Wednesday, September 2, 2026

Ở MỸ CÓ THỂ BUỒN, NHƯNG CÁI BUỒN CÓ TIỀN VẪN KHÁC CÁI VUI TRONG CẢNH TÚNG THIẾU

(Bài viết này chỉ những ai từng sống nghèo khó, túng thiếu thì mới hiểu và cảm nhận được )

Nhiều người nhìn cuộc sống mỹ rồi nói, ở Mỹ buồn quá đường phố vắng nhà cửa cách xa nhau, chiều tối ai về nhà nấy. ở Việt Nam vui hơn, bước ra đường là quán xá, cà phê bạn bè, hàng xóm đông vui, điều đó không sai.

Việt Nam có cái vui rất riêng mà những người sống xa quê lâu năm vẫn luôn nhớ : ly cà phê vỉa hè, tô phở buổi sáng, tiếng xe ngoài đường, bạn bè gọi nhau là gặp, hàng xóm qua lại, tối đi vài bước là có hàng quán. Nhưng cuộc sống đâu chỉ có chữ vui, có những người ở Việt Nam sáng mở mắt ra là phải nghĩ hôm nay kiếm được bao nhiêu tiền. Người buôn bán thì bữa đắt, bữa ế, hôm nay bán được nhưng ngày mai chưa chắc, người chạy xe ôm thì có khách mới có tiền, mưa gió hay bệnh 1 ngày là mất 1 ngày thu nhập, người làm công nhân thì còn phải lo công ty giảm giờ, giảm việc, thậm chí mất việc. Bình thường còn xoay xở được, nhưng chỉ cần trong nhà có chuyện là mới thấy đồng tiền quan trọng đến mức nào, con bệnh phải đi bác sĩ, cha mẹ lớn tuổi phải nhập viện, đến kỳ đóng tiền học phí cho con, tiền điện, tiền nhà, tiền ăn cùng lúc kéo tới. Có người túng quẫn quá phải đem chiếc xe máy, chính là cần câu cơm của mình đi cầm để lấy tiền lo thuốc cho cha mẹ, lo cho con đóng tiền học phí, rồi có tiền lại chuộc ra chạy tiếp. Vay tháng sau khó khăn lại đem cầm, 1 vong luẩn quẩn mà người ngoài nhìn vào chưa chắc hiểu hết.

Qua Mỹ thì có 1 cái buồn khác, buồn vì ít bạn, buồn vì nhớ quê, buồn vì không còn cảnh chiều chiều ngồi quán cà phê với bạn bè, buồn vì muốn gặp 1 người thân đôi khi phải lái xe cả tiếng. Nhưng với nhiều người chịu khó làm ăn, cái họ đổi lại được là sự ổn định hơn về kinh tế. Có việc thì cứ đi làm lãnh lương chi tiêu hợp lý rồi dành dụm, không phải ai ở Mỹ cũng giàu, và sống ở Mỹ cũng có tiền nhà, tiền xe, bảo hiểm thuế và rất nhiều áp lực. Nhưng người có công việc ổn định thường dễ lập kế hoạch cho 1 cuộc sống hơn là sống trong cảnh thu nhập hôm có hôm không.

Va rồi người ta bắt đầu hiểu, có tiền thì mình có quyền lựa chọn, có tiền nhớ Việt Nam thì mua vé về thăm quê, có tiền cha mẹ đau bệnh, thì còn có khả năng gửi tiền về phụ thuốc men, có tiền con cái cần gì quan trọng mình còn xoay sở được, có tiền mình muốn về Việt Nam chơi 1 tháng 2 tháng rồi quay lại Mỹ tiếp tục làm công việc cũng được.

Còn không có tiền thì đôi khi ngay cả niềm vui cũng trở thành thứ xa xỉ, ngồi cà phê với bạn thì vui thật, nhưng trong đầu vẫn nghĩ ngày mai lấy tiền đâu ra tiền đóng đi học cho con, đường phố đông vui thật, nhưng cha mẹ đang nằm bệnh viện mà mình không đủ tiền lo thì lòng mình có vui nổi không? Cho nên tôi không nghĩ Mỹ hơn Việt Nam, cũng không nghĩ Việt Nam hơn Mỹ, mỗi nơi có 1 cái được và 1 cái mất. Việt Nam cho mình sự gần gũi náo nhiệt và ký ức quê hương, Mỹ cho nhiều người cơ hội làm việc tích lũy và tạo cho mình 1 nền tảng tài chính ổn định hơn.

ở Mỹ đôi lúc tôi cũng buồn nhưng tôi chọn cách đi làm, để dành tiền và tự tạo niềm vui cho mình, nhớ quê thì về quê, muốn giúp gia đình thì cố gắng kiếm tiền để có khả năng giúp, muốn đi chơi thì dành dụm rồi đi. Bởi cuối cùng tôi nhận ra 1 điều rất đơn giản: đông vui chưa chắc đã hết lo, vang vẻ chưa chắc đã hết buồn. Có công việc, có sức khỏe, có đồng tiền do chính mình làm ra và còn khả năng lo cho người thân, đó cũng là 1 kiểu bình yên.

Tôi chấp nhận cái buồn ở Mỹ để lấy sự ổn định cho mình và gia đình, có tiền thì nhớ quê còn mua vé về được, không có tiền ngay cả ở giữa quê nhà cũng chưa chắc vui.

Anthony Vu

CON MA TRÊN ĐƯỜNG RẦY XE LỬA

Tui nhớ năm đó là năm 1973, tui đang học lớp 7 còn anh Chín tui học lớp 10 ở Sài Gòn.

Hôm đó sau khi thi HK2 xong, được nghỉ 3 ngày, anh về nhà chơi còn anh Tám thì ở lại phụ buôn bán với chị Hai. Tui mừng quính, anh Chín đi đâu tui cũng lủi thủi đi theo nghe anh kể chuyện học hành ở cái xứ Sài Gòn hoa lệ.

Chiều, cha má tui qua nhà cậu Hai đám giỗ bà ngoại. Dưới quê làm đám giỗ 2 ngày, ngày đầu cúng mâm TIÊN vào buổi chiều chỉ có người nhà, ngày sau cúng mâm CHÁNH mời khách và bà con dòng tộc. Hôm nay có anh Chín ở nhà nên cha má tôi yên tâm ở lại chơi khuya một chút.

Chiều, anh em ăn cơm xong ra ngồi dưới gốc rơm cạnh hông nhà, anh hỏi tui:
- Mầy tin trên đời có ma không út?
Tui trả lời thật nhanh:
- Hông.
Ảnh liếc tui một cái bén ngót:
- Xời, không tin mà sợ?
- Sợ thì sợ thôi, tin thì không tin. Chết là hết cha nói hoài. Mà bộ anh tin hả?
- Trước đây thì tao không tin bây giờ thì tin.
- Xạo nữa.
Ảnh ngồi bật dậy làm tui hết hồn cũng ngồi theo:
- Hỏng tin? Tao chứng kiến rõ ràng nhen mậy?
Thấy ảnh nghiêm túc quá tui đâm ra hiếu kỳ. Ảnh quay sang nhìn tui:
- Để tao kể cho mầy nghe nhen, giờ nhớ tới tao còn thấy lạnh ót.

Hôm bữa tao đi học về, trưa nắng quá trớn mình mẫy tao toàn mồ hôi, đạp xe dọc theo đường rầy xe lửa tao tìm quán nước uống bậy ly đá chanh tránh nắng. Bình thường tao không có đi đường nầy nên lạ hoắc lạ huơ. Cuối cùng tao cũng thấy một cái quán. Giữa Sài Gòn mà cái quán coi nó nghèo nàn một cái nhen. Nhưng kệ, miễn có chỗ đục nắng là được. Tao vô quán kêu một ly đá chanh, bà chủ quán độ chừng 40 tuổi à, mặt nhìn hiền lành. Trong khi chờ đợi tao bắt chuyện:
- Ở đây vắng quá bán đươc không cô?
Bả lắc đầu, giọng nói ngao ngán:
- Ế ẩm lắm cháu ơi.
Tao hỏi có mấy câu tự nhiên bả khai ra cả nùi.
- Lẽ ra cô dọn đi lâu rồi nhưng vì con gái của cô nên cô phải ở lại.
- Con gái của cô sao ha cô?
- Tính tới năm nay nó cũng đã 16 tuổi rồi. Không biết nó buồn chuyện gì mà xe lửa vừa chạy tới nó phóng ra đường ray. Vậy là bánh xe nghiến nát mình con nhỏ hốt lại không còn được một bụm. (Tao rùn mình luôn mậy, con nhỏ đó tuổi với tao). Từ đó mỗi tuần nó đều về thăm cô.
- Sao thăm được cô?
- Nó nhập vô cô rồi lấy giấy viết viết cho cô.

Tao mắc cười quá xá, bả nói chuyện trên trời dưới đất. Chắc tại nhớ con quá nên sinh ra ngớ ngẩn. Bả bưng ly nước chanh để trước mặt tao rồi nói huyên thiên về con nhỏ đó, khen nó đẹp, nó thông minh còn tao thì mắc dị ứng nó rồi đó nhen, một mẹ một con mà đi tự tử bỏ mẹ mình lại là thứ đồ bất hiểu.

Tao quậy ly đá chanh, chưa kịp uống ngụm nào thì thấy bả lau mặt lia lịa mậy. Bả vắt cái khăn bàn ướt lên cổ lau thiếu điều muốn rách mặt, vừa lau vừa nói nhanh: "nó về, nó về" rồi bả ngáp áo áo nghe rùng rợn, nghe mắc nổi da gà liền. Tao dòm mặt bả lúc nầy y chang mụ phù thủy chứ không hiền hậu như hồi nãy. Bả dòm tao, cười kỳ mậy. Tao hồn phi phách tán xách cặp vọt ra xe cắm đầu cắm cổ đạp không kịp hớp một ngụm nước. Từ đó tao cạch con đường nầy luôn.

Ảnh kể xong, tui bán tin bán nghi, ngồi đờ người ra. Ảnh thúc cùi chỏ vô mình tui:
- Tin tao đi, tao nói thiệt đó.
- Sao hỏng ráng uống hết ly nước?
- Xời, mầy ngon vô đó uống, tao chạy thục mạng còn hồn vía đâu mà nước nôi.

Nói chuyện một hồi trời tối hu, hai anh em không dám vô nhà đốt đèn, tính nán chờ cha má về luôn nhưng ngồi ngoài gốc rơm muỗi cắn mà lại càng sợ ma hơn. Cuối cùng hai đứa bậm gan vô nhà, không thấy đường mò cái hộp quẹt (lúc đó chỗ tui chưa có điện), ảnh kêu tui qua nhà bà Ba xin lửa mồi đèn. Tui te te đi nhưng với điều kiện anh phải đi theo.

Sau khi đốt đèn, đốt nhang bàn thờ ông nội xong, chưa kịp làm gì thì bỗng dưng ảnh hai tay nắm lấy hai tay tui, nhìn tui lom lom, mắt long lên sòng sọc, giọng nói rin rít the thé như hồn ma bóng quế:
- Tao đâu phải là anh mầy đâu? Tao là con nhỏ 16 tuổi ở đường rầy xe lửa nè. Anh mầy còn thiếu mẹ tao tiền ly đá chanh đó.

Trời đất quỷ thần ơi, tui xém đái trong quần. Không biết ảnh giỡn hay là thiệt. Tui giật mạnh tay ra và quên mình sơ ma, vọt thật nhanh ra sân khóc hụ hụ rùm trời đất. Ảnh hoảng hồn chạy ra ôm vai tui:
- Trời ơi anh giỡn chơi, không có gì đâu. Thôi đi vô nhà.
Tui te te đi theo, vừa đi vừa khóc tức tửi:
- Làm anh gì kỳ, về méc cha nà,
- Đừng méc, hỏng chơi vậy nữa đâu.
- Hộc máu đi?
- Thề gì vậy mà thề? Mốt tao đi rồi có ở nhà đâu mà nhát ma?

Chiều tối hôm sau, má phát hiện ra hết dầu lửa bèn sai anh em đi tiệm. Nhà tui cách tiệm gần cả 700m nên trên đường đi anh em nói đủ thứ chuyện trên đời. Anh kêu ở nhà với cha má phải ngoan cho cha má vui, anh nói con đông nhưng cha thương tui nhất vì tui là con út và sẽ ở với cha má lâu hơn anh em khác. Đang vui vẻ cảm động vậy đó mà tới chuyến về, ai biết nhà tui cũng đều ngán con đường vô lúc đó, đoạn vạt mả có cây gội lớn chà bá, chung quanh cây cối rậm rạp và nhiều chuyện ma ly kỳ xuất phát từ đây. Vậy mà đi ngang chỗ đó, tui đang ôm cánh tay anh và đi thật sát vì sơ mà ảnh nỡ lòng nào:
- Tao đâu phải anh của mầy đâu, tao là.,.
Mới tới dó, tui buông tay anh ra, cắm đầu cắm cổ vừa chạy vừa khóc:
- Về méc cha nà.
Tui khóc rần rần làm ảnh đâm hoảng chạy đuổi theo:
- Nói nghe nè, nói nghe nè
- Hông!
Gần tới nhà, ảnh cũng dí theo kịp, kéo tay tui đứng lại:
- Nói nghe nè. Là tao tập cho mầy dạn dĩ thôi. Trên đời làm gì có ma. Tao muốn mầy có kỹ niệm đẹp về tuổi ấu thơ của mình ai dè nhát quá trời.
Tui thúc thích:
- Ngụy biện. Về méc cha đập cho tàn đời Thảnh khùng luôn.
- Cha đánh tao mầy vui lắm hả? Nhà có 2 anh em, tao đi rồi mầy nhớ, mà mầy méc cha tao còn ở nhà cũng không chơi với mầy, mầy cũng Tàn đời Thảnh khùng.
Tui làm thinh, suy nghĩ, anh nói cũng phải, nhưng mà:
- Làm anh mà chơi gì kỳ
- Hổng chơi vậy nữa đâu.
- Canh lúc trời tối hu nhát không hà.
- Ta nói không nhác nữa.
- Hộc máu đi?
- Hộc máu! Yên tâm rồi hén? Không méc cha hén?
Tui chúm chím cười. Hết giận...
Nghĩ lại, con nít dễ thương ghê.
Anh em của tui mấy năm trước đó

Le Nguyet

AI KHỔ VÌ AI

Thế hệ 6X ở Sài Gòn đa số biết Lý Mỹ. Nhưng giới trẻ sau này chẳng mấy ai biết. Nay xin kể dông dài mua vui cho quý vị.

Lý Mỹ là con một nhà tư sản người Hoa giàu có. Cha mẹ cô định cư lâu năm ở Sài Gòn. Sau 1975, do chịu ảnh hưởng từ những tiểu thuyết Thép Đã Tôi Thế Đây, Rừng Thẳm Tuyết Dày, Ruồi Trâu và thơ Tố Hữu, Lý Mỹ đã nguyện một lòng đi theo lý tưởng cộng sản.

Lý Mỹ đi theo một cách trong sáng, chân thành và cuồng nhiệt đến mức cô dẫn cả đội cải cách vào tịch biên gần hết vàng bạc và tài sản chìm nổi của cha mẹ. Không phải để ra oai lấy thành tích, Lý Mỹ hoàn toàn tin tưởng rằng chế độ tư bản là xấu xa bỉ ổi. Giao nộp tài sản cha mẹ cho cách mạng là một việc vẻ vang, chính đáng.

Cái giỏi của Lý Mỹ chính là cô thuyết phục được cha mẹ đồng tình giao nộp mà không kêu than gì. Ông bà, nói thực bụng, cũng hơi ngờ ngợ, nhưng nghe con nói hùng hồn quá, cũng tin theo.

Việc Lý Mỹ chủ động thuyết phục được cha mẹ tự giác giao nộp tài sản cho cách mạng đã được các báo (Giải Phóng, Tuổi Trẻ, Tia Sáng) tung hô ca ngợi rầm trời. Lý Mỹ được bầu làm phó bí thư thành đoàn thành phố HCM (lưu ý là phó nhé).

Cái đêm hôm ấy đêm gì mà Lý Mỹ thức đến 1h sáng. Không tài nào ngủ được vì xúc động. Cô rút nhật ký ra viết:

“Đồng chí Paven ơi. Vậy là tôi đã làm được một chút công ích cho tập thể để thực hiện lý tưởng rồi. Nhưng có thấm vào đâu so với sự hy sinh lớn lao của đồng chí. Ngài mai, tôi sẽ xung phong đi vùng kinh tế mới. Có thể khó khăn còn trực chờ tôi phía trước, nhưng có là bao so với những điều đồng chí đã trải qua. Đồng chí Paven ơi.”

Paven là nhân vật cộng sản giả tưởng trong Thép Đã Tôi Thế Đấy, kẻ này đã cầm xẻng xua đuổi bạn gái chỉ vì cô ta dùng nước hoa Pháp. Hầu như mọi thanh niên cộng sản ngày đó viết nhật ký đều mở đầu bằng chữ “đồng chí Paven ơi.”

Tuy nhiên, niềm vui ngắn chẳng tày gang. Đội triệt phá tư sản mại bản hồi ấy đã xông thẳng vào biên tịch nốt ngôi nhà mà cô và cha mẹ cô đang cư ngụ trên đường Nguyễn Thị Minh Khai quận 3. Họ không cần hỏi sự đồng ý của ai. Lý Mỹ vô cùng sốc.

Nhưng cái sốc ấy chưa vào đâu. Lối làm việc kiểu mới của thành đoàn và bộ máy hành chính được copy từ Hà Nội còn làm Lý Mỹ sốc gấp ngàn lần.

Lý Mỹ muốn kêu lên cho thấu tận trời cao xanh, rằng tình em yêu sao giống đời đóa phù dung. Sớm nở tối tàn, xót thương duyên mình chưa thắm đã vội dở dang.

Lý Mỹ đã vượt biên bỏ lại Lý Tưởng sau lưng. Nhưng rất khó để nói Lý Tưởng bỏ Lý Mỹ hay Lý Mỹ bỏ Lý Tưởng.

Sau này, cô kể lại: Những năm tháng ăn ngủ với Paven ấy, cô muốn quên đi nhất trong đời. Nhưng Lệ Quyên đã nói rồi, khi cố quên là khi lòng nhớ thêm.

Lý Mỹ đành lấy giọng Dê Thứ, ca bài:

Thuở xưa, ngày đầu của nhau hai đứa vang câu tình ca
Lần đầu của nhau ai đón đưa ai về nhà
Trăng nước hiền hòa
Ngày đầu của nhau hương sắc tình yêu đậm đà
Mà nay, người đành bỏ nhau khuya vắng bơ vơ sầu đau
Người đành bỏ em quên phút ta yêu lần đầu
Trăng nước bạc màu
Người đành bỏ người như sương khói sau chuyến tàu

FB Hoan Tran Quoc



Chiều nay tôi ngồi với một người bạn cũ. Lâu ngày gặp lại, tôi suýt không nhận ra. Ngày trước nó lúc nào cũng áo quần chỉn chu, nói chuyện sang sảng, đi đâu cũng có người vây quanh. Hồi ấy nó hay bảo tôi:
“Đời người chỉ cần có tiền. Có tiền rồi thì chuyện gì chẳng giải quyết được.”

Tôi nhớ câu ấy, nhưng hôm nay không nhắc lại.
Nó ngồi trước mặt tôi, im lặng rất lâu rồi mới cười:
“Ngày trước tao tưởng mình giỏi. Hóa ra chẳng qua tao may mắn.”

Tôi hỏi:
“Có chuyện gì?”

Nó bảo công ty phá sản. Khoản đầu tư thua sạch. Nhà phải bán. Con cái lớn lên chẳng còn muốn tâm sự với bố. Mẹ mất mấy năm rồi, đến ngày giỗ nó mới chợt nhận ra mình chẳng còn ai để gọi một tiếng “Mẹ ơi”.
Nó kể mà giọng bình thản, như đang nói chuyện của một người khác.

Rồi nó bảo:
“Hồi trẻ tao có tất cả mà cứ nghĩ những thứ ấy sẽ ở đó mãi.”
Có sức khỏe thì thức khuya, nhậu nhẹt. Có cha mẹ thì chẳng mấy khi về thăm. Có vợ thì nghĩ cô ấy sẽ luôn ở nhà. Có con thì nghĩ sau này chúng nó tự khắc sẽ thương mình. Có tiền thì tiêu như thể ngày mai ngân hàng lại tự đổ tiền vào tài khoản. Có bạn bè thì chỉ tìm đến khi cần người giúp.

Nó cười:
“Đến lúc mất từng thứ một, tao mới hiểu chẳng có thứ gì là mặc định cả.”

Tôi hỏi:
“Thế bây giờ mày cần gì nhất?”

Nó ngồi rất lâu.
“Chẳng cần gì to tát. Tao chỉ muốn có một bữa cơm mà con tao chịu ngồi ăn cùng. Muốn mẹ còn sống để tao được nghe bà mắng một câu. Muốn vợ tao nhìn tao mà không thấy mệt mỏi. Muốn sáng ngủ dậy người không đau chỗ này thì cũng đau chỗ khác.”
Nói đến đó, nó cúi mặt.

Ngày trước nó từng nghĩ thành công là có một căn nhà thật to, một chiếc xe thật đẹp, tài khoản thật nhiều số. Bây giờ nó mới hiểu:
Có những thứ mất đi rồi, tiền nhiều đến mấy cũng không mua lại được.
Cha mẹ không bán. Tuổi trẻ không bán. Sức khỏe không bán. Một gia đình còn nguyên vẹn cũng không bán. Và sự tôn trọng của người khác dành cho mình lại càng không thể dùng tiền để mua.

Con người thường kỳ lạ lắm.
Lúc còn trẻ thì đem sức khỏe đổi lấy tiền. Đến lúc có tiền lại đem tiền đổi lấy sức khỏe. Có gia đình thì mải mê kiếm tiền, đến lúc có tiền thì gia đình đã chẳng còn nguyên vẹn. Có cha mẹ thì thấy phiền. Đến khi muốn báo hiếu thì chẳng còn người để mình báo hiếu nữa.

Đời người đáng sợ nhất không phải là nghèo. Mà là đến một ngày nhìn lại, phát hiện mình từng có rất nhiều thứ quý giá… nhưng đã tự tay đánh mất hết.

Đừng đợi đến lúc trong tay chẳng còn gì mới hiểu điều gì mới thực sự đáng giá.
Vì có những món nợ, cả đời cũng không trả nổi. Có những người chỉ đến khi mất đi rồi, ta mới hiểu rằng thứ mình mất không phải một người, mà là cơ hội cuối cùng để được yêu thương họ cho tử tế.

Jimmy Nguyen

GIẤC MƠ MỸ MÀ NHỮNG NGƯỜI VIỆT ĐI TRƯỚC ĐẾN ĐÂY ĐỂ TÌM - LIỆU NÓ CÒN KHÔNG?

Hôm nọ là đám giỗ chồng của dì Kammy mà cả bọn quen gọi là chú Tư, nên dì mời mọi người qua ăn. Trên bàn thờ, tấm hình chú đã ngả màu, khói nhang bay lên nhè nhẹ. Bác Don ngồi thẫn thờ nhìn tấm hình bạn mình, bởi vì bác với chú Tư là bạn thân từ cái ngày cả hai còn chân ướt chân ráo mới đặt chân tới Mỹ. Trên bàn thì đồ ăn đầy đủ, có cả mấy món mà Dì Kammy nói "hồi xưa ổng thích ăn nhất".

Mọi người ăn được một lúc, Dì Kammy ngồi kể, giọng bồi hồi. "Tụi con biết không, hồi dì với chú Tư mới qua, cực lắm. Mà lạ, cực mà vui. Ổng đi làm hãng, tiếng Anh có rành gì đâu, vậy mà lương đủ nuôi cả nhà, còn dư gửi về Việt Nam. Dì thì làm nail, làm hãng may, tối về tay tê cứng. Vậy đó, mà mười mấy năm sau, hai vợ chồng mua được cái nhà. Nhỏ xíu thôi, mà là nhà của mình, con à."

Dì dừng lại, nhìn ra con đường trước nhà, giọng khẽ đi: "Cái nước Mỹ hồi đó... khác bây giờ nhiều lắm mấy đứa ơi. Hồi đó để chiếc xe đạp trước sân, sáng ra nó vẫn còn. Con nít đi bộ tới trường, chơi ngoài đường tới tối. Tiệm tùng của người mình mở ra, cửa còn không cần khóa kỹ. Còn bây giờ..." Dì bỏ lửng câu nói, lắc đầu.

Bác Don tiếp lời bạn mình, giọng chùng xuống: "Ừ, hồi đó tao với thằng Tư mới qua, hai đứa ở chung một cái apartment cũ, làm chung một cái hãng. Nghèo rớt mồng tơi mà tin tưởng dữ lắm. Tao còn nhớ thằng Tư hay nói: 'Ráng đi mày, cái xứ Mỹ này nó công bằng, mình chịu cày thì đời con mình sẽ khá.' Mà nó nói đúng thiệt. Tụi tao tay trắng qua đây, vậy mà nuôi được con cái nên người. Cái lời hứa đó, hồi đó, nó có thiệt tụi bay à. Chớ đâu phải nói cho vui."

Mình với Barry ngồi nghe, cả hai đều thuộc lứa sau, mình mới qua sau này, Barry thì qua lúc còn nhỏ xíu, nên chỉ biết cái nước Mỹ mà mấy chú mấy dì kể lại qua lời kể. Mình ngồi im, thấy trong cái không khí đám giỗ ấm áp này có một nỗi niềm gì đó rất sâu.

Barry bỗng lên tiếng, mà lần này cũng nhẹ nhàng thôi, không gân cổ cãi như mọi khi. "Con hiểu ý bác Don với dì. Nhưng con nghĩ mình cũng đừng lý tưởng hóa quá khứ quá. Hồi đó đâu phải thiên đường. Cũng đầy kỳ thị, cũng khó khăn đủ điều. Với lại cái khẩu hiệu 'làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại', nhiều người nghe ra lại là muốn quay về cái thời mà không phải ai cũng được đối xử công bằng. Nên con thấy nó không đơn giản đâu."

Bác Don hơi nhíu mày, nhưng hôm nay ở trước bàn thờ bạn, bác không nổi nóng. Bác chỉ nói chậm rãi: "Barry à, tao là người sống qua cái thời đó, chớ không phải đọc trong sách ra. Tao biết chớ, hồi đó cũng có kỳ thị, có nước mắt, có những đêm nhớ quê nhà muốn khóc luôn. Tao đâu có mơ hồ. Nhưng cái tao tiếc, không phải chuyện đảng này đảng kia, cũng không phải chuyện màu da. Cái tao tiếc là một cái cảm giác. Cái cảm giác rằng hễ mình chịu khó làm ăn tử tế, thì cái xứ này nó không phụ mình. Còn tụi con bây giờ, ra trường ôm tấm bằng mà ba mẹ trả tiền gần cả đời, vậy mà mua không nổi căn nhà ở ngay cái thành phố tụi con lớn lên. Cái mà chú Tư làm được sau mười mấy năm, tụi con bây giờ hai chục năm chưa chắc có. Tao tiếc cái đó thôi."

Ông Joe, nãy giờ ngồi im gắp đồ ăn, bỗng chen một câu tỉnh rụi: "Ủa mà tui thấy kỳ nè. Hồi tụi mình mới qua, nghèo hơn bây giờ nhiều, mà sao hồi đó thấy dễ thở hơn ta? Bây giờ tụi nhỏ đồ đạc đầy đủ, điện thoại xịn, xe đẹp, mà đứa nào cũng lo âu, cũng thấy ngộp. Cái gì nó ngược đời vậy?"

Cả bàn lặng đi. Mình ngồi ngẫm câu hỏi ngơ ngơ của Ông Joe, thấy nó chạm đúng cái mạch ngầm của cả buổi chiều nay.

Bởi vì mình thấy, cả Bác Don lẫn Barry đều nắm một phần sự thật. Barry đúng ở chỗ, quá khứ không phải màu hồng, và cái tật của con người là hay nhớ cái đẹp mà quên cái khổ, nên ký ức nào cũng long lanh hơn sự thật một chút. Chuyện đó có. Nhưng Bác Don, người đã sống qua cả hai thời, cũng chạm tới một điều rất thật: cái lời hứa "chịu khó thì sẽ có tương lai" ngày xưa nghe chắc nịch bao nhiêu, thì bây giờ tụi con cái tụi mình lại chông chênh bấy nhiêu. Ngay cả những bậc cha mẹ Việt bây giờ, nhiều người cũng ngập ngừng khi nói câu đó với con, không phải vì hết thương con, mà vì chính họ cũng không còn chắc nó còn đúng như xưa.

Và đây, mình nghĩ, mới là cái lõi mà người ta hay cãi nhau mà quên mất. Cái mà thế hệ chú Tư, thế hệ Bác Don, Dì Kammy khao khát, gọi cho đúng tên, không phải là giấc mơ giàu sang. Mà là giấc mơ về một nơi mà sự cố gắng của mình được đền đáp một cách công bằng. Một nơi mà một người tay trắng vẫn có quyền tin rằng đời con mình sẽ sáng hơn đời mình. Cái niềm tin đó, chính là ngọn lửa mà thế hệ các chú các dì đã ôm khư khư mà vượt cả một đại dương để mang tới đây.

Và bây giờ, ngồi ở cái bàn giỗ này, mình thấy cái ngọn lửa đó đang được chuyền tay ngay trước mắt mình. Từ bàn tay đã chai sạn của Bác Don, của Dì Kammy, của chú Tư nằm trong tấm hình kia, sang tay của tụi mình, cái lứa sau như mình với Barry. Câu hỏi không phải là cái ngọn lửa đó ngày xưa có sáng hay không, nó sáng, ai cũng biết. Câu hỏi là: tới lượt tụi mình cầm, tụi mình có giữ cho nó khỏi tắt để còn chuyền tiếp cho con cháu, hay tụi mình sẽ là cái thế hệ vô tình để nó lụi đi giữa hai bàn tay. Ông bà mình có câu "con hơn cha là nhà có phúc". Cả một đời các chú các dì cày cuốc, nhịn ăn nhịn mặc, cũng chỉ vì muốn cái phúc đó, muốn đời con hơn đời mình. Cái ân tình đó, lứa sau tụi mình trả bằng cách nào, nếu không phải bằng việc giữ cho cái lời hứa kia đừng phai?

Chiều đó, trước khi ra về, mình thấy Dì Kammy ra đứng trước bàn thờ chồng, thắp thêm một nén nhang. Dì nói, không biết nói với tụi mình hay nói với chú Tư trong tấm hình: "Hồi ổng còn sống, ổng hay nói ổng không tiếc gì cho ổng hết. Ổng có cuộc đời của ổng rồi. Ổng chỉ mong sao tới đời con cháu, tụi nó vẫn còn được sống trong cái nước Mỹ mà hồi đó ổng đã tin tưởng khi ổng bước xuống máy bay." Rồi dì quay qua tụi mình, cười mà mắt hơi cay: "Mấy đứa ráng nha. Cái mà chú với dì tin tưởng đó, tụi con giữ giùm cho mấy đứa nhỏ."

Mình không biết trả lời dì sao. Vì thú thật, chính mình cũng chưa có câu trả lời. Mình chỉ biết rằng cái lời gửi gắm đó, đứng trước bàn thờ một người đã nằm xuống sau cả một đời hy sinh cho giấc mơ ấy, nghe nó nặng vô cùng. Và nó không phải là chuyện của riêng gia đình Dì Kammy, mà là câu hỏi thầm lặng mà cả một cộng đồng chúng ta phải cùng nhau trả lời.

Còn bạn, cái nước Mỹ mà thế hệ cha chú mình kể lại từ những ngày đầu đặt chân tới, so với cái nước Mỹ mà con cái chúng ta đang lớn lên hôm nay, bạn thấy điều gì đã đổi thay nhiều nhất, và bạn có còn tin rằng cái giấc mơ mà thế hệ đi trước đã đánh đổi tất cả để tìm, vẫn còn đó cho thế hệ sau hay không?

Ryan Phan

THẾ HỆ VÀNG HẢI QUÂN GỐC VIỆT

2/9/2026
—-
Nhân dịp cộng đồng người Việt ở Mỹ có bộ trưởng hải quân Mỹ đề cử (nominee) Hùng Cao, nhiều người hỏi tôi về hải quân đại tá Lê Bá Hùng, nên tôi viết bài này.

Xin nói trước là tôi sẽ không viết về ông Hùng Cao. Tôi chưa bao giờ viết về ông ta vì chưa bao giờ có dịp làm việc chung hay gặp mặt. Nếu ông Hùng Cao còn hiện dịch (active duty) thì cơ hội chúng tôi gặp nhau rất thấp, vì ông không làm việc trên chiến hạm mà chỉ làm việc trên những chiếc tàu chuyên dụng nhỏ dành cho người nhái và lính đặc nhiệm hải quân.

Vả lại xưa nay tôi chưa bao giờ ca ngợi hay chỉ trích người nằm trong hệ thống quân giai (chain of command) của tôi để giữ sự trung lập và chuyên nghiệp. Vì thế cho nên tôi sẽ nói tới thế hệ vàng hải quân gốc Việt mà tôi biết.

Sau đây là những điều tôi biết về cựu đại tá hải quân Mỹ- Lê Bá Hùng:

Năm 2017 khi tôi đang học làm sĩ quan chỉ huy lái khu trục hạm, gọi là Officer of the Deck (OOD). Chứng chỉ OOD, gọi là OOD Letter, là chuẩn kỹ năng cao nhất dành cho sĩ quan tác chiến mặt nước (Surface Warfare Officer-SWO). Sĩ quan SWO là những người được đào tạo để trở thành hạm trưởng của 1 chiến hạm mặt nước. Thời đó SWO là hạm trưởng của tuần dương hạm, khu trục hạm, khinh hạm và tuần tra hạm.

Năm ngoái, hải quân thay đổi luật cho phép SWO làm hạm trưởng tàu đổ bộ có chở thuỷ quân lục chiến. Trước đó thì chỉ có sĩ quan phi công hải quân mới làm hạm trưởng tàu đổ bộ, vì tàu đổ bộ có nhiều trực thăng và máy bay F-35.

Năm 2017, anh Lê Bá Hùng là sĩ quan SWO gốc Á hàng đầu của hải quân Mỹ, và là sĩ quan SWO gốc Việt cao cấp nhất. Cơ hội lên phó đề đốc, tức chuẩn đô đốc theo cách gọi bên Việt Nam, rất cao.

Trước đó, khi ở cấp bậc Trung Tá, anh Lê Bá Hùng là hạm trưởng của khu trục hạm USS Lassen ghé thăm cảng Tiên Sa của Đà Nẵng. Lúc bấy giờ Lê Bá Hùng là cái tên gốc Việt và gốc Á nổi trội nhất trong hải quân Mỹ.

Mùa hè năm 2017, tôi đang học chứng chỉ sĩ quan lái tàu. Thời gian trung bình cho một sĩ quan để thu thập đủ kiến thức và thực tập trước khi dự kỳ khảo sát lấy OOD Letter thường từ 18 tới 24 tháng ròng rã, cho dù sĩ quan đó tốt nghiệp từ học viện hải quân Hoa Kỳ (US Naval Academy) hay từ các trường đại học hàng đầu của Mỹ. Lý do là lượng kiến thức quá nhiều, phải biết tất tần tật mọi thứ trên tàu, mọi lĩnh vực tác chiến và phải thực tập cũng như quan sát những cuộc diễn tập, huấn luyện xảy ra trên tàu.

Tôi không phải là sĩ quan SWO nên không bị áp lực về thời gian tối đa 18-24 tháng, vì tôi tự nguyện học, không dự khảo thí cũng không sao. Trong khi đó, các sĩ quan ngạch tác chiến mặt nước SWO phải lấy cho được chứng chỉ này trong vòng 18-24 tháng mới đạt chuẩn, nếu không thì sẽ bị ép đổi ngành hay xuất ngũ, cho dù người đó là sinh viên tốt nghiệp Harvard cũng không là ngoại lệ.

Chính vì học ròng rã hơn 2 năm trời nên tôi rất cảm phục anh Lê Bá Hùng, vì anh lúc đó là tư lệnh hải đội khu trục hạm, gọi là Commodore, đeo lon Đại Tá. Nói tóm gọn là, anh chính là sếp của 3-4 hạm trưởng khu trục hạm đóng quân ở Nhật Bản. Từ hạm trưởng khu trục hạm lên sếp của 3-4 hạm trưởng, con đường quan lộ của anh Lê Bá Hùng rất sáng.

Năm 2017, khi tôi chuẩn bị dự kỳ thi sát hạch chứng chỉ sĩ quan chỉ huy lái tàu (OOD Letter) thì có 2 sự kiện rất hi hữu nhưng xảy ra rất gần nhau. Đó sự cố 2 khu trục hạm hải quân Mỹ tông vào tàu thương mại ở ngoài khơi Tokyo và Singapore. Sự cố này khiến 2 hạm trưởng, 2 sĩ quan OOD bị cách chức hoặc tự ý về hưu non. Hai chiến hạm này không thuộc hải đội của đại tá Lê Bá Hùng, mà thuộc hải đội của 1 đại tá người Mỹ trắng đồng cấp với anh.

Đối với sĩ quan tác chiến mặt nước SWO, 2 tai nạn có thể chấm dứt sự nghiệp quân ngũ của họ vĩnh viễn là va chạm trên biển (collision) và mắc cạn (grounding) nên nhiều người xuất ngũ hoặc chuyển ngành nửa chừng.

Vào năm 2017, nếu sĩ quan SWO chịu ký hợp đồng làm trưởng 1 ban (Department Head) trên chiến hạm, thí dụ ban kỹ sư hay ban hệ thống tác chiến, thì tiền thưởng cho nhiệm kỳ 18 tháng của họ là 105 000 đô la.

Nếu họ bị sa thải nửa chừng thì họ phải hoàn lại số tiền thưởng này. Tiền thưởng lớn như vậy mà chỉ có chừng 30% sĩ quan SWO đi tiếp mà thôi. Họ chọn xuất ngũ hoặc chuyển sang ngành nào không phải làm hạm trưởng.

Anh Lê Bá Hùng đã đi tiếp lên tới cấp bậc đại tá. Ảnh là 1 sĩ quan SWO ngoại hạng. Ông đại tá tư lệnh hải đội khu trục hạm, người đồng cấp của Lê Bá Hùng, bị sa thải. Lúc này ông Hùng đã rời Nhật Bản về lại Mỹ công tác trên bờ.

Sau đó tôi không nghe tin gì về anh nữa. Tìm hiểu kỹ mới biết anh đã xuất ngũ ở cấp bậc Đại Tá. Lúc này tôi tiếc nuối khôn nguôi, vì lúc này tôi cũng đã đạt chuẩn OOD Letter, chỉ huy lái 1 khu trục hạm, và biết nó gian nan thế nào.

Cũng có thể nói, đại tá Lê Bá Hùng là nguồn cảm hứng để tôi tin là mình sẽ thi đậu kỳ sát hạch để làm sĩ quan chỉ huy lái tàu. Thậm chí khi đó tôi còn có ý định đi ngược dòng, tức xin chuyển qua ngạch sĩ quan SWO để đi lên làm hạm trưởng ở cấp Trung Tá, đồng thời bỏ túi 105 000 đô la nếu nhiệm kỳ Department Head dài 18 tháng của tôi trót lọt.

Chuyện ông đại tá đồng cấp của anh Lê Bá Hùng bị cách chức dẫn đến sếp của 2 người là phó đề đốc cũng bị cách chức. Có lẽ đây là lý do khiến con đường thăng tiến của anh Lê Bá Hùng không đi xa được nữa, vì những người sếp của anh đã dừng chân trên con đường binh nghiệp.

Kết quả điều tra vụ va chạm tàu ngoài khơi Tokyo đi đến kết luận là cô Trung Uý chỉ huy lái tàu đã có quyết định sai lầm khi vượt mặt 1 chiếc tàu hàng rồi đụng vào chiếc tàu thứ hai lúc 2-3 giờ sáng, trời tối như mực, tàu hàng lại bật đèn sáng trưng nên dễ bị loá mắt, 2 con tàu ở gần nhau nên tín hiệu radar trên màn hình nhìn giống như là của 1 con tàu. Thứ nữa, cô không gọi hạm trưởng xin ý kiến trước đó, tức chừng 2 giờ sáng. Chuyện phải gọi điện thoại cho hạm trưởng lúc 2 giờ để xin ý kiến chỉ đạo là áp lực kinh khủng đối với sĩ quan chỉ huy lái tàu. Thứ nhất, họ sợ làm phiền hạm trưởng. Thứ 2, lỡ đó là chuyện dễ quyết định mà không quyết định được, phải xin ý kiến hạm trưởng, chứng tỏ họ yếu nghề và thiếu tự tin. Cô Trung Uý kia đã không gọi cho hạm trưởng và tai nạn đã xảy ra. Cô chấp nhận nhận k luật và xuất ngũ sau đó.

Lúc đó tôi cũng đeo lon Trung Uý. Thấy số phận của sĩ quan SWO quá hẩm hiu, tôi bỏ ý định chuyển ngành qua sĩ quan tác chiến mặt nước SWO, giữ nguyên ngạch sĩ quan kỹ sư chuyên nghiệp. Ước mơ chạm tới 105 000 đô la tiền thưởng tan vỡ từ đó.

6 năm sau, năm 2023, tôi nộp đơn xin chuyển ngành qua sĩ quan ngoại giao quốc phòng, và tôi được chọn.

Tính ra, tôi không có số làm hạm trưởng như anh Lê Bá Hùng, dù đã đạt chuẩn sĩ quan tác chiến mặt nước SWO giống anh.

Thời của cựu đại tá Lê Bá Hùng, quân nhân gốc Việt rất giỏi, đặc biệt là 2 người bạn đã vươn tới đỉnh cao danh vọng của lính, tức lên tới lon cao nhất là thượng sĩ vàng xử lý thường vụ. Một người có chuyên môn là lính kỹ thuật điện, một người là lính hậu cần. Hải Quân Mỹ gọi là Master Chief (E-9). Người có chuyên môn về điện đứng đầu lính trên 1 chiếm hạm nên được gọi là Command Master Chief (CMC), quyền lực chỉ đứng thứ 3 sau Hạm Trưởng và Hạm Phó. CMC là cố vấn cao cấp nhất cho hạm trưởng về lính, cùng với hạm trưởng và hạm phó, họ tạo nên Bộ Tam Quyền Lực trên chiến hạm, gọi là The TRIAD. Có lẽ anh ấy là CMC gốc Việt đầu tiên. Khi tôi gặp anh thì tôi đeo lon Hạ Sĩ Nhất thì ảnh thì đeo lon Trung Sĩ Nhất, tức hơn tôi 2 cấp bậc. Giờ đây cả 2 anh đã về hưu.

Thế hệ của tôi thì tôi chưa thấy ai lên tới đỉnh cao này của lính. Đa số họ xuất ngũ sau hợp đồng đầu tiên (4-5 năm) hoặc xuất ngũ khi đủ 20 năm nhưng chưa lên tới bậc cao nhất 9/9 của lính như 2 anh kia.

Thế hệ hải quân Mỹ gốc Việt đi sau tôi thì tôi không nắm rõ. Có lẽ sẽ có những cá nhân xuất sắc hơn thế hệ chúng tôi. Hi vọng là vậy.

——
Disclaimer: Hình chụp màn hình từ trang web chính thức của Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ- USNA.

Linwei Ding bị kết án một năm tù tại Mỹ vi đã đánh cắp hơn 2.000 trang tài liệu mật về công nghệ chip AI

Linwei Ding, (Đinh Lâm Uy) người Trung Quốc, cựu kỹ sư của Google, 38 tuổi, cư trú tại Newark, California, còn được gọi là Leon Ding, được Google tuyển dụng năm 2019, đã đánh cắp hơn 2.000 trang tài liệu mật về công nghệ chip AI chủ lực nhằm phục vụ công ty khởi nghiệp của mình tại Bắc Kinh, nhưng chỉ bị kết án một năm tù tại Mỹ vào ngày hôm qua 1/9/2026.

Trong thời gian làm việc tại nhóm siêu máy tính cốt lõi của Google, Ding đã bí mật sao chép các tệp tin mật liên quan đến hệ thống phần cứng TPU và GPU tùy chỉnh. Sau đó, anh ta sử dụng những bí mật thương mại bị đánh cắp này để chào mời các nhà đầu tư Trung Quốc, công khai cam kết sẽ sao chép kiến ​​trúc AI của Google nhằm phát triển năng lực tính toán cho Trung Quốc.

Theo cáo trạng, từ tháng 5/2022 đến 5/2023, Ding đã tải lên clouds cá nhân các bí mật thương mại liên quan đến hạ tầng siêu máy tính AI của Google, những "building blocks" của trung tâm dữ liệu AI.

Bộ Tư pháp Mỹ cáo buộc y làm việc bí mật cho hai công ty Trung Quốc trong khi vẫn làm việc tại Google.

Tháng 3/2024 y bị bắt và truy tố 4 tội danh đánh cắp bí mật thương mại, sau nâng lên 7 tội đánh cắp bí mật + 7 tội gián điệp kinh tế vì lợi ích chính phủ Trung Quốc.

Bồi thẩm đoàn liên bang tại San Francisco đã tuyên y có tội trên tất cả các tội danh. Các công tố viên liên bang đã đề nghị mức án gần sáu năm tù nhằm gửi đi thông điệp đanh thép tới các đối thủ cạnh tranh nước ngoài.

Tuy nhiên, thẩm phán đã hủy bỏ các cáo buộc nghiêm trọng hơn về tội gián điệp kinh tế, do thiếu bằng chứng trực tiếp liên kết công ty khởi nghiệp của Ding, với các đầu mối chỉ đạo chính thức từ Đảng Cộng sản Trung Quốc, họ chỉ giữ lại các cáo buộc về hành vi đánh cắp bí mật thương mại.

Mức án 12 tháng tù này thấp hơn nhiều so với đề nghị của các công tố viên, khiến nhiều người trong ngành công nghệ đặt câu hỏi liệu các biện pháp thực thi pháp luật của Mỹ có đủ mạnh mẽ để răn đe các hành vi đánh cắp sở hữu trí tuệ ở quy mô cao hay không.

FB Uyen Vu

Blog Archive