biết bao. Tôi mơ ước một đời sống như thế, không xuống tóc đi tu mà lòng cũng tịnh yên thoát tục.
Những năm tháng làm người khách bất đắc dĩ của miền thượng du, có một dạo tôi được chỉ định chăn bò. Hai người chăn đàn bò bốn mươi con. Một trong hai người ấy, chết vì bệnh sốt rừng. Tôi là người được điền vào khoảng trống. Không phải ngẫu nhiên. Tôi vốn có bệnh bao tử, lại không được điều trị bằng thuốc men. Ở đây, bất cứ bệnh gì cũng được điều trị bằng một phương pháp rất ư là quái đản. Lao động trị liệu, như chặt cây, đốn củi, vác nứa, cuốc đất, trồng khoai v.v… Trong tình huống ấy, tôi luôn luôn tạo cho mình bộ mặt nhăn nhó trường kỳ để mỗi lần, kẻ có quyền nhìn thấy tôi như thấy một hiện tượng khó chịu. Họ chỉ muốn đẩy tôi đi cho khuất mắt. Nhưng tôi cứ hiện diện, cứ èo uột sống hoài. Cuối cùng, họ cũng tìm được cách để ít phải nhìn mặt tôi. Đó là lý do tôi được chỉ định chăn bò. Sáng ra trại, mãi đến chiều mới vác mặt trở về. Yên thân.
Buổi sáng, mở cửa chuồng. Con bò bô đầu đàn sẽ ra đầu tiên, tự động đi theo người dẫn đường. Đàn bò còn lại, lần lượt kéo theo sau. Và, một người đi sau cùng, cầm roi đét vào đít những con đi chậm, hoặc đưa mỏ ngấm nghé cỏ lá dọc đường. Đến một khoảng đất trống nào đó, người dẫn đường dừng lại. Đàn bò sẽ phân tán đi ăn chung quanh, trên những núi đồi bát ngát màu xanh. Trưa trời đứng bóng, tôi che tay lên miệng làm loa, gọi: “Bò…ơi… Bò… ơi…”. Âm thanh vang vọng núi rừng. Đàn bò lục tục về điểm tập trung, nằm nhơi cỏ. Lúc trời xế bóng, tôi đá đít con bò đầu đàn đứng dậy, nói lớn: “Bò… đi… ăn...” Đàn bò lại phân tán. Buổi chiều, tôi che tay làm loa lần nữa, gọi: “Bò… về… Bò… về…” Tại điểm tập trung, sau khi đếm đủ số bò, con bò đầu đàn lại theo người dẫn đường về chuồng trại.
Bò rất hiền và khôn, có thể hiểu được một số tiếng người thường dùng với nó. Những con bò chửa, nếu sinh con ngoài rừng, bò con đi chưa vững, khi nghe tiếng gọi: “Bò… về…”, bò mẹ sẽ giấu con trong lùm bụi để trở lại điểm tập trung. Nhưng nó sẽ lẩn quẩn không chịu về. Người chăn không biết nó mới sinh con nên đánh đuổi, bắt phải về. Bò con ở lại, im lặng một mình suốt đêm trong rừng. Sáng ra, vừa mở cửa chuồng, bò mẹ chạy trước, qua mặt người dẫn đường, đến chỗ cũ đón con. Gần tới nơi, bò mẹ liên tiếp kêu ọ… ọ… ọ… Và, bò con đang trốn trong lùm, lảo đảo đi ra. Nó mừng rỡ, quyến luyến, làm nũng cọ dựa vào mẹ. Bò mẹ âu yếm bằng cách liếm khắp mình bò con. Nghĩ đến sự vô tình làm chia cách mẹ con suốt đêm qua, tôi vỗ nhẹ lên đầu bò mẹ, vuốt ve bò con như một cách tỏ lòng cảm thông, ân hận.
Tôi nhớ trước đây, cũng đã có lần chứng kiến một cảnh não lòng. Ngoài bốn mươi con bò, trại có nuôi ba con trâu: hai con trâu già và một con nghé. Một ngày gần Tết, người ta lùa trâu cha và con nghé đi ăn. Riêng trâu mẹ bị lùa vào trại, giao cho nhà bếp làm thịt. Chiều về không thấy mẹ, con nghé đứng rống thảm thiết. Sáng hôm sau, vừa được mở cửa chuồng, hai con trâu chạy xăm xăm vào trại, đến trước nhà bếp. Trâu cha đứng ngóc mỏ lên trời, hả họng như kêu một tiếng vô thanh dài xé ruột. Con nghé cúi gầm xuống, đi chung quanh nhà bếp, kêu é… ọ… é… ọ… gọi mẹ và ngửi đất. Cái hơi hướm của mẹ nó còn phảng phất đâu đây, sau khi bị phanh thây xẻ thịt. Cuối cùng, một điều hết sức đau lòng, trâu cha và con nghé đứng ngơ ngẩn nhìn nhau chảy nước mắt. Trời ơi, loài vật mà biết chảy nước mắt thì loài người cầm lòng sao đang! Liên tiếp cả mười ngày sau đó, buổi sáng nào trước khi đi ăn, trâu cha cũng dẫn con nghé đến trước nhà bếp đứng khóc. Cảnh tượng ấy, không bao giờ tôi quên. Không bao giờ quên.
Có lẽ, những ngày đi chăn bò là thời gian nhàn du thoải mái nhất của đời tôi. Lang thang giữa núi rừng. Đứng trên cao, ngắm mây đùn lên từ những lũng sâu, lướt thướt kéo qua chân núi. Trong phút chốc, tôi bỗng thấy mình như kẻ tu tiên lánh đời, tìm thuốc trường sinh trong hoa ngàn cỏ nội. Tôi cũng thường ngang qua nương rẫy. Ghé lại ngồi chơi với cụ già người Dao. Cụ dạy tôi hút thuốc lào mà không cần cái điếu cày. Bằng cách miệng ngậm nước, quấn thuốc trong chiếc lá, châm lửa, rít một hơi dài, ém khói và nhổ nước ra. Tôi tập nhiều lần, nhưng không làm được. Cụ kể tôi nghe về phong tục tập quán người dân thôn bản. Kể tôi nghe về đời cụ. Một điều làm tôi ngạc nhiên, cụ chưa bao giờ đi đâu xa quá một ngày đường. Tôi ước lượng khoảng cách ấy, không hơn năm mươi cây số. Cụ hỏi tôi từ đâu đến đây, và tại sao tôi nói được tiếng Việt? Qua câu hỏi, tôi biết trong thâm tâm cụ, miền Nam là một nước khác. Cụ có vẻ buồn khi nhắc đến những người con trai của núi rừng, bỏ thôn bản đi làm giải phóng miền Nam. Phần đông đi biệt không về. Một số rất ít trở về, kể chuyện Sài Gòn có cái nhà lầu cao bảy tầng và thành vua rất tráng lệ. Cụ không tin con người có thể cất được cái nhà bảy tầng. Nhưng tin rằng, nếu vua Sài Gòn không chịu đầu hàng thì quân Cách Mạng sẽ bắn nát thành vua. Nhân chuyện cụ già, tôi nhớ trên chuyến xe lửa chở tù lên Yên Bái. Một người bộ đội hỏi tôi, thằng Pho có đi học tập chuyến này không? Tôi hỏi lại, thằng Pho nào? Thằng Pho (Ford), tổng thống Mỹ đấy. Tôi đáp gọn, nó đang ở bên Mỹ. Anh ta tiếc rẻ, thế à? Nó cũng chạy thoát? Uổng thật! Dân trí như thế, mà người ta tuyên truyền rằng ánh sáng văn minh đèn điện đã soi rọi khắp các vùng nông thôn, rừng núi.
Tâm hồn người thượng du mộc mạc như đời sống của họ. Sáng sớm, rời mái nhà sàn, họ lên rẫy hoặc đi săn bẫy thú rừng. Bước chân không có tiếng động. Âm thầm hoang dã. Thỉnh thoảng, nghe tiếng đốn cây vọng lại. Cái âm thanh khô khốc lẻ loi như từ thinh không rớt xuống núi rừng u tịch. Buổi tối, những người trẻ đi ngủ rất sớm. Người già ngồi trầm ngâm trong ánh sáng chập chờn của ngọn đèn dầu chai. Đời họ, không có gì vui, cũng chẳng có gì buồn. Thời gian lặng lẽ trôi qua, họ tưởng như thiên nhiên muôn đời vẫn thế. Làm sao họ nhìn thấy được sự biến đổi chậm chạp của núi rừng, khi cuộc đời quá ngắn.
Mấy mươi năm về trước, có một số người miền xuôi, đi lính Tây, bị đày lên đây. Bây giờ, họ đã già lắm. Và con cháu họ cũng đã trở thành người của thượng du, nhưng họ không ở nhà sàn. Cái sân trước nhà không mọc cỏ. Chung quanh có trồng vài loại cây ăn trái. Ở mãi một nơi nào rồi cũng nhận nơi đó làm quê hương. Nếu đời cha không nhận, đời con cũng nhận. Thiên địa vô nhân. Núi rừng không vì một ai hết. Trời đất lặng thinh. Bốn mùa vẫn luân chuyển nắng mưa. Hoa lá trên ngàn vẫn xanh thắm. Không vì mặc cảm đọa đày mà con người ghét cả thiên nhiên.
Một ngày mưa dầm, tôi được lệnh chuyển trại. Thời thế đã đến hồi gay cấn. Quân của hai bên đã dàn ra, đối mặt trên biên giới. Rồi đây, núi rừng lại ầm vang tiếng súng. Người dân hiền hoà vô tội của thôn bản là nạn nhân trực tiếp hứng chịu những sấm sét do chính con người gây ra.
Con đường phía trước tôi, không biết sẽ về đâu. Trí tôi bỗng hiện ra những dốc đèo uốn khúc sơn khê. Những con suối mùa chảy xiết ngày mưa. Những thôn bản im vắng trưa hè. Tôi như nghe tiếng chim bắt-cô-trói-cột gọi buồn thê thiết. Nghe con áo-dà, con nai đêm đêm “béc” ngoài đồi tranh hiu quạnh. Nhìn lại, lán trại đìu hiu. Cái sạp, nơi tôi nằm trống hoang lạnh lẽo. Mới đây mà cơ hồ đóng bụi. Cái ống bương đựng nước rửa mặt mỗi sáng, nghiêng đổ dưới sàn. Cái giò phong lan, tôi đem về từ ngoài rừng treo trên vách nứa, như cũng có hồn biết rầu rĩ chia xa. Hàng rào trại không còn cần thiết nữa, bị phá một khoảng để lấy lối đi tắt, cũng làm tôi nao lòng. Chẳng phải tôi đã từng khó chịu vì cái hàng rào này, và mong được ở ngoài vòng kiềm toả của nó hay sao? Rời khỏi nơi đây, một chốn đã trở thành thân quen, tất cả những gì bỏ lại đều làm tôi thương nhớ. Ra đi, tôi ngó lại trong mưa, những dãy núi Hoàng Liên Sơn mù mù, đẹp như tranh và hùng vĩ biết bao.
Xin chào từ biệt những người cùng chung cảnh ngộ, đã đến đây và vĩnh viễn nằm lại núi rừng thượng du.
Lâm Chương
Ngược dòng Thác Bà, lên tận thượng nguồn dựng trại. Trại nằm trong thung lũng, sát chân núi. Núi không có tên. Núi chập chùng trùng điệp, đếm không hết. Cả một vùng bao la núi non hiểm trở trải dài lên tận biên giới, mang chung một tên Hoàng Liên Sơn.
Một thời kỳ nô lệ xa xôi, người da đen Phi Châu bị lùa xuống tàu đi biệt xứ. Tôi cũng bị lùa xuống tàu, nhưng chưa ra khỏi lằn ranh xứ sở. Thời gian không lâu mà tưởng chừng qua một kiếp. Bỏ đời cũ. Quên những buộc ràng quá khứ. Trong nghiệt ngã, suy tư nhiều sẽ không sống nổi. Dằn vặt với thương đau, sẽ không còn mạng trở về. Tinh thần đi xuống, thân xác không thể đi lên. Hãy xem mọi sự hành xác là bình thường. Tôi nghĩ thế, và thản nhiên “chém tre đẵn gỗ trên ngàn”, dựng trại.
Lán trại lợp bằng nứa, chung quanh có rào. Hàng rào cũng làm bằng nứa bắt chéo vào nhau, đầu chông nhọn hoắt. Trưởng trại nói rào để cản thú dữ, nhưng ai cũng biết rào để ngăn người từ trong thoát ra ngoài. Cổng trại là lối ra vào độc nhất, có chòi canh kiểm soát. Bên hông trại, còn một chòi canh nữa, cao bằng ngọn cây để quan sát toàn trại. Trên đó, đặt một họng súng đại liên chỉa mũi vào trại. Nơi miền cao thôn bản, súng đạn là thứ duy nhất tượng trưng văn minh của người miền xuôi.
Ở đây, không đo thời gian bằng kim đồng hồ. Trưa nghe chim bắt-cô-trói-cột kêu trên đầu núi, biết đang mùa hạ. Đêm nằm nghe cú rúc ngoài đầu hồi, biết đang mùa đông. Thung lũng ít chịu mặt trời. Âm khí núi rừng pha trong sương đục, nhòa nhòa lán trại. Cái lạnh rờn rợn nhiễm vào người, lâu dần thành quen. Thiên nhiên tập cho con người biết chịu đựng. Về với thiên nhiên, thở cùng cỏ cây. Đi trên đất ẩm, nghe mùi rong rêu lá mục. Làm quen với muỗi đói vắt rừng. Coi thường độc trùng rắn rít. Ngồi lặng hàng giờ, ngắm những bông hoa dại âm thầm ngoi lên từ kẽ đá. Thưởng thức tinh hoa của đất trời, cũng là một cách dưỡng sinh. Dựa lưng gốc đại thụ, thấu lẽ câm nín ngàn đời. Quên chuyện ngày trước. Bỏ chuyện ngày sau. Sống đời hoang dã. Thú rừng vô tâm không biết buồn. Ai nặng thất tình lục dục dễ bỏ mình giữa chốn thâm sơn. Gió lớn bốn phương về ngang thung lũng, bỗng trở mình cuộn thành cơn lốc. Lá khô bị hốt lên cao, rồi tung ra như bướm tan đàn bay tứ tán. Cái nóng mùa khô gió Lào không đủ ấm lòng thung lũng. Gió rừng không sát đất. Gió rì rào trên đọt cây. Dường xa xôi vọng lại. Dường gần gũi bên mình. Đời đang khốn khó mà nghe như có tiếng thì thầm của một quê nhà cách trở.
Ở đây, thường nghe gió hú. Các cụ già người Dao ngồi hơ tay bên bếp lửa chiều đông, kể bao nhiêu là chuyện âm hồn nương theo gió, về đậu trên ngọn rừng tru thảm khốc. Thầy Mo thương những hồn cô quạnh, không nỡ đuổi đi. Tôi, người mạt khách phương xa. Nghe chuyện thần linh ma quỷ. Nghe truyền thuyết bao đời cha ông của người Tày người Dao. Nghe bài ca gắn bó núi rừng. Thấm thía muốn trở thành người của thượng du để đêm đêm nằm dưới mái nhà sàn, thấy cây cỏ mọc đầy trong giấc chiêm bao. Tôi, kẻ trí cùn, không thuộc hết bài trường ca thôn bản, viết lại bằng mường tượng nhớ nhớ quên quên:
Bản ta có bếp lửa bằng tuổi ngôi nhà
Có người già bằng cây cổ thụ
Sống trăm năm bóng đè ngọn núi
Sinh con đẻ cái
Ở cùng cây rừng
Ở cùng đá núi
Đất cho cái ăn lấy từ nương rẫy
Nước cho cái uống lấy từ khe xanh
Thịt da thấm sương mù
Bàn tay rắn rỏi
Vỡ đất cho hạt lên mầm
Buổi sáng giắt con dao quắm
Vác cái xà gạc trên vai
Đội lá rẻ gai vào rừng
Bắt con mang con mển
Bắt con nhím con trăn
Chặt cây giang cây nứa cây vầu
Đốn cây trắc cây lim cây gụ
Đẽo gỗ làm nhà sàn
Nuôi bếp lửa trừ tà xâm nhập
Bản ta có thầy Mo
Quen với Thần Rừng Thần Núi
Biết vẽ bùa làm phép
Gọi âm binh che chở bản làng
Không sợ con cú mèo trù rủa
Không sợ con beo con báo
Về rình trong đêm tối
Thầy Mo gọi ông Trời
Cho cái mưa cái nắng
Nuôi cây lớn lên nuôi người lớn lên
Giống dòng đời đời nối tiếp ...
Tôi không hiểu ngôn ngữ người sắc tộc. Nhưng khi cụ già người Dao cất giọng, nghe như tiếng kêu trầm thống và một nỗi gì như nỗi tàn phai đang đổ xuống núi rừng lồng lộng hoàng hôn. Không như ngâm thơ. Không như hát tân cổ nhạc. Không như tụng kinh. Cái âm lên không bổng, xuống không trầm. Ê a lê lết kéo dài áo nảo. Từa tựa như pháp sư đọc thần chú. Một sắc thái hoàn toàn riêng biệt. Lẩn khuất trong lời ca, có niềm bi tráng. Cụ già chuyển ngữ bằng lời Việt. Tôi rắp tâm ghi nhớ trong lòng, mà lòng tôi thì nhòa dần theo ngày tháng nắng mưa.
Những chiều thu yên ả, ngồi trên lưng chừng núi nhìn xuống rừng. Khói nghi ngút bốc lên từ những mái nhà sàn, núp sau vòm cây. Nhớ cái bếp người thượng du. Đóm lửa đầu tiên thỉnh từ thầy Mo đem về gầy nên bếp lửa. Và đóm lửa ấy, âm ỉ ngún hoài theo thời gian, tồn tại cùng với ngôi nhà. Người Dao tin rằng lửa xua đi bóng tối ma quỷ. Muốn cho nhà cửa bình yên, phải giữ lửa hoài trong bếp. Tôi cũng muốn tin như thế, tin bất cứ điều gì huyền bí để trong tuyệt vọng, tinh thần còn có thiêng liêng làm chỗ dựa.
Những người khách bất đắc dĩ từ phương Nam xa xôi đến đây, đều ghê mùa đông Việt Bắc. Mùa đông. Ngày chưa chiều, trời đã chạng vạng từ lúc mới ra đi.
Mùa đông đến mưa phùn gió bấc
Suốt mùa đông không thấy mặt trời
Ngày xám âm u. Mưa phùn nhẹ như sương muối, thấm ẩm áo quần. Gió bấc hiu hiu, thổi cái buốt luồn vào tận xương. Vác bó nứa dài lê thê xuống núi. Đất nhão. Dốc trơn. Trượt té. Vấp ngã. Tay chân xây xước, chảy máu mà không đau. Da thịt lạnh tê, mất cảm giác.
Đường đi khó
Không khó vì ngăn sông cách núi
Mà khó vì lòng người ngại núi e sông
Có thật vậy không? Câu nói của Nguyễn Bá Học một thời lấy làm kim chỉ nam, dù hàm chỉ nghĩa bóng, giờ đây, bỗng thấy sáo rỗng. Những ai đang trên dốc đời khổ sở mới biết được cây thập tự giá trên vai Chúa Giê-Su nặng dường nào. Có vào địa ngục mới cảm thông kẻ chịu cảnh A Tỳ. Ngồi một chỗ lý thuyết suông, nói những câu triết lý để đời dễ hơn là đối mặt với thực tại gian truân. Những hình nhân tiều tụy rách rưới, vượt qua được một mùa đông là đi thêm một chặng đường vô vọng. Sự vô vọng giết người. Càng lấn sâu vào con đường vô vọng, càng gần sự chết. Chết đủ mọi cách. Đói làm suy dinh dưỡng, thân xác không còn sức đề kháng với bệnh tật. Thậm chí, cảm xoàng cũng chết. Chung quy, cũng vì không thấy được ánh sáng phía cuối con đường vô vọng.
Tôi có người bạn cùng cảnh ngộ, khi đi tiêu thấy phân có lẩn chút đàm, ứa nước mắt. Tao tới số rồi. Nếu mày còn có ngày về, cho vợ con tao biết ngày cúng giỗ. Anh bị kiết lỵ. Bị kiết lỵ coi như Ngọc Hoàng giũ sổ. Tất cả thuốc men đã bị tịch thu từ lúc mới đặt chân ra đất Bắc. Ở đây, rau sam đâm dập, vắt lấy nước uống được coi là thuốc trị bệnh kiết lỵ. Ban đầu, anh còn đi ra nhà cầu. Ngày thứ hai, tôi đào cái hố nhỏ ngoài vách lán cho anh ngồi đó. Tôi phải đi rừng. Không ai săn sóc, anh bò ra hố giữa cái lạnh mùa đông dao cắt. Sau, anh nằm luôn trong lán sạp. Ỉa ra máu. Không cần mặc quần nữa. Một kẻ có quyền từ trên khung xuống, đứng nhìn anh. Mặt lạnh. Không biểu hiện căm thù hay thương xót. Không ai có thể đoán được trong cái đầu ấy đang nghĩ gì. Hỏi có cần gì không? Bạn tôi thều thào, xin một cục đường và gói mì ăn liền. Câu trả lời dứt khoát. Đường, có ngay. Mì, xứ này không đào đâu ra được. Yêu cầu đã thỏa mãn một nửa như ân huệ cuối cùng. Tôi đưa bạn về đất, an nghỉ dưới chân đồi. Nước mắt tôi chảy ngược, không có giọt nào nhỏ xuống cho anh.
Thời mạt vận quỷ thần quay mặt
Nghiến chặc răng kình với tai ương
Người bỏ cuộc đi về với đất
Chiếu bó thây nằm lại rẫy nương
Bốn mùa đều có người đi không trở lại. Nhưng mùa đông khắc nghiệt là thời điểm dễ nhất để vĩnh biệt thế gian. Tử Thần lãng vãng đâu đây, làm sao lánh mặt? Tôi nhớ loáng thoáng trong Thiền Luận: “Tất cả đều là phương tiện tu hành”. Trước nghịch cảnh, tôi áp dụng ngay câu này để hóa giải mọi thương đau, biến nhọc nhằn thành phương tiện. Bàng Uẩn xem bửa củi gánh nước là thần thông diệu dụng. Sao tôi không xem đốn cây cuốc đất là một cách tập dưỡng sinh? Và, tôi đã đi qua mùa đông, đi qua nhiều mùa đông rét mướt bằng sự thư thái riêng tôi. Một kẻ có quyền sau nhiều ngày nhận xét, đã phê bình cách làm việc của tôi: “Giơ cuốc lên, cò ỉa. Hạ cuốc xuống, mối xông”. Câu nói làm tôi sửng sốt. Diễn tả động tác chậm, không có cái chậm nào bằng. Từ từ giơ cuốc lên, chậm như ngừng lại. Thời gian lâu đủ để con cò đậu trên cái cuốc và ỉa. Hạ xuống cũng chậm, đến nỗi trước khi nhấc cuốc lên thì mối đã xông thành tổ. Một lối diễn tả độc đáo. Rất bình dân mà cũng rất tuyệt vời. Tôi mãi lấy làm lý thú vì câu nói ngộ nghĩnh, quên cái hậu quả tai hại sau khi bị phê bình. Cứ thế, thân bị kềm chế mà ý thì phất phơ như chuyện đùa. Tưởng như hồn và xác chẳng dính dấp gì nhau.
Nhiều đêm. Tôi nghe tiếng chắc lưỡi của những người chung quanh. Những con Thạch Sùng không ngủ, nằm trằn trọc nuối tiếc hoài một thời quyền uy son vàng đã mất. Cánh cửa quá khứ đã khép lại. Nhưng cái dư âm vi vu còn đủ sức ném bao người qua cửa tử. Nuối tiếc và thống hận là chất cường toan bào mòn tâm phế. Người xưa uất khí mà trào máu họng. Đời nay, không thấy có ai. Lác đác có dăm anh hùng sĩ khí thì đã cầm súng tự bắn vào đầu, chết hết rồi. Kể chi những kẻ bợ đít mà nên danh phận. Ngồi trên đầu thiên hạ mà chăn dân. Nằm trên bụng đàn bà mà xua quân vào trận mạc. Gặp thế biến, phóng nước đại tháo thân nhanh hơn ngựa chạy trường đua. Bao giờ thấy những phường cẩu trệ bất nhân chiếm giữ những ngôi vị trọng yếu quốc gia là điềm báo trước một chế độ suy tàn. Đó là quy luật của mỗi lần lịch sử sắp sang trang. Và cái hậu quả tất yếu của nó, một số người sẽ bị xô xuống hầm tai họa. Trách ai thì chuyện cũng đã rồi. Chắc lưỡi là buông thêm một dấu chấm than (!), tượng hình cho giọt nước mắt rớt xuống đời mình. Đời mình vốn đã ướt đẫm từ khi lầm lỡ đem thân giao cho kẻ ác. Thôi thì lo “bảo tinh, dưỡng khí, tồn thần”, giữ cái bổn mạng được ngày nào hay ngày ấy. Sầu bi là tự nghiến đứt sợi dây đang treo mình trên vực thẳm.
Nếu không mặc cảm lưu đày thì sống với núi rừng là một kỳ thú. Người Tày người Dao sinh ra, lớn lên ở đây. Một nơi mà ánh sáng văn minh chưa hề chiếu rọi. Trong nhà họ, ngoài những cái cuốc con dao cái rìu làm bằng kim khí, tất cả những vật dụng còn lại đều bằng gỗ hoặc đất nung: ống bương đựng nước, nồi đất nấu cơm…
Những ngôi nhà sàn thường được dựng gần nguồn nước. Trên thế núi cao, mây ngấm hơi nước vào đất, chảy ra từ trong khe đá. Người ta dùng cây bương, đục bỏ những cái mắc làm máng dẫn nước. Nhiều cây bương nối nhau thành cái máng dài, đưa nước về tận chân nhà sàn. Nguồn nước vô tận ấy, chảy hoài không dứt. Người thượng du lợi dụng nguồn nước thiên nhiên để làm cối nước giã gạo theo nguyên tắc đánh đu, đòn bẫy. Buổi sáng, trước khi “giắt con dao quắm, vác cái xà gạc” lên rừng, họ cho một lượng thóc vừa đủ ăn trong ngày vào cối. Cứ vài phút, cái chày giã xuống một lần đều đặn. Chiều về, họ trút thóc ra nia, sàng sãy lấy gạo nấu cơm. Và, trên nóc nhà sàn, khói chiều nghi ngút bốc lên. Đời sống đơn giản, êm đềm biết bao. Tôi mơ ước một đời sống như thế, không xuống tóc đi tu mà lòng cũng tịnh yên thoát tục.
Những năm tháng làm người khách bất đắc dĩ của miền thượng du, có một dạo tôi được chỉ định chăn bò. Hai người chăn đàn bò bốn mươi con. Một trong hai người ấy, chết vì bệnh sốt rừng. Tôi là người được điền vào khoảng trống. Không phải ngẫu nhiên. Tôi vốn có bệnh bao tử, lại không được điều trị bằng thuốc men. Ở đây, bất cứ bệnh gì cũng được điều trị bằng một phương pháp rất ư là quái đản. Lao động trị liệu, như chặt cây, đốn củi, vác nứa, cuốc đất, trồng khoai v.v… Trong tình huống ấy, tôi luôn luôn tạo cho mình bộ mặt nhăn nhó trường kỳ để mỗi lần, kẻ có quyền nhìn thấy tôi như thấy một hiện tượng khó chịu. Họ chỉ muốn đẩy tôi đi cho khuất mắt. Nhưng tôi cứ hiện diện, cứ èo uột sống hoài. Cuối cùng, họ cũng tìm được cách để ít phải nhìn mặt tôi. Đó là lý do tôi được chỉ định chăn bò. Sáng ra trại, mãi đến chiều mới vác mặt trở về. Yên thân.
Buổi sáng, mở cửa chuồng. Con bò bô đầu đàn sẽ ra đầu tiên, tự động đi theo người dẫn đường. Đàn bò còn lại, lần lượt kéo theo sau. Và, một người đi sau cùng, cầm roi đét vào đít những con đi chậm, hoặc đưa mỏ ngấm nghé cỏ lá dọc đường. Đến một khoảng đất trống nào đó, người dẫn đường dừng lại. Đàn bò sẽ phân tán đi ăn chung quanh, trên những núi đồi bát ngát màu xanh. Trưa trời đứng bóng, tôi che tay lên miệng làm loa, gọi: “Bò…ơi… Bò… ơi…”. Âm thanh vang vọng núi rừng. Đàn bò lục tục về điểm tập trung, nằm nhơi cỏ. Lúc trời xế bóng, tôi đá đít con bò đầu đàn đứng dậy, nói lớn: “Bò… đi… ăn...” Đàn bò lại phân tán. Buổi chiều, tôi che tay làm loa lần nữa, gọi: “Bò… về… Bò… về…” Tại điểm tập trung, sau khi đếm đủ số bò, con bò đầu đàn lại theo người dẫn đường về chuồng trại.
Bò rất hiền và khôn, có thể hiểu được một số tiếng người thường dùng với nó. Những con bò chửa, nếu sinh con ngoài rừng, bò con đi chưa vững, khi nghe tiếng gọi: “Bò… về…”, bò mẹ sẽ giấu con trong lùm bụi để trở lại điểm tập trung. Nhưng nó sẽ lẩn quẩn không chịu về. Người chăn không biết nó mới sinh con nên đánh đuổi, bắt phải về. Bò con ở lại, im lặng một mình suốt đêm trong rừng. Sáng ra, vừa mở cửa chuồng, bò mẹ chạy trước, qua mặt người dẫn đường, đến chỗ cũ đón con. Gần tới nơi, bò mẹ liên tiếp kêu ọ… ọ… ọ… Và, bò con đang trốn trong lùm, lảo đảo đi ra. Nó mừng rỡ, quyến luyến, làm nũng cọ dựa vào mẹ. Bò mẹ âu yếm bằng cách liếm khắp mình bò con. Nghĩ đến sự vô tình làm chia cách mẹ con suốt đêm qua, tôi vỗ nhẹ lên đầu bò mẹ, vuốt ve bò con như một cách tỏ lòng cảm thông, ân hận.
Tôi nhớ trước đây, cũng đã có lần chứng kiến một cảnh não lòng. Ngoài bốn mươi con bò, trại có nuôi ba con trâu: hai con trâu già và một con nghé. Một ngày gần Tết, người ta lùa trâu cha và con nghé đi ăn. Riêng trâu mẹ bị lùa vào trại, giao cho nhà bếp làm thịt. Chiều về không thấy mẹ, con nghé đứng rống thảm thiết. Sáng hôm sau, vừa được mở cửa chuồng, hai con trâu chạy xăm xăm vào trại, đến trước nhà bếp. Trâu cha đứng ngóc mỏ lên trời, hả họng như kêu một tiếng vô thanh dài xé ruột. Con nghé cúi gầm xuống, đi chung quanh nhà bếp, kêu é… ọ… é… ọ… gọi mẹ và ngửi đất. Cái hơi hướm của mẹ nó còn phảng phất đâu đây, sau khi bị phanh thây xẻ thịt. Cuối cùng, một điều hết sức đau lòng, trâu cha và con nghé đứng ngơ ngẩn nhìn nhau chảy nước mắt. Trời ơi, loài vật mà biết chảy nước mắt thì loài người cầm lòng sao đang! Liên tiếp cả mười ngày sau đó, buổi sáng nào trước khi đi ăn, trâu cha cũng dẫn con nghé đến trước nhà bếp đứng khóc. Cảnh tượng ấy, không bao giờ tôi quên. Không bao giờ quên.
Có lẽ, những ngày đi chăn bò là thời gian nhàn du thoải mái nhất của đời tôi. Lang thang giữa núi rừng. Đứng trên cao, ngắm mây đùn lên từ những lũng sâu, lướt thướt kéo qua chân núi. Trong phút chốc, tôi bỗng thấy mình như kẻ tu tiên lánh đời, tìm thuốc trường sinh trong hoa ngàn cỏ nội. Tôi cũng thường ngang qua nương rẫy. Ghé lại ngồi chơi với cụ già người Dao. Cụ dạy tôi hút thuốc lào mà không cần cái điếu cày. Bằng cách miệng ngậm nước, quấn thuốc trong chiếc lá, châm lửa, rít một hơi dài, ém khói và nhổ nước ra. Tôi tập nhiều lần, nhưng không làm được. Cụ kể tôi nghe về phong tục tập quán người dân thôn bản. Kể tôi nghe về đời cụ. Một điều làm tôi ngạc nhiên, cụ chưa bao giờ đi đâu xa quá một ngày đường. Tôi ước lượng khoảng cách ấy, không hơn năm mươi cây số. Cụ hỏi tôi từ đâu đến đây, và tại sao tôi nói được tiếng Việt? Qua câu hỏi, tôi biết trong thâm tâm cụ, miền Nam là một nước khác. Cụ có vẻ buồn khi nhắc đến những người con trai của núi rừng, bỏ thôn bản đi làm giải phóng miền Nam. Phần đông đi biệt không về. Một số rất ít trở về, kể chuyện Sài Gòn có cái nhà lầu cao bảy tầng và thành vua rất tráng lệ. Cụ không tin con người có thể cất được cái nhà bảy tầng. Nhưng tin rằng, nếu vua Sài Gòn không chịu đầu hàng thì quân Cách Mạng sẽ bắn nát thành vua. Nhân chuyện cụ già, tôi nhớ trên chuyến xe lửa chở tù lên Yên Bái. Một người bộ đội hỏi tôi, thằng Pho có đi học tập chuyến này không? Tôi hỏi lại, thằng Pho nào? Thằng Pho (Ford), tổng thống Mỹ đấy. Tôi đáp gọn, nó đang ở bên Mỹ. Anh ta tiếc rẻ, thế à? Nó cũng chạy thoát? Uổng thật! Dân trí như thế, mà người ta tuyên truyền rằng ánh sáng văn minh đèn điện đã soi rọi khắp các vùng nông thôn, rừng núi.
Tâm hồn người thượng du mộc mạc như đời sống của họ. Sáng sớm, rời mái nhà sàn, họ lên rẫy hoặc đi săn bẫy thú rừng. Bước chân không có tiếng động. Âm thầm hoang dã. Thỉnh thoảng, nghe tiếng đốn cây vọng lại. Cái âm thanh khô khốc lẻ loi như từ thinh không rớt xuống núi rừng u tịch. Buổi tối, những người trẻ đi ngủ rất sớm. Người già ngồi trầm ngâm trong ánh sáng chập chờn của ngọn đèn dầu chai. Đời họ, không có gì vui, cũng chẳng có gì buồn. Thời gian lặng lẽ trôi qua, họ tưởng như thiên nhiên muôn đời vẫn thế. Làm sao họ nhìn thấy được sự biến đổi chậm chạp của núi rừng, khi cuộc đời quá ngắn.
Mấy mươi năm về trước, có một số người miền xuôi, đi lính Tây, bị đày lên đây. Bây giờ, họ đã già lắm. Và con cháu họ cũng đã trở thành người của thượng du, nhưng họ không ở nhà sàn. Cái sân trước nhà không mọc cỏ. Chung quanh có trồng vài loại cây ăn trái. Ở mãi một nơi nào rồi cũng nhận nơi đó làm quê hương. Nếu đời cha không nhận, đời con cũng nhận. Thiên địa vô nhân. Núi rừng không vì một ai hết. Trời đất lặng thinh. Bốn mùa vẫn luân chuyển nắng mưa. Hoa lá trên ngàn vẫn xanh thắm. Không vì mặc cảm đọa đày mà con người ghét cả thiên nhiên.
Một ngày mưa dầm, tôi được lệnh chuyển trại. Thời thế đã đến hồi gay cấn. Quân của hai bên đã dàn ra, đối mặt trên biên giới. Rồi đây, núi rừng lại ầm vang tiếng súng. Người dân hiền hoà vô tội của thôn bản là nạn nhân trực tiếp hứng chịu những sấm sét do chính con người gây ra.
Con đường phía trước tôi, không biết sẽ về đâu. Trí tôi bỗng hiện ra những dốc đèo uốn khúc sơn khê. Những con suối mùa chảy xiết ngày mưa. Những thôn bản im vắng trưa hè. Tôi như nghe tiếng chim bắt-cô-trói-cột gọi buồn thê thiết. Nghe con áo-dà, con nai đêm đêm “béc” ngoài đồi tranh hiu quạnh. Nhìn lại, lán trại đìu hiu. Cái sạp, nơi tôi nằm trống hoang lạnh lẽo. Mới đây mà cơ hồ đóng bụi. Cái ống bương đựng nước rửa mặt mỗi sáng, nghiêng đổ dưới sàn. Cái giò phong lan, tôi đem về từ ngoài rừng treo trên vách nứa, như cũng có hồn biết rầu rĩ chia xa. Hàng rào trại không còn cần thiết nữa, bị phá một khoảng để lấy lối đi tắt, cũng làm tôi nao lòng. Chẳng phải tôi đã từng khó chịu vì cái hàng rào này, và mong được ở ngoài vòng kiềm toả của nó hay sao? Rời khỏi nơi đây, một chốn đã trở thành thân quen, tất cả những gì bỏ lại đều làm tôi thương nhớ. Ra đi, tôi ngó lại trong mưa, những dãy núi Hoàng Liên Sơn mù mù, đẹp như tranh và hùng vĩ biết bao.
Xin chào từ biệt những người cùng chung cảnh ngộ, đã đến đây và vĩnh viễn nằm lại núi rừng thượng du.
"NGỰ" VÀ DÂN DÃ HUẾ
NGUYỄN ĐẶNG MỪNG
Có nhiều lọai thực phẩm cây trái được kèm theo chữ ngự phía sau được hiểu như là loại ngon, cao cấp, chỉ dành tiến vua tiến cung như chuối ngự, mía ngự, hoặc rau tiến vua. Có người hỏi vậy thì trước khi tiến vua, được mang tên ngự nó tên gì. Bó tay! Thật ra đây chỉ là một cách hiểu nhân gian truyền khẩu, như đậu ngự chẳng hạn. Đậu ngự được trồng nhiều nơi trên Việt Nam và thế giới, theo một số tự điển Việt Anh được dịch là moon bean vì nó như một nửa vầng trăng chăng. Hình thể thì có thể giống nhau nhưng hạt đậu ngự Huế có cái gì đó thanh tao hơn, mong manh hơn và…thơm hơn những nơi khác. Hạt đậu ngự xứ Huế màu trắng xanh nhẹ như nước da con gái nhà vườn Huế. Hạt đậu mới tách ra từ trái tươi hình vầng trăng khuyết thanh mảnh, nhiều bó sợi, ít tinh bột mà lại dẽo hơn, thơm hơn đậu cùng loại từ nơi khác, từ Mỹ hoặc Trung Quốc, dù loại đậu có vẽ "ngự" này bụ bẩm hơn nhiều.
Món ăn ngự thì cách chế biến cũng rất ngự.
Xin giới thiệu sơ qua về cách nấu chè đậu ngự:
Sau khi dùng móng tay tách vỏ trái đậu, dùng đầu móng tay cái bấm vào eo vầng trăng khuyết của hạt đậu cho rách lùng, vỏ đậu sẽ được lột ra dễ dàng.
Cho đậu vào xững hấp khoảng khoảng từ năm đến mười lăm phút, thử hạt trên cùng vừa mềm là được.
Nấu nước đường cát trắng hay đường phèn càng tốt, để nguội, cho từ tám đến mười hạt đậu vào trong cái chén nhỏ xíu như nắm tay con gái Huế. Nước chè trong suốt, hạt đậu chơi vơi, nhìn vào thòm thèm mà ăn thì… tội chết. Mùi hương trầm ngày rằm, đến nhà bạn gái, được mời một chén chè đậu ngự, hình đôi bàn tay nâng chén chè trắng muốt nhỏ xíu ấy sẽ theo bạn suốt đời.
Cái thanh tao của Ngự lẫn vào cái mặn chát của dân dã đã phần nào làm nên chất Thừa Thiên Huế. Tôi muốn nói đến trái vả(*), rất Huế mà không ngự.
Tôi làm chủ quán món ăn Huế hay được hỏi về cây vả, trái vả. Để hấp dẫn thực khách tôi bịa ra chuyện:Thời nhà Nguyễn có một cây sung đột biến, lá to trái lớn được dân đem tiến vua. Bắt đầu được gọi tên là sung ngự (cái gì vua dùng đều gọi là ngự, như đậu ngự , mía ngự vv...). Từ đó dân nhà vườn Huế nhân giống bán ra các chợ, vô tới Đà Nẵng, ra tới Quảng Trị. Ở Huế, Quảng Trị có câu: Trồng cây vả ngã một người nên ít ai dám trồng. Dân QT thiệt thà, mê tính nên nhà vườn Huế độc quyền về trồng vả. Bản thân tôi năm học lớp mười mới được ăn vả với thịt luộc tôm chua ở quán cơm Bà Nhơn bến xe Nguyễn Hoàng Huế.
Cây vả thân mộc, lá to bằng cái mâm. Trái ra từ thân, thường xây thành những mâm vả khít vào nhau gần dưới gốc. Trái lớn nhất bằng trái cà trắng. Vỏ xanh sần sùi, có phấn trắng. có câu đố vui về trái vả:
Áo xanh thịt trắng lòng hồng
mai mốt lấy chồng có nhớ ruốc không.
Gọt lớp vỏ ngoài, cắt miếng mỏng, kẹp với rau thơm chấm ruốc ăn ghém mà nhớ mạ ngày xưa. Ở cái xứ phương Nam món chi cũng ngọt thì có chi thú hơn vả chấm ruốc. Quán Rất Huế ở Thanh Đa có món thịt luộc thập cẩm gồm lưởi heo, dồi tường, môi mép bò…ăn với vả ruốc, ớt sừng trâu. Dân nhậu Huế, Quảng Trị hay gọi đùa là món Tam Sên. Vả có vị chát, béo, bùi; giòn hơn cà trắng. Ngoài ra còn làm vả trộn xúc bánh tráng, hoặc cắt miếng lớn nấu nhừ với xương heo. Ngày tết có thêm món vả dầm với dấm đường, nhâm nhi vị chua chát ngọt bùi với bạn bè tha hương nghe nhớ nhà chi lạ! Uống thêm hớp rượu làng Chuồn, rượu Kim Long thấm tình quê vào lòng, ôm nhau cười ha hả mà ứa nước mắt.
Mi tau từ thuở chưa râu
Đến ni râu trắng ôm bầu rượu vơi
Áo xanh từ thuở thôi nôi
Câu thơ hồng tự ruột người hồng ra
Tay cầm lát vả nhớ nhà
Rau thơm mùi ruốc tự xa thoảng về
Làm cho lát vả trắng là một bí quyết không phải ai cũng biết. Khi xắt lát vả có mủ thường bị đen, không bắt mắt. Muốn vả trắng xin mách nhỏ như sau: Lúc gọt vỏ phải nhúng nước , nước đá đang tan càng tốt. xắt vả vào trong nước hòa chanh hoặc dấm, bỏ thêm miếng nước đá, thêm một chút dầu ăn. Khi bắt đầu ăn mới xếp ra dĩa.
Hiện nay vả được trồng nhiều ở Đồng Nai, Lâm Đồng, do những người Huế chiết cành mang vào. Nhưng dân sành vả nói rằng chỉ có vả Huế mới ngon. Điều đó đúng hay không tôi chưa dám quả quyết. Thổ nhưởng mỗi nơi thường cho hoa quả có hương vị khác nhau, như cây rau thơm chẳng hạn. Có lần tôi mang giống rau thơm từ Huế vào trồng. Khí hậu đất đai miền Nam cho cây rau thơm lên rất tốt. Cắt vài lứa đầu không kém vị rau thơm ở Huế, nhưng càng về sau thì cũng giống…hương vị của rau thơm miền đất phì nhiêu này.
Chọn mua vả cũng phải có kinh nghiệm, già quá ruột bị đen, non quá lại không dòn. Khi cắt ra lòng vả có màu hồng là ngon nhất.
Trong vườn có cây vả rất tiện. Những nhà nông ở xa chợ chỉ cần hủ ruốc, đến bữa ra vườn hái vài trái vả, ít rau thơm là có thể qua được bữa ăn ngon miệng. Cây vả ở miền Đông Nam bộ có trái cả bốn mùa.
Bạn tôi ở xa về, tôi hỏi: "mi ưng ăn món chi nhất" không ngập ngừng, nó bảo: "Mi cho tau ăn một bụng vả ruốc, thèm quá".
Đất người sinh ra hương vị cây trái hay ngược lại cũng nên.
(*)Vả: Cây cùng họ với sung, lá to, quả lớn hơn quả sung, ăn được. Lòng vả như lòng sung.(theo tự điển tiếng việt của viện ngôn ngữ học).
NGUYỄN ĐẶNG MỪNG
Có nhiều lọai thực phẩm cây trái được kèm theo chữ ngự phía sau được hiểu như là loại ngon, cao cấp, chỉ dành tiến vua tiến cung như chuối ngự, mía ngự, hoặc rau tiến vua. Có người hỏi vậy thì trước khi tiến vua, được mang tên ngự nó tên gì. Bó tay! Thật ra đây chỉ là một cách hiểu nhân gian truyền khẩu, như đậu ngự chẳng hạn. Đậu ngự được trồng nhiều nơi trên Việt Nam và thế giới, theo một số tự điển Việt Anh được dịch là moon bean vì nó như một nửa vầng trăng chăng. Hình thể thì có thể giống nhau nhưng hạt đậu ngự Huế có cái gì đó thanh tao hơn, mong manh hơn và…thơm hơn những nơi khác. Hạt đậu ngự xứ Huế màu trắng xanh nhẹ như nước da con gái nhà vườn Huế. Hạt đậu mới tách ra từ trái tươi hình vầng trăng khuyết thanh mảnh, nhiều bó sợi, ít tinh bột mà lại dẽo hơn, thơm hơn đậu cùng loại từ nơi khác, từ Mỹ hoặc Trung Quốc, dù loại đậu có vẽ "ngự" này bụ bẩm hơn nhiều.
Món ăn ngự thì cách chế biến cũng rất ngự.
Xin giới thiệu sơ qua về cách nấu chè đậu ngự:
Sau khi dùng móng tay tách vỏ trái đậu, dùng đầu móng tay cái bấm vào eo vầng trăng khuyết của hạt đậu cho rách lùng, vỏ đậu sẽ được lột ra dễ dàng.
Cho đậu vào xững hấp khoảng khoảng từ năm đến mười lăm phút, thử hạt trên cùng vừa mềm là được.
Nấu nước đường cát trắng hay đường phèn càng tốt, để nguội, cho từ tám đến mười hạt đậu vào trong cái chén nhỏ xíu như nắm tay con gái Huế. Nước chè trong suốt, hạt đậu chơi vơi, nhìn vào thòm thèm mà ăn thì… tội chết. Mùi hương trầm ngày rằm, đến nhà bạn gái, được mời một chén chè đậu ngự, hình đôi bàn tay nâng chén chè trắng muốt nhỏ xíu ấy sẽ theo bạn suốt đời.
Cái thanh tao của Ngự lẫn vào cái mặn chát của dân dã đã phần nào làm nên chất Thừa Thiên Huế. Tôi muốn nói đến trái vả(*), rất Huế mà không ngự.
Tôi làm chủ quán món ăn Huế hay được hỏi về cây vả, trái vả. Để hấp dẫn thực khách tôi bịa ra chuyện:Thời nhà Nguyễn có một cây sung đột biến, lá to trái lớn được dân đem tiến vua. Bắt đầu được gọi tên là sung ngự (cái gì vua dùng đều gọi là ngự, như đậu ngự , mía ngự vv...). Từ đó dân nhà vườn Huế nhân giống bán ra các chợ, vô tới Đà Nẵng, ra tới Quảng Trị. Ở Huế, Quảng Trị có câu: Trồng cây vả ngã một người nên ít ai dám trồng. Dân QT thiệt thà, mê tính nên nhà vườn Huế độc quyền về trồng vả. Bản thân tôi năm học lớp mười mới được ăn vả với thịt luộc tôm chua ở quán cơm Bà Nhơn bến xe Nguyễn Hoàng Huế.
Cây vả thân mộc, lá to bằng cái mâm. Trái ra từ thân, thường xây thành những mâm vả khít vào nhau gần dưới gốc. Trái lớn nhất bằng trái cà trắng. Vỏ xanh sần sùi, có phấn trắng. có câu đố vui về trái vả:
Áo xanh thịt trắng lòng hồng
mai mốt lấy chồng có nhớ ruốc không.
Gọt lớp vỏ ngoài, cắt miếng mỏng, kẹp với rau thơm chấm ruốc ăn ghém mà nhớ mạ ngày xưa. Ở cái xứ phương Nam món chi cũng ngọt thì có chi thú hơn vả chấm ruốc. Quán Rất Huế ở Thanh Đa có món thịt luộc thập cẩm gồm lưởi heo, dồi tường, môi mép bò…ăn với vả ruốc, ớt sừng trâu. Dân nhậu Huế, Quảng Trị hay gọi đùa là món Tam Sên. Vả có vị chát, béo, bùi; giòn hơn cà trắng. Ngoài ra còn làm vả trộn xúc bánh tráng, hoặc cắt miếng lớn nấu nhừ với xương heo. Ngày tết có thêm món vả dầm với dấm đường, nhâm nhi vị chua chát ngọt bùi với bạn bè tha hương nghe nhớ nhà chi lạ! Uống thêm hớp rượu làng Chuồn, rượu Kim Long thấm tình quê vào lòng, ôm nhau cười ha hả mà ứa nước mắt.
Mi tau từ thuở chưa râu
Đến ni râu trắng ôm bầu rượu vơi
Áo xanh từ thuở thôi nôi
Câu thơ hồng tự ruột người hồng ra
Tay cầm lát vả nhớ nhà
Rau thơm mùi ruốc tự xa thoảng về
Làm cho lát vả trắng là một bí quyết không phải ai cũng biết. Khi xắt lát vả có mủ thường bị đen, không bắt mắt. Muốn vả trắng xin mách nhỏ như sau: Lúc gọt vỏ phải nhúng nước , nước đá đang tan càng tốt. xắt vả vào trong nước hòa chanh hoặc dấm, bỏ thêm miếng nước đá, thêm một chút dầu ăn. Khi bắt đầu ăn mới xếp ra dĩa.
Hiện nay vả được trồng nhiều ở Đồng Nai, Lâm Đồng, do những người Huế chiết cành mang vào. Nhưng dân sành vả nói rằng chỉ có vả Huế mới ngon. Điều đó đúng hay không tôi chưa dám quả quyết. Thổ nhưởng mỗi nơi thường cho hoa quả có hương vị khác nhau, như cây rau thơm chẳng hạn. Có lần tôi mang giống rau thơm từ Huế vào trồng. Khí hậu đất đai miền Nam cho cây rau thơm lên rất tốt. Cắt vài lứa đầu không kém vị rau thơm ở Huế, nhưng càng về sau thì cũng giống…hương vị của rau thơm miền đất phì nhiêu này.
Chọn mua vả cũng phải có kinh nghiệm, già quá ruột bị đen, non quá lại không dòn. Khi cắt ra lòng vả có màu hồng là ngon nhất.
Trong vườn có cây vả rất tiện. Những nhà nông ở xa chợ chỉ cần hủ ruốc, đến bữa ra vườn hái vài trái vả, ít rau thơm là có thể qua được bữa ăn ngon miệng. Cây vả ở miền Đông Nam bộ có trái cả bốn mùa.
Bạn tôi ở xa về, tôi hỏi: "mi ưng ăn món chi nhất" không ngập ngừng, nó bảo: "Mi cho tau ăn một bụng vả ruốc, thèm quá".
Đất người sinh ra hương vị cây trái hay ngược lại cũng nên.
(*)Vả: Cây cùng họ với sung, lá to, quả lớn hơn quả sung, ăn được. Lòng vả như lòng sung.(theo tự điển tiếng việt của viện ngôn ngữ học).
Chả Cá Lý Trần Quán
Hoàng Hải Thủy
Sài Gòn, Thủ Đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, có đặc điểm là 'không người Việt nào biết cái tên Sài Gòn từ đâu mà ra, tại sao Sài Gòn lại có tên là Sài Gòn, Sài Gòn nghiã là gì?' Nhiều người tìm hiểu nguồn gốc cái tên Sài Gòn, nhiều người giải nghĩa cái tên Sài Gòn, nhưng cho đến nay tất cả đều chỉ là giả thuyết — người cho Sài Gòn xuất từ cái tên Sai Pregor: Rừng Gòn của người Miên, người bảo Sài Gòn do tiếng Tây Cống: đất dâng cho Tây, của người Tầu, tiếng Tầu là Đề ngạn — giả thuyết nào cũng khập khiễng, không có giả thuyết nào đáng tin.
Sau khi Thực dân Pháp đến, nước ta mới có Sài Gòn. Người Pháp lập Thành phố Sài Gòn năm 1865. Chỉ mới 150 năm ta có Sài Gòn, lịch sử Việt đã mù mờ về cái tên Sài Gòn, nói chi đến vài trăm năm nữa. Nghìn năm sau sẽ không bao giờ người Việt Nam biết Sài Gòn nghĩa là gì, tại sao lại có tên Sài Gòn.
Đặc điểm thứ hai của Sài Gòn là tên những đường phố Sài Gòn, thoạt đầu, đều do người Pháp đặt. Trước năm 1956, 1 triệu người Sài Gòn thì 1 triệu 574.890 người không biết những cái tên Charner, Bonard, Galliéni, Paul Blanchy, Colonel Boudonnet, Colonel Grimaud, Général Lizé, Kitchener, Jaureguiberry là ai, từng làm gì ở Sài Gòn, sống chết hồi nào. Tất cả những tên đường phố Sài Gòn — từ ngày có Sài Gòn đến Tháng 3, 1955 - đều là những tên người lạ hoắc.
Ngày 22 Tháng Ba, năm 1955 Chính phủ Ngô Đình Diệm — khi ấy ông Ngô Đình Diệm còn là Thủ Tướng — làm cuộc đổi tên những đường phố Sài Gòn. Một Ủy ban lo việc đổi tên đường được thành lập ở Tòa Đô Chính Sài Gòn, thời ông Đô Trưởng Nguyễn Phú Hải. Tôi không biết thành viên ủy ban ấy là những ai, ai là Chủ tịch, tôi thấy ủy ban làm việc thật hay, lấy tên những danh nhân đặt tên cho những đường phố Sài Gòn thật đúng, công bằng, gần như không có thiếu xót, không có khuyết điểm nào đáng kể. Sẽ có nhiều trang SÀI GÒN VANG BÓNG viết về những tên đường Sài Gòn Xưa.
Việc đổi tên đường Sài Gòn là việc làm nói lên chuyện Sài Gòn trở thành thành phố của người dân Việt Nam. Trước năm 1956, Sài Gòn, với những tên đường toàn tên người Pháp, là của người Pháp. Nói cách khác, nhẹ hơn, trước năm 1956 người Pháp làm chủ Sài Gòn, từ năm 1956 Sài Gòn là của người Việt, Sài Gòn là thành phố của người Sài Gòn.
Từ Tháng Ba năm 1955, Sài Gòn có những đường Hai Bà Trưng, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Lê Lai, Lê Thánh Tôn, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Huyền Trân Công Chúa, Nguyễn Du, Tản Đà, Tú Xương, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trần Cao Vân, Phan Thanh Giản, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Cao Thắng, Đinh Công Tráng, Đồ Chiểu, Nguyễn Thái Học, Ký Con, Cô Giang, Cô Bắc, Bùi Thị Xuân, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Sương Nguyệt Anh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng, Tiểu La. Nhiều nữa, không thể kể hết trong một trang báo. Từ năm 1956 đến năm 1975, ta hỏi 1 triệu người Sài Gòn thì có 999.999 người biết những danh nhân được đặt tên đường đó là ai, từng làm gì cho đất nước, cho dân tộc; dân Sài Gòn quen biết, yêu kính những danh nhân ấy.
Thế rồi bọn Bắc Cộng vào Sài Gòn. Bắt chước bọn Nga Cộng đổi tên thành phố Saint Peterburg ra Leningrad, bọn Bắc Cộng đổi tên Sài Gòn ra tên Hồ Chí Minh, chúng đưa một lô tên Việt Cộng lên những bảng tên đường Sài Gòn. Tình trạng người Sài Gòn xa lạ với những tên người–tên đường những năm 1930,
1940, 1950 lại xẩy ra sau năm 1975.
Sau năm 1975, nếu ta hỏi 1 triệu người dân Sài Gòn:
- Võ thị Sáu, Mạc thị Bưởi, Nguyễn thị Minh Khai, Lê thị Hồng Gâám, Nơ trang Long. Hoàng văn Thụ, Huỳnh văn Bánh, Nguyễn văn Đậu là ai?
Sẽ có 1 triệu 999.999 người Sài Gòn trả lời:
- Những thằng cha cà chớn, những con mẹ cà cháo. Tôi đâu có biết chúng là ai! Tôi chỉ biết chúng là bọn Việt Cộng.
Tôi vừa kể ba đặc điểm của Sài Gòn:
Không ai biết tên Sài Gòn từ đâu ra, Sài Gòn nghĩa là gì.
Trong 25 năm hai lần Sài Gòn đổi tên đường: lần 1 năm 1955, lần 2 năm 1975.
Hai lần, thời Pháp bảo hộ, và thời Bắc Cộng đàn áp, bóc lột, người Sài Gòn không biết những nhân vật được đặt tên đường là ai, từng làm gì.
Hôm nay tôi chọn trong thành phố Sài Gòn trước 1975 hai đường:
Đường Lý Trần Quán, Tân Đinh, tên Pháp trước năm 1956 là đường Barbier.
Đường Lê Quí Đôn, Quận 3, tên Pháp trước năm 1956 là đường Barbé.
Mời quí vị đọc chuyện đời tư của hai nhân vật Lý Trần Quán, Barbé.
*****
Năm xửa, năm xưa..
Chiều nay ở xứ người, nhớ lại, cứ tưởng như chiều hôm qua..
Rời cửa chợ Tân Định, tôi đi trên đường Trần Văn Thạch bên chợ. Bác sĩ Trần Văn Thạch bị Việt Minh, tên trước năm 1960 của bọn Việt Cộng ác ôn, bắn chết ở Sài Gòn năm 1945. Mãi đến năm 2007 ở Hoa Kỳ, nhờ Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu kể trong hồi ký của ông, tôi mới biết tên Việt Cộng Trần văn Giầu là tên giết ông Trần Văn Thạch. Thi sĩ Đinh Hùng ở đường Trần Văn Thạch từ năm 1956 đến sau ngày ông qua đời năm 1968, bà vợ ông dọn nhà sang ở bên Khánh Hội. Trước năm 1955 tên tiếng Pháp của đường Trần Văn Thạch, Tân Định, là đường Vassoigne.
Trên đường Trần Văn Thạch, qua rạp Xi-nê Moderne, tôi đến đường Lý Trần Quán, đường này từ đường Hiền Vương — tên tiếng Pháp là Mayer — đến đường Trần Văn Thạch, tên tiếng Pháp của đường Lý Trần Quán là đường Barbier.
Đây là chuyện về nhân vật Lý Trần Quán được ghi trong tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí:
Năm Bính Ngọ, quân Tây Sơn đánh vào thành Thăng Long. Đoan Nam Vương Trịnh Khải chạy lên Sơn Tây, bị bắt, dùng dao đâm cổ tự tử. Lý Trần Quán có can dự vào việc chúa Trịnh Khải bị bắt. Trước khi kể chuyện Lý Trần Quán-Trịnh Khải, tôi viết về tiếng 'Chúa' trong ngôn ngữ Việt ta.
Người Tầu có hai tiếng 'đế' và 'vương', ta theo người Tầu, dùng hai tiếng 'đế, vương', nhưng ta chỉ có một tiếng 'vua' để gọi cả hai tiếng 'đế, vương'; như đời Trần Vua là Hoàng Đế phong cho ông Trần Quốc Tuấn là Hưng Đạo Vương, đời Nguyễn Vua Tự Đức là Đại Nam Hoàng Đế, phong tước Vương cho các ông Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương. Tôi chắc tiếng 'Chúa' có trong ngôn ngữ nước ta từ đời Vua Lê, Chúa Trịnh. Vua Lê phong 'Vương' cho các ông Tể Tướng họ Trịnh, dân không thể gọi Vua Lê là Vua mà cũng gọi các ông tước Vương họ Trịnh là Vua, nên dân gọi các ông Trịnh Vương là Chúa. 'Chúa' là tiếng Việt của tiếng 'Chủ'. Thiên Chủ — Chủ Trời — ta gọi là Thiên Chúa, Chủ nhật: Chúa nhật, Chủ Công — nôm na là Ông Chủ — các ông Việt dịch truyện Tam Quốc Chí gọi là 'Chúa Công'. Tiếng Chúa có nhiều quyền uy hơn tiếng Chủ. 'Vắng Chúa nhà, gà mọc đuôi tôm' nguyên là 'Vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm'. 'Vắng Chúa nhà' nghe hay hơn là ' Vắng Chủ nhà'. Như 'Ăn cơm Chúa, múa tối ngày, Bà Chúa đứt tay, ăn mày đổ ruột, Chồng Chúa, vợ tôi, Nợ như Chúa Chổm, Trạng chết Chúa cũng ra ma. Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trôn.'
Cùng trường hợp đó, người Tầu có trâu và bò nhưng chỉ có một tiếng 'ngưu' để gọi cả trâu và bò. Vì vậy người Tầu có tiếng thanh ngưu, thủy ngưu: ngưu xanh, ngưu nước để gọi trâu, có hoàng ngưu: ngưu vàng để gọi bò, bò lông mầu vàng.
Đoan Nam Vương Trịnh Khải bỏ kinh đô Thăng Long, chạy lên Sơn Tây, Chuá không còn quân đội, chỉ còn một số người theo hầu. Lý Trần Quán đang giữ một chức quan ở Sơn Tây, ra đón Chúa, rồi sai một học trò của ông là Nguyễn Trang bảo vệ Chúa, đưa Chúa đi trốn. Ông không cho Nguyễn Trang biết người ông sai hắn đưa đi là Đoan Nam Vương. Trang bắt Chúa Trịnh giao cho quân Tây Sơn.
Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Truyện Sử. Ngô Gia Văn Phái viết.
Quán từ biệt Chúa, trở về nhà riêng. Còn Trang thì cùng bọn thủ hạ đi bảo vệ Đoan Nam Vương, nhưng Trang lại đưa Chúa về nhà riêng của hắn, tra hỏi Chúa:
- Ông là Đoan Nam Vương thì nói thực đi. Ông dấu tôi, có chuyện gì xẩy ra, đừng trách tôi.
Chúa nói:
- Sao anh lại đoán xằng như vậy? Ta là quan Tham Tụng Bùi Huy Bích.
Trang nói:
- Ông đừng nói dối. Cái bộ điệu Chúa tôi nửa kín, nửa hở của các ông tôi thấy rồi. Ông mà không phải là Đoan Nam Vương thì còn là ai nữa. Chuyện đế vương còn mất là chuyện thường, tôi khuyên ông nên chịu hàng đi, cho đỡ khổ thân, trước sau gì ông cũng bị bắt.
Chúa nổi gịận:
- Ta là Đại Nguyên Soái Đoan Nam Vương. Ta chết là do mệnh trời. Mày muốn làm gì thì làm.
Trang cho người đi báo với quân Tây Sơn. Tất cả những người đi theo Chúa đều bị bắt giữ.
Quán nghe tin có biến, đến chỗ Chúa bị giam giữ, quì lậy, rập đầu xuống đất, nói:
- Làm Chúa đến nỗi này là tội của tôi.
Chúa Trịnh an ủi:
- Khanh nào có tội gì.
Quán lậy rồi lui ra, nói với Trang:
- Chúa là Chúa chung của mọi người. Chúa là Chúa của ta mà cũng là Chúa của anh, ta là thầy học của anh, ta từng dậy anh vua tôi nghĩa lớn, sao anh nỡ phản Chúa?
Trang nói:
- Tại sao ông không cho tôi biết ông ấy là Đoan Nam Vương, nếu ông nói, tôi có thể từ chối việc ông bảo tôi làm. Nếu tôi đưa ông ấy trốn thoát, người Tây Sơn biết chuyện, đời nào họ để cho tôi được sống? Khi ấy ông có thể giảng nghĩa vua tôi để cứu tôi khỏi chết không? Sợ Chúa, sợ Thầy không bằng sợ Giặc, yêu Chúa không bằng yêu thân mình. Ông đừng nói lôi thôi.
Khi Chúa bị Trang giải đi, Quán quì bên đường, lậy, khóc, kêu lớn:
- Trời ơi..! Tôi giết Chúa tôi..!
Chúa đứng lại, nói lời an ủi:
- Lòng trung của khanh 'cô' đã biết, khanh đừng tự oán như thế.
Trên đường đi, trời nắng, Chúa Trịnh được cho vào ngồi nghỉ trong một quán nước bên đường. Chúa vớ được con dao của nhà hàng, cầm dao đâm vào cổ. Trang dằng được dao. Vết thương không lớn, Chúa dùng ngón tay móc cho vết thương lớn ra. Một lúc sau, Chúa đòi uống nước lạnh. Trang lấy nước cho Chúa uống. Chúa uống xong là gục xuống chết. Trang khiêng xác Chúa đến nộp cho quân Tây Sơn. Xác Chúa bị phơi ở cửa Tuyên Vũ thành Thăng Long cho mọi người thấy. Ngày Chúa Trịnh Khải chết là ngày 26 Tháng Sáu năm Bính Ngọ, 1786.
Quán đưa tiễn Chúa đến Hạ Lôi, ông ở lại đó mà không về nhà. Ông nói với ông chủ nhà trọ:
- Bề tôi mà làm hại vua, tội đáng chết. Nếu tôi không chết, không lấy gì tỏ được lòng tôi với Trời Đất. Nhờ ông giúp tôi: mua cho tôi một cỗ quan tài, mười vuông vải trắng, để tôi làm theo cái chí của tôi.
Chủ nhà hết sức can ngăn, Quán nói:
- Tôi đã muốn chết thì không thiếu gì cách chết. Ông nên giúp cho tôi được chết đường hoàng, sạch, đẹp. Tôi chịu ơn ông.
Biết không thể ngăn Quán, chủ nhà đành làm theo lời Quán. Quán nhờ người đào cái huyệt, cho quan tài xuống huyệt, xé vải trắng làm khăn và dây lưng. Quán chít khăn trắng, thắt dây lưng, quì hướng về phía nam, lậy hai lậy, rồi xuống huyệt, nằm vào quan tài, bảo chủ nhà đậy nắp lại rồi lấp đất.
Đã nằm trong quan tài, Quán nói lời cuối:
- Tôi có câu này, ông nói dùm với con cháu tôi:
Tam niên chí hiếu dĩ hoàn.
Thập phần chi trung vị tận.
Nhờ ông bảo con cháu tôi viết hai câu ấy mà thờ tôi.
Lại nói:
- Đa tạ ông chủ. Vĩnh biệt ông.
Chủ nhà và năm, sáu người nhà cùng sụp lậy Quán trước huyệt, rồi đậy nắp áo quan, lấp đất. Hôm ấy là ngày 29 Tháng Sáu năm Bính Ngo, 1786, sau khi Chúa Trịnh Khải chết hai ngày.ï
Lý Trần Quán người làng Văn Canh, huyện Từ Liêm, đỗ tiến sĩ khóa Bính Tuất, 1766, tính nết giản dị, chất phác, rất hiếu thảo. Trong khi chịu tang mẹ, Quán làm lều ở bên mồ ba năm liền, không ăn thịt cá, thân xác gầy rạc, chỉ còn da bọc xương.
Ông thường nói:
- Những việc ta làm trong đời ta chỉ có ba năm chịu tang là gần với đạo làm người.
Tam niên chí hiếu dĩ hoàn.
Thập phần chi trung vị tận.
Đạo hiếu ba năm đã trọn.
Chữ trung mười phần chưa xong.
Đấy là chuyện ông Lý Trần Quán, người có tên đường ở khu Tân Định, Sài Gòn. Ông chết vì Chúa Trịnh, ông không chết vì nước. Cái chết của ông có mầu sắc Quân Tử Tầu. Qua mấy ngàn năm lịch sử phong kiến Tầu, có nhiều ông Quân Tử Tầu chết những cái chết nếu không lảng nhách thì cũng lảng xẹt. Nhưng vì những cái chết lảng ấy tên tuổi các ông được ghi trong lịch sử. Xong không thấy có ông Quân Tử Tầu nào chết cái chết ly kỳ như ông Quân Tử Việt Lý Trần Quán.
Còn sống, tự vào nằm trong quan tài, cho người lấp đất, chịu ngạt thở cho đến chết. Khó lắm. Ai làm được như thế? Chỉ có ông Việt Nam Lý Trần Quán. Trung với Chúa là trung với Vua, đời xưa trung với vua là trungvới nước, trung với dân. Người đời sau kính trọng ông Lý Trần Quán vì lòng trung của ông, lấy tên ông đặt tên đường. Giăc Cộng vào Sài Gòn, bỏ tên đường Lý Trần Quán, thay vào đó là cái tên Mụ Việt Cộng Thạch thị Thanh, người Miên.
Với tôi, đường Lý Trần Quán mãi mãi là đường Lý Trần Quán, năm 1954 tôi hai mươi tuổi, tôi và người yêu đến đường Barbier ăn Chả Cá Sơn Hải, ăn phở, ăn miến gà Nhà hàng Ngọc Sơn; năm 1970 tôi bốn mươi tuổi, tôi và vợ tôi đến đường Lý Trần Quán ăn Chả Cá Sơn Hải, — Ông chủ tiệm Sơn Hải tôi quên tên, từng làm Steward Air France, Sơn Hải Chả Cá còn có món Ốc Hấp Lá Gừng đặc biệt Bắc Kỳ tuyệt cú mèo, và món Miến Cua, Cháo Cua;
Chả Cá chân chính là phải có Cà Cuống, Bà Chủ Sơn Hải tự tay dùng compte-goutte rỏ từng giọt Cà Cuống vào chén mắm tôm ở bàn ăn trước mặt khách, Cà Cuống Chả Cá Sơn Hải là Cà Cuống Chính Cống, Thiên Nhiên, Thiên Tạo, được tính tiền từng giọt — Ngày nào Sài Gòn trở lại là Sài Gòn, người Việt sẽ gỡ bảng tên đường Thạch thị Thanh quẳng vào hố rác cùng với bảng tên Thành phố Hồ Chí Minh, ngày ấy người Việt lại treo lên bảng tên đường Lý Trần Quán.
Mời quí vị đọc tiểu truyện về Đại Úy Pháp Barbé, người có tên đường ở Sài Gòn; năm 1956 đường Barbé trở thành đường Lê Quí Đôn. Đường Lê Quí Đôn từ đường Hồng Thập Tự sang đường Hiền Vương, chạy sau Trường Nữ Học Marie Curie; Villa số 8 đường Lê Quí Đôn năm 1975 là Nhà USIS — United States Information Service — Sở Thông Tin Hoa Kỳ. Lúc 5 giờ chiều ngày 29 Tháng Tư, 1975, người anh em cùng vợ với tôi là Hoàng Hải Thủy cùng vợ con anh ra khỏi Nhà USIS; anh đưa vợ con anh đến đấy chờ người Mỹ đưa đi khỏi Sài Gòn, nhưng, chuyện xưa quá dzồi, đã kể nhiều lần..
Tiểu truyện Đại Úy Barbé là một chuyện tình. Đây có thể là Cuộc Tình Pháp Việt Thứ Nhất trong Lịch Sử Việt Nam. Một chuyện Tình Bi Thảm — viết hoa 3 chữ T, B, T — Chuyện xẩy ra năm 1860, quân Pháp mới chiếm Sài Gòn — khi ấy Sài Gòn chưa có tên là Sài Gòn — vùng này hoang vắng, toàn gò rạch và cây cỏ như rừng. Quân Pháp đóng trong mấy cái chùa của ta ở khu trung tâm về sau là những đường Hồng Thập Tự, Tự Do, Nguyễn Huệ, quân ta đóng ở vùng Kỳ Hòa, tức vùng sau này là Nhà Tù Chí Hòa, chợ Hòa Hưng, Trường Đua Phú Thọ. Đại Úy Barbé đóng quân trong chùa Khải Tường, chùa này năm xưa ấy ở khoảng đầu đường Lê Quí Đôn, gần đường Hồng Thập Tự.
Một hôm dẫn lính đi tuần ở ven sông. Đại Úùy Barbé thấy một bè chuối trôi sông, trên bè có một người đàn ông Việt, một thiếu phụ Vịệt, cả hai cùng bị trói. Bè chuối rạt vào bờ sông, Đại Úy Barbé cho lính mang hai người từ bè chuối lên bờ, người đàn ông đã chết, người thiếu phụ hấp hối. Ông cho lính khiêng thiếu phụ về đồn, tức về chùa Khải Tường, nhờ y sĩ Pháp cứu cấp.
Thiếu phụ bị thả bè chuối trôi sông thoát chết. Chuyện truyền khẩu trong dân gian kể Nàng tên là Thị Ba, có nhan sắc, bị ép làm vợ một ông Lãnh binh Việt Nam. Trước khi làm vợ ông Lãnh binh, nàng có người yêu. Có chồng rồi nàng và người tình vẫn lén gặp nhau, họ bị ông Lãnh rình, bắt lúc họ đang tình tự, ông Lãnh trói họ, cho họ lên bè chuối, thả trôi sông cho chết.
Bè chuối trôi sông là một hình phạt ngày xưa: người có tội bị lột quần áo, trói tay chân, nằm trên bè chuối thả trôi trên sông. Bè chuối làm bằng những thân cây chuối. Thường là những cặp nam nữ can tội gian dâm bị trừng phạt bằng cách cho lên bè chuối, thả bè trôi sông, chịu nắng đói, khát mà chết.
Thị Ba được y sĩ Pháp cứu thoát chết, nàng sống trong đồn Khải Tường của quân Pháp. Đại Úy Barbé yêu nàng. Một thời gian sau nàng xin Đại Úy cho nàng về thăm nhà, Đại Úy cho nàng đi. Ông như phát điên khi được tin người ông yêu bị quân Việt Nam bắt. Ông ân hận vì ông đã cho phép nàng ra khỏi đồn. Ông tung người đi tìm xem nàng bị giam ở đâu để đến cứu nàng.
Một chiều gần tối, có người đến đồn báo Thị Ba trốn khỏi nơi giam giữ, đi về đồn Khải Tường nhưng bị quân Việt bắt lại ngay tại một chỗ gần đồn. Được tin, Đại Úy Barbé một mình, một súng, nhẩy lên ngựa, phi đến chỗ ông được cho biết là nơi người yêu của ông đang bị giữ. Từ đồn Khải Tường, Đại Úy tới khoảng về sau là Công Trường Dân Chủ, Ngã Sáu Hiền Vương- Yên Đổ — Trần Quốc Toản- Lê Văn Duyệt thì lọt vào ổ phục kích. Quân Việt xông ra dùng dáo, mác đâm ông chết. Sáng hôm sau lính Pháp mới tìm thấy xác ông.
Chuyện dân gian không cho biết về sau số phận người thiếu phụ Việt tên là Thị Ba ra sao, chỉ biết chuyện Đại Úy Barbé bị quân Việt giết chết là chuyện thật. Chính quyền Pháp đặt tên con đường có Chùa Khải Tường-Đồn Lính Pháp là Đường Barbé. Chùa Khải Tường, cùng hai, ba chuà khác trong vùng, sau đó bị phá.
Năm 1955 đường Barbé đổi thành đường Lê Quí Đôn. Năm 2008, một người Việt Nam tị nạn cộng sản, sống đời biệt xứ ở Hoa Kỳ, viết lại chuyện ông Lý Trần Quán, chuyện tình Pháp Việt Barbé-Thị Ba, trong tập hoài niệm tên là SÀI GÒN VANG BÓNG.
Hoàng Hải Thủy
Phụ lục:
Tháng Sáu 2008, một tin trên Web nhắc đến Chuà Khải Tường.
Bản tin tiếng Anh:
* During a trip to ho chi minh City, Ambassador Michael Michalak visited the Museum of Vietnamese History to observe restoration of some of the museum's Buddha statues through the Ambassador's Fund for Cultural Preservation. Among 17 Buddha statues whose restoration was funded under this project, the one that impressed the delegation the most was the 19th century, Amitaba-wood statue from Khai Tuong Pagoda. This large statue, 196cm height and 135 cm in width, was carved out of the jackfruit tree and covered in red lacquer and emulsified gold. This statue was created at the behest of Emperor Minh Mang (1820-1840). The Khai Tuong pagoda was formerly located in the area of the current Museum of War Memorials. The pagoda was destroyed by the French colonists in the 19th century.
* Trong chuyến đến Thành phố Hồ chi Minh, Đại sứ Michael Michalak đến thăm Viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam để xem việc tu bổ một số Tượng Phật được thực hiện qua Quỹ Bảo Tồn Văn Hoá của ông Đại sứ. Trong số 17 bức Tượng Phật được tu bổ theo Quỹ nói trên, bức tượng làm phái đoàn Mỹ chú ý nhất là Tượng Phật Amitaba, nguyên là tượng của chuà Khải Tường. Bức tượng lớn này, cao 196 cm, bề ngang 135 cm, được tạc từ gỗ mít, sơn son, thếp vàng. Tượng này được làm theo lệnh của Vua Minh Mạng (1820-1840). Chuà Khải Tương trước nằm trong khu nay có Nhà Bảo Tàng Chiến Tranh; chùa bị những ngưòi thực dân Pháp phá hủy trong Thế kỷ 19.
Théc méc: Tượng bằng gỗ mít cao 2 thước Tây không có chi lạ, nhưng có cây mít nào thân cây lớn đến 1 thước 50 phân không? CTHĐ
Hoàng Hải Thủy
Hoàng Hải Thủy
Sài Gòn, Thủ Đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, có đặc điểm là 'không người Việt nào biết cái tên Sài Gòn từ đâu mà ra, tại sao Sài Gòn lại có tên là Sài Gòn, Sài Gòn nghiã là gì?' Nhiều người tìm hiểu nguồn gốc cái tên Sài Gòn, nhiều người giải nghĩa cái tên Sài Gòn, nhưng cho đến nay tất cả đều chỉ là giả thuyết — người cho Sài Gòn xuất từ cái tên Sai Pregor: Rừng Gòn của người Miên, người bảo Sài Gòn do tiếng Tây Cống: đất dâng cho Tây, của người Tầu, tiếng Tầu là Đề ngạn — giả thuyết nào cũng khập khiễng, không có giả thuyết nào đáng tin.
Sau khi Thực dân Pháp đến, nước ta mới có Sài Gòn. Người Pháp lập Thành phố Sài Gòn năm 1865. Chỉ mới 150 năm ta có Sài Gòn, lịch sử Việt đã mù mờ về cái tên Sài Gòn, nói chi đến vài trăm năm nữa. Nghìn năm sau sẽ không bao giờ người Việt Nam biết Sài Gòn nghĩa là gì, tại sao lại có tên Sài Gòn.
Đặc điểm thứ hai của Sài Gòn là tên những đường phố Sài Gòn, thoạt đầu, đều do người Pháp đặt. Trước năm 1956, 1 triệu người Sài Gòn thì 1 triệu 574.890 người không biết những cái tên Charner, Bonard, Galliéni, Paul Blanchy, Colonel Boudonnet, Colonel Grimaud, Général Lizé, Kitchener, Jaureguiberry là ai, từng làm gì ở Sài Gòn, sống chết hồi nào. Tất cả những tên đường phố Sài Gòn — từ ngày có Sài Gòn đến Tháng 3, 1955 - đều là những tên người lạ hoắc.
Ngày 22 Tháng Ba, năm 1955 Chính phủ Ngô Đình Diệm — khi ấy ông Ngô Đình Diệm còn là Thủ Tướng — làm cuộc đổi tên những đường phố Sài Gòn. Một Ủy ban lo việc đổi tên đường được thành lập ở Tòa Đô Chính Sài Gòn, thời ông Đô Trưởng Nguyễn Phú Hải. Tôi không biết thành viên ủy ban ấy là những ai, ai là Chủ tịch, tôi thấy ủy ban làm việc thật hay, lấy tên những danh nhân đặt tên cho những đường phố Sài Gòn thật đúng, công bằng, gần như không có thiếu xót, không có khuyết điểm nào đáng kể. Sẽ có nhiều trang SÀI GÒN VANG BÓNG viết về những tên đường Sài Gòn Xưa.
Việc đổi tên đường Sài Gòn là việc làm nói lên chuyện Sài Gòn trở thành thành phố của người dân Việt Nam. Trước năm 1956, Sài Gòn, với những tên đường toàn tên người Pháp, là của người Pháp. Nói cách khác, nhẹ hơn, trước năm 1956 người Pháp làm chủ Sài Gòn, từ năm 1956 Sài Gòn là của người Việt, Sài Gòn là thành phố của người Sài Gòn.
Từ Tháng Ba năm 1955, Sài Gòn có những đường Hai Bà Trưng, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Lê Lai, Lê Thánh Tôn, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Huyền Trân Công Chúa, Nguyễn Du, Tản Đà, Tú Xương, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trần Cao Vân, Phan Thanh Giản, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Cao Thắng, Đinh Công Tráng, Đồ Chiểu, Nguyễn Thái Học, Ký Con, Cô Giang, Cô Bắc, Bùi Thị Xuân, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Sương Nguyệt Anh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng, Tiểu La. Nhiều nữa, không thể kể hết trong một trang báo. Từ năm 1956 đến năm 1975, ta hỏi 1 triệu người Sài Gòn thì có 999.999 người biết những danh nhân được đặt tên đường đó là ai, từng làm gì cho đất nước, cho dân tộc; dân Sài Gòn quen biết, yêu kính những danh nhân ấy.
Thế rồi bọn Bắc Cộng vào Sài Gòn. Bắt chước bọn Nga Cộng đổi tên thành phố Saint Peterburg ra Leningrad, bọn Bắc Cộng đổi tên Sài Gòn ra tên Hồ Chí Minh, chúng đưa một lô tên Việt Cộng lên những bảng tên đường Sài Gòn. Tình trạng người Sài Gòn xa lạ với những tên người–tên đường những năm 1930,
1940, 1950 lại xẩy ra sau năm 1975.
Sau năm 1975, nếu ta hỏi 1 triệu người dân Sài Gòn:
- Võ thị Sáu, Mạc thị Bưởi, Nguyễn thị Minh Khai, Lê thị Hồng Gâám, Nơ trang Long. Hoàng văn Thụ, Huỳnh văn Bánh, Nguyễn văn Đậu là ai?
Sẽ có 1 triệu 999.999 người Sài Gòn trả lời:
- Những thằng cha cà chớn, những con mẹ cà cháo. Tôi đâu có biết chúng là ai! Tôi chỉ biết chúng là bọn Việt Cộng.
Tôi vừa kể ba đặc điểm của Sài Gòn:
Không ai biết tên Sài Gòn từ đâu ra, Sài Gòn nghĩa là gì.
Trong 25 năm hai lần Sài Gòn đổi tên đường: lần 1 năm 1955, lần 2 năm 1975.
Hai lần, thời Pháp bảo hộ, và thời Bắc Cộng đàn áp, bóc lột, người Sài Gòn không biết những nhân vật được đặt tên đường là ai, từng làm gì.
Hôm nay tôi chọn trong thành phố Sài Gòn trước 1975 hai đường:
Đường Lý Trần Quán, Tân Đinh, tên Pháp trước năm 1956 là đường Barbier.
Đường Lê Quí Đôn, Quận 3, tên Pháp trước năm 1956 là đường Barbé.
Mời quí vị đọc chuyện đời tư của hai nhân vật Lý Trần Quán, Barbé.
*****
Năm xửa, năm xưa..
Chiều nay ở xứ người, nhớ lại, cứ tưởng như chiều hôm qua..
Rời cửa chợ Tân Định, tôi đi trên đường Trần Văn Thạch bên chợ. Bác sĩ Trần Văn Thạch bị Việt Minh, tên trước năm 1960 của bọn Việt Cộng ác ôn, bắn chết ở Sài Gòn năm 1945. Mãi đến năm 2007 ở Hoa Kỳ, nhờ Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu kể trong hồi ký của ông, tôi mới biết tên Việt Cộng Trần văn Giầu là tên giết ông Trần Văn Thạch. Thi sĩ Đinh Hùng ở đường Trần Văn Thạch từ năm 1956 đến sau ngày ông qua đời năm 1968, bà vợ ông dọn nhà sang ở bên Khánh Hội. Trước năm 1955 tên tiếng Pháp của đường Trần Văn Thạch, Tân Định, là đường Vassoigne.
Trên đường Trần Văn Thạch, qua rạp Xi-nê Moderne, tôi đến đường Lý Trần Quán, đường này từ đường Hiền Vương — tên tiếng Pháp là Mayer — đến đường Trần Văn Thạch, tên tiếng Pháp của đường Lý Trần Quán là đường Barbier.
Đây là chuyện về nhân vật Lý Trần Quán được ghi trong tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí:
Năm Bính Ngọ, quân Tây Sơn đánh vào thành Thăng Long. Đoan Nam Vương Trịnh Khải chạy lên Sơn Tây, bị bắt, dùng dao đâm cổ tự tử. Lý Trần Quán có can dự vào việc chúa Trịnh Khải bị bắt. Trước khi kể chuyện Lý Trần Quán-Trịnh Khải, tôi viết về tiếng 'Chúa' trong ngôn ngữ Việt ta.
Người Tầu có hai tiếng 'đế' và 'vương', ta theo người Tầu, dùng hai tiếng 'đế, vương', nhưng ta chỉ có một tiếng 'vua' để gọi cả hai tiếng 'đế, vương'; như đời Trần Vua là Hoàng Đế phong cho ông Trần Quốc Tuấn là Hưng Đạo Vương, đời Nguyễn Vua Tự Đức là Đại Nam Hoàng Đế, phong tước Vương cho các ông Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương. Tôi chắc tiếng 'Chúa' có trong ngôn ngữ nước ta từ đời Vua Lê, Chúa Trịnh. Vua Lê phong 'Vương' cho các ông Tể Tướng họ Trịnh, dân không thể gọi Vua Lê là Vua mà cũng gọi các ông tước Vương họ Trịnh là Vua, nên dân gọi các ông Trịnh Vương là Chúa. 'Chúa' là tiếng Việt của tiếng 'Chủ'. Thiên Chủ — Chủ Trời — ta gọi là Thiên Chúa, Chủ nhật: Chúa nhật, Chủ Công — nôm na là Ông Chủ — các ông Việt dịch truyện Tam Quốc Chí gọi là 'Chúa Công'. Tiếng Chúa có nhiều quyền uy hơn tiếng Chủ. 'Vắng Chúa nhà, gà mọc đuôi tôm' nguyên là 'Vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm'. 'Vắng Chúa nhà' nghe hay hơn là ' Vắng Chủ nhà'. Như 'Ăn cơm Chúa, múa tối ngày, Bà Chúa đứt tay, ăn mày đổ ruột, Chồng Chúa, vợ tôi, Nợ như Chúa Chổm, Trạng chết Chúa cũng ra ma. Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trôn.'
Cùng trường hợp đó, người Tầu có trâu và bò nhưng chỉ có một tiếng 'ngưu' để gọi cả trâu và bò. Vì vậy người Tầu có tiếng thanh ngưu, thủy ngưu: ngưu xanh, ngưu nước để gọi trâu, có hoàng ngưu: ngưu vàng để gọi bò, bò lông mầu vàng.
Đoan Nam Vương Trịnh Khải bỏ kinh đô Thăng Long, chạy lên Sơn Tây, Chuá không còn quân đội, chỉ còn một số người theo hầu. Lý Trần Quán đang giữ một chức quan ở Sơn Tây, ra đón Chúa, rồi sai một học trò của ông là Nguyễn Trang bảo vệ Chúa, đưa Chúa đi trốn. Ông không cho Nguyễn Trang biết người ông sai hắn đưa đi là Đoan Nam Vương. Trang bắt Chúa Trịnh giao cho quân Tây Sơn.
Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Truyện Sử. Ngô Gia Văn Phái viết.
Quán từ biệt Chúa, trở về nhà riêng. Còn Trang thì cùng bọn thủ hạ đi bảo vệ Đoan Nam Vương, nhưng Trang lại đưa Chúa về nhà riêng của hắn, tra hỏi Chúa:
- Ông là Đoan Nam Vương thì nói thực đi. Ông dấu tôi, có chuyện gì xẩy ra, đừng trách tôi.
Chúa nói:
- Sao anh lại đoán xằng như vậy? Ta là quan Tham Tụng Bùi Huy Bích.
Trang nói:
- Ông đừng nói dối. Cái bộ điệu Chúa tôi nửa kín, nửa hở của các ông tôi thấy rồi. Ông mà không phải là Đoan Nam Vương thì còn là ai nữa. Chuyện đế vương còn mất là chuyện thường, tôi khuyên ông nên chịu hàng đi, cho đỡ khổ thân, trước sau gì ông cũng bị bắt.
Chúa nổi gịận:
- Ta là Đại Nguyên Soái Đoan Nam Vương. Ta chết là do mệnh trời. Mày muốn làm gì thì làm.
Trang cho người đi báo với quân Tây Sơn. Tất cả những người đi theo Chúa đều bị bắt giữ.
Quán nghe tin có biến, đến chỗ Chúa bị giam giữ, quì lậy, rập đầu xuống đất, nói:
- Làm Chúa đến nỗi này là tội của tôi.
Chúa Trịnh an ủi:
- Khanh nào có tội gì.
Quán lậy rồi lui ra, nói với Trang:
- Chúa là Chúa chung của mọi người. Chúa là Chúa của ta mà cũng là Chúa của anh, ta là thầy học của anh, ta từng dậy anh vua tôi nghĩa lớn, sao anh nỡ phản Chúa?
Trang nói:
- Tại sao ông không cho tôi biết ông ấy là Đoan Nam Vương, nếu ông nói, tôi có thể từ chối việc ông bảo tôi làm. Nếu tôi đưa ông ấy trốn thoát, người Tây Sơn biết chuyện, đời nào họ để cho tôi được sống? Khi ấy ông có thể giảng nghĩa vua tôi để cứu tôi khỏi chết không? Sợ Chúa, sợ Thầy không bằng sợ Giặc, yêu Chúa không bằng yêu thân mình. Ông đừng nói lôi thôi.
Khi Chúa bị Trang giải đi, Quán quì bên đường, lậy, khóc, kêu lớn:
- Trời ơi..! Tôi giết Chúa tôi..!
Chúa đứng lại, nói lời an ủi:
- Lòng trung của khanh 'cô' đã biết, khanh đừng tự oán như thế.
Trên đường đi, trời nắng, Chúa Trịnh được cho vào ngồi nghỉ trong một quán nước bên đường. Chúa vớ được con dao của nhà hàng, cầm dao đâm vào cổ. Trang dằng được dao. Vết thương không lớn, Chúa dùng ngón tay móc cho vết thương lớn ra. Một lúc sau, Chúa đòi uống nước lạnh. Trang lấy nước cho Chúa uống. Chúa uống xong là gục xuống chết. Trang khiêng xác Chúa đến nộp cho quân Tây Sơn. Xác Chúa bị phơi ở cửa Tuyên Vũ thành Thăng Long cho mọi người thấy. Ngày Chúa Trịnh Khải chết là ngày 26 Tháng Sáu năm Bính Ngọ, 1786.
Quán đưa tiễn Chúa đến Hạ Lôi, ông ở lại đó mà không về nhà. Ông nói với ông chủ nhà trọ:
- Bề tôi mà làm hại vua, tội đáng chết. Nếu tôi không chết, không lấy gì tỏ được lòng tôi với Trời Đất. Nhờ ông giúp tôi: mua cho tôi một cỗ quan tài, mười vuông vải trắng, để tôi làm theo cái chí của tôi.
Chủ nhà hết sức can ngăn, Quán nói:
- Tôi đã muốn chết thì không thiếu gì cách chết. Ông nên giúp cho tôi được chết đường hoàng, sạch, đẹp. Tôi chịu ơn ông.
Biết không thể ngăn Quán, chủ nhà đành làm theo lời Quán. Quán nhờ người đào cái huyệt, cho quan tài xuống huyệt, xé vải trắng làm khăn và dây lưng. Quán chít khăn trắng, thắt dây lưng, quì hướng về phía nam, lậy hai lậy, rồi xuống huyệt, nằm vào quan tài, bảo chủ nhà đậy nắp lại rồi lấp đất.
Đã nằm trong quan tài, Quán nói lời cuối:
- Tôi có câu này, ông nói dùm với con cháu tôi:
Tam niên chí hiếu dĩ hoàn.
Thập phần chi trung vị tận.
Nhờ ông bảo con cháu tôi viết hai câu ấy mà thờ tôi.
Lại nói:
- Đa tạ ông chủ. Vĩnh biệt ông.
Chủ nhà và năm, sáu người nhà cùng sụp lậy Quán trước huyệt, rồi đậy nắp áo quan, lấp đất. Hôm ấy là ngày 29 Tháng Sáu năm Bính Ngo, 1786, sau khi Chúa Trịnh Khải chết hai ngày.ï
Lý Trần Quán người làng Văn Canh, huyện Từ Liêm, đỗ tiến sĩ khóa Bính Tuất, 1766, tính nết giản dị, chất phác, rất hiếu thảo. Trong khi chịu tang mẹ, Quán làm lều ở bên mồ ba năm liền, không ăn thịt cá, thân xác gầy rạc, chỉ còn da bọc xương.
Ông thường nói:
- Những việc ta làm trong đời ta chỉ có ba năm chịu tang là gần với đạo làm người.
Tam niên chí hiếu dĩ hoàn.
Thập phần chi trung vị tận.
Đạo hiếu ba năm đã trọn.
Chữ trung mười phần chưa xong.
Đấy là chuyện ông Lý Trần Quán, người có tên đường ở khu Tân Định, Sài Gòn. Ông chết vì Chúa Trịnh, ông không chết vì nước. Cái chết của ông có mầu sắc Quân Tử Tầu. Qua mấy ngàn năm lịch sử phong kiến Tầu, có nhiều ông Quân Tử Tầu chết những cái chết nếu không lảng nhách thì cũng lảng xẹt. Nhưng vì những cái chết lảng ấy tên tuổi các ông được ghi trong lịch sử. Xong không thấy có ông Quân Tử Tầu nào chết cái chết ly kỳ như ông Quân Tử Việt Lý Trần Quán.
Còn sống, tự vào nằm trong quan tài, cho người lấp đất, chịu ngạt thở cho đến chết. Khó lắm. Ai làm được như thế? Chỉ có ông Việt Nam Lý Trần Quán. Trung với Chúa là trung với Vua, đời xưa trung với vua là trungvới nước, trung với dân. Người đời sau kính trọng ông Lý Trần Quán vì lòng trung của ông, lấy tên ông đặt tên đường. Giăc Cộng vào Sài Gòn, bỏ tên đường Lý Trần Quán, thay vào đó là cái tên Mụ Việt Cộng Thạch thị Thanh, người Miên.
Với tôi, đường Lý Trần Quán mãi mãi là đường Lý Trần Quán, năm 1954 tôi hai mươi tuổi, tôi và người yêu đến đường Barbier ăn Chả Cá Sơn Hải, ăn phở, ăn miến gà Nhà hàng Ngọc Sơn; năm 1970 tôi bốn mươi tuổi, tôi và vợ tôi đến đường Lý Trần Quán ăn Chả Cá Sơn Hải, — Ông chủ tiệm Sơn Hải tôi quên tên, từng làm Steward Air France, Sơn Hải Chả Cá còn có món Ốc Hấp Lá Gừng đặc biệt Bắc Kỳ tuyệt cú mèo, và món Miến Cua, Cháo Cua;
Chả Cá chân chính là phải có Cà Cuống, Bà Chủ Sơn Hải tự tay dùng compte-goutte rỏ từng giọt Cà Cuống vào chén mắm tôm ở bàn ăn trước mặt khách, Cà Cuống Chả Cá Sơn Hải là Cà Cuống Chính Cống, Thiên Nhiên, Thiên Tạo, được tính tiền từng giọt — Ngày nào Sài Gòn trở lại là Sài Gòn, người Việt sẽ gỡ bảng tên đường Thạch thị Thanh quẳng vào hố rác cùng với bảng tên Thành phố Hồ Chí Minh, ngày ấy người Việt lại treo lên bảng tên đường Lý Trần Quán.
Mời quí vị đọc tiểu truyện về Đại Úy Pháp Barbé, người có tên đường ở Sài Gòn; năm 1956 đường Barbé trở thành đường Lê Quí Đôn. Đường Lê Quí Đôn từ đường Hồng Thập Tự sang đường Hiền Vương, chạy sau Trường Nữ Học Marie Curie; Villa số 8 đường Lê Quí Đôn năm 1975 là Nhà USIS — United States Information Service — Sở Thông Tin Hoa Kỳ. Lúc 5 giờ chiều ngày 29 Tháng Tư, 1975, người anh em cùng vợ với tôi là Hoàng Hải Thủy cùng vợ con anh ra khỏi Nhà USIS; anh đưa vợ con anh đến đấy chờ người Mỹ đưa đi khỏi Sài Gòn, nhưng, chuyện xưa quá dzồi, đã kể nhiều lần..
Tiểu truyện Đại Úy Barbé là một chuyện tình. Đây có thể là Cuộc Tình Pháp Việt Thứ Nhất trong Lịch Sử Việt Nam. Một chuyện Tình Bi Thảm — viết hoa 3 chữ T, B, T — Chuyện xẩy ra năm 1860, quân Pháp mới chiếm Sài Gòn — khi ấy Sài Gòn chưa có tên là Sài Gòn — vùng này hoang vắng, toàn gò rạch và cây cỏ như rừng. Quân Pháp đóng trong mấy cái chùa của ta ở khu trung tâm về sau là những đường Hồng Thập Tự, Tự Do, Nguyễn Huệ, quân ta đóng ở vùng Kỳ Hòa, tức vùng sau này là Nhà Tù Chí Hòa, chợ Hòa Hưng, Trường Đua Phú Thọ. Đại Úy Barbé đóng quân trong chùa Khải Tường, chùa này năm xưa ấy ở khoảng đầu đường Lê Quí Đôn, gần đường Hồng Thập Tự.
Một hôm dẫn lính đi tuần ở ven sông. Đại Úùy Barbé thấy một bè chuối trôi sông, trên bè có một người đàn ông Việt, một thiếu phụ Vịệt, cả hai cùng bị trói. Bè chuối rạt vào bờ sông, Đại Úy Barbé cho lính mang hai người từ bè chuối lên bờ, người đàn ông đã chết, người thiếu phụ hấp hối. Ông cho lính khiêng thiếu phụ về đồn, tức về chùa Khải Tường, nhờ y sĩ Pháp cứu cấp.
Thiếu phụ bị thả bè chuối trôi sông thoát chết. Chuyện truyền khẩu trong dân gian kể Nàng tên là Thị Ba, có nhan sắc, bị ép làm vợ một ông Lãnh binh Việt Nam. Trước khi làm vợ ông Lãnh binh, nàng có người yêu. Có chồng rồi nàng và người tình vẫn lén gặp nhau, họ bị ông Lãnh rình, bắt lúc họ đang tình tự, ông Lãnh trói họ, cho họ lên bè chuối, thả trôi sông cho chết.
Bè chuối trôi sông là một hình phạt ngày xưa: người có tội bị lột quần áo, trói tay chân, nằm trên bè chuối thả trôi trên sông. Bè chuối làm bằng những thân cây chuối. Thường là những cặp nam nữ can tội gian dâm bị trừng phạt bằng cách cho lên bè chuối, thả bè trôi sông, chịu nắng đói, khát mà chết.
Thị Ba được y sĩ Pháp cứu thoát chết, nàng sống trong đồn Khải Tường của quân Pháp. Đại Úy Barbé yêu nàng. Một thời gian sau nàng xin Đại Úy cho nàng về thăm nhà, Đại Úy cho nàng đi. Ông như phát điên khi được tin người ông yêu bị quân Việt Nam bắt. Ông ân hận vì ông đã cho phép nàng ra khỏi đồn. Ông tung người đi tìm xem nàng bị giam ở đâu để đến cứu nàng.
Một chiều gần tối, có người đến đồn báo Thị Ba trốn khỏi nơi giam giữ, đi về đồn Khải Tường nhưng bị quân Việt bắt lại ngay tại một chỗ gần đồn. Được tin, Đại Úy Barbé một mình, một súng, nhẩy lên ngựa, phi đến chỗ ông được cho biết là nơi người yêu của ông đang bị giữ. Từ đồn Khải Tường, Đại Úy tới khoảng về sau là Công Trường Dân Chủ, Ngã Sáu Hiền Vương- Yên Đổ — Trần Quốc Toản- Lê Văn Duyệt thì lọt vào ổ phục kích. Quân Việt xông ra dùng dáo, mác đâm ông chết. Sáng hôm sau lính Pháp mới tìm thấy xác ông.
Chuyện dân gian không cho biết về sau số phận người thiếu phụ Việt tên là Thị Ba ra sao, chỉ biết chuyện Đại Úy Barbé bị quân Việt giết chết là chuyện thật. Chính quyền Pháp đặt tên con đường có Chùa Khải Tường-Đồn Lính Pháp là Đường Barbé. Chùa Khải Tường, cùng hai, ba chuà khác trong vùng, sau đó bị phá.
Năm 1955 đường Barbé đổi thành đường Lê Quí Đôn. Năm 2008, một người Việt Nam tị nạn cộng sản, sống đời biệt xứ ở Hoa Kỳ, viết lại chuyện ông Lý Trần Quán, chuyện tình Pháp Việt Barbé-Thị Ba, trong tập hoài niệm tên là SÀI GÒN VANG BÓNG.
Hoàng Hải Thủy
Phụ lục:
Tháng Sáu 2008, một tin trên Web nhắc đến Chuà Khải Tường.
Bản tin tiếng Anh:
* During a trip to ho chi minh City, Ambassador Michael Michalak visited the Museum of Vietnamese History to observe restoration of some of the museum's Buddha statues through the Ambassador's Fund for Cultural Preservation. Among 17 Buddha statues whose restoration was funded under this project, the one that impressed the delegation the most was the 19th century, Amitaba-wood statue from Khai Tuong Pagoda. This large statue, 196cm height and 135 cm in width, was carved out of the jackfruit tree and covered in red lacquer and emulsified gold. This statue was created at the behest of Emperor Minh Mang (1820-1840). The Khai Tuong pagoda was formerly located in the area of the current Museum of War Memorials. The pagoda was destroyed by the French colonists in the 19th century.
* Trong chuyến đến Thành phố Hồ chi Minh, Đại sứ Michael Michalak đến thăm Viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam để xem việc tu bổ một số Tượng Phật được thực hiện qua Quỹ Bảo Tồn Văn Hoá của ông Đại sứ. Trong số 17 bức Tượng Phật được tu bổ theo Quỹ nói trên, bức tượng làm phái đoàn Mỹ chú ý nhất là Tượng Phật Amitaba, nguyên là tượng của chuà Khải Tường. Bức tượng lớn này, cao 196 cm, bề ngang 135 cm, được tạc từ gỗ mít, sơn son, thếp vàng. Tượng này được làm theo lệnh của Vua Minh Mạng (1820-1840). Chuà Khải Tương trước nằm trong khu nay có Nhà Bảo Tàng Chiến Tranh; chùa bị những ngưòi thực dân Pháp phá hủy trong Thế kỷ 19.
Théc méc: Tượng bằng gỗ mít cao 2 thước Tây không có chi lạ, nhưng có cây mít nào thân cây lớn đến 1 thước 50 phân không? CTHĐ
Hoàng Hải Thủy
ÐÔI LỜI VĨNH BIỆT CÙNG TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU
Mùa thu Cali, ngày 8 tháng 10 năm 2001
Võ Duy Thưởng
Kính thưa Tổng Thống,
Ðược tin Tổng Thống qua đời, đối với tôi tựa như tin sét đánh ngang đầu, tâm tư bấn loạn. Ngồi tại văn phòng làm việc nhưng tâm trí tôi tựa như đâu đâu, không làm sao tập trung được tư tưởng vào công việc đang làm. Sự ra đi quá đột ngột của Tổng Thống khiến cho tôi cãm thấy xót xa cho một kiếp người, dù một lần người ấy đã là Tổng Thống đứng đầu một quốc gia. Suốt bao năm qua, từ ngày Tổng Thống rời khỏi đất nước, Tổng Thống đã gánh chịu bao lời oán trách của chiến hữu, của đồng bào tị nạn hãi ngoại, cộng thêm lời đổ tội của người bạn đồng minh Hoa Kỳ đối với trách nhiệm mất nước về tay cộng sản xâm lược.
Là kẻ hậu sanh, trong suốt thời gian Tổng Thống cầm quyền, tôi còn quá trẻ để có cơ hội tham gia chánh sự hoặc để được ân hưởng ơn mưa móc của Tổng Thống. Dù vậy, nay thì Tổng Thống đã ra đi về miền viên miễn, trong thâm tâm tôi tự cãm thấy cần phải bày tỏ đôi lời tâm tình cùng Tổng Thống, đôi lời bênh vực Tổng Thống đối với những chỉ trích đôi lúc vô lý và bất công. Tôi có thể bị gán buộc là tiếng nói của những người cận kề Tổng Thống, mang nặng những tình cãm riêng tư. Sở dỉ tôi nói muốn nói lên ý nghỉ của mình là vì có một vì sao sáng ngời vừa rơi rụng, một vị tổng thống của miền Nam Việt Nam tự do vừa qua đời, môt lãnh tụ chính trị yêu nước vừa tạ thế, người mà tôi có cơ hội làm việc chung trong công cuộc đấu tranh giành lại tự do, dân chủ cho dân tộc Việt Nam trong những năm sống lưu vong nơi hãi ngoại. Tôi thấy cần phải phát biểu ý nghỉ của mình vì cho tới nay vẫn còn có lắm người tiếp tục buộc tội một cách bất công đối với Tổng Thống, cốt để chạy tội cho phần mình và xót xa hơn nửa là có những người thân cận với Tổng Thống đã và đang tìm cách tách rời sự liên hệ với Tổng Thống hầu được an thân.
Tổng Thống bị cáo buộc là người lảnh đạo bất tài, điều hành một chế độ tham nhũng. Tôi tự nghỉ trong hoàn cảnh của một đất nước chiến tranh, đầy hổn loạn về phương diện chính trị, nếu người khác đứng vào địa vị của Tổng Thống tôi không biết họ có làm việc được hữu hiệu như Tổng Thống đã làm hay không? Trong 10 năm cầm quyền, Tổng Thống đã phải đương đầu với những biến cố chính trị và quân sự như biến động Phật Giáo miền Trung, cuộc tấn công ồ ạt của cộng sản trong Tết Mậu Thân, mùa hè đỏ lửa chiếm lại thành Quảng Tri, bảo vệ mãnh đất Bình Long anh dũng và còn phải đương đầu với người bạn đồng minh trong tiến trình ký kết hiệp định Ba-Lê với cộng sản Hà Nội. Thông thường, đối với những người đối lập chánh trị, hình như họ phải tìm đủ lý lẻ để tranh đoạt lấy chính quyền, họ có nhu cầu phải chê bai người đang cầm quyền là có những hoạt động kém cỏi trong vai trò lãnh đạo đất nước. Ai cũng biết đất nước Việt Nam mình tan nát vì trải qua bao cơn binh lửa, chống giặc Tàu, chống giặc Tây, chống giặc Nhật và cuối cùng là chống lại sự xâm lăng của khối cộng sản quốc tế mà Hà Nội chỉ là kẻ thi hành âm mưu xâm lược. Thời gian dùng để bảo vệ lãnh thổ nhiều hơn thời gian dùng để phát triển quốc gia. Ðó là cái kém may mắn của cả một dân tộc đứng trên phương diện nâng cao dân trí và phát triển đất nước, từ văn hóa đến chính tri, từ xã hội đến kinh tế. Lổi nầy không thể chỉ quy trách hoàn toàn cho bất cứ ai đã lãnh trách nhiệm điều khiển quốc gia chỉ trong một thời gian ngắn ngủi so với giòng lịch sử lâu dài của dân tộc, như cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hay ngay chính bản thân của Tổng Thống. Khi mà trình độ dân trí còn trong tình trạng thấp kém so với trình độ dân trí của những quốc gia Tây phương tiến bộ, cộng thêm các định chế quốc gia để cân bằng và kiễm soát còn lỏng lẻo, yếu kém thì việc tham nhũng trong guồng maý quản tri đất nước khó mà tránh khỏi. Phó Tổng Thống Trần Văn Hương có lần còn phải cất tiếng than rằng “dẹp hết tham nhũng thì còn ai làm việc nước!”. Nếu phải tìm một người để đổ lổi hầu cứu vớt trách nhiệm cho nhiều người khác thì Tổng Thống đúng là một vật tế thần để cứu vớt trách nhiệm của nhiều chính khách, nhiều tướng lảnh trong nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ và xây dựng đất nước.
Tổng Thống bị cáo buộc là người lãnh đạo chính trị kém cỏi, không biết rỏ chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong việc điều hành chiến tranh Việt Nam. Nhìn về bề mặt, tổng quát để chê trách thì dể nhưng nếu thật sự lãnh trách nhiệm lảnh đạo quốc gia thì không biết ai có thể làm khác hoặc làm hay hơn Tổng Thống hay không? Tôi nghỉ rằng Tổng Thống không những biết mà còn biết rất rành rẻ về đường lối điều hành chiến tranh Việt Nam của Hoa Kỳ. Tôi có lần nghe kể lại, mổi ngày Tổng Thống chỉ có dành được 4, 5 tiếng đồng hồ để lo phần bình định và phát triển đất nước. Còn số giờ còn lại kể cả trong giấc ngủ, Tổng Thống phải dùng đến để suy nghỉ cách đối phó với người bạn đồng minh. Tổng Thống đã nói “làm bạn với Hoa Kỳ khó hơn làm kẻ thù của họ”. Người bạn đồng minh nầy tìm mọi cách để kiểm soát và áp lực mọi hoạt động của chính phủ Việt Nam. Người bạn nầy cài người chung quanh Tổng Thống, tỉ như ngay cả trong Hội đồng An ninh quốc gia chẳng hạn, cốt để kiểm soát mọi tư tưởng và hoạt động của Tổng Thống. Nếu buổi sáng, ông đại sứ đồng minh đến yêu cầu Tổng Thống thi hành điều gì mà Tổng Thống nói rằng cần phải xét lại, thì buổi chiều hôm đó, ngoài đường phố, hoặc là đoàn thể tôn giáo hoặc là đoàn thể chính trị đối lập sẽ đòi hỏi cái điều mà ông đại sứ đồng minh vừa yêu cầu buổi sáng với Tổng Thống! Xa hơn nửa, trong thời gian thảo luận bản dự thảo hiệp ước Ba-Lê hồi cuối tháng 8 năm 1972, khi mà Mỹ muốn ký hiệp ước Ba-Lê với Cộng sản Bắc Việt bất kể sự tồn vong cua nhân dân Miền Nam, khi mà Tổng Thống phản kháng không chịu ký vào bản hiệp ước thì có mấy ai biết rằng lúc đó sinh mạng của Tổng Thống như “chỉ mành treo chuông” trước áp lực dử dội của người bạn đồng minh. Nếu Tổng Thống không can đãm phản kháng việc ký kết hiệp định Ba-Lê lúc ấy trước khi nhận được lời cam kết của chính phủ Nixon hứa sẽ bảo vệ miền Nam nếu Công sản Hà Nội vi phạm hiệp đinh đã ký kết, thì miền Nam Việt Nam có lẻ đã mất sớm hơn chớ không đợi đến ngày 30/4/75 khi đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng chỉ sau một ngày lảnh trách nhiêm lảnh đạo quốc gia!
Tổng Thống bị chê trách là không quan tâm đến các thuyền nhân tị nạn trong khi Tổng Thống cũng là một người đang có kiếp sống lưu đài nơi xứ người. Trong một bài báo được phỏng vấn tại Anh Quốc, nơi mà Tổng Thống sống tạm dung trong mấy năm đầu xa xứ. Tờ báo đã cắt xén câu trả lời của Tổng Thống về việc cứu trợ người tị nạn và thuyền nhân. Ðể từ đó, có những kẻ ác ý cố tình chê trách Tổng Thống đã nói “việc cứu giúp người ti nạn không liên quan gì tới ông”. Giã thiết, nếu câu trả lời nầy là câu trả lời của một người dân bình thường thì khi nghe qua ai cũng nhận thấy có phần nghịch lý rồi thì thử hỏi một vị cựu Tổng Thống lại có thể phát ngôn được như vậy hay sao? Có chăng là khi thương trái ấu cũng tròn, còn khi ghét thì trái bù hòn cũng méo! Có những người trước đây vì lý do nầy hay lý do khác, vốn không đồng chánh kiến với Tổng Thống và luôn cả Cộng sản Hà Nội đã khai thác triệt để lời vu khống trong bài báo nầy với chủ tâm ngăn chận mọi hoạt động đấu tranh hướng về Việt Nam của Tổng Thống. Người tị nạn vì quá khổ đau nên cũng dể xúc cãm trước lời tuyên truyền phi nghĩa nầy. Thôi thì, âu cũng là một đại nạn khác cho Tổng Thống trong kiếp đời lưu xứ!
Tổng Thống còn bị chê trách là bỏ ngủ sau khi từ chức trách vụ Tổng Thống. Nếu ai đã từng nắm những vai trò cấp lảnh đạo quốc gia, chắc cũng biết việc ra đi hay ở lại Việt Nam đôi lúc không phải do chính mình quyết định được. Có khi việc nầy còn tùy thuộc những lý do chính trị tiềm ẩn. Vào thời diểm của tháng 4/75, chính Hoa Kỳ đã áp lực Tổng Thống phải ra đi. Và ngay cả tân Tổng Thống Trần Văn Hương cũng nghỉ rằng Tổng Thống nên rời xứ để ông dể dàng thành lập tân chánh phủ và dể điều đình một gỉai pháp chính trị với Công sản Hà Nội, bằng không Cộng sản Hà Nội lại nói rằng chính phủ của cụ Hương là “chính phủ Thiệu mà không có Thiệu”. Hoàn cảnh của Tổng Thống lúc đó ở lại cũng không được mà ra đi thì phải lảnh chịu sự oán thù. Nói như nhà báo Bùi Bảo Trúc ”Phải đợi cho đến khi cát bụi lắng xuống hoàn toàn thì lịch sử mới có thể phán xét những con người như ông Thiệu, khen cũng như chê một cách chính xác”.
Âu cũng là số trời, sự ra đi vội vả không định trước hồi cuối tháng 4/75 của Tổng Thống có khác nào như sự ra đi quá đột ngột của Tổng Thống trong mấy ngày vừa qua. Ðược biết ý định của Tổng Thống khi còn tại thế đã nhắn nhủ với một người cháu kêu bằng cậu là khi nào Tổng Thống qua đời thì hỏa thiêu thân xác của Tổng Thống. Tổng Thống là người Công giáo mà có ý định hoả thiêu cũng là việc ít có. Nhưng Tổng Thống đã quyết định không muốn để thân xác vùi chôn nơi đất tạm dung mà muốn phần thân xác của Tổng Thống sau khi đã hóa thành tro bụi sẽ đươc đem về quê cha đất tổ rải trên đồng ruộng, may ra giúp được ít nhiều cho người nông dân nghèo khó Việt Nam có được cộng lúa xanh tươi. Mong cho Tổng Thống đạt thành ước nguyện sau cùng.
Kính thưa Tổng Thống,
Tôi và nhà tôi đến Newton để nhìn mặt Tổng Thống lần sau cùng, để được đứng kề bên quan tài của Tổng Thống nói lên lời tiển biệt, để giử trọn “tình thầy trò”, để thắc chặt “tình chiến hữu” giữa người ra đi và những người ở lại. Tôi muốn nói với Tổng Thống là tôi rất danh dự có được cơ hội làm việc bên Tổng Thống nhằm đấu tranh giành lại tự do, dân chủ cho đất nước và dân tộc Việt Nam.
Kính xin Thiên Chúa nhân từ tiếp dẩn linh hồn Tổng Thống về nơi cỏi Thiên Ðàng và xin Thiên Chúa bang cho Tổng Thống Phu nhân cùng gia đình thân tâm an lac.
Kính chào vĩnh biệt Tổng Thống.
Mùa thu Cali, ngày 8 tháng 10 năm 2001
Võ Duy Thưởng
Kính thưa Tổng Thống,
Ðược tin Tổng Thống qua đời, đối với tôi tựa như tin sét đánh ngang đầu, tâm tư bấn loạn. Ngồi tại văn phòng làm việc nhưng tâm trí tôi tựa như đâu đâu, không làm sao tập trung được tư tưởng vào công việc đang làm. Sự ra đi quá đột ngột của Tổng Thống khiến cho tôi cãm thấy xót xa cho một kiếp người, dù một lần người ấy đã là Tổng Thống đứng đầu một quốc gia. Suốt bao năm qua, từ ngày Tổng Thống rời khỏi đất nước, Tổng Thống đã gánh chịu bao lời oán trách của chiến hữu, của đồng bào tị nạn hãi ngoại, cộng thêm lời đổ tội của người bạn đồng minh Hoa Kỳ đối với trách nhiệm mất nước về tay cộng sản xâm lược.
Là kẻ hậu sanh, trong suốt thời gian Tổng Thống cầm quyền, tôi còn quá trẻ để có cơ hội tham gia chánh sự hoặc để được ân hưởng ơn mưa móc của Tổng Thống. Dù vậy, nay thì Tổng Thống đã ra đi về miền viên miễn, trong thâm tâm tôi tự cãm thấy cần phải bày tỏ đôi lời tâm tình cùng Tổng Thống, đôi lời bênh vực Tổng Thống đối với những chỉ trích đôi lúc vô lý và bất công. Tôi có thể bị gán buộc là tiếng nói của những người cận kề Tổng Thống, mang nặng những tình cãm riêng tư. Sở dỉ tôi nói muốn nói lên ý nghỉ của mình là vì có một vì sao sáng ngời vừa rơi rụng, một vị tổng thống của miền Nam Việt Nam tự do vừa qua đời, môt lãnh tụ chính trị yêu nước vừa tạ thế, người mà tôi có cơ hội làm việc chung trong công cuộc đấu tranh giành lại tự do, dân chủ cho dân tộc Việt Nam trong những năm sống lưu vong nơi hãi ngoại. Tôi thấy cần phải phát biểu ý nghỉ của mình vì cho tới nay vẫn còn có lắm người tiếp tục buộc tội một cách bất công đối với Tổng Thống, cốt để chạy tội cho phần mình và xót xa hơn nửa là có những người thân cận với Tổng Thống đã và đang tìm cách tách rời sự liên hệ với Tổng Thống hầu được an thân.
Tổng Thống bị cáo buộc là người lảnh đạo bất tài, điều hành một chế độ tham nhũng. Tôi tự nghỉ trong hoàn cảnh của một đất nước chiến tranh, đầy hổn loạn về phương diện chính trị, nếu người khác đứng vào địa vị của Tổng Thống tôi không biết họ có làm việc được hữu hiệu như Tổng Thống đã làm hay không? Trong 10 năm cầm quyền, Tổng Thống đã phải đương đầu với những biến cố chính trị và quân sự như biến động Phật Giáo miền Trung, cuộc tấn công ồ ạt của cộng sản trong Tết Mậu Thân, mùa hè đỏ lửa chiếm lại thành Quảng Tri, bảo vệ mãnh đất Bình Long anh dũng và còn phải đương đầu với người bạn đồng minh trong tiến trình ký kết hiệp định Ba-Lê với cộng sản Hà Nội. Thông thường, đối với những người đối lập chánh trị, hình như họ phải tìm đủ lý lẻ để tranh đoạt lấy chính quyền, họ có nhu cầu phải chê bai người đang cầm quyền là có những hoạt động kém cỏi trong vai trò lãnh đạo đất nước. Ai cũng biết đất nước Việt Nam mình tan nát vì trải qua bao cơn binh lửa, chống giặc Tàu, chống giặc Tây, chống giặc Nhật và cuối cùng là chống lại sự xâm lăng của khối cộng sản quốc tế mà Hà Nội chỉ là kẻ thi hành âm mưu xâm lược. Thời gian dùng để bảo vệ lãnh thổ nhiều hơn thời gian dùng để phát triển quốc gia. Ðó là cái kém may mắn của cả một dân tộc đứng trên phương diện nâng cao dân trí và phát triển đất nước, từ văn hóa đến chính tri, từ xã hội đến kinh tế. Lổi nầy không thể chỉ quy trách hoàn toàn cho bất cứ ai đã lãnh trách nhiệm điều khiển quốc gia chỉ trong một thời gian ngắn ngủi so với giòng lịch sử lâu dài của dân tộc, như cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hay ngay chính bản thân của Tổng Thống. Khi mà trình độ dân trí còn trong tình trạng thấp kém so với trình độ dân trí của những quốc gia Tây phương tiến bộ, cộng thêm các định chế quốc gia để cân bằng và kiễm soát còn lỏng lẻo, yếu kém thì việc tham nhũng trong guồng maý quản tri đất nước khó mà tránh khỏi. Phó Tổng Thống Trần Văn Hương có lần còn phải cất tiếng than rằng “dẹp hết tham nhũng thì còn ai làm việc nước!”. Nếu phải tìm một người để đổ lổi hầu cứu vớt trách nhiệm cho nhiều người khác thì Tổng Thống đúng là một vật tế thần để cứu vớt trách nhiệm của nhiều chính khách, nhiều tướng lảnh trong nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ và xây dựng đất nước.
Tổng Thống bị cáo buộc là người lãnh đạo chính trị kém cỏi, không biết rỏ chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong việc điều hành chiến tranh Việt Nam. Nhìn về bề mặt, tổng quát để chê trách thì dể nhưng nếu thật sự lãnh trách nhiệm lảnh đạo quốc gia thì không biết ai có thể làm khác hoặc làm hay hơn Tổng Thống hay không? Tôi nghỉ rằng Tổng Thống không những biết mà còn biết rất rành rẻ về đường lối điều hành chiến tranh Việt Nam của Hoa Kỳ. Tôi có lần nghe kể lại, mổi ngày Tổng Thống chỉ có dành được 4, 5 tiếng đồng hồ để lo phần bình định và phát triển đất nước. Còn số giờ còn lại kể cả trong giấc ngủ, Tổng Thống phải dùng đến để suy nghỉ cách đối phó với người bạn đồng minh. Tổng Thống đã nói “làm bạn với Hoa Kỳ khó hơn làm kẻ thù của họ”. Người bạn đồng minh nầy tìm mọi cách để kiểm soát và áp lực mọi hoạt động của chính phủ Việt Nam. Người bạn nầy cài người chung quanh Tổng Thống, tỉ như ngay cả trong Hội đồng An ninh quốc gia chẳng hạn, cốt để kiểm soát mọi tư tưởng và hoạt động của Tổng Thống. Nếu buổi sáng, ông đại sứ đồng minh đến yêu cầu Tổng Thống thi hành điều gì mà Tổng Thống nói rằng cần phải xét lại, thì buổi chiều hôm đó, ngoài đường phố, hoặc là đoàn thể tôn giáo hoặc là đoàn thể chính trị đối lập sẽ đòi hỏi cái điều mà ông đại sứ đồng minh vừa yêu cầu buổi sáng với Tổng Thống! Xa hơn nửa, trong thời gian thảo luận bản dự thảo hiệp ước Ba-Lê hồi cuối tháng 8 năm 1972, khi mà Mỹ muốn ký hiệp ước Ba-Lê với Cộng sản Bắc Việt bất kể sự tồn vong cua nhân dân Miền Nam, khi mà Tổng Thống phản kháng không chịu ký vào bản hiệp ước thì có mấy ai biết rằng lúc đó sinh mạng của Tổng Thống như “chỉ mành treo chuông” trước áp lực dử dội của người bạn đồng minh. Nếu Tổng Thống không can đãm phản kháng việc ký kết hiệp định Ba-Lê lúc ấy trước khi nhận được lời cam kết của chính phủ Nixon hứa sẽ bảo vệ miền Nam nếu Công sản Hà Nội vi phạm hiệp đinh đã ký kết, thì miền Nam Việt Nam có lẻ đã mất sớm hơn chớ không đợi đến ngày 30/4/75 khi đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng chỉ sau một ngày lảnh trách nhiêm lảnh đạo quốc gia!
Tổng Thống bị chê trách là không quan tâm đến các thuyền nhân tị nạn trong khi Tổng Thống cũng là một người đang có kiếp sống lưu đài nơi xứ người. Trong một bài báo được phỏng vấn tại Anh Quốc, nơi mà Tổng Thống sống tạm dung trong mấy năm đầu xa xứ. Tờ báo đã cắt xén câu trả lời của Tổng Thống về việc cứu trợ người tị nạn và thuyền nhân. Ðể từ đó, có những kẻ ác ý cố tình chê trách Tổng Thống đã nói “việc cứu giúp người ti nạn không liên quan gì tới ông”. Giã thiết, nếu câu trả lời nầy là câu trả lời của một người dân bình thường thì khi nghe qua ai cũng nhận thấy có phần nghịch lý rồi thì thử hỏi một vị cựu Tổng Thống lại có thể phát ngôn được như vậy hay sao? Có chăng là khi thương trái ấu cũng tròn, còn khi ghét thì trái bù hòn cũng méo! Có những người trước đây vì lý do nầy hay lý do khác, vốn không đồng chánh kiến với Tổng Thống và luôn cả Cộng sản Hà Nội đã khai thác triệt để lời vu khống trong bài báo nầy với chủ tâm ngăn chận mọi hoạt động đấu tranh hướng về Việt Nam của Tổng Thống. Người tị nạn vì quá khổ đau nên cũng dể xúc cãm trước lời tuyên truyền phi nghĩa nầy. Thôi thì, âu cũng là một đại nạn khác cho Tổng Thống trong kiếp đời lưu xứ!
Tổng Thống còn bị chê trách là bỏ ngủ sau khi từ chức trách vụ Tổng Thống. Nếu ai đã từng nắm những vai trò cấp lảnh đạo quốc gia, chắc cũng biết việc ra đi hay ở lại Việt Nam đôi lúc không phải do chính mình quyết định được. Có khi việc nầy còn tùy thuộc những lý do chính trị tiềm ẩn. Vào thời diểm của tháng 4/75, chính Hoa Kỳ đã áp lực Tổng Thống phải ra đi. Và ngay cả tân Tổng Thống Trần Văn Hương cũng nghỉ rằng Tổng Thống nên rời xứ để ông dể dàng thành lập tân chánh phủ và dể điều đình một gỉai pháp chính trị với Công sản Hà Nội, bằng không Cộng sản Hà Nội lại nói rằng chính phủ của cụ Hương là “chính phủ Thiệu mà không có Thiệu”. Hoàn cảnh của Tổng Thống lúc đó ở lại cũng không được mà ra đi thì phải lảnh chịu sự oán thù. Nói như nhà báo Bùi Bảo Trúc ”Phải đợi cho đến khi cát bụi lắng xuống hoàn toàn thì lịch sử mới có thể phán xét những con người như ông Thiệu, khen cũng như chê một cách chính xác”.
Âu cũng là số trời, sự ra đi vội vả không định trước hồi cuối tháng 4/75 của Tổng Thống có khác nào như sự ra đi quá đột ngột của Tổng Thống trong mấy ngày vừa qua. Ðược biết ý định của Tổng Thống khi còn tại thế đã nhắn nhủ với một người cháu kêu bằng cậu là khi nào Tổng Thống qua đời thì hỏa thiêu thân xác của Tổng Thống. Tổng Thống là người Công giáo mà có ý định hoả thiêu cũng là việc ít có. Nhưng Tổng Thống đã quyết định không muốn để thân xác vùi chôn nơi đất tạm dung mà muốn phần thân xác của Tổng Thống sau khi đã hóa thành tro bụi sẽ đươc đem về quê cha đất tổ rải trên đồng ruộng, may ra giúp được ít nhiều cho người nông dân nghèo khó Việt Nam có được cộng lúa xanh tươi. Mong cho Tổng Thống đạt thành ước nguyện sau cùng.
Kính thưa Tổng Thống,
Tôi và nhà tôi đến Newton để nhìn mặt Tổng Thống lần sau cùng, để được đứng kề bên quan tài của Tổng Thống nói lên lời tiển biệt, để giử trọn “tình thầy trò”, để thắc chặt “tình chiến hữu” giữa người ra đi và những người ở lại. Tôi muốn nói với Tổng Thống là tôi rất danh dự có được cơ hội làm việc bên Tổng Thống nhằm đấu tranh giành lại tự do, dân chủ cho đất nước và dân tộc Việt Nam.
Kính xin Thiên Chúa nhân từ tiếp dẩn linh hồn Tổng Thống về nơi cỏi Thiên Ðàng và xin Thiên Chúa bang cho Tổng Thống Phu nhân cùng gia đình thân tâm an lac.
Kính chào vĩnh biệt Tổng Thống.
Subscribe to:
Posts (Atom)