Friday, July 31, 2020

NƯỚC MỸ ĐẠI LOẠN… CÓ KẾ HOẠCH

Tin báo chí mấy tuần qua cho thấy hình ảnh một nước Mỹ thật lạ lùng, có thể nói chưa từng thấy trong lịch sử 150 năm qua, kể từ ngày nội chiến Nam-Bắc Mỹ chấm dứt: đó là một cuộc nổi loạn bạo động được công khai cổ võ hay bảo vệ, thậm chí có vẻ như nằm trong kế hoạch quy mô của một chính đảng đối lập.

Cách đây hơn một thế kỷ rưỡi, chuyện này đã xẩy ra khi các lãnh đạo của đảng DC công khai chống đối chính sách của tổng thống CH Abraham Lincoln muốn phá bỏ xiềng xích nô lệ da đen, để rồi tất cả đi đến một đại họa lịch sử: các tiểu bang DC miền Nam tách ra khỏi liên bang, đưa đến cuộc nội chiến duy nhất và đẫm máu với hơn 800.000 người chết trong lịch sử Mỹ.

Lịch sử tái diễn chăng?

Trong vài tháng qua, nước Mỹ đã gặp xáo trộn, nội loạn chưa từng thấy từ thời nội chiến, đặc biệt là tại các tiểu bang cấp tiến nhất nước là Washington State (Seattle), Oregon (Portland), và Cali (Oakland, Sacramento). Chỉ chưa ai biết cuối cùng có đi đến nội chiến hay không thôi.

Tất cả bắt đầu từ một chuyện không đâu vào đâu dù đã đưa đến cái chết bi thảm của một người da đen. Anh da đen này chẳng phải là một ‘thánh sống’ hay đại anh hùng da đen gì, mà chỉ là một tên du thủ du thực vặt, cũng không phải chết vì có người cố tình muốn giết vì kỳ thị mà chỉ là chết trong trường hợp ngộ sát vì một cảnh sát quá mạnh tay.

Anh Floyd càng không phải là nạn nhân đầu tiên. Chuyện cảnh sát mạnh tay đưa đến cái chết của một nghi can bị bắt là chuyện đã xẩy ra cả vạn lần trong lịch sử cận đại Mỹ, ngay cả sau khi TT Johnson đã ra 2 bộ luật bảo đảm nhân quyền và dân quyền bình đẳng cho dân da đen.

Đừng nói chi xa, ngay cả dưới thời ông tổng thống da đen mới đây, chuyện này cũng đã xẩy ra, ít nhất 3 lần, tại Ferguson, Baltimore và New York. ‘Ít nhất’ vì đây là ba vụ gây xúc động lớn trên cả nước, ai cũng biết, chứ thực tế chẳng ai biết được bao nhiêu người khác, đen cũng như trắng hay nâu, đã bị chết trong tay cảnh sát một cách kín đáo hơn.

Thế thì tại sao vụ anh Floyd bị giết lại nổ quá lớn như vậy?

Câu trả lời chẳng có gì khó hiểu cả: vì bây giờ là mùa bầu cử và đảng đối lập với hậu thuẫn của TTDC, đã muốn khai thác tối đa chuyện này, như một vũ khí chính trị cực hữu hiệu để săn đuổi một tổng thống đương nhiệm ra khỏi Tòa Bạch Ốc, không hơn không kém. Đúng như ‘ranh ngôn’ của ông Rahm Emanuel, cựu chánh văn phòng của TT Obama, “đừng bao giờ bỏ qua cơ hội của một khủng hoảng".

Phe đối lập không phải mới bất thình lình ra sức đánh tổng thống vì cận ngày bầu cử đâu. Bất cứ ai theo dõi thời sự hơn ba năm qua đều đã nhìn rõ ngay từ ngày kết quả bầu cử được công bố, một ngày sau khi cả nước đi bầu, thì phe đối lập đã không nhìn nhận kết quả bầu cử, hô hoán "Not My President", tung ra liên tục cả chục chiêu đánh phá phản dân chủ nhất, kể cả chiêu tối hậu là đàn hặc, nhưng đều thất bại ê chề. Rồi như được ‘trời giúp’, vi khuẩn Tầu cộng đóng vai di dân lậu mới, tràn ngập vào Mỹ mà không có giấy tờ chiếu khán gì cả, -undocumented 100%- khiến cả triệu người bị nhiễm và cả trăm ngàn người chết.

Phe ta vui mừng xoa tay, coi vi khuẩn như cứu tinh giúp họ. Ban đầu cố tình giảm thiểu mối nguy của vi khuẩn, như thể cố tình muốn giúp cho vi khuẩn lây lan dễ dàng.

Dịch bắt đầu vào Mỹ đầu tháng Giêng, TT Trump có biện pháp đầu tiên, ngày 6/1, cho CDC ra thông báo, cảnh giác không nên đi Tầu, qua ngày 17/1, ra lệnh kiểm tra gắt gao du khách từ Tầu vào 5 phi trường lớn của Mỹ, ngày 31/1 ra lệnh cấm du khách từ Tàu vào Mỹ, tất cả những người đã ghé Tàu trong vòng hai tuần trước phải khai báo và bị cấm cung hai tuần sau khi được vào Mỹ.

Bị phe DC và TTDC chống đối mạnh. Cụ Biden tố cáo các biện pháp phòng ngừa dịch của TT Trump là bài ngoại cuồng điên, là hù dọa (nguyên văn câu nói của cụ Biden trong một diễn văn tại Iowa, ngày 31/1/2020, ngày TT Trump ra lệnh giới hạn du khách từ Tầu vào Mỹ: “This is no time for Donald Trump’s record of hysteria and xenophobia - hysterical xenophobia - and fearmongering to lead the way instead of science.” ).

Cái thô bỉ của cụ Biden là qua tháng Tư khi dịch đã hoành hành mạnh, thì uốn lưỡi, biểu diễn môn võ bài ngoại còn cuồng điên hơn cả TT Trump, trở giọng tố TT Trump đã không dám cản mạnh làn sóng du khách Tầu vào Mỹ khi dịch mới xẩy ra!

TTDC thi khư khư khuyến cáo chỉ là cúm thường không có gì phải hoảng loạn. Washington Post còn kêu gọi dân đề cao cảnh giác, coi chừng Trump muốn khai thác dịch vì ý đồ độc tài! Mãi cho tới đầu tháng Ba mới bắt đầu đổi giọng, cảnh giác về dịch sau khi đã có người Mỹ chết vị dịch cuối tháng Hai rồi. 

Cái giả dối thô bỉ là cả khối TTDC bây giờ vuốt mặt, nhất loạt tố TT Trump lơ là, chậm chạp trong việc nhận diện mối nguy corona nên đã lấy biện pháp quá muộn, bất tài để dịch hoành hành. Nếu nói TT Trump bất tài, thì phải nói luôn hơn 200 lãnh đạo thế giới, và cả triệu bác sĩ, khoa học gia trên cả thế giới cũng đều bất tài hết, chỉ có mấy anh nhà báo của CNN hay WaPo hay New York Times mới là thiên tài. Cùng với vài cụ tỵ nạn cuồng chống Trump dĩ nhiên!

Muốn biết TT Trump thực sự có lơ là, có chậm chạp hay không thì chỉ cần nghe WHO và bác sĩ Fauci, người cầm đầu cuộc chiến chống dịch.

Ngày 2/2/2020, WHO, Tổ Chức Y Tế Quốc Tế, ra thông cáo bệnh dịch đã được kềm chế tại TC, không phải là đại dịch thế giới - not an international endemic-. 

Ngày 17/2/2020, đúng một tháng sau khi TT Trump ra lệnh kiểm tra du khách từ TC vào Mỹ qua 5 phi trường lớn của Mỹ, ông Fauci còn tuyên bố dịch Vũ Hán có mức rủi ro nhỏ xiú -minuscule risk-, chỉ những người đã bị nhiễm mới cần đeo mặt nạ để tránh lây lan qua người khác, còn ai không bị nhiễm khỏi cần vì mặt nạ không ngăn cản được vi khuẩn thâm nhập vào cơ thể gì hết.

Nói trắng ra, mãi qua tới đầu tháng Ba, vẫn chưa ai thấy rõ mối nguy của dịch Vũ Hán hết. Khi đó, cả thế giới mù, nhưng bây giờ, gần nửa năm sau, thì cả thế giới sáng mắt hết, lo xỉa tay tố Trump mù không nhìn thấy mối nguy của dịch.

Nhưng rồi con vi khuẩn báo hại này dường như cũng chẳng đáp ứng được nhu cầu của phe ta muốn triệt hạ Trump. Thứ nhất, con vi khuẩn này đánh Mỹ thật, nhưng lại ngu xuẩn cứ nhè các tiểu bang DC phe ta mà đánh khi cả chục tiểu bang bị nạn nặng nhất lại toàn là tiểu bang DC. Đã vậy, lại có chiều hướng suy tàn hơi sớm, còn cách xa cuộc bầu cử quá lâu, có thể sẽ không hại TT Trump như mong đợi trong việc tái tranh cử của ông này.

Rồi như một món quà ‘trời’ cho mới, một anh cảnh sát hăng tiết vịt vô ý thức, đã mạnh tay -hay chính xác hơn, mạnh đầu gối quá mức, đưa đến cái chết thảm hại của một anh da đen. Phe ta coi như trúng số. Dân da đen như thông lệ, viện cớ bất mãn, ào ào xuống đường đốt phá, cướp bóc, hôi của.

Nhưng lần này, phản ứng của chính quyền địa phương, phần lớn trong tay đảng DC, đã khác xa những lần trước.

Dưới thời TT Obama, cả ba vụ Ferguson, Baltimore và New York cũng không khác gì: cảnh sát mạnh tay đưa đến cái chết của một nghi can da đen. Ngay sau đó, dân da đen cũng đã xuống đường biểu tình, đốt phá, ăn cướp như thông lệ. Nhưng vì TT Obama là da đen ‘phe ta’, nên các cuộc nổi loạn cướp phá đã mau mắn bị dẹp khi TT Obama gửi Vệ Binh Quốc Gia đến mà không ai phản đối hết. Các lãnh tụ da đen và TTDC khi đó nhất tề đứng sau lưng TT Obama, lên án cảnh sát dĩ nhiên nhưng cũng lên án cướp bóc và cổ võ cho việc tái lập an ninh trật tự. Các chính quyền DC địa phương hoan hỷ đón chào Vệ Binh Quốc Gia đến tái lập an ninh trật tự. Và TTDC cũng ca tụng các quyết định cứng rắn của tổng thống. Tình hình ổn định mau lẹ và dễ dàng.

Nhưng dưới thời TT Trump, tình hình tại Minneapolis đã chẳng được ổn định mau lẹ hay dễ dàng gì hết. Chính quyền Minneapolis và Minnesota ngồi nhìn những tàn phá trong ba ngày đầu, ra lệnh không cho cảnh sát can thiệp, cũng không cho TT Trump gửi Vệ Binh Quốc Gia đến dẹp loạn.

Rồi họ khôn khéo lái vấn đề qua câu chuyện kỳ thị. Việc anh cảnh sát ngộ sát một tay cướp cạn vặt biến thành da trắng cố sát da đen, rồi đi xa hơn nữa, biến chuyện này thành con đẻ của ‘chính sách’ kỳ thị da đen của TT Trump. Để rồi họ khích động khối da đen xuống đường, thổi phồng khẩu hiệu Black Lives Matter, làm điểm tập hợp của dân da đen xuống đường chống TT Trump. Làm như thể chuyện cảnh sát giết chết dân da đen là chuyện chưa từng thấy trong lịch sử Mỹ, chưa bao giờ xẩy ra dưới bất cứ tổng thống nào, mà chỉ là con đẻ của chính sách kỳ thị của tay ‘thượng tôn da trắng Trump’ thôi.

Những cuộc xuống đường của dân da đen trước, da trắng sau, được tung hô, khuyến khích, cổ võ tối đa, bất kể nạn dịch COVID đang đe dọa cả nước, bất kể cả nước đang có lệnh cấm cung, cách ly.

Khi nạn dịch bắt đầu tấn công mạnh, các thống đốc và chính quyền địa phương ra lệnh đóng cửa kinh tế, đóng cửa trường học, cấm cung, cách, ly, bắt đeo mặt nạ. Nhưng rồi bây giờ muốn khai thác chống đối, cổ võ cho việc xuống đường biểu tình thì lại uốn lưỡi lại, tố cáo việc cấm cung mới là chuyện giúp dịch phát tác mạnh.

Như DĐTC đã từng viết: “Dưới đây là vài điểm chính trong lý luận mới toanh của TTDC qua The Atlantic: Cấm cung là cách tốt nhất để bệnh dịch lây lan vì bệnh dịch khó lây lan ngoài đường phố khi mọi người ở trong không gian rộng lớn, lại di chuyển liên tục, trong khi lây lan mạnh nhất trong nhà khi mà không khí bị bít kín”.

Giải Nobel về giả dối, phải nói là nham hiểm mới đúng, đã về tay thị trưởng New York Bill de Blasio khi ông này ký sắc lệnh cấm thiên hạ không được tụ họp đông người để tránh dịch lây lan, nhưng biểu tình tung hô Black Lives Matter hay chống TT Trump thì được miễn, tha hồ, càng đông càng tốt, các luật lệ cấm cung, cách ly đều được miễn, không áp dụng. Thuần tuý trên phương diện y khoa, có bác sĩ nào giải thích được tại sao vi khuẩn sẽ không tấn công những người biểu tình chống Trump không?

Tạp chí Newsweek trong hai số liên tục đăng hai bài thật ý nghĩa: Hàng triệu người ào ào xuống đường, đứng sát nhau, hò hét văng nước miếng tùm lum, không sao, nhưng một chục ngàn người đến nghe TT Trump đọc diễn văn thì đã khiến vi khuẩn phát tác mạnh ngay.


Từ ngày ông Trump xuất hiện, nghĩa là ngay trước khi ông đắc cử, phe ta đã cố gắng bằng mọi cách đóng dấu triện kỳ thị lên trán ông. Chỉ vì kỳ thị là một vấn đề cực kỳ nhạy cảm, dễ gây xúc động và dễ kích thích thiên hạ nhất. Chứ cứ tố cáo những chuyện như thông đồng với Nga hay đổi chác với Ukraine thì chỉ kích thích được vài ba ông bà chính khách trong quốc hội chứ dân Mỹ nhún vai coi như đang xem phim bộ trên Netflix thôi. Kỳ thị là chuyện khác xa, đụng chạm trực tiếp đến tự ái và quyền lợi của mỗi người dân.

Mới đầu thì là màn tố kỳ thị dân gốc Mễ khi ông Trump chống đám di dân lậu; rồi chạy qua kỳ thị dân da đen Phi Châu khi TT Trump gọi mấy xứ Phi Châu là “shithole”, rồi chạy qua kỳ thị da đỏ khi ông mỉa mai bà TNS Warren là ‘công chúa Pocahontas’; sau đó chuyển qua kỳ thị da vàng khi ông gọi vi khuẩn corona là vi khuẩn Tầu; rồi khi TT Trump giới hạn du lịch từ Âu Châu qua để cản dịch corona thì dĩ nhiên không thể nói kỳ thị da trắng đươc nữa, nên dùng danh từ nhẹ nhàng hơn là ‘bài ngoại’. Tóm lại, theo phe đối lập và TTDC thì TT Trump kỳ thị hết ráo, đủ sắc dân hết. Kỳ thị luôn cả chó mèo khi trước đây có anh nhà báo hăng tiết vịt tố TT Trump không nuôi được con chó hay con mèo nào. Chuyện lạ là chưa thấy báo hay TV nào tố TT Trump kỳ thị… cộng sản!

Điều đáng buồn cho phe đối lập là tất cả những chiêu bài kỳ thị này có vẻ không ăn khách lắm, dân Mỹ có vẻ vẫn dửng dưng.

Với vụ anh Floyd, thì đây là cơ hội ngàn vàng để khai thác tính kỳ thị da đen, là khối dân mà đảng DC bây giờ đã hoàn toàn trở thành nô lệ trong các cuộc bầu bán.

Đây là sách lược được đảng DC và TTDC nghiên cứu rất kỹ thay thế cho những khẩu hiệu vớ vẩn vô nghĩa kiểu như “Yes, We Can” của TT Obama năm xưa. Vừa nhạy cảm dễ gây xúc động, vừa dễ hiểu, vừa mát lòng cử tri đen, vừa đánh trúng tâm lý nhân đạo của dân Mỹ nói chung.

Ngay cả một anh dân biểu Mỹ gốc Việt tại Texas cũng mau mắn phất cờ Black Lives Matter cho đúng ‘phải đạo chính trị thời thượng’, lại còn bi thảm hóa câu chuyện, xác nhận dân Mỹ kỳ thị hết thuốc chữa, đến độ chính anh ta là dân da vàng cũng đã là nạn nhân nặng của kỳ thị. Xin lỗi, anh là dân biểu trong một đơn vị bầu cử chẳng có một anh đen nào, lưa thưa vài anh gốc Mễ, lác đác vài anh gốc Việt không bao giờ đi bầu. Xin hỏi anh chứ ai bầu cho anh nếu không phải là đám dân Mỹ trắng. Nếu anh là nạn nhân của kỳ thị thì anh giải thích như thế nào việc anh được bầu liên tục từ 15 năm qua như vậy? Tố giác của anh chứng minh anh chỉ tầm thường như bất cứ chính khách thời cơ nào. Thật đáng thất vọng!

Một anh con buôn láu cá của Bellaire -khu dân Việt tại Houston- cũng nhẩy ra, mượn cái khẩu hiệu Black Lives Matter làm công cụ marketing, quảng cáo tên tuổi mình, được ngay một đài TV Mít trịnh trọng mời lên phỏng vấn. Wá đả! Kỹ thuật quảng cáo miễn phí là vậy.

Thật ra, khi khẩu hiệu Black Lives Matter được tung hô trong khi khẩu hiệu All Lives Matter bị thoá mạ thì việc đòi công bằng cho dân đa đen đã biến thành một phong trào đội dân da đen lên đầu thì đúng hơn.

Cuộc nổi loạn biến thái qua những phong trào bạo động quy mô, không còn là đốt nhà cướp của, đập kính Target ăn cướp tủ lạnh hay TV vặt nữa, mà thành những phong trào nổi loạn thực sự như đòi giải thể hay ít nhất giải ngân cảnh sát, chiếm đóng khu phố đòi tự trị, liên tục xuống đường biểu tình phá rối đòi xóa bỏ di tích lịch sử, đốt phá sở cảnh sát, tấn công các công sở, và kinh hồn hơn nữa, thành lập những đội quân võ trang xung kích không khác gì các nhóm Thanh Niên Xung Phong của Việt Minh cộng sản ở VN năm xưa, lấy tên quái lạ và thô bỉ “Not Fucking Around Coalition” -NFAC-!

Lực Lượng “Not Fucking Around Coalition”

Quý độc giả hãy thử tưởng tượng có một nhóm da trắng thành lập một lực lượng tương tự như NFAC thì TTDC và phe DC -và các cụ tỵ nạn cuồng chống Trump- sẽ phản ứng như thế nào.

Nhưng tuyệt chiêu của ‘phe ta’ là chiến thuật gọi là ‘Wall of Moms’, ‘Bức Tường Của Các Bà Mẹ’. Nghĩa là trong các cuộc biểu tình, ‘phe ta’ đưa các bà mẹ dắt theo mấy đứa con nhỏ đi hàng đầu để không cho cảnh sát dám tấn công. Một chiến thuật trước đây có hai nhóm ưa xài: đó là VC trong Nam, và ISIS bên Trung Đông. Bây giờ là chiến thuật của khối DC chống Trump đấy.

Kích động nổi loạn, đó chính là cái giá kinh hoàng mà phe đối lập sẵn sàng trả, chỉ vì lý do hiển nhiên nhất là ngoài phương cách đó ra, thì phe đối lập hầu như tuyệt vọng, không có cách nào khác để chiến thắng trong cuộc bầu cử tới.

Chuyện nước Mỹ sẽ gặp những hậu quả lâu dài của cuộc nổi loạn tai hại cỡ nào bất kể ông Trump tái đắc cử hay cụ Biden chiến thắng, là … chuyện nhỏ! Không nên thắc mắc, suy nghĩ xa hơn cuộc bầu cử tới. Chỉ cần thắng cử thôi, chuyện gì sau đó … sẽ tính sau.

Hậu quả đầu tiên, hiển nhiên nhất của việc các quan chức hèn nhát đã nhắm mắt, trốn trong nhà bếp trước cao trào dân da đen nổi loạn, là đã xác nhận cho đám nổi loạn thấy là nếu họ được đằng chân thì có thể leo lên đằng đầu.

Từ phong trào phản đối cảnh sát tàn bạo, biến qua phong trào đòi quyền sống của dân da đen dưới cái khẩu hiệu nổ hơn kho đạn Black Lives Matter khi mà quyền sống của dân da đen chưa bao giờ thực sự bị đe dọa. Rồi mau mắn biến thể qua cái phong trào quái dị gọi là là ‘cancel culture’ tức là xóa bỏ hết quá khứ, xóa bỏ hệ thống chính quyền, xóa bỏ tôn ti trật tự công cộng, xóa bỏ luôn cả lịch sử, tôn giáo, văn hoá, đổi luôn cả quốc ca và quốc kỳ! Đám cuồng tín cực tả quá khích mát giây này chỉ là một đám nổi loạn, vô tổ chức, vô lãnh đạo, vô đường lối, vô mục đích, muốn đập phá hết, mà chẳng ai hiểu để làm gì, muốn xây dựng cái gì thay thế? Đúng theo định nghĩa của danh từ ‘anarchy’.

Mà nghĩ cho cùng, có thật sự là vô tổ chức, vô lãnh đạo không? Hay là đã có ‘bàn tay lông lá’ của 30.000 thành viên của tổ chức Organization for America của Obama đứng sau lưng, với tiền của ông tỷ phú Hung Gia Lợi George Soros? Ai mà biết được?

Chỉ có một hiện tượng ai cũng thấy rõ hơn ban ngày là phản ứng của khối DC.

Ở mức địa phương, các thị trưởng, thống đốc hoàn toàn bị tê liệt, một phần vì sợ hãi, tuyệt đối không dám làm bất cứ chuyện gì để tái lập an ninh trật tự, càng không dám lên án các vụ bạo động, nhưng một phần cũng kỳ vọng chiêu võ bạo loạn này sẽ đánh Trump tới thân bại danh liệt luôn. Tại Portland, thủ phủ của tiểu bang cấp tiến hàng đầu Oregon, cuộc nổi loạn đập phá đã kéo dài hơn hai tháng, ngang với Seattle của tiểu bang Washington State. Chẳng những các chính quyền địa phương bủn rủn chân tay, hoàn toàn tê liệt, mà lại còn sợ hãi đám nổi loạn đến độ chống lại việc TT Trump mang lính của bộ An Ninh Lãnh Thổ đến dẹp loạn luôn.

Bà bộ trưởng Tư Pháp tiểu bang Oregon, Ellen Rosenblum mắt bị quáng gà nặng, tỉnh bơ tuyên bố các cuộc biểu tình ở Portland ôn hòa nhất.

Cái hèn nhát -hay dã tâm- của đám lãnh đạo đảng DC trước những biến động cực tai hại hiện đang thấy xẩy ra trên cả chục thành phố từ cả mấy tuần liên tục, được thể hiện rõ nét khó chối cãi, khi cả đám lãnh đạo của đảng DC bất thình lình á khẩu, ngậm tăm hết. Từ cụ Biden đến các chuyên gia sách động như bà Pelosi, ông Schumer, ngay cả các chuyên gia quậy Al Sharpton, Jesse Jackson,… cũng nín khe hết. Hiển nhiên là họ thấy những nổi loạn bạo động này cực tai hại cho đất nước trong dài hạn, nhưng đồng thời họ cũng thấy đó là phương cách khích động cử tri chống TT Trump hữu hiệu nhất trong ngắn hạn, trong khi cả đám cũng run lẩy bẩy không một ai dám động đến khối dân da đen mà đảng DC đang cần phiếu hơn bao giờ hết.

Chính khách DC duy nhất dám lên tiếng là dân biểu Jerold Nadler, chủ tịch Ủy Ban Tư Pháp Hạ Viện, nhận định “những cuộc biểu tình trong ôn hòa này hoàn toàn hợp pháp, trong phạm vi tu chánh án số 1 của Hiến Pháp, bảo đảm quyền tự do phát biểu tư tưởng”. Đi cướp phá, đốt nhà, giật tượng, xé cờ,… đó là phát biểu tư tưởng trong ôn hòa được Hiến Pháp bảo đảm sao?

Hiến Pháp bảo đảm?

Nhìn vào thái độ của đảng DC và TTDC, dường như họ đang đánh một canh bạc chí tử, nhất chín nhì bù. Ở đây, bình tâm mà suy nghĩ, người ta thấy rõ sách lược thật nham hiểm của phe DC, sẵn sàng chấp nhận những nổi loạn cướp phá, chấp nhận dịch corona lây lan tùm lum khiến cả triệu người bị nhiễm, cả trăm ngàn người chết, chấp nhận kinh tế tiếp tục đóng cửa, cả chục triệu người thất nghiệp, cả vạn tiểu doanh gia tiêu tan sự nghiệp cầy cuốc cả đời họ, chấp nhận trẻ con mất học cả năm trời,…, tất cả như cái giá đáng phải trả để có dịp tuyên truyền công kích, không cho TT Trump tái đắc cử lại.

Nhớ lại câu nói cách đây hai năm của anh Bill Maher, một bình loạn gia của HBO, sẵn sàng chấp nhận đại khủng hoảng kinh tế với cả triệu người thất nghiệp và phá sản, nếu đó là cách để hạ được Trump. Hiển nhiên, anh Maher này coi vậy mà ít tàn độc hơn đám lãnh đạo DC hiện nay.

Như DĐTC này đã từng viết nhiều lần, chỉ vì ông Trump chính là mối đe dọa sinh tử -existential threat- của đảng DC và cả ý thức hệ cấp tiến thiên tả. 

Vấn đề là canh bạc này thật sự chưa ai biết ai sẽ thắng. Những bạo động hiện thấy cũng rất có thể gây hoang mang, sợ hãi cho đại đa số dân Mỹ, khiến họ hoảng sợ, ào ào dồn phiếu cho TT Trump, là người hiển nhiên có bản lãnh trị loạn hơn xa cụ lẩm cẩm Biden.

Tệ hơn nữa, nhiều người lo ngại hình ảnh loạn hiện nay sẽ trở thành hình ảnh tiêu biểu của chính quyền Biden.

Ba tháng nữa, chúng ta sẽ có câu trả lời.

Vũ Linh

ĐỌC BÁO MỸ:

Tương Lai Mỹ Dưới TT Biden? – Real Clear Politics:

Nổi Loạn Tại Portland – The Hill:

Nổi Loạn Tại Louisville – Fox News:

Nổi Loạn Tại Seattle – Fox News:
Lời cha dạy: 10 CÁI NGU PHẢI TRÁNH 

1. Cho mấy thằng bài bạc mượn tiền.

Muốn giúp nó làm lại cuộc đời. Nhưng cuối cùng phải kêu nó bằng ông nội rồi suốt ngày quỳ lạy nó mà cũng chẳng lấy được đồng nào.

2. Bỏ tiền để thuê người quen làm.

Nghĩ rằng sẽ tốt, giá cả phải chăng và dễ kêu khi hư hỏng đặc biệt là tạo việc làm cho họ. Nhưng kết quả hoàn toàn ngược lại. Ngậm bồ hòn khen ngọt mà mang ơn huệ suốt đời hoặc là sẽ trách nhau rồi mất đoàn kết.

3. Hùn vốn làm ăn chung chạ.

Nghĩ rằng anh em bạn bè thì lo gì. Nhưng thành công hay thất bại rồi cuối cùng cũng mất đoàn kết hoặc tan rã.

4. Làm thầy dạy thằng dại.

Cứ nghĩ sẽ dạy nó khôn lên. Nhưng Kết quả là nó mang họa về hết cho mình và biến mình thành thằng dại.

5. Bán đất lấy tiền gửi ngân hàng.

Nghĩ cho chắc ăn và tiện lợi. Nhưng bán 3000 m2 gửi ngân hàng 3 năm rút ra 300 m2 cũng không mua nổi.

6. Làm thuê cho người chủ không có đạo đức.

Nghĩ rằng mình chỉ làm thuê lấy tiền. Nhưng cuối cùng mình biến mình thành thằng thất đức. Vì ông chủ chỉ nói còn mình thì làm.

7. Kết hôn mà không có tình yêu.

Nghĩ rằng cưới về rồi yêu. Nhưng chưa kịp yêu thì đã ly hôn còn không thì sống bên nhau nhưng không biết mùi hạnh phúc.

8. Gửi tiền người khác mua đất mà không đứng tên.

Vì lòng tin tưởng và cũng chẳng bao nhiêu tiền. Nhưng mấy năm sau giá đất nhảy lên mấy chục lần kèm theo lòng tham con người nổi dậy bắt đầu sinh tranh chấp.

9. Sống thiếu lập trường (đẽo cày giữa đường).

Nể người nên ai nói gì cũng theo. Nhưng kết quả mình chẳng làm được việc gì cho tốt hết.

10. Sống quá tiết kiệm không mua Rolls-Royce

Cứ nghĩ nhịn ăn để tích góp về già. Nhưng chưa già đã chết hoặc già rồi thì tiền núi cũng chẳng cần vì đã kiệt sức, mà cũng vẫn chả có Rolls-Royce để mà đi.

Nguồn: Sưu tầm Internet
Tại Sao Anh Bị Vào Tù? 

Một người Sài Gòn vừa bị công an CS tống giam vào ngục. Trong lúc anh đang ngơ ngác thì các người tù khác vây quanh anh và hỏi :- Tại sao anh bị vào tù ?

- Tôi là nhân viên bán hàng ở 1 tiệm sách và bị tù về tội đã bày trong tủ kính chân dung tổng bí thư Nông Đứt Mạch.

- Như vậy có gì đáng bị tù đâu ? Ngưỡng mộ lãnh tụ là tốt sao lại bị tù?

- Tại tôi vô tình đặt dưới chân dung tổng bí thư Nông Đứt Mạch cuốn "Thằng Ngốc" của Dostoevski.

- Tại sao anh không làm kiểm điểm và xin lỗi, rồi dẹp cuốn "Thằng Ngốc" đó đị

- Tôi đã làm như thế và thay vào đó bức ảnh chụp tổng bí thư và vợ cùng các con ông ấy.

- Như vậy càng quí chớ có tội tình gì đâu ?

- Nhưng kỳ này tôi lại sơ ý đặt dưới bức hình đó cuốn sách "Gia Đình Bất Hạnh".

- Rồi sau đó ra sao ?

- Công an đến cảnh cáo tôi; tôi dẹp cuốn sách đó ngay và thay bằng bức hình của toàn bộ chính trị của đảng cộng sản Việt Nam.

- Lần này anh có đặt phía dưới cái gì không?

- Có mới chết chứ ! Tôi lại sơ ý để cuốn "Alibaba và 40 tên cướp" dưới bức hình của toàn bộ Chính Trị của đảng cộng sản Việt Nam.

- Thế nên anh bị họ đưa vào đây?

- Chưa, sau khi đút lót ít tiền, tôi được bỏ qua và lần này tôi để hình "bác Hồ" vào đó.

- Thế thì tuyệt quá. Vậy tại sao anh còn bị đưa vào đây?

- Vì sơ ý, tôi đã để quên cuốn sách " Tên Trùm Mafia " dưới chân dung " bác Hồ " .

Lượm trên mạng
Trích Tiên


Căn cứ không quân Banak trong một ngày hè uể oải. Dưới nắng chói chang, đường bay trải dài loang loáng như có ai khéo tạt một vũng nước vuông vức ra tận vịnh Porsangen. Ba dãy trại sơn trắng, ghép thành hình chữ U nằm buồn như chợ chiều. Cái hăng-ga khổng lồ đóng cửa im ỉm. Tôi ngồi "gác kiểng" trên đài quan sát, mường tượng cảnh những chiếc máy bay F-16, F-5 tấp nập lên xuống hồi Nato còn đóng ở đây. Bây giờ chỉ còn đàn hải âu lười biếng lượn trên bầu trời trong. Giá tôi có thể thả cho đời trôi như thế. Tiếng chuông điện thoại reo. Tôi hấp tấp bắt máy:

- Ðài quan sát, phi trường Banak, tôi nghe đây ạ.

- Thân đấy hả? Nghe đây: Có một người Việt Nam, đang ở phòng cảnh sát Tana, không biết một chữ Na-uy. Họ cần người dịch. Cậu có muốn giúp họ không?

Tôi nói như trẻ con xí đồ chơi:- Dạ, muốn chứ, thiếu tá.

- "Muốn chứ"- ông thiếu tá có tật nhái lời, lúc mới nhập trại tôi cứ tưởng ông kỳ thị, rồi tiếp -Nửa giờ nữa có người lên gác thế, anh xuống văn phòng gặp tôi. Có trực thăng tới đón.

Bỏ điện thoại xuống, tôi mới bắt đầu tự hỏi: tại sao lại có người Việt nào lạc loài lên miền địa đầu giới tuyến này? Tưởng chỉ có mình tôi điên. Chắc là một du khách người Việt đi coi mặt trời đêm, quên đường về? Hay là một người từ Nga nhảy rào xin tị nạn chính trị? Ôi! Nếu là một vụ ty nạn thì thật hấp dẫn. Tôi nhìn cây kim đồng hồ treo dưới chân dung quốc vương Harald và hoàng hậu Sonja nhích đi chậm chạp.

Tôi thay đồ dân sự xong lên trình diện. Ông thiếu tá thấy vẻ hăng hái khác thường của tôi, tò mò hỏi:

- Tại sao anh - tay tổ làm biếng - lại sáng mắt lên nhận việc này?

- Lâu quá tôi không được gặp người đồng hương..

Vâng, tôi đang phục vụ ở một nơi hẻo lánh cỡ như Lạng Sơn của Việt Nam, nhưng trong vòng 1000 cây số hình như chỉ có một người Việt. Và lý do tôi vận động đi quân dịch, mặc dầu đã quá tuổi bắt buộc, là vì sau khi ra trường, tôi xin việc mấy chục chỗ không được, đâm buồn chán, trống rỗng, muốn đi thật xa một phen. Hơi quá xa.

Từ bãi trực thăng đi vào phố chỉ chừng 2 km. Tana là một xã nhỏ cực bắc của Na-uy, giáp giới Phần-lan, và là một trong những con đường chính từ Nga sang. Từ vài năm nay, mùa hè ở đây tràn ngập du khách, nhiều nhất là người Nga và Phần-lan. Người địa phương, phần đông là thổ dân Same, nghe nói cũng giòng giống Mông-cổ, nhưng so với dân Viking, không gần gũi với tôi gì hơn. Xe chở tôi chạy qua một khu chợ trời náo nhiệt. Sau ngày Liên bang Xô-viết sụp đổ, người Nga tuồn cả núi quân nhu, quân cụ ra bán. Nào là "mũ nơm gà" Hồng quân Liên xô, huân chương, áo giáp, ống dòm, la bàn, nào là quần áo nhà binh, tượng Lê-nin, Xít-ta-lin, bao cao-su... được bày la liệt trên lề đường, như một cuộc chiến vừa tàn. Ở vài góc đường, những cô gái Nga -rất dễ phân biệt với gái Na-uy nhờ nét mặt thanh tú, thân người thon nhỏ- ăn mặc phong phanh, mời mọc. Có lẽ đây là mấy cô mà bọn con trai trong trại thường to nhỏ, xuýt xoa mỗi lần đi phép về, và ông thiếu tá cũng đã cảnh cáo, nhưng vẫn không yên tâm, bắt cả trại thử máu thường xuyên.

Ty cảnh sát nằm sau nhà thờ. Người đón tôi là một ông trung sĩ cảnh sát, nhưng người điều tra lại là một cô sĩ quan xinh đẹp, tóc ngắn, da dẻ đỏ như đồng, chắc suốt mùa hè này chỉ tắm nắng. Cô tự giới thiệu là Marianne. Vào phòng thẩm vấn, tôi vừa ngạc nhiên vừa mừng, không hiểu tại sao, khi thấy "đối tượng" thông dịch là một cô gái. Cô đang ngồi quay lưng về phía cửa ra vào, khi cô đứng lên, quay lại, tôi hoa cả mắt vì vẻ đẹp khác thường. Bị hớp hồn, tôi mở lời bằng một câu u mê:

- Cô người Việt?

Nàng cũng thẫn thờ:- Anh người Việt?

Trong lúc chờ Marianne tìm thêm ghế, tôi nhìn trộm đôi môi hồng vừa thốt ra những âm hưởng Hà Nội ấm và sang, và nghĩ cái câu "Anh người Việt?" có thể dùng để chào nhau, thay cho câu "Bác xơi cơm chưa?" của miền bắc Việt Nam. Khi người nữ sĩ quan cảnh sát bắt đầu gài mẫu biên bản lấy cung vào máy đánh chữ, tôi hiểu đây không phải chỉ là vụ cớ mất bóp hay du khách lạc đường, và trong tâm trạng của một người chín tháng nay chưa thấy mặt người Việt Nam, tôi nghĩ bụng cô gái xinh đẹp này...oan, dẫu chưa biết sự cố liên quan tới việc gì. Người sĩ quan bắt đầu:

- Cô tên gì?

- Natasja Jakusjok.

Tôi không nghe kịp tên họ, phải chìa tờ giấy, xin cô gái viết. Trong lúc Marianne so mảnh giấy cô gái viết với tờ thông hành, tôi so nét mặt thuần túy Việt Nam với cái tên Nga Natasja, lòng đầy nghi hoặc. Marianne tiếp:

- Cô sang Na-uy làm gì?

- Du lịch.

- Từ bao giờ?

- Chiều thứ sáu.

- Bằng phương tiện gì?

- Xe buýt.

- Khởi hành từ đâu?

- Murmansk.

- Ai mời cô sang Na-uy?

- Tôi tự sang.

- Không có ai từ Nga tự sang Na-uy được. Phải có người từ Na-uy mời, lãnh sự quán của chúng tôi ở Murmansk mới cấp phép nhập cảnh.

- Tôi mà được mời?

Marianne tỏ vẻ nửa ngạc nhiên, nửa thất vọng. Tôi tự nhiên đâm thông minh hơn thường lệ một chút, dịch chữ "mời" thành "bảo lãnh", và nhắc lại câu hỏi. Quả nhiên người đồng hương hiểu ý, trả lời:

- Tôi không biết tên người bảo lãnh.

- Cái tên đó cô phải biết để viết đơn xin chiếu khán.

- Tôi không viết đơn.

Marianne như sắp chụp được con mồi:

- Ðó. Tôi muốn hỏi người nào viết đơn giùm và tổ chức chuyến đi cho cô?

- Tôi không biết. Tới phiên thì tôi mua vé xe. Người bán vé chỉ cho tôi đi xe nào, tôi lên xe đó.

Người nữ cảnh sát thất vọng, xoay mặt lại cái máy chữ từ nãy đến giờ nằm thất nghiệp, lùa tay vào mái tóc nâu. Tôi quay sang Natasja. Tia mắt tôi chạm phải bàn tay cô trắng nuột nà đặt trên đùi, tôi quay đi chỗ khác. Nhưng rồi trong lúc dịch tôi không thể tránh nhìn vào một trong hai người. Tôi nảy ra một so sánh: lúc mới gặp cô cảnh sát, tôi thấy cô đẹp như một nữ tài tử đóng trong các phim James Bond; lúc này ngồi cạnh cô gái Việt, cô trông như một nữ tì. Nhưng người "nữ tì" đã quay phắt lại, nghiêm nghị, dằn từng tiếng:

- Chúng tôi bắt được quả tang cô bán dâm.

Tôi hụt hẫng, bàn tay co giật, loại co giật mà tôi thường gặp khi rơi từ cơn chập chờn vào giấc ngủ sâu, hoặc như khi đi đường băng trơn với em gái, mà nó bị trượt. Tôi sượng sùng, dịch "bán dâm" thành "tiếp khách". Nhưng hai tiếng này cũng đủ như một tảng đá tròng vào cổ, cô gái Việt cúi đầu xuống. Ðầu tôi cúi theo. Một tiếng nhỏ, khàn đục bật ra từ khóe môi lợt lạt:

- Phải...

Cô thú nhận với người cảnh sát Na-uy, nhưng theo thói quen, cô quay sang người thông dịch tội nghiệp. Mắt cô mở lớn, trong vắt, van lơn. Lồng ngực tôi đòi lấy hơi để trút một tiếng thở dài, nhưng tôi cố nín, và càng khó chịu hơn. Và khoảng cách giữa tôi và người con gái đồng hương trở nên bồng bềnh như một mạn thuyền với một cánh bèo trên biển sóng, lúc xa, khi gần. Tôi không làm nghề thông dịch, nhưng hồi còn đi học, thỉnh thoảng tôi có đi dịch để kiếm tiền tiêu vặt. Trước khi được nhận làm, tôi phải học mấy giờ về luân lý chức nghiệp. Hình như tôi nhớ được đôi điều, và bây giờ tôi nhủ lòng mình "Ðây không phải việc của tôi". Cuối cùng cô gái "Natasja" tiếp:

- Nhưng... luật pháp Na-uy không cấm việc này... có phải không?

Phản ứng bớt buông xuôi của Natasja khiến tôi ngạc nhiên. Marianne nghe vậy, lại trở nên hăm hở:

- Ðúng. Luật pháp Na-uy không cấm việc mãi dâm, nhưng cấm hoạt động ma cô. Chúng tôi cần biết ai làm ma cô cho cô?

- Không ai làm ma cô cho tôi cả.

- Thôi. Xin hỏi câu khác: Cô vừa nói luật pháp Na-uy không cấm mãi dâm, mà cấm ma cô. Ai nói cho cô biết điều này vậy?

- Bạn bè.

Quanh đi quẩn lại, rõ ràng là cô cảnh sát chỉ muốn tóm cổ mấy thằng ma cô. Nhưng có gái giang hồ nào giám chỉ điểm ma cô của mình? Hồi nãy khi đi qua khu chị em ta, tôi cũng thấy những bộ dạng khả nghi, chẳng phải người địa phương, cũng chẳng phải du khách hay người thập phương tới buôn bán. Cảnh sát cũng dư biết như thế, có lúc gặp tên ma cô nhâng nháo quá, họ ngứa mắt, đã bắt thử, nhưng chẳng có chứng cớ, phải thả ra cho nó nhâng nháo thêm. Cơ hội duy nhất cho biện lý cuộc là lời khai của các cô gái giang hồ. Nhưng các cô ấy, nhất là cô gái lạc loài ngồi trước mặt tôi đây, làm sao dám nói? Tôi ngước lên nhìn Natasja, gặp đúng lúc cô cũng ngước lên nhìn tôi - trong đôi mắt sâu ấy, cô đang chới với. Marianne dòm lăm lăm vào tờ biên bản gài trên máy chữ như để moi ra câu hỏi mới. Cuối cùng cô ta chuyển đề tài:

- Cô có quốc tịch Nga, nhưng sanh tại Việt Nam?

- Vâng

- Cô lấy chồng Nga?

- Vâng.

Marianne ráng tỏ ra kiên nhẫn:

- Cô Natasja ạ, chúng tôi không bao giờ làm gì hại cô. Chúng tôi chỉ muốn biết tên và có bằng chứng truy tố bọn ma cô. Vậy cô cứ nói cho tôi biết ai đã đưa cô tới đây?

Natasja ngơ ngác:- Ðưa tới đâu cơ?

Marianne nói muốn nghỉ giải lao mươi phút, trong khi đó tôi phải ra văn phòng làm thủ tục tính thù lao. Marianne gặp tôi ở phòng khách lúc tôi định lấy tách cà phê cho tôi và có lẽ một tách cho cô gái. Cô hỏi chuyện lính tráng của tôi, về người tị nạn Việt Nam ở Na-uy. Câu chuyện lan man sang việc, vào năm 93, cô tham gia chiến dịch vĩ đại chuẩn bị cho trường hợp một triệu người Nga tràn vào Na-uy tị nạn chính trị hoặc nạn đói. Một nhà báo nổi tiếng dí dỏm gọi chiến dịch đó là "cuộc chuẩn bị đón tiếp các công dân của Thiên Ðường đổ vỡ". Việc đó may không xảy ra, nhưng lại xảy ra một cuộc xâm thực dưới hình thức khác. Cô hỏi tôi có biết về các tệ nạn biên giới? Tôi nói có đọc loạt phóng sự của nhật báo Aftenposten và Verdens gang về việc người Nga sang đây buôn bán ma túy, rượu mạnh, quân nhu quân dụng, và mãi dâm. Tôi hỏi:

- Nghe nói có thể mua bất cứ thứ gì?

- Ðúng. Từ sau khi Liên-xô sụp đổ, người ta có thể mua mọi thứ, thứ dữ như bom nguyên tử, súng máy, xe tăng, tầu ngầm... Thứ hiền như đồ chơi. Ðồ chơi rẻ tiền có huân chương Anh hùng Liên-xô, huân chương Lê-nin, Anh hùng dân tộc, Anh hùng lao động. Và đồ chơi đắt tiền là các cô này.

- Bao nhiêu mà đắt?

- Từ 200 tới 500 kroner một đêm.

Tôi nghĩ tới Natasja. Theo cái giá mà văn chương Trung Hoa và Việt Nam đề ra, cô ta phải đáng "ngàn vàng" là ít. Tại sao xuống tới mức này?

- Giá đó tương đương với 2 tới 5 giờ làm việc của một người thợ Na-uy. Có gì mà gọi là đắt?

- Chỉ một cuối tuần các cô gái buôn hương kiếm được số tiền bằng lương một năm của một người thợ trung bình ở Nga.

- Vậy sao quí vị không để cho người ta kiếm ăn?

- Chúng tôi không muốn làm khó dễ các cô gái. Chỉ muốn trừ khử bọn ma cô.

- Nghĩa là nếu các cô ấy làm ăn độc lập thì được phép?

- Ðược.

- Cô thử hỏi cô gái tại sao không làm ăn độc lập?

- Cần gì hỏi. Tôi biết họ không thể nào làm ăn độc lập được. Người dân Nga tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa. Họ vừa thoát ách độc tài cộng sản, đã rơi vào nanh vuốt Mafia. Báo cáo của hội đồng an ninh kinh tế (NSR) cho biết 4/5 xí nghiệp Nga phải trả tiền bảo vệ cho Mafia. Ta không cần hỏi đồng hương của anh câu đó.

Marianne nhìn đồng hồ, ý muốn chấm dứt giờ giải lao, nhưng lại đứng thêm một lát hỏi về người Việt ở Nga. Tôi không biết gì ngoài những bài phóng sự về tình cảnh những người được chính quyền Việt Nam gởi đi nước ngoài lao động trả nợ chiến tranh, và công thức trả lương: một phần phát cho công nhân, một phần Nhà Nước Việt Nam "lấy thảo". Sau đó khi bức màn sắt sụp đổ, nhiều người ở lại phải xoay xở chật vật để sinh sống, kể cả việc phi pháp và mãi dâm. Và tới phiên người khác lấy thảo..

Tôi mang cà-phê vào cho Natasja, nhưng cô để nguội tanh không uống. Marianne tiếp tục lại cuộc thẩm vấn. Nhưng câu chuyện về sau biến thành một cuộc mạn đàm nhiều hơn. Sau cuộc thẩm vấn, Marianne tự động nói với tôi:

- Chắc anh muốn nói chuyện riêng với người đồng hương? Cứ ngồi đây mà nói. Anh không phải thông dịch viên chính thức, chúng tôi nhờ vả anh trong trường hợp đặc biệt, nên đền công đặc biệt. Nhân tiện, tôi nhờ anh nói cho cô ấy biết theo luật pháp Na-uy cô ấy không làm điều gì bậy cả. Cô ấy đẹp và hiền quá.

Tôi ngồi lại, không hiểu vì động lực nào - vì tò mò hay tội nghiệp, vì đây là một người con gái đẹp hay một đồng hương? Marianne đã khép cửa văn phòng lại. Bỗng nhiên tôi hoang mang, không biết tại sao ngày hôm nay, giờ này mình ngồi đây với một cô gái lạ. Tôi nghĩ có thể Natasja cũng có cảm giác đó, khi cô loay hoay sửa lại thế ngồi, rồi lại trở về thế cũ. Gò má cô từ từ ửng hồng. Cô mở lời rụt rè:

- Anh là người ty nạn ra đi từ miền Nam?

- Dạ.

- Nghe cách ăn nói đủ biết.

- Còn cô? Chắc từ Hà Nội?

- Vâng.

- Nghe giọng nói đủ biết.

Lần đầu tiên chúng tôi cùng cười nhẹ. Cô tiếp:

- Ở đây đông người Việt không?

- Chỉ có mình tôi đi quân dịch lên đây. Cách đây 500 cây số có một ông bác sĩ lên phục vụ để lấy thâm niên. Ngoài ra nhóm người Việt gần nhất ở cách đây chừng 1000 cây số.

Khi nêu những khoảng cách xa xăm, bỗng tôi cảm thấy cô gần lại một chút. Cô nói, do dự:

- Tôi... e..m tên Quỳnh Hương.

- Tên đẹp quá. Tôi tên Thân.

- Anh có trách em không?

- Tại sao lại trách?

- Em làm xấu hổ chung.

Tôi cảm thấy mình vụng về, không tìm được lời, chỉ biết nói:

- Cô cảnh sát nhắn tôi nói lại: Cô không làm điều gì bậy cả, theo luật pháp Na-uy. Cô ấy còn khen chưa thấy ai đẹp và hiền như cô.

“Chưa thấy ai” là ba chữ quá giang, nhưng thực tình không quá tải. Quỳnh Hương cảm động, nét mặt bớt căng thẳng. Nhưng giữa chúng tôi có cái gì thiếu tự nhiên, câu chuyện không hào hứng như tôi tưởng tượng lúc ngồi trên trực thăng đáp xuống Tana, và nhất là giây phút đầu tiên thấy mặt cô gái.

Vì lịch sự tôi vẫn cho cô địa chỉ và số điện thoại, dặn cần gì có thể liên lạc. Tôi ra ngoài móc hết tiền bạc trong túi - hình như dăm trăm - bỏ vào một phong bì, viết mấy chữ an ủi nhờ Marianne đưa cho cô gái.

Quỳnh Hương thất thểu theo một người nữ cảnh sát khác ra khỏi bót. Tôi đứng nhìn cô đi về phía nhà thờ, lủi thủi. Tôi tưởng tượng ra cô gái làng chơi Magdalena trong Thánh kinh trên đường đi tìm Chúa Giêsu để thú tội.

Nhưng cô có tội tình gì? Câu hỏi thành hình từ khi tôi ngồi lên trực thăng, và nó cứ lớn dần từng ngày khi tôi trở về trại. Tôi càng mong đợi càng bặt tin Quỳnh Hương. Tôi đinh ninh thể nào cô về cũng viết thư ngay cho tôi để cám ơn nghĩa cử, để tôi có thể nói những lời tốt đẹp, kể cả lời hứa giúp đỡ. Tôi còn tưởng tượng ra câu chuyện về một chàng thanh niên hào hoa, đóng ở "tiền đồn heo hút", tình cờ gặp một cô gái giang hồ và cảm hóa được nàng đi tu thành ma sơ thánh thiện. Không ngờ một tuần, hai tuần, rồi một tháng trôi qua, không có tin cô. Rõ ràng cô đã nhét địa chỉ tôi cho vào bóp. Ngoài ra, trên phong bì tiền tôi cũng quen tay ghi tên và địa chỉ một lần nữa.

Chờ đợi, băn khoăn, cuối cùng là hối hận. Tôi đã quá lạnh lùng, đã thay đổi thái độ quá nhanh sau khi biết cô là gái giang hồ. Tất cả chỉ xảy ra trong lòng tôi, nhưng tránh sao cô chẳng linh cảm được. Nét mặt thông minh ấy. Vì trịch thượng ngầm, tôi không nghĩ tới việc xin địa chỉ cô.

Năm tuần sau, tôi nhận được lá thư đóng dấu bưu chính Murmansk. Tôi mừng như được thư người tình, leo lên tháp canh đọc cho... thấm. Nhưng đọc thư xong tôi vô cùng thất vọng. Nét chữ xấu xí quê mùa, lời lẽ tình nghĩa kệch cỡm, nghe rợn tóc gáy. "Chủ đề" của thư đương nhiên là xin gởi tiền (bằng tiền Norway) về địa chỉ v.v… Tôi nổi giận, xé lá thư vất vào sọt rác. Không thể ngờ được bộ mặt xinh đẹp như thế lại mang tâm hồn bần tiện như vậy. Dù cố thử biện hộ cho cô gái bằng lý luận "cái khó bó cái khôn", tôi vẫn chán ghét cô gái, ê chề tình đời, tôi chán ghét cái vùng đất mất hết tình người. Ðau nhất là con người lãng mạn của tôi bị quê nặng quá.

Hết phiên gác, việc đầu tiên là tôi về phòng để hủy cái dấu vết cuối cùng về cô gái bất xứng - miếng giấy viết hai chữ Natasja Jakusjok. Ðó là miếng giấy mà cô gái viết tên trong bót cảnh sát, đi Tana về tôi gắn trước bàn viết để kỷ niệm một buổi gặp gỡ... hay hay. Nhưng khi gỡ miếng giấy, cầm trên tay, tôi bỗng giật mình - nét chữ này thanh tao, nhuyễn mềm, khác xa một trời một vực với nét chữ thô lậu, tục tằn trong thư tôi vừa xé. Tôi tức tốc chạy lên đài quan sát, lục lại lá thư. Chẳng cần so lại tuồng chữ, tôi cũng biết thư này không phải do Quỳnh Hương viết. Tôi "sang" hết mấy lời xỉ vả hồi nãy cho bọn bất lương, và nôn nả bắt tay vào việc tìm tung tích Quỳnh Hương.

Sau buổi thông dịch, tôi thỉnh thoảng có điện thoại cho cô cảnh sát Marianne, vừa để tán gẫu chơi, vừa thăm dò xem "ngựa có về đường cũ không". Bây giờ muốn biết địa chỉ thật của Quỳnh Hương tôi chỉ việc hỏi Marianne. Nhưng tôi không được phép làm như vậy. Tôi thử làm điệp viên si tình một phen. Một mặt tôi ra ngân hàng gởi 300 kroner cho bọn làm tiền, tất nhiên dưới tên Natasja Jakusjok. Na-uy đang mở rộng việc làm ăn với Nga, để biến đổi bán đảo láng giềng Kola thành một vùng bớt nghèo đói và ô nhiễm, nên có rất nhiều hãng xưởng và ngân hàng Na-uy mọc lên hai bên đại lộ Lê-nin. Tôi chọn gởi tiền qua ngân hàng Kirkenes, vì nó nằm đối diện với một khách sạn. Gởi tiền đi hôm trước, hôm sau tôi đáp xe đò đi Murmansk và thuê khách sạn đó, phòng có cửa sổ quay ra mặt đường. May mắn quá mong đợi, ngày rình chực thứ ba tôi đã thấy bóng Quỳnh Hương ra ngân hàng. Tôi không cần ngụy trang nhiều, chỉ cần cái quần soọc, cái mũ lưỡi trai, và cái máy Nikon là ra dáng một anh triệu phú Nhật Bổn rồi. Phải thêm cái kính mát to để che mặt.

Vào ngân hàng tôi đứng xa xa, thấy Quỳnh Hương đang xếp hàng quay lưng lại, tôi cẩn thận không lộ diện, nhỡ có tên cô hồn nào đi kềm nàng không. Khi nàng lãnh tiền xong quay ra, tôi đau nhói tim thấy mặt nàng tiều tụy, và có vết bầm xanh. Một tên đàn ông mặt mũi bất lương ở đâu sán lại kè nàng, chưa ra khỏi cửa, nó đã giằng lấy tiền, chửi thề "Ð.M. có mấy đồng ranh mà nàm nhọc xác ông". Quỳnh Hương cúi đầu, không trả lời. Tôi lén theo dõi hai người, nhưng tới ngã tư thì họ lên một chiếc xe hơi do người thứ ba lái chạy mất tăm, tôi đón taxi không kịp.

Tôi thất vọng trở về Na-uy, viết thư làm bộ nói nhớ thương Natasja và mong gặp nàng, bóng gió cho biết sang Na-Uy sẽ dễ dàng mang tiền về hơn. Nàng sang thật. Vết bầm trên mặt đã biến mất, nhưng vẫn còn tiều tụy. Tôi đưa nàng thẳng vào một khách sạn đàng hoàng cho nàng nghỉ ngơi. Chúng tôi ăn ngay trong khách sạn. Nàng ngạc nhiên vô cùng khi tôi nói tôi biết hết trò giả mạo thư và làm tiền của bọn vô lại. Nhưng tôi thắc mắc:

- Tại sao chúng biết cô có liên lac với tôi?

- Em vừa từ biên giới về, chúng nó lục lọi khám xét ngay, và tất nhiên thấy phong bì tiền của Anh cho, địa chỉ nằm đó. Chúng bắt em viết thư vòi tiền, em không làm, chúng đánh đập, bắt trở lại đứng đường. Em xin làm mọi việc trâu ngựa để hầu hạ cả bọn miễn đừng bắt em làm việc đó. Chúng chấp thuận nhưng vẫn giả mạo thư tống tiền Anh. Em xấu hổ quá.

Tôi hỏi một câu mà định hỏi mấy lần nhưng chưa có dịp:

- Cô sang Nga theo diện nào?

- Nghiên cứu sinh. Nghiên cứu sinh sử học.

Tôi kinh ngạc:

- Nhà Nước Việt Nam gởi đi?

- Vâng.

Tôi nhớ lại việc thông dịch, hỏi:

- Sao cô không nói tiếng Nga, dễ kiếm người thông dịch ngay tại đây?

- Em muốn giấu tông tích. Chẳng may...

Tôi hơi phật ý về hai chữ "chẳng may", nhưng không tỏ ra, hỏi tiếp:

- Cô... xong tiến sĩ chưa?

- Thưa, rồi ạ.

- Vậy cô chỉ việc trở về phục vụ đất nước.

- Trễ rồi.

- Sao vậy?

Quỳnh Hương hít hơi thật sâu, như để đè nén cái gì, cuối cùng nói nhẫn nại:

- Truyện dài lắm. Em chỉ vắn tắt thế này: Khi em đang chuẩn bị về nước, thì bố em bay sang nói bất cứ giá nào đừng về.

- Tại sao vậy? Ở Việt Nam bây giờ thay đổi khá lắm, và bắt đầu đãi ngộ những người có trình độ.

- Lợi dụng thì có, đãi ngộ không.

Chúng tôi ra ban-công. Nắng đêm quyện vào gió bắc cực lùa vào mặt mát rượi. Tóc Quỳnh Hương thơm. Tôi hỏi:

- Ngoài ra bố cô nêu lý do gì để khuyên cô đừng về nước?

Nàng nhìn con hải âu đậu một mình trên cột đèn, đáp:

- Là lý luận gia lâu năm của Ðảng, khi thấy bức tường Bá-linh rạn nứt và thiên đàng Liên-xô sắp bốc lửa, Bố em dự kiến Ðảng cộng sản Việt Nam sẽ biến từ một tổ chức cách mạng thành một guồng máy tư bản.

- Vậy càng tốt chứ sao?

- Anh không hiểu đâu, cũng như em hồi đó không hiểu. Vì thế Bố phải đích thân bay sang. Gặp Bố em vừa mừng vừa ngạc nhiên hết sức, nhưng run sợ khi ông nói nước Việt Nam sẽ không còn là nơi dung thân của con người nữa.

- Sao vậy?

- Bố hỏi em "Chị xem - cái thiên đàng kiểu mẫu mà sắp sụp đổ nay mai, thì cái thiên đàng mô phỏng sẽ ra sao?" Em không trả lời, ông nói "Các ông ấy là những kiến trúc sư chuyên vẽ thiên đàng. Kiểu này đổ vẽ kiểu khác. Mà mỗi lần đổ, mỗi lần đổi kiểu là hàng vạn người chết vì cột kèo đè."... Bố em về, tự vẫn chết, để họ không còn gây sức ép với em được, trước khi bị cột kèo đè.

Nghe đến đây, tôi lạnh toát xương sống, khô cổ họng. Cột đèn đằng trước, con hải âu đã bay đi, còn cái tay đèn đua ra, như chờ một sợi dây thòng lọng. Mãi lâu sau tôi mới thốt lên được câu gần như vô nghĩa:

- Khủng khiếp quá!

Quỳnh Hương mím môi để khỏi bật ra tiếng khóc, nhưng giọng ướt lệ:

- Người ở ngoài không hiểu nổi sự khủng khiếp tới mức nào đâu. Người trong cuộc, đa số khi hiểu thì trễ quá rồi.

Vai tôi chờ một mái đầu tựa vào. Nhưng tôi phải làm như tỉnh táo, hỏi:

- Với cô, có quá trễ chưa?

- Em không biết. Nhưng để em kể em đã sa xuống chỗ nào. Lúc đầu em may mắn trên con đường ty nạn. Ông giáo sư đỡ đầu cho em ly dị vợ để cưới em. Anh đừng trách em. Vì ông ta ly dị xong mới cho em biết đã có vợ và mới ly dị. Ở Nga, ly dị là chuyện cơm bữa, cũng như chuyện trai gái chung chạ. 30% các cặp vợ chồng ly dị. Việc làm tình hổ lốn trở thành phổ thông là vì tình trạng ăn chung ở chạ, nhà cửa chật chội. Chồng em là một tên ghiền rượu, đánh đập em mãi, em vẫn chịu đựng được. Nhưng hai ba lần em bị anh họ chồng, em chồng, rồi cả bố chồng cưỡng hiếp, thì anh bảo sao em chịu được? Em phải ra đi, và sa vào tay Mafia..

Tôi lại ớn lạnh. Không phải vì gió đêm. Mà vì nhớ chúng tôi đang ở gần biên giới. Tôi dìu Quỳnh Hương vào trong. Ðóng cửa sổ lại. Chúng tôi im lặng uống một thứ rượu kem gì đó khá ngon. Tôi quyết định ngày mai ra lãnh sự quán bí mật làm giấy bảo lãnh hẳn cho Quỳnh Hương sang Na-uy. Ðiều làm tôi do dự là cái giấy hôn thú. Trước khi về phòng riêng, tôi đắp mền cho Quỳnh Hương như một đứa em gái và nói:

- Ngủ ngon. Ðừng mộng mị gì cả, dù thiên đường..

Quỳnh Hương sang chơi Na-uy lần kế tiếp vào ngày lễ Sankthans, ngày dài nhất, đúng hơn, không có đêm. Nàng từ xe buýt Murmansk bước xuống, ăn mặc đơn giản, càng xinh đẹp hơn. Nàng tha thướt đi giữa những huân chương và mũ áo Hồng quân bên vệ đường, tàn tích của một thiên đường vừa đổ vỡ, diễm lệ như một nàng tiên, tôi đặt tên cho nàng là "Trích Tiên". Khi tôi nói ra, nàng cười tươi, chấp nhận. Từ đó cuối tuần nào nàng cũng qua. Thường tôi đưa nàng về căn chòi thuê của xã ở sườn núi trông ra biển, rất thơ mộng. Từ mùa thu không còn mặt trời giữa đêm nữa, nhưng rừng thu biến thành những tảng màu đỏ, vàng tuyệt diệu. Vài cánh buồm trắng nhẹ trôi trên mặt nước xanh lộng bóng núi. Ban đêm trời trong, trăng sao vằng vặc chiếu xuống vịnh bao la. Chúng tôi ngồi bên nhau ngoài hiên nói chuyện tới khi sương ngập thềm. Tôi gọi căn chòi này là "Ðộng Tiên", muốn vĩnh viễn ở lại không về trần gian. Nàng "trích tiên" thỉnh thoảng lại khóc làm tôi lo lắng. Nhưng nàng nói:

- Xin lỗi Anh, em khóc chỉ vì quá hạnh phúc.

Tôi uống những giọt hạnh phúc này từ mắt nàng, và nói:

- Ðây là nước mắt hạnh phúc. Nhưng nước mắt đau khổ của Em, anh cũng xin uống.

Chúng tôi chỉ ước có phép mầu cho thời gian và không gian ngừng ở đây. Lạ lùng là những lúc tôi gần gũi Quỳnh Hương trên chòi nghỉ mát, tôi chỉ say sưa nhìn ngắm, lắng nghe, ngửi hương nàng, không xàm xỡ. Tôi sống sự hiện diện nàng. Sự sống nồng nàn, ngây ngất mà thanh khiết. Tạo hóa đã khắc cho nàng một chân dung kỳ diệu - từng nét thì đối chỏi mà toàn thể thì hài hòa. Các nhà giải phẫu thẩm mỹ không bao giờ làm được như vậy. Chỉ có Nhà Ðiêu khắc tối cao, thừa thương yêu và tinh quái mới nắn nên khuôn mặt và thân thể Quỳnh Hương - để tặng riêng tôi, cho riêng mỹ cảm mà Ngài tạo cho tôi. Và Ngài gởi tặng phẩm tới cho tôi qua con đường sầu thảm quá. Con đường các phép lạ thường đi..

Khốn nạn thân tôi (tiếng Bắc của Quỳnh Hương), nỗi đam mê lành thánh kia, tôi chỉ giữ được khi có sự hiện diện của nàng. Khi nàng qua lãnh thổ Nga, tôi trở về trại Banak, thì xác thịt tôi giằn vặt, réo gọi. Tôi quằn quại trong giường lính độc thân, thèm khát thân hình nuột nà cô gái giang hồ Natasja. Xác thịt tôi trách móc tôi đã dại dột bỏ qua cơ hội nọ, cơ hội kia trên Ðộng Tiên. Cho tới khi tôi ngủ thiếp đi. Có vài lần trong mơ... Nhưng thường trong mơ tôi thấy nàng Trích Tiên mặc áo dài trắng tinh khiết trổi lên từ giòng nước trong xanh vẫy gọi tôi. Phải chờ tới buổi sáng, khi mặt trời mọc, rọi sáng vào những góc tăm tối trong tâm hồn, tôi mới thực tỉnh táo, và hãnh diện cuối tuần trước đã giữ mình đứng ngoài cái giòng đục lềnh bềnh những xác bố chồng, xác anh, xác em chồng nàng, và những thiên đường mà nàng đang vùng vẫy thoát ra. Ðúng hơn, chúng đẩy nàng ra như một vật lạ trong cơ thể.

Chỉ có một lần tôi táo bạo, lần đi thăm Nordkapp. Nordkapp hay "Mũi Bắc" nằm trên vĩ độ cao nhất nước, có lẽ là kỳ quan Na-uy thu hút nhiều du khách nhất. Mỗi năm, hàng vạn người từ khắp thế giới, nhất là Nhật, Ðức, Mỹ mua vé máy bay lên đây, chỉ để coi mặt trời đêm. Lúc tôi đưa Quỳnh Hương đi thăm Mũi Bắc, trời đã sang đông, không còn du khách nào nữa, cũng không còn mặt trời đêm. Tôi nắm tay Quỳnh Hương đứng trên ghềnh đá vách dựng đứng. Nước biển vẫn thăm thẳm. Gió lạnh buốt. Nhưng chúng tôi càng thích thú. Bỗng nhiên, mây trên trời biến thành màu xanh như lân tinh, và quay tít như đèn kéo quân, hào quang lấp lánh rực rỡ, những luồng điện nổ tí tách trong mây như hàng ngàn tràng pháo chuột ngày Tết.. Quỳnh Hương kinh sợ nhưng lại reo vui vì có tôi bên cạnh. Tôi giải thích:

- Ðó là nordlys (bắc quang). Hiện tượng huy hoàng này không phải lúc nào cũng xảy ra. Hôm nay nó xảy ra đúng lúc Em tới đây. Ðó là dấu hiệu Trời cũng muốn chào đón Em đó.

Facts about the northern lights in Norway | Science and myths

Quỳnh Hương tựa lưng vào ngực tôi. Giọng nàng mật ngọt:

- Còn Anh, Anh cho em dấu hiệu gì?

Cầm lòng chẳng đậu, tôi xoay người nàng lại, và hôn vào đôi môi nồng nàn. Ðó là lần đầu tôi hôn một người con gái. Trên mỏm đá lịch sử Nordkapp, dưới ánh bắc quang.

Chỉ còn một tháng nữa là Tết ta. Thu An gọi điện thoại nhắc thế nào tôi cũng phải xin về phép cho kịp ngày cúng Giao Thừa. Thay vì nói trong điện thoại, sợ không đủ mạch lạc và không đối đáp được con em lí lắt, tôi viết cho nó một thư dài 6 trang trình bày ý định mời Quỳnh Hương về Oslo ăn Tết. Tất nhiên trong thư tôi dấu một số chi tiết về thảm cảnh của Quỳnh Hương, nhưng tên "Trích Tiên" thì không thể không khoe. May quá con bé chấp thuận liền, còn hào hứng chuẩn bị đón "chị dâu". Tôi nói tuyệt đối nó không được... lạc quan.

Gia đình chúng tôi đã nhận bao nhiêu tai họa bất ngờ, đúng trong những lúc tưởng là hạnh phước nhất. Tết Mậu Thân Ông Nội đang công tác ngoài Huế bị cộng sản Bắc Việt bắt đi chôn sống, đúng lúc ông được điện tín về mà coi mặt và đặt tên cho cháu đích tôn là tôi; Bà Nội đi bốc xác Ông, về phát điên rồi mất. Năm 75 con Thu An vừa sanh ra, để trong cái biệt thự thơ mộng Ba Má mới mua ở Chí Hòa mấy năm sau "có một tiểu thư ra vào", thì cộng sản tràn vào "giải phóng"; Ba đi tù, Má bị sa thải. Ba trốn học tập về, đúng lúc Má đặt được chỗ vượt biên chính thức, tưởng vĩnh viễn thoát khỏi cái thế giới điêu ngoa, hận thù, gian manh, thì tầu do tỉnh ủy Ðồng Nai đóng bị vỡ, Ba Má chết đuối.

Từ đó, cứ thấy bóng dáng hạnh phúc là tôi giật mình. Lần này, với Quỳnh Hương, tôi lại lăn xả vào, không phải như con thiêu thân nhào vào lửa nhan sắc, mà như muối gặp biển mặn. Nàng là hiện thân của tôi - phần nước mắt, và cả gia đình, dân tộc tôi, phần ước mơ và bất hạnh. Tôi đón nhận hết. Một lần, trong Trích Tiên.

Tôi thu xếp cho Quỳnh Hương sang đúng dịp tôi và Thu An nghỉ phép mùa đông. Và để tránh mọi dị nghị, tôi trình bày nội vụ với ông thiếu tá, và nhờ ông trình ông đại tá luôn. Ông dễ thương tặng Quỳnh Hương cái vé máy bay. Thu An bày đặt mang hoa ra phi trường Fornebu đón khách. Vừa giáp mặt Quỳnh Hương, nó đã reo ầm lên:

- Eo ơi! Chị Quỳnh Hương đẹp dễ sợ.

Quỳnh Hương bật cười vì những từ ngữ kỳ cục của con bé, cảm động nhận hoa. Tôi giới thiệu với khách:

- Ðây là đứa em gái thua tôi tới sáu tuổi, nhưng từ ngày chúng tôi mồ côi, nó nhảy tót lên ngôi chị hai, "kềm kẹp" tôi từ miếng cơm tới manh áo.

Thu An cong cớn:

- Từ nay em không thèm kềm kẹp nữa, em sắp bàn giao chủ quyền Trường Sá cho người khác.

Quỳnh Hương chỉ biết đỏ mặt. Tôi huých Thu An một cái làm nó chạy giạt sang bên kia, núp bóng Quỳnh Hương.

- Ê ê! Từ nay có chị Quỳnh Hương che chở, anh Hai không được ăn hiếp em nữa.

Thu An vừa lái xe vừa giới thiệu thành phố cho khách. Chị em nói chuyện líu lo. Tôi ngồi băng sau, nhắm mắt nghe giọng Hà Nội và giọng Sài Gòn quấn quít. Quỳnh Hương như thơ trẻ lại. Tôi ngả người tận hưởng hạnh phúc của một gia đình, lần đầu tiên sau 15 năm cô độc, lạc lõng nơi xứ người. Ðêm giao thừa, cúng vái, ăn cơm xong, Quỳnh Hương dọn trà mứt, Thu An bưng ra một cái bánh bông bơ, thắp 30 ngọn nến. Quỳnh Hương trầm trồ:

- Người Việt tại Na-uy có tục lệ riêng để đón xuân? Ðẹp quá!

Thu An trả lời:

- Không phải đâu, chị. Năm nào chúng em cũng ăn Tết, đồng thời mừng ngày sanh anh Hai. Nhưng năm nay đặc biệt hơn, vì năm nay anh Hai "tam thập nhi lập".

Quỳnh Hương hiểu ngay:- Thế tức là Anh sinh năm 1968?

Tôi nói:- Ðúng, năm Mậu Thân.

Thu An hớt:- Vì thế Ba Má mới đặt tên ảnh là Thân. Ba Má nói "Thân" đây có hai nghĩa là "yêu mến", "thân thiện" chứ không phải "con khỉ". Nhưng em thấy ảnh "mậu thân" với em lắm. Từ nay ảnh "mậu thân" là ảnh chết.

Quỳnh Hương cười ngặt nghẹo. Chưa bao giờ nàng cười nhiều như vậy. Tôi nói:

- Năm đó con khỉ con này chưa sinh ra, sao bây giờ khoọc khẹc dữ vậy?

- Chính anh Hai nghe lóm Ba Má kể rồi khoe với em hết chứ bộ. Cũng như Anh, năm Mậu Thân đâu có biết gì về chuyện Ông Bà Nội, bây giờ cũng kể vanh vách.

- Chuyện gì vậy?

Quỳnh Hương hỏi. Tôi chần chờ. Thu An lần lượt kể về những thảm cảnh gia đình. Thảm cảnh nào nó không trực tiếp trải qua, nó kể lể rành mạch như chuyện cổ tích; đến thảm cảnh Ba bị công an vào nhà còng tay Ba lần thứ hai, cảnh đắm tầu thì nó kể lộn xộn như cơn ác mộng. Cuối cùng tôi kết luận một câu mà trong những dịp thiêng liêng thường nói với em gái, như bổn phận nhắc lại một gia qui đơn giản, Quỳnh Hương là người dưng đầu tiên nghe:

- Ba Má chỉ dạy chúng tôi một điều: lòng trắc ẩn.

Một làn khói hương từ trên bàn thờ bay là đà xuống đầu Quỳnh Hương. Nàng lên tiếng:

- Hai Bác thật là nhân hậu, từ những khủng khiếp của năm Mậu Thân và bao năm sau đó, chỉ rút ra chữ "Thân" đặt tên cho con trai và hai chữ "Trắc ẩn" khắc trong lòng hai con.

Không muốn hai người con gái thấy ngấn nước trong mắt tôi, tôi bèn đứng lên thắp thêm nhang trên bàn thờ ông bà. Nghĩ tới "Trích Tiên" và mấy chục triệu người đáng thương xót ở ngàn dậm xa, tôi khấn thầm: "Lạy Trời Phật! Hai chữ trắc ẩn Ba Má khắc trong lòng chúng con, cũng là lẽ sống bàng bạc trong lòng Trời Ðất. Xin Trời Ðất nhỏ xuống lòng mọi người ở bên kia một giọt trắc ẩn. Riêng tình yêu của con dành cho Quỳnh Hương, đã khởi đầu do lòng trắc ẩn, nhưng bây giờ kết thúc là tình yêu. Xin Trời Phật, Ba Má chứng kiến và chúc phúc cho chúng con".

Im lặng một lúc, Thu An hỏi:

- Anh Hai vừa ăn mảnh, lén xin Ba Má thêm cái gì, phải không?

Tôi nửa đùa nửa thật:

- Anh không xin xỏ gì cả, chỉ hỏi ý kiến thôi. Ba tháng nữa anh Hai hết thời hạn quân dịch, và có quyền bảo lãnh một người ngoại quốc sang Na-uy. Anh hỏi Ba Má muốn con dâu là một người trần hay tiên.

Quỳnh Hương mắc cỡ gục mặt xuống, trong khi Thu An nhảy lại ôm vai nàng, reo:

- Em thay mặt Ba Má trả lời: Tiên. Trích Tiên!

Nhưng còn Quỳnh Hương, nàng có ưng thuận vào trong cái mà tôi cho là "thiên đường" của chúng tôi không? Một con người suốt đời bị số phận đẩy đưa và người khác định đoạt, lần này quyết định phải thuộc quyền nàng. Vì thế lúc bạn đọc tới giòng này, tôi vẫn đang ở trong giây phút thiên thu chờ đợi nàng trả lời.



Quyền lực trong bóng tối đã lộ diện - Ngày 31/07/ 2020

Các đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sống ở Hoa Kỳ đều muốn  l

Hai ngày trước, nhà tài phiệt Hồng Kông Viên Cung Di đã đăng trên Twitter cá nhân: “Các đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sống ở Hoa Kỳ sợ bị hồi hương trở về Trung Quốc Đại Lục. Hàng trăm ngàn đảng viên chọn ở lại Hoa Kỳ. Sóng thần quay lưng với ĐCSTQ đã bắt đầu lan rộng khắp thế giới, rất nhiều đảng viên sợ rằng họ sẽ có thể bị diệt khẩu.” 

Sau đó, ông Viên đã livestream trên YouTube để tương tác và trả lời các câu hỏi của cư dân mạng. Trong chương trình, ông nói rằng trong các nhân viên Lãnh sự quán (LSQ) Trung Quốc tại Houston có người đã đầu hàng Chính phủ Hoa Kỳ. Lòng quân ĐCSTQ giờ đang hỗn loạn. Để được tiếp tục ở lại nước ngoài, không loại trừ trường hợp sẽ có thêm các thành viên ĐCSTQ đầu hàng chính phủ phương Tây.

Trong buổi diễn giảng vài ngày trước của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Pompeo, ông đã kêu gọi người dân Trung Quốc và toàn thế giới “thay đổi” ĐCSTQ. Ông Viên Cung Di chỉ ra rằng đây là tuyên ngôn tiêu diệt ĐCSTQ của Hoa Kỳ. Ngoại trưởng Pompeo cũng tiết lộ về hai cố vấn của mình. Một trong số đó là ông Miles Yu, giáo sư quân sự và lịch sử Đông Á tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ, đồng thời là cố vấn trưởng về hoạch định chính sách Trung Quốc tại Văn phòng Bộ trưởng Ngoại giao; người còn lại là ông Ngụy Kinh Sinh, một nhà hoạt động dân chủ tại Hoa Kỳ.

Ông Viên Cung Di khen ngợi về quyết tâm tiêu diệt ĐCSTQ của ông Ngụy Kinh Sinh. Ông Viên cũng bày tỏ sự xúc động đối với cái nhìn tiên tri sâu sắc của ông Ngụy. Ngay từ năm 1978, ông Ngụy đã dán poster tuyên dương dân chủ và tự do ở Tây Đơn, Bắc Kinh. Nội dung poster ghi: “Hiện đại hóa thứ Năm: Dân chủ và những điều khác.”, chính là dân chủ quan trọng hơn so với cải thiện cuộc sống, Trung Quốc nếu muốn hiện đại hóa thì trước tiên phải thực hiện dân chủ. Sang năm sau, ông Ngụy Kinh Sinh bị bắt và bị án tù 18 năm. Năm 1997, sau khi mãn hạn tù, ông bắt đầu sống lưu vong ở Hoa Kỳ.

Ông Viên Cung Di mô tả ông Ngụy Kinh Sinh là một người “có ý chí kiên định”, đã dành hơn 40 năm cuộc đời để tiêu diệt ĐCSTQ. Ông Viên cũng chỉ ra, trong khi hầu hết mọi người đang bợ đỡ ĐCSTQ, thì ông Nguỵ đã có thể sáng suốt nhìn rõ bản chất của nó và kiên quyết phản đối việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Vào thời điểm đó, ông Ngụy đã khẳng định với Tổng thống Clinton, nếu Trung Quốc gia nhập WTO, Hoa Kỳ chắc chắn sẽ bị Trung Quốc kiềm chế trong tương lai.

Ông Viên Cung Di tiết lộ khi ông hỏi ông Ngụy Kinh Sinh “Nếu ĐCSTQ tan rã, Trung Quốc sẽ ra sao?” Ông Ngụy Kinh Sinh trả lời, không cần phải lo lắng, người Trung Quốc hoàn toàn có năng lực, “Chỉ cần cho họ tự do và một môi trường không có ĐCSTQ, người Trung Quốc sẽ tự tổ chức”.

Ông Viên cũng tiết lộ, ông Ngụy Kinh Sinh là cố vấn của Miles Yu. Nhiều thay đổi trong chính sách Trung Quốc của Hoa Kỳ trong vài tuần qua là có liên quan đến hai người này.

Hoa Kỳ ra đòn nặng, ĐCSTQ lòng quân đại loạn, có thể gây ra làn sóng đào thoát

Ông Viên Cung Di phân tích, Chính phủ Hoa Kỳ lần đầu tiên thông qua truyền thông để công khai về dự định cấm hơn 90 triệu đảng viên và gia đình của họ đến Hoa Kỳ. Tiếp đến là sự kiện LSQ Trung Quốc tại Houston bị đóng cửa. Những tin tức này đã thật sự khiến các thành viên ĐCSTQ sợ hãi. Ông chỉ ra, các quan chức ĐCSTQ miệng thì nói yêu nước, còn thân thì thật sự “ai cũng đều muốn ở lại Hoa Kỳ.” Họ thậm chí còn lên kế hoạch đón cả cả gia đình sang đây sinh sống. Kết quả là, “lòng quân bắt đầu dao động.“

Bài phát biểu hôm 23/7 của Ngoại trưởng Pompeo được ông Viên tóm tắt như là một “tuyên ngôn tiêu diệt ĐCSTQ ” và rằng ông Pompeo “muốn cùng với người dân Trung Quốc loại bỏ ĐCSTQ”. Ông Viên cũng tiết lộ, từ LSQ Trung Quốc tại Hoa Kỳ đã có người mất tích, có người đã chạy trốn và cung cấp thông tin tình báo nội bộ cho Hoa Kỳ. Ông chỉ ra, Hoa Kỳ đang lên kế hoạch cho một loạt các hành động để răn đe ĐCSTQ, “bước đầu tiên là đối phó với Bộ Ngoại giao”.

Ông Viên Cung Di cho biết, có hàng trăm ngàn thành viên ĐCSTQ và gia đình của họ đang ở Hoa Kỳ, bao gồm Lý Hòa Hòa, con trai cựu Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lý Triệu Tinh, cũng là một người có địa vị ở Hoa Kỳ. Ông cũng nhấn mạnh rằng một số có vai trò nhất định, một số là học giả và một số lấy danh sinh viên để che giấu thân phận. Hiện giờ lòng quân hoang mang. Ông dự đoán rằng sẽ có một cơn sóng thần đào thoát trong tương lai, hơn nữa sự kiện này cũng sẽ ảnh hưởng đến những đảng viên nước ngoài, và các nước trên thế giới sẽ có hành động theo Hoa Kỳ. Ông cũng tiết lộ rằng một số đảng viên hiện đã biến mất, “bị giết bất thường, bị đụng xe chết, rất nhiều trường hợp như vậy, ĐCSTQ đang cuống quýt giết người diệt khẩu”.

Ông nói thêm, “đây mới chỉ là khai vị, chưa phải là món chính”. Liên minh Hoa Kỳ – Đài Loan mới là bữa chính thực sự. Quân đội Hoa Kỳ sẽ đóng quân ở Đài Loan một cách rất hợp lý, mà bước kế tiếp chính là chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Đài Loan.

Tất cả người dân Trung Quốc đều là nạn nhân của ĐCSTQ

Ông Viên Cung Di nói, khi nhắc đến diệt trừ ĐCSTQ, mọi người đều vỗ tay phấn khởi. Ông cũng chỉ ra, trên thực tế, mọi đảng viên và gia đình họ đều đã bị ĐCSTQ đàn áp trong 70 năm qua. Chẳng qua là chỉ khác nhau về vấn đề cấp độ mà thôi. Thế hệ người Hồng Kông trước đây cũng như vậy. Năm đó, những người từ Trung Quốc Đại Lục vượt biên sang Hồng Kông đều từng bị ĐCSTQ bức hại, “Tài sản trong nhà của những người phe kiến chế ở Hồng Kông đều đã từng bị ĐCSTQ tịch thu.” Ông xúc động thốt lên: “Ai chưa từng bị ĐCSTQ bức hại chứ?!”

Ông Viên Cung Di chỉ ra rằng ngay cả như vậy, vẫn có một số người Hồng Kông vẫn chưa thức tỉnh và chỉ dừng lại ở hy vọng chiến đấu vì “một quốc gia, hai chế độ”, hy vọng rằng “một quốc gia” có thể mang lại cho Hồng Kông một số tự do nào đó, nhưng chưa bao giờ nghĩ đến việc lật đổ ĐCSTQ, họ vẫn còn hy vọng rằng ĐCSTQ sẽ cải cách. Nhưng sau cải cách, toàn bộ hệ thống vẫn giống như của ĐCSTQ, vẫn là một bộ những thứ ấy. Ông Viên Cung Di nói rằng ông không thể chấp nhận điều này.

Do đó, ông nhắc lại, Hồng Kông phải lấy lại chủ quyền của mình, “lấy lại chủ quyền của mình trước tòa, và sau đó tạm thời gửi lại cho Vương quốc Anh.” Bạn có thể nộp đơn kiện tại tòa án của Anh và có cơ hội chiến thắng lớn. Ông Viên Cung Di nói rằng đây là bước tiếp theo.

ST

Blog Archive