Monday, September 16, 2019

XÔI VÀ VÉ SỐ



Xôi khúc trước kia chỉ thấy bán nơi có nhiều người Bắc ở. Sau 75 nhờ các phụ nữ người Bắc ồ ạt vào Nam chở đi bán rong luồn lách khắp nơi tận hang cùng ngõ hẻm mà trở thành món ăn phổ biến với người miền Nam.
Đó là nếp nguyên hạt bao quanh một viên nhân đậu xanh xào thịt, bọc bột to bằng nửa quả banh tennis. Có khi còn chấm muối đậu nên càng dễ ăn hơn. Thường xôi được giữ trong chõ để ủ hơi nóng. Khi xới bán cho khách hàng, viên xôi vẫn còn bốc khói thơm phức mùi đậu.
Trước đây nghe các người bán xôi dạo rao:
-Xôi khúc đây! Xôi khúc nóng hổi đây.
Người Nam không biết có một loại nguyên liệu dùng để lấy màu xanh nấu xôi là rau khúc, thay vì lá dứa ở miền Nam mà người Bắc gọi là lá nếp.
Lá khúc, xôi khúc, bánh khúc… nghe thật lạ tai. Vì thế người Nam gọi trại ra thành xôi cúc, ít ra còn liên tưởng đến tên của loài hoa quen thuộc hoặc hình dạng tròn tròn nho nhỏ như con chim cút. Chiều theo tiếng phát âm của dân địa phương nên mặc dù xôi do người Bắc chứ không phải người Nam nấu nhưng bây giờ, đa số người bán vẫn rao xôi cúc cho thuận tai người mua.
Vả lại ở miền Nam không sẵn lá khúc ngoại trừ nơi tập trung nhiều người Bắc sinh sống mới trồng loại rau ấy, như một cách tưởng nhớ về quê hương cũ, duy trì thức ăn, tập quán cũ… Lá khúc hiếm quá nên màu xanh của xôi khúc được thay thế bằng rau tần ô, cải bó xôi… hay tiện lợi nhất là dùng phẩm màu thực phẩm để khỏi mất công xay lá, lọc nước lấy màu. Vì thế cuối cùng đúng tên xôi khúc hay không cũng chẳng còn ý nghĩa gì cho lắm.
Đó là không kể để khỏi rắc rối và người mua ngại màu làm từ hóa chất thì thoạt tiên người ta chỉ nhuộm xanh nhân bên trong, ngoài lăn nếp trắng. Sau này chẳng cần màu mè làm chi, viên nhân bên trong vẫn để nguyên màu vàng đậm của đậu xanh xào thịt chứ không cần nhuộm màu xanh lá nữa. Chẳng ai biết đến ý nghĩa tên của xôi thì cần gì đến hương vị đặc biệt của rau khúc.
Xôi khúc có nhân mặn nên là loại xôi bình dân ăn dễ đầy bụng hơn các loại xôi ngọt. Ăn hết gói xôi một hay hai viên có thể đầy bụng tới trưa. Xôi là thức ăn điểm tâm rẻ nhất vì bánh mì hiện nay từ mười, mười hai, mười lăm ngàn trở lên một ổ nhưng xôi thường chỉ năm, bảy ngàn một gói. Nếu gói xôi mười, mười lăm ngàn thì to và no hơn bánh mì đồng giá. Phở, hủ tíu, bánh cuốn đều mắc hơn từ hai mươi ngàn trở lên nên xôi bao giờ vẫn là món điểm tâm rẻ tiền và no lâu.
Vì thế không những bán khắp nơi vào buổi sáng như thức điểm tâm mà buổi chiều và tối cũng có xôi bán rong không kể vài cửa tiệm mở cửa từ sáng đến khuya chuyên bán cả chục loại xôi khắp các miền từ Bắc đến Nam, trong đó không thể thiếu xôi khúc.
Cứ một ngày qua khắp phố phường ngõ hẻm, chợ búa nhìn thấy bao nhiêu người và đủ thứ hàng hóa đi qua là bấy nhiêu dân tứ xứ kéo tới thành phố này tìm kế sinh nhai. Lũ lượt đẩy đi hết người này đến người khác từ buổi sớm trời còn sáng mờ đã vang lên tiếng rao nối tiếp nhau. Xe bán bánh mì, rau cải, bánh chưng bánh dầy, trái cây… thượng vàng hạ cám. Dân các miền vào Nam kiếm ăn đều thay đổi giọng nói để khách dễ nghe, chỉ khi gặp đồng hương họ mới nói đúng giọng gốc của mình, khi ấy mới phân biệt đôi chút giọng Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Bình Định… Hỏi ra kỹ mới biết người Thái Bình, người Hải Dương, người Sóc Trăng… người độc thân, người mẹ con, người cặp đôi vợ chồng… cùng lăn vào kiếm sống ở nơi đất lành chim đậu này.
Mặc dù vài ngày mới mua xôi một lần nhưng chị bán xôi đi ngang thấy tôi đều dừng lại mời. Chị ta là người miền Tây. Rau khúc là thứ xa lạ khó mà tưởng tượng ra hình dáng. Chưa bao giờ nhìn thấy nên chị lảnh lót rao ai ra mua xôi cúc.
Trên chiếc giỏ móc ở đầu xe đạp, chị ta móc ra ngay một xấp vé số chìa ra trước mặt tôi. Thật là một công đôi chuyện. Đằng nào cũng một lần rong ruổi ngoài đường nên chị ta nhân thể bán một lúc hai món hàng.
Chị cho biết:
-Trước kia tôi chỉ chuyên bán vé số nhưng từ khi vé số điện tử ra đời, vé truyền thống ế hẳn. Giá vé số điện tử và truyền thống bằng nhau đều mười ngàn đồng. Vậy mua vé điện tử trúng nhiều hơn. Người ta ao ước trúng một lần mấy chục, mấy trăm tỉ chứ không muốn vận may hiếm hoi mà khi xảy đến chỉ trúng một tỉ rưỡi, bây giờ mới lên hai tỉ mà còn trừ đóng thuế.
Quả không bán vé số thì biết làm gì bây giờ. Già trẻ đổ xô ra ngoài đường bán vé số. Đó là nghề nhàn hạ, vừa sức duy nhất mà người ta dễ nghĩ đến. Những người nông dân rời làng xóm ruộng vườn không nghề nào khác, không vốn liếng, đâu có biết làm ăn buôn bán gì cho ra lợi tức nên ai nấy chỉ trông cậy vào xấp vé số. Từ ông xe ôm đến bà bán cá đều chắt bóp mỗi ngày cố gắng nhín để mua một, hai vé cầu mong có ngày đổi đời. Người khác mua vé không mong trúng số mà chỉ là mua giúp.
Nếu thấy tôi mua của chị bán xôi thì mấy người khác cũng chạy đến chào. Ngồi quán uống hết ly nước cả chục người bán vé số ghé mời. Hễ gặp vé số Đồng Tháp thì tôi mua vì nhớ quê hương đã xa nhiều năm không về. Thế nhưng mua cả năm không bao giờ trúng một lần an ủi!
Khu vực nhà tôi đông dân cư, thế nào cũng có người mua thứ gì đó nên bao giờ chị bán xôi cũng nấn ná ở lại một chút, nói vài ba câu chuyện buôn bán và đời sống hằng ngày.
Tôi hỏi -Sao chị không ở quê với chồng con mà vào đây buôn bán một mình?
Chị ta nhân thể nghỉ chân, kể lể:
-Trước đây có thời gian tôi lên Lâm Đồng hái trà. Tôi cũng biết xao trà nữa nhưng dần dần máy móc thay thế con người. Công nhân thất nghiệp và lương thấp nên mạnh ai nấy bỏ đi tìm nghề khác mưu sinh. Hai đứa con tôi còn nhỏ gởi bà ngoại. Còn chồng cũng vào Nam làm nghề mài hột ở Gò Vấp.
Mài hột cũng thuộc nghề kim hoàn. Thợ mài hột chuyên cắt mài, đánh bóng hột đá. Người khác gọt dũa kim loại và cẩn hột vào vật trang sức.
Thế nhưng chị ta buông thõng thêm một câu như trút vào đó mọi nỗi chán chường:
-Ly dị rồi.
Tôi ái ngại không muốn hỏi thăm làm xoáy sâu vào nỗi buồn của chị phụ nữ.
Dân nhập cư hầu hết đều chịu cảnh gia đình ly tán. Con nhỏ gửi ông bà trông nom. Một vợ hay một chồng có khi phân công ở lại trông nom nhà cửa vườn tược. Còn không cả hai vợ chồng cùng dắt díu tah phương kiếm sống. May mắn thì cùng nghề như hai vợ chồng người Thái Bình bán bắp xào. Mỗi người đẩy một xe đi khác hướng, khuya về nhà trọ, sáng chia nhau người đi chợ, người ở nhà sửa soạn làm hàng dù sao cũng được ở chung trong gian phòng trọ. Cặp vợ chồng khác vợ làm công nhân may, chồng bán quần áo rũ, tuy vẫn ở cùng nhau nhưng hiếm khi gặp mặt vì giờ giấc làm việc khác nhau. Xui nhất là hai vợ chồng làm hai nơi xa nhau không thể ở cùng. Đó là chị Bình Định bán bánh phồng ở thành phố nhưng chồng phụ hồ theo chủ thầu nay đây mai đó hàng tháng chẳng có dịp gặp nhau.
Xa xôi thì mỗi năm Tết nhất về quê một lần. Gần thì thêm ngày giỗ chạp về xum họp dăm ngày lại quày quả khăn gói ra đi. Xa mặt dần cách lòng. Vì xa cách lâu như thế, giềng mối gia đình trở nên lỏng lẻo, một số gia đình tan vỡ, vợ chồng chia tay nhau. Con cái đứa theo cha, đứa theo mẹ, đứa qua nội, đứa về ngoại, đứa nào đủ lớn lại vào Nam xin làm công nhân trong các khu chế xuất hay khu công nghiệp, làm thuê cho các cơ sở tư nhân..
Chị ta vẫn kiên nhẫn đứng xòe xấp vé số và quay sang tôi giải thích:
-Tôi không nấu xôi mà lấy từ một bà gốc Long An. Bà nấu xôi bán ở chợ gần nhà, nhân thể nấu dư cho tôi mang bán rong. Không mất thời gian chợ búa nấu nướng nên tôi có thể đi ngày hai buổi. Vì thế mới vừa bán xôi kèm vé số như thế này.
À ra thế, thành phố này cái gì cũng công nghiệp hóa, cũng bỏ mối, bán sỉ. Đây cũng là thành phố của dân tứ xứ nên các món ăn không giữ hương vị nguyên thủy mà luôn có thay đổi để phù hợp với khẩu vị của tất cả mọi người.
Xôi khúc thường là người Bắc bán vì họ mới biết cách trộn bột, đồ nhân đúng. Thế nhưng ở thành phố vốn nguồn gốc là vùng đất mới này, mọi thứ đều thay đổi hòa quyện nhau. Mì Quảng không hẳn Quảng Nam, bún cá chưa chắc Quy Nhơn…
Vì thế bà Long An nấu món xôi khúc của người Bắc không có lá khúc, đồng thời bà lại cải biên bằng cách thêm vào nhân một trứng cút, viên xôi to có hai trứng mắc hơn giá mười ba ngàn, giống như bánh bao, ăn ngon hơn, no hơn và vị lạ hơn xôi khúc nguyên thủy. Có lẽ một ngày nào đó, xôi khúc sẽ có nhân trứng muối. Tất cả những món bánh trái muốn lên đẳng cấp mới đều được chứng nhận bằng cách thêm trứng muối như bánh tét trứng muối, bánh bao trứng muối, bông lan trứng muối… Không hiểu món xôi mới lạ xuất hiện ở miền Bắc ra sao nhưng ở Saigon, nó được tiếp nhận như mọi món ăn khác, thêm thắt thay đổi liền liền mới mong tồn tại lâu dài được.
Ngừng chân một lúc bán được một gói xôi và ba tờ vé số. Nồi xôi gần hết, vé số còn nhiều. Chị bán hàng lại đạp xe đi, gương mặt kiên nhẫn và chịu đựng. Cuộc sống của chị giờ chỉ còn hướng về hai đứa con nhỏ ở quê nhà.
Ngô Đồng
Cậu Ơi, Hãy Về!

Hai cậu cháu tại bệnh viện.

***
Ba mươi lăm năm trước, cũng một ngày tháng Năm, khi gia đình đi vượt biên, cậu có dẫn tôi theo. Chuyến đi không thành, hơn mười mạng trong gia đình cùng 120 người khác, vào khám.

Tôi còn nhớ như in: trong đêm tối, thuyền bị bắn lủng và lôi vào bờ; sáng ra mọi người ngồi xếp lớp, chờ đếm và cho lệnh đưa về đâu. Khi xe tải chở chúng tôi từ biển về nhà tù, xe đi ngang qua mấy xóm chài. Không khí khô mặn, sánh đặc mùi cá và nước mắm như hút hết tất cả những gì tươi sống đi ngang qua. Còn lại chỉ những khô cằn, chát mặn…

Vào tù, vì không có cha mẹ cùng đi, cậu khai tôi là con gái. Gương mặt tôi ngày xưa cũng chữ điền và rám nắng màu bánh mật, có nhiều nét giống cậu, nên ai cũng tin hai cậu cháu tôi là hai cha con.

Lên thuyền ra đi là đã chấp nhận rồi. Một là ăn cá, hai là cá ăn. Còn không thì "thoát thì nuôi má, hụt thì má nuôi," có nghĩa là vô tù chờ má thăm nuôi. Ngày ấy tôi chỉ là con bé con ốm tong teo, đếm lịch tới ngày 90 được thả về. Nhưng cậu Nam tôi vì là thợ máy chính, có tên trong danh sách nhóm tổ chức con tàu vượt biển, nên bị tống vào biệt giam. Vậy là dù đã được thả, tôi vẫn tiếp tục lui tới trại giam vì phải đi theo bà ngoại và má để đóng vai con nhỏ thăm nuôi cha. Nói là đi thăm nuôi nhưng khi đến nơi, gia đình tôi chỉ có thể gửi những giỏ đồ thăm nuôi cho cậu chứ chẳng được gặp cậu.

Cảnh người tù bị vợ bỏ, chỉ còn đứa con nhỏ lui cui vào tù ra khám tới lui thăm viếng, có lúc làm mọi người thấy thương. Có lẽ cũng phải một năm sau, từ tù biệt giam, cậu được cho “ra tập thể” -có nghĩa là chung một khu nhà giam với mọi người tù khác- và được dùng là người sửa chữa các máy móc cần thiết trong nhà tù. Sau 4 năm siêng năng lao động cải tạo, cậu được thả.

Ra tù đã là năm 88, số lượng người vượt biên đã thưa. Nhiều đảo đã đóng cửa không nhận thuyền nhân. Cậu vẫn dứt khoát phải ra đi, vì "không có cách gì ở lại mà chịu nổi." Sau gần hai tuần trôi dạt trên biển, trải qua nhiều đói khát, đối diện với chết chóc, thuyền cậu cũng đã đến được đảo.

*
Tháng Hai vừa rồi là sinh nhật 64 của cậu Nam. Cậu đã rất nôn nao và sẵn sàng cho những dự án muốn làm sắp tới. Khoảng cuối năm 2018, cậu đi khám tổng quát để kiểm tra sức khỏe chung, chuẩn bị chờ xong năm 2019 là sẽ về hưu. Kết quả chụp hình phổi cho thấy có vết đen to. Thêm những xét nghiệm cần thiết thì được biết cậu đã bị ung thư phổi ở giai đoạn cuối. Các bướu ung thư đã di căn lên vai, xuống cột sống, xuống tay, xuống chân…

Nhận tin dữ, tôi không khỏi bàng hoàng. Mới ngày nào cậu cháu tôi còn trong tù, thăm viếng nhau. Hôm nay tôi cũng lại tới lui thăm viếng cậu, nhưng không phải nhà tù Đắk Nông hay Hàm Tân mà ở một bệnh viện Mỹ tận New Jersey, khu chuyên trị ung thư. Nhìn cậu trên giường bệnh, ốm đi gần một nửa, nước mắt tôi cứ như trực sẵn để trào ra. Khi cậu mở mắt nhìn tôi cười và nói "Ah… Mimi đó hả?" bụng tôi cuộn lại, nhưng rán giục mình miệng phải luôn mỉm cười thật tươi. Ngày đi thăm cậu lần đầu tiên ở nhà thương cũng đúng là ngày sinh nhật của cậu. Tôi cùng tía má Hai Lúa, nào hoa, nào bánh, nào bong-bóng. Mọi người cũng chuẩn bị chỉ nói những chuyện vui…

Tôi kể cho cậu nghe những mầu nhiệm mình được biết. Cô bạn làm chung sở có người anh họ đang mạnh khỏe thì khám phá bị bướu ung thư trên đầu. Ngày có kết quả của các thử nghiệm, bác sĩ nói anh chỉ còn hai tháng. Bao nhiêu tiền tiết kiệm bấy lâu, anh gửi về nước Ethiopia cho cha mẹ xây nhà. Anh để dành lại 60 ngàn nhờ cô em họ giữ để chi trả tiền nhà thương và mai táng để gia đình cha mẹ không phải lo. Khi đưa tiền cho cô em họ giữ dùm, anh ta đã nói, "Tao đưa tiền mày giữ dùm nhưng tin chắc tao chưa chết bây giờ đâu. Nếu Thượng Đế đã bảo vệ cho tao bao nhiêu lần nguy khốn, sống còn sau bao năm bên Afghanistan hay Iraq, nơi khói bom lửa đạn bay vùn vụt trước mắt, thì tao chưa thể chết bây giờ được. Mày tin tao đi!"

Anh ta kiên nhẫn nhận đủ cách chữa trị, cầu nguyện và siêng năng tập thể dục. Cứ cách ngày anh ta lại chạy bộ cả chục dặm. Năm tháng trôi qua, và như anh ta đã nói, anh ta đã không thể chết dễ như vậy! Hôm nay, đã 12 năm sau, anh ta vẫn sống mạnh khỏe, đã có vợ và con trai 5 tuổi. Anh ta đã thôi lái taxi, cái nghề tạm sau khi giải ngũ. Anh đã học và ra trường ngành chụp x-quang.

Tôi nói với cậu, "Như anh bạn đó cậu không chết khi đi vượt biển thì không thể chết dễ như vầy được. Cậu sẽ đánh bại căn bệnh và khỏe mạnh lại." Mắt cậu sáng lên sau khi nghe chuyện. Cậu có thêm niềm tin.

Tôi lại kể thêm chuyện vị thánh chủ của các bệnh nhân bị ung thư – thánh Peregrine cũng đã bị ung thư bên chân và được Chúa làm phép lạ. Trước ngày phải mổ ung thư, cưa chân, thánh Peregrine đã quỳ cầu nguyện dưới chân thập giá suốt cả đêm. Khi ngủ thiếp, ngài thấy Chúa như bước xuống từ thập giá và đặt tay lên chân, chỗ đau của ngài. Sáng ra, khi đến nơi để làm giải phẫu, các bác sĩ thấy vết thương ung thư như đã biến mất, không còn cần phải giải phẫu nữa. Thánh Peregrine sống thêm 25 năm và chết do cảm sốt vào ngày 1 tháng 5 năm 1345 ở tuổi 85. Ngài được phong thánh và được phong là thánh chủ của các bệnh nhân bị ung thư.

Giữ vững được tinh thần, nhất là khi đang đau bệnh ngặt nghèo, không phải dễ. Sự mạnh mẽ và tận tình chăm sóc của người thân xung quanh sẽ bồi thêm sức mạnh cho người đang bị vơi.

Gia đình tôi ở Washington DC, cậu ở New Jersey. Đi thăm cậu cuối tuần, có khi má tôi ở lại với cậu, tuần ở, tuần về…

*
Tháng Năm, tôi trở lại nhà thờ, mặc áo dài hồng nhạt. Sau lễ, lúc chia xẻ những lời cảm ơn, tôi đi lên cung thánh. Không giấy bút, mọi thứ như tuôn trào từ tim. Bây giờ ngồi đây, viết lại những dòng chữ này, từng chữ từng lời, như còn đầy cảm xúc:

"Thưa cha, thưa cộng đoàn.

Con là Mimi, con của mẹ Huỳnh, chị kế của cậu Nam…

Con không chuẩn bị để đứng ở đây. Chỉ khoảng 15 phút trước lễ, con mới được bác Nguyên sắp xếp cho ít phút để có đôi lời về cậu mình.

Cậu Nam với con có một số kỷ niệm có thể nói là… dễ thương. Ngày xưa khi gia đình đi vượt biển, cậu dẫn con theo. Lúc đó con chỉ mới 10 tuổi. Khi bị bắt và nhốt tù, cậu khai con là con gái cậu. Trong tù, khi cán bộ tra khảo tại sao hai cha con bây đi vượt biên, mẹ đâu?... thì vì đâu có mẹ thiệt nên hai cậu cháu khai đại là mẹ có bồ nhí bỏ hai cha con nên hai cha con buồn quá xách nhau đi vượt biên... (cộng đoàn cười)

Những ngày lễ tang như vầy, người Mỹ có làm hơi khác so với thói quen của người Việt Nam. Họ celebrate một cuộc đời bằng cách kể những kỷ niệm vui về người đó, những thành quả của người đó. Vì vậy con xin bắt chuớc một chút xíu như thế.

Vài tuần trước, tụi con đi câu được một con cá rất bự và đẹp. Tuần đó má con cũng đang trong nhà thương với cậu. Khi làm cá xong và kho nghệ, con chụp hình gửi cho má con xem. Cậu còn thức nên má cho cậu xem hình. Cậu nhìn nồi cá kho nghệ hấp dẫn quá bèn xin cho cậu một khứa ăn với cơm. Ngày hôm sau chúng con lái xe lên New Jersey, đem cá và cơm lên cho cậu. Con cũng có gỡ xương và cuốn thêm vài cuốn với các loại rau thơm và lá thì-là cho cậu chấm với tương Cự Đà. Cậu ăn mà cứ hít hà khen lâu lắm mới được ăn cá kho và cá cuốn thì-là ngon như vậy.

Sau tám chín tuần liên tục lên xuống thăm và thấy cậu khỏe ra, gia đình đã rất mừng. Cậu lên tinh thần, ngồi dậy được, và đi tập vật lý trị liệu. Cậu ăn có khẩu vị và muốn ăn nhiều hơn vì phần ăn trong nhà thương nhỏ quá… Mọi người đã rất mừng và có nhiều hy vọng. Sau đó cậu được cho về nhà… Rồi yếu lại, phải trở lại nhà thương...

Tối thứ Năm, đã khuya, con nhận được một cái text của má. Má con đang trong nhà thương với cậu. Má nói cậu hỏi Mimi có giận cậu gì không? Con đọc và khựng lại suy nghĩ. Tại sao cậu bỗng hỏi lạ vậy? Con nhờ má nhắn lại với cậu là con không giận cậu gì hết. Ngay từ ngày đầu tiên biết tin cậu bệnh và đi thăm cậu, con chỉ cầu xin với Đức Mẹ cho cậu được chữa lành.

Sáng hôm sau, 6 giờ sáng, má nhắn tin báo cậu đã ra đi. Con chợt hiểu ra vì sao cậu đã hỏi câu hỏi đêm hôm qua. Cậu muốn mọi người vui vẻ, mọi chuyện Ok... để cậu thanh thản ra đi.

Con đã rất hụt hẫng vì con đã đặt nhiều niềm tin trong việc cậu sẽ mạnh khỏe trở lại. Con không bao giờ nghĩ cậu sẽ ra đi sớm như vậy. Con không chấp nhận sự ra đi của cậu... Nhưng con đã suy nghĩ lại. Có lẽ cậu đã quyết định ra đi. Có lẽ cậu biết đã đến lúc và thấy như vậy là tốt nhất. Thôi thì chúng ta hãy tôn trọng và chấp nhận quyết định của cậu.

Rồi con hiểu ra thêm một điều, là sự hiện diện của chúng ta ở cuộc đời này cũng giống như đi học một khóa học. Khi mình học và chứng nghiệm đủ những gì muốn trải nghiệm thì sẽ mãn khóa.

Mỗi sự kiện đến trong cuộc đời của mình sẽ là những cơ hội giúp chúng ta trưởng thành và tốt hơn ở một lãnh vực nào đó.

Hôm nay chúng ta hãy cùng nhau celebrate cậu mãn khóa, ra trường, được lên lớp... (thành ra con không mặc đồ đen vì hôm nay con đi dự lễ ra trường của cậu)

Chúc mừng cậu đã qua được final exam hơi khó ở chặng cuối. Cậu đã pass exam không than van hay làm nó khó hơn. Cậu đã rất mạnh mẽ.

Cậu Nam là một người con rất hiếu thảo; một người anh, người em tốt bụng; một người chồng, người cha rất có trách nhiệm và thương yêu vợ con; một người cậu người bác có tình biết nghĩ đến con cháu; một người bạn tốt.

Cậu rất siêng năng chịu khó, thích việc. Cậu làm việc ca đêm, sáng về nhà vẫn tiếp tục làm việc giúp vợ con. Số giờ cậu làm việc trong suốt cuộc đời qua chắc chắn nhiều gấp bốn năm sáu lần so với số giờ cậu ngủ. Chỉ nhiêu đó thôi cũng đủ gắn cho cậu mấy cái huân chương bự.

Trong nhà, cưng cậu nhất là bà ngoại con. Đúng không bà ngoại? (cộng đoàn cười). Hôm nay cậu đã được gặp lại bố mẹ cậu, ông bà ngoại con. Họ đang vui mừng gặp lại nhau. Một ngày nào đó, chúng ta cũng sẽ gặp lại cậu và những người thân đã ra đi trước chúng ta.

Chúng ta sẽ nhớ cậu rất nhiều. Chúng ta sẽ không gặp cậu trong cái thân xác của cậu nữa nhưng linh hồn của cậu vẫn còn đó, vẫn tồn tại... Cậu sẽ vẫn biết và cảm nhận đuợc khi chúng ta thương và nhớ đến cậu.

Trong những tháng ngày qua, khi cậu nằm viện, nhiều người thân bạn bè đã thăm viếng, giúp đỡ cậu và gia đình cậu. Chỉ khi nào thật sự yêu thương, người ta mới làm được những gì cần.

Con xin đại diện cậu và gia đình, cảm ơn từng cô chú bác anh chị em về những thăm viếng và giúp đỡ. Cậu và gia đình đã rất trân trọng tất cả những chia xẻ giúp đỡ đó.

Xin cảm ơn cha, cảm ơn cộng đoàn, cảm ơn tất cả các cô chú bác anh chị và các em, ở địa phương hay đến từ rất xa, đã có mặt ngày hôm nay, để cùng "chúc mừng cậu ra trường,” và đưa cậu đi qua bờ bên kia được bình an, trong tình yêu thương của Chúa và Đức Mẹ. Amen!

Anne Khánh Vân

Sunday, September 15, 2019

Bạn Là Ai
friends 3.jpg
Đây là bài số bốn trăm tám mươi mốt (481) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ Oregon Thời Báo, Portland, Oregon.

Chúng ta sống trong cõi trần lao xao này ai mà không có bạn?
Trong  quyển Từ Điển Việt Nam do Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam phát hành năm 2006, Bạn được định nghĩa như sau: “Bạn là người quen biết và có quan hệ gần gũi, coi nhau ngang hàng, do hợp tính, hợp ý, hoặc cùng cảnh ngộ, cùng chí hướng, cùng hoạt động”.
Trong cuộc sống thường nhật, chúng ta thường nghe nói đến bạn đạo, bạn tri âm, bạn tri kỷ, bạn sơ giao, bạn cố tri, bạn vàng, bạn đời, bạn đường, bạn lòng, bạn trăm năm, bạn vàng, bạn nối khố, bạn chiến đấu, bạn lý tưởng, bạn văn nghệ, bạn thơ văn, bạn đọc  v..v..
Khi bạn cần một người để sưởi ấm trái tim tình cảm của mình, bạn thích tìm bạn bốn phương qua sự trung gian của báo chí, của các dịch vụ phụ trách việc kết bạn cho bạn với một lệ phí nho nhỏ. Gần đây, nhờ sự phát triển của kỷ thuật điện toán, quý vị nào thích dạo trên mạng lưới toàn cầu để tìm bạn để đấu hót, để học hỏi, để chia sẻ tâm tình thì  bạn sẽ có thêm những người “bạn ảo”  trong cõi ảo  “internet” mịt mù nữa. Theo Thánh Kinh, Thượng Đế khi thấy ông Adam sống cô độc một mình buốn quá nên Ngài bèn lấy cái xương sườn của ông Adam mà tạo ra bà Eva để ông Adam có bạn chuyện trò cho vui.
Như vậy, có thể kết luận: Bạn là một thực thể rất cần thiết trong đời sống con người, phải không Bạn?
Trong quyển Một Quan Niệm về Sống Đẹp của Lâm Ngữ Đường do Nguyễn Hiến Lê dịch, tác giả nổi tiếng Lâm Ngữ Đường đã giới thiệu về Thú Nhàn và Bạn bè  như sau:
“Không có gì vui bằng nhàn, nhàn không phải là không làm một việc gì.  Có nhàn mới đọc được sách, có nhàn mới đi coi được những thắng cảnh, mới giao du được những bạn có ích, mới uống rượu, uống trà được, mới viết sách được.  Có cái vui nào lớn hơn vậy nữa?
Mây được mặt trời chiếu vào rồi mới thành ráng, suối treo vào đá rối mới thành thác.  Cũng là vật đó mà gửi vào một cái khác thì có tên khác.  Cho nên cái đạo bạn bè rất quý.
Nói chuyện với bạn uyên bác như đọc sách lạ, nói chuyện với bạn phong nhã như đọc thi văn của danh nhân, nói chuyện với bậc nghiêm cẩn đạo đức như đọc kinh truyện của thánh hiền, nói chuyện với bạn hoạt kê như đọc tiểu thuyết truyền kỳ.
Kẻ sĩ nên có bạn thân. Bạn thân bất tất phải là bạn thề sống chết có nhau. Thường thì bạn thân  là bạn cách xa nhau trăm ngàn dặm, vẫn có thể tin nhau, không nghe những lời người ta nói xấu về bạn.  Việc nào nên làm nên ngưng thì thay bạn mưu tính quyết đoán; hoặc những lúc lợi hại, giúp bạn mà không cho bạn biết, cứ hết lòng vì bạn mà không lo rằng bạn có hiểu mình không?
Tìm tri kỷ trong chỗ bạn bè là việc dễ, tìm tri kỷ trong chỗ thê thiếp là việc khó, tìm tri kỷ trong chỗ vua tôi càng khó nhất.
Diễn được ý người trước chưa diễn mới là sách lạ, nói được những lời khó nói về vợ con mới là bạn thân”
(Nguồn: trích trong Một quan niệm sống đẹp của Lâm Ngữ Đường)
Keeping-in-touch-with-school.jpg
Thật là thú vị khi  đọc qua đoạn văn nói trên vì mấy ai trên đời tìm được người bạn tri kỷ tri âm như  như Bá Nha Tử Kỳ qua câu chuyện dưới đây:
Bá Nha giỏi đàn.  Chung Tử Kỳ thích nghe đàn.  Mỗi khi Bá Nha đàn bản “Cao Sơn”, Tử Kỳ khen:

-  Thật là hay! Vòi vọi hùng tráng như Thái Sơn chất ngất.
Khi Bá Nha tấu khúc “Lưu Thủy”, Tử Kỳ khen:

-  Hay lắm!  Mênh mông trôi chảy như Trường Giang cuồn cuộn.
Một hôm Tử Kỳ lâm bệnh và qua đời.  Bá Nha đến viếng tang, tiếc thương thảm thiết rồi cắt đứt dây đàn, không bao giờ đàn nữa. Từ đó hai tiếng “Đoạn huyền” (cắt đứt dây đàn) dùng để chỉ tri âm.
Bình:

Gặp trang kiếm khách nên trình kiếm
Không phải nhà thơ chớ nói thơ”

Thiền tổ Bồ Đề Đạt Ma chín năm ngó vách, Thiền sư Vô Ngôn Thông mấy năm ẩn mình, chính là đợi kẻ tri âm vậy.

(Nguồn: Thiền là gì? Biên soạn Giác Nguyên)

Viết đến đây, người viết sực nhớ trước đây một bạn ảo văn nghệ của người viết  có gửi đến người viết bài viết "Bạn Thật Bạn Ảo" của nhà văn Lê Hữu đã được đăng trong website https://phunulamvien.org với những nhận xét rất tinh vi. Người viết xin phép được giới thiệu bài viết này đến các thân hữu và xin cám ơn ban điều hành wesite phunulamvien.org và tác giả Lê Hữu nhé.
Bạn thật, bạn giả
Nhiều người vẫn cho rằng một trong những hạnh phúc trên đời là tình bạn. Điều này thì ai cũng dễ dàng đồng ý thôi. Thế nhưng, để có tình bạn thực sự thì cần có những người bạn thực sự. Như thế nào gọi là một người bạn?     
Liệu có phải những ai ta vẫn giao du đều là bạn cả? Không đâu, số người ấy gồm cả “bạn” lẫn “bè”, và phần nhiều là bè hơn là bạn. “Bạn bè” không phải là cách nói cho xuôi tai, cũng không phải là “từ láy” này nọ như nhỉều người tưởng mà là “từ ghép” của hai chữ “bạn” và “bè”. 

Bạn, nói đơn giản, là người đồng hành cùng chia vui sẻ buồn với ta trên những chặng đường đời. Bè là những kẻ tạt ngang qua đời ta trong chốc lát, rồi đường ai nấy đi mà không chút vấn vương. 

Bè” trong những chữ “bè phái”, “kết bè, kết đảng” gợi lên ý tưởng không mấy hay ho. Tình bạn thường “tĩnh” hơn là “động”, lắng đọng hơn là sôi nổi. Những kẻ ở quanh ta trong những cuộc vui ồn ào mà ta tưởng là “bạn”, thường chỉ là “bè”. Như những cuộc vui chóng tàn, những người “bạn” ấy cũng nhanh chóng biến mất khỏi đời sống chúng ta. Những người tưởng rằng mình có nhiều bạn, thực ra là những người không có hoặc có rất ít bạn (và không biết phân biệt đâu là bạn, đâu là bè).
Bạn lại có “bạn thật” và “bạn giả”. Bạn thật là khuôn mặt thật, không điểm phấn tô son. Bạn giả là chiếc mặt nạ, với nhiều lớp phấn dày. Như cuộc sống có hai mặt, con người vừa có bạn thật lại vừa có bạn giả. Bạn giả lúc nào cũng nhiều hơn bạn thật, đến với ta vì lợi ích nào đó chứ không vì tình thật. Bạn giả là người đóng giả vai người bạn, ngoài mặt tỏ ra thân thiện nhưng có thể bất ngờ tặng cho ta những nhát dao trí mạng từ phía sau lưng hoặc phun ra những nọc độc của lòng đố kỵ. Đôi lúc có kẻ thù còn dễ chịu hơn có những người bạn giả. Bạn giả cũng tựa như bạc giả vậy, đã không xài được mà để trong túi có khi mang họa.
Khác với bạn giả, bạn thật là người thực tâm mong muốn những điều tốt lành cho người bạn mình và vui sướng trông thấy bạn mình hạnh phúc, thành đạt trong cuộc sống (dẫu có “qua mặt” mình đi nữa). Bạn thật không ngại nói thẳng nói thật về những sai trái của bạn mình để giúp bạn cải thiện bản thân cũng như không ngại tán thưởng về tài năng hoặc thành công của bạn mình để giúp bạn thêm tự tin trong cuộc sống. Bạn thật luôn nói tốt về bạn mình sau lưng bạn. Bạn thật là người đến với ta trong lúc ta trần trụi hay trong thời kỳ đen tối nhất của cuộc đời, và cũng là người mà ta có thể đến gõ cửa một cách thoải mái khi cần sự giúp đỡ.
Những người bạn như thế làm sao có nhiều được, thường chỉ đếm được trên những đầu ngón tay của một bàn tay (và ít khi đếm hết được). Đến một tuổi nào đó người ta khó mà có thêm được những người bạn mới, trong lúc những người bạn cũ thì cứ mất đi lần lần. Tình bạn cần có một bề dày của sự gắn bó, cảm thông và tin cậy.
Với những người tôi thực lòng quý mến, tôi vẫn nói: “Tôi mong cho anh/chị không có bạn hơn là có những người ‘bạn giả’. Có được chừng vài ba người ‘bạn thật’ thì anh/chị là người may mắn và hạnh phúc.”
 Lê Hữu
banLa Ai.jpg
  (Nguồn: Trích trong https://phunulamvien.org)
Rồi tôi lại nhớ đến những người bạn cũ  trường QGHC ngày xưa đã cùng tôi có biết bao kỷ niệm của một thời áo trắng sinh viên Khoá Đốc Sự 12 dưới mái trường QGHC.  Hy vọng trong một phút giây tình cờ nào đó, bạn của tôi đọc được bài thơ này để biết rằng tôi vẫn nhớ đến Bạn nhé. 

Bạn Cũ Trường Xưa
 Viết tặng các bạn cũ Khóa ĐS 12-QGHC của tôi – SL
Dẫu biết tên, nhưng vẫn chưa nhớ mặt
Dù bạn là bạn cũ khóa mười hai
Hành Chánh xưa, nhiều người đẹp, người tài
Đã khuấy động một thời ta đi học

Rồi năm tháng làm đổi thay màu tóc
Bạn ngày xưa có kẻ ở người đi
Bạn, tôi nay đã làm được những gì
Để không thẹn, ta nữ lưu, hào kiệt

Ta còn lại một trái tim tha thiết
Hoài niệm về thuở dĩ vãng xa xưa
Về ngôi trường hành chánh những ngày mưa
Hay những sáng ta bên nhau cùng học

Ba năm lẻ ta vượt bao khó nhọc
Của chương trình Đốc Sự Khóa 12
Để trở thành nữ kiệt với anh tài
Đem hoài bảo để giúp dân giúp nước

Rồi vận nước đổi thay nào biết được?
Bạn và tôi: tù tội hoặc ra đi
Rồi năm qua, tháng lại, tuổi xuân thì
Không còn nữa!  Chỉ còn là kỷ niệm

Mừng gặp lại những gì ta muốn kiếm
Một tình thân, lòng thương mến bạn xưa
Đời hợp tan, tôi bạn vẫn còn chừa
Tình cảm đẹp, giữa những người bạn cũ

Sương Lam
scan0029.jpg
Hình chụp trước sân trường QFGC năm 1966. Mời các bạn cũ QGHC khoá ĐS 12 đoán đúng tên "tứ đại mỷ nhân" khoà ĐS 12 QGHC  trong hình.  Smile!)


Đoàn Chính, Tiếng Hát Đó Không Còn Nữa.

Khi nghe tin anh mất, tôi không tin đó là sự thật. Anh trẻ hơn tôi, lại có vẻ mạnh khỏe hơn tôi, lẽ nào anh đi sớm thế, nhất là khi trước đây không lâu, tôi vẫn nghe anh hát : Toàn Dân Nghe chăng, Sơn Hà Nguy Biến….và giọng hát anh rất khỏe, vang lồng lộng trong căn phòng, chỗ chúng tôi tụ họp để kỷ niệm ngày quân lực mỗi năm. Năm nay, tôi sẽ không còn nghe anh hát nữa, tiếng hát đó đã về trời.

Về Đoàn Chính , tôi chỉ còn nhớ mấy chuyên :

Thứ nhất, anh nói chuyện rất có duyên. Anh có thể làm chúng tôi cười dòn về những câu chuyện lẽ ra rất nghiêm trang, đứng đắn. Thí dụ như chuyên anh về Hồi Chánh sau dịp Tết Mậu Thân. Anh kể : Khi chúng nó đẩy mình vào để chết trong Nam, ông cụ mình (Nhạc Si Đoàn Chuẩn) có viết cho mình một tờ giấy, coi như một cẩm nang, chỉ được mở khi đã đặt chân vào đất này. Tuân lệnh ông cụ, mình không mở ra đọc. Trận Mậu Thân, súng bắn rát quá, mình nghĩ chắc khó sống, nhớ tới lời cha dặn, mình mở cẩm nang ra xem. Các anh có thể đoán xem ông cụ viết gì không ?? cả một tờ giấy rất to, ông chỉ viết một câu: Vào trong Nam, con nhớ đến thăm bác Hồi. Mình nghĩ mãi, không hiểu ông Hồi là ông nào, ở đâu. Mãi sau mình suy đoán: Tên mình là Chính, ông cụ lại khuyên mình đi thăm bác Hồi. Thôi, chắc là ông cụ khuyên mình Hồi Chính đi thì thoát chết. Thế là mình ra hồi chính và được sống sót tới ngày hôm nay. Anh kể xong câu chuyện, cả bàn tiệc không ai nín được cười, và đến bây giờ tôi vẫn tự hỏi không biết tấm cẩm nang của nhạc si Đoàn Chuẩn tặng cho người con là chuyên có thực hay anh bịa ra cho vui.

Chuyện thứ nhì về anh Đoàn Chính là chuyện chống Cộng. Anh không bao giờ vỗ ngực tự xưng là mình chống Cộng nhưng những việc anh làm có ý nghĩa hơn nhiều. Anh hát những bài hát về người lính VNCH như bài Chiều Trên Phá Tam Giang, và anh là một trong những người hát bài hát này thành công nhất. Anh cũng hát những bài có ý nghĩa chính trị rõ rật như Anh Là Ai của Việt Khang, anh phổ nhạc bài thơ Dất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh của một cô Giáo trong nước. Tuy hiên, việc anh làm tôi thán phục là chuyện anh không hề trở về thăm lại Việt Nam, ngay cả khi cha mẹ anh qua đời. Anh nói : Chúng nó (Bạn anh) bảo cứ về đi, bảo đảm không sao. Bùi Thiện (Một Hồi Chánh khác) cũng nói thế, nhưng mình nhất định không về. 

Chuyện thứ ba là những thời gian sau này, khi đất nước có nguy cơ rơi vào tay Trung Công, thì anh lại chọn một bản nhạc rất có ý nghĩa để khơi động ý chí chống xâm lăng của người dân Việt Nam. Bài hát anh chọn chính là bài: Hội Nghị Diên Hồng của Lưu Hữu Phước. Mỗi khi anh cất tiếng ca, câu 

Toàn Dân Nghe Chăng Sơn Hà Nguy Biến,
Hận Thù đằng đằng nên hòa hay chiến

Tôi dám chắc việc anh chọn bài hát không phải vì lý do duy nhất là bài hát hay, mà vì lý do anh muốn nhắc nhở người nghe về thảm họa của dân tộc Việt Nam.

Tôi sẽ không viết nhiều hơn nữa về anh Đoàn Chính tuy còn nhiều chuyện đáng nói lắm- Chúng tôi hay có dịp gặp nhau vì tôi và anh đều là rể của Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt - vì tôi biết anh không phải là người thích được nói tới. Anh rất khiêm nhường trong đời sống hàng ngày. Tôi chỉ cảm thấy trống rỗng hơn khi tham dự những buổi Dạ Hội mà không còn được nghe những bản Quốc Ca Canada và Việt Nam Công Hòa với giọng Tenor của anh - Anh Chính ơi, anh em nhớ anh lắm.

Thân phụ anh, nhạc si Đoàn Chuẩn nổi tiếng về những bài hát nói tới Mùa Thu.

Anh ra đi khi trời Montréal cũng chớm Thu.
Cái vòng Càn Khôn đã khép lại, thôi anh đi vui vẻ. 

Vĩnh Biệt anh.

Trần Mộng Lâm.
Vài dòng tin nhắn cho học trò

- Con à, Đừng ghét bỏ một ai đó làm gì. Con ghét người ta nhưng chắc gì người ta đã biết điều đấy. Như thế chỉ có mình con phải khó chịu mà thôi. Nếu đã không thích, không thương được thì đơn giản là không tiếp xúc, không bận tâm, gánh mãi một người mấy chục ký lô trong suy nghĩ thì con tự làm cho mình kiệt sức đấy!

- Đừng bao giờ trông chờ vào một người nào đó để có được hạnh phúc. Hãy luôn là chính mình, là một tâm hồn tự do, phóngkhoáng và làm tất cả những gì mình thích trong Chánh niệm, cuộc đời sẽ mỉm cười với con. Hạnh phúc do chính mình mang lại mới là hạnh phúc thực sự.

- Khi một cuộc tranh cãi nổ ra, con không nhất thiết phải là người thắng cuộc. Con sẽ không biết được mình sẽ mất những gì sau đó. Đôi khi, chấp nhận thua để cõi lòng bình an, thì con chính là người thắng vậy.

- Nếu người khác tôn trọng con, hãy tôn trọng họ. Nếu họ không tôn trọng con, vẫn cứ tôn trọng họ, đừng để hành động của người khác ảnh hưởng đến nhân cách tốt đẹp của con. Bởi lẽ, con chính là con chứ không phải là một ai khác.

- Khi con nhìn người khác qua lăng kính hiển vi, con sẽ thấy họ thật nhiều xấu xa, khuyết điểm. Khi còn nhìn người khác qua viễn vọng kính, con sẽ thấy họ thật nhỏ bé, tầm thường. Và khi con nhìn người khác qua tấm gương Chân lý, con sẽ thấy con và mọi người chẳng khác gì nhau.. 

- Trước gương soi, không sợ con xấu thế nào, chỉ sợ con không muốn chấp nhận mình xấu. Còn thái độ trước chân lý, không phải do cái “xấu” và “đẹp” của mỗi người mà quyết định hay sao?

- Có rất nhiều chuyện, trước khi kịp quý trọng thì đã thành chuyện xưa. Có rất nhiều người, trước khi kịp để tâm thì đã thành người cũ. Cuộc sống không bán vé khứ hồi - mất đi vĩnh viễn không có lại được! Con biết không? chúng ta đều già quá nhanh - nhưng sự thông minh lại đến quá muộn...

Hãy sống cho tròn vẹn kiếp người
Vui buồn, thành bại.. cũng qua thôi!
Xuân xôn xao lá chờ Thu rụng
Sống đề thương cùng - sống thảnh thơi!

Như Nhiên -TTT


Hỏi Lòng

Hỏi tâm tâm tĩnh lặng chưa?
Hỏi lòng đã mặc nắng, mưa chuyện đời?
Hỏi trăng, hỏi gió, hỏi trời
Hỏi mây phiêu lãng, hỏi đời phù du ...
Bước đi trong cõi sương mù, 
Hỏi đầu gậy trúc, thiên thu quê nhà
Hỏi trời, hỏi đất bao la
Sao cho tâm tịnh, sao qua Niết Bàn?

- Cần gì phải hỏi mênh mang,
Bình an Phật tính thênh thang xưa giờ!
Chỉ ta không biết, không ngờ.
Ngày đêm chung sống, hững hờ, cách xa!
Vô minh là lỗi tại ta!
Tuệ tri, 
buông bỏ, 
"quê nhà" tại đây!
Nơi Yên Nghỉ Cuối Cùng của 81 người lính dù VNCH


Nguyễn Ngọc Phúc


Cựu bộ trưởng Hải Quân Hoa Kỳ năm 1987 thời Tổng Thống Ronald Reagn và là cựu nghĩ sĩ Dân Chủ Thượng Viện, đã từng là sĩ quan phục vụ trong chiến tranh Việt Nam thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, ông Jim Webb, có viết một bài đăng trên diễn đàn báo USA TODAY ngày 13 thang 9, năm 2019, thật cảm động cho những gì ông nói đến và cho những gì đã xẩy ra trong câu chuyện ngày hôm nay.

Với tựa đề: “ Remember South Vietnam’s Forgotten Soldiers “: hay “ Tưởng Nhớ Những Người Lính Miền Nam Việt Nam Bị Lãng Quên.”

Ông cho biết rằng ngày thứ sáu, 13 tháng 9 năm 2019 từ tiểu bang Hawaii, đã khởi sự một cuộc hành trình trở về với đồng đội ở quê hương mới, vùng Little Saigon, một ngày trở về với chiến hữu và mầu cờ vàng ba sọc đỏ của 81 hài cốt chiến sĩ nhẩy dù quân đội Việt Nam Cộng Hòa, sau hơn 33 năm bị lãng quên và nằm ngủ yên trong căn cứ quân sự quạnh hiu ở Hawaii.

Ông cho biết, một buổi lễ nghi quân cách thật long trọng sẽ được tổ chức trọng thể để vinh danh và tưởng niệm 81 chiến sĩ sĩ này vào ngày 26 tháng 10 năm 2019 tại nghĩa trang Viêt-Mỹ lớn nhất của Hoa Kỳ ở thành phố Westminster, vùng Little Saigon, một nơi định cư của hàng ngàn người Mỹ gốc Việt hiện đang cư ngụ.

Jim Webb wrote:….

On Oct. 26, there will be a full military ceremony honoring their service in Westminster.

These forgotten soldiers will be laid to rest under a commemorative marker in the largest Vietnamese-American cemetery in our country. 

Họ là ai và chuyện gì đã xẩy ra cho 81 người chiến sĩ nhẩy dù này?

Quân sử Quân Lực VNCH nói chung và Binh Chủng Nhảy Dù nói riêng , không ai không biết và không bao giờ quên câu chuyện về Đại Đội 72 thuộc Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù, KBC 4919, một đại đội có những nét lịch sử bi hùng và khốc liệt.

Trong một cuộc hành quân không tải từ Pleiku đến Tuy Hòa, chiếc vận tải cơ C-123B của Không Lực Hoa Kỳ, số đuôi là 64-376 trong một phi vụ chuyển quân có chở theo 81 chiến sĩ thuộc đại đội 72, tiểu đoàn 7 nhẩy dù cất cánh vào lúc 1018H sáng thứ bẩy ngày 11 tháng 12 năm 1965.

Máy bay sau đó đã không đáp xuống phi trường Tuy Hòa cũng như ở nơi nào khác theo giờ ấn định. Mọi điện đàm bị mất và màn hình Radar đã không còn dấu vết của chuyến bay.

Đến sáng hôm sau, ngày 12 tháng 12 năm 1965, chuyến bay đã được xác nhận mất liên lạc không rõ lý do. Sau đó, phía không quân Hoa Kỳ đã cho phi cơ đưa toán chuyên viên RAMP đi tìm kiếm trong 3 ngày liên tiếp 12, 13, 14 nhưng không có kết quả. Đến ngày 15, cuộc tìm kiếm bị ngưng lại vì thời tiết.

Qua ngày 22 tháng 12, sau 7 ngày, trên phi cơ quan sát, toán tìm kiếm đã phát hiện ra xác phi cơ bị gẫy nát, chỉ còn lại khoảng 20 feet, nẳm trên một đỉnh núi về phía Tây Nam, cách Tuy Hòa chừng 20 dặm, có độ cao khoảng 4,000 Ft.

Toán tìm kiếm cho biết:

“không thấy dấu hiệu có sự sống của toàn bộ phi hành đoàn Hoa Kỳ và quân nhân nhảy dù “, thời tiết xấu và mây mù che phủ đã làm ảnh hưởng, gây trở ngại đến sự quan sát vị trí phi cơ lâm nạn, hơn nữa khu vực nầy lại do lực lượng Việt Cộng kiểm soát. Toán tìm kiếm đã cố gắng quan sát thêm, và không thấy có dấu hiệu phi cơ đáp xuống, trước khi đụng vào đỉnh núi ! Họ không thể xác nhận liệu có thể có sự sống sót xảy ra sau khi phi cơ lâm nạn trong khu vực .

Sáu tháng sau cuộc tìm kiếm được tiếp tục vào ngày 6 tháng 1 năm 1966, trên phi cơ qua kính quan sát trong thời gian khoảng 30 phút từ độ cao 30 đến 100 feet, toán tìm kiếm vẫn không tìm thấy được gì hơn trong khu vực phi cơ lâm nạn.

Phải đến tám năm rưởi sau, vào ngày 16 tháng 6 năm 1974, một toán tìm kiếm khác gồm 2 quân nhân Việt Nam Cộng Hoà và 8 thợ cưa gỗ rừng tiến vào khu vực phi cơ lâm nạn quan sát tình hình trước.

Cây xuyên qua thân phi cơ C-123 của không quân Hoa Kỳ lâm nạn ngày 11 tháng 12 năm 1965. Ảnh tài liệu của JPAC

Đến ngày 23 tháng 6 năm 1974, toán tìm kiếm đã gom lại được tất cả 17 bao tải từ phần còn lại bên ngoài phi cơ, họ không thể vào trong thân phi cơ vì còn nhiều lựu đạn và đạn M-79.

Đến ngày 28 tháng 6 năm 1974, 17 bao thu hồi bên ngoài phi cơ được Hoa Kỳ đưa về Thái Lan ( CIL-THAI ) để xác định và phân tích.

Trong hồ sơ giới hạn phổ biến của toán chuyên viên Phân loại và nhận dạng, được ghi nhận như sau: Họ không đủ quyền hạn để giải quyết thỏa đáng phần còn lại của bất cứ thi thể liên quan nào !

Theo một tài liệu lưu trữ về chiếc phi cơ C-123 của không quân Hoa Kỳ lâm nạn ngày 11 thàng 12 năm 1965 tại chiến trường Việt Nam được ghi nhận như sau:

Trưởng phi cơ là Thiếu tá Robert Milvoy Horsky, ông nguyên là phi công pháo đài bay chiến lược B-52 từ năm 1962 đến năm 1964. Sau đó ông chuyển qua bay vận tải cơ C-123 từ năm 1965 cho đến khi xảy ra tai nạn. Nguyên nhân phi cơ lâm nạn là do mây mù và mưa rào che khuất tầm nhìn của phi công làm cho phi cơ đụng vào cây trên sườn núi cao độ 4000 FEET, phi cơ rơi xuống một đĩnh núi cao độ 1000 FEET, làm cho tất cả 4 nhân viên phi hành đoàn không quân Hoa Kỳ và 81 quân nhảy dù QLVNCH thiệt mạng.

Năm 2012, Mr. Robert Maves, Civ JPAC J2; cựu thiếu tá KQVNCH Nguyễn Qúy An và Gia Đình Mũ Đỏ đã gởi một bản nhắn tin trên các báo chí Việt ngữ tại Hoa Kỳ để thông báo, liên lạc với thân nhân của 81 quân nhân nhảy dù, và thông báo duy vật còn lại như: Thẻ bài – ID Tags, căn cước quân nhân – ID Cards và vài giấy tờ tuỳ thân của 19 trong số 81 quân nhân thuộc ĐĐ72, TĐ7ND thiệt mạng đã tìm được, danh sách gồm có:

LE, Binh Van SQ 8 Vietnam Armed Forces Card
TRAN, Quy SQ 6DA 100401 ID Tag
NUON, Chau. SQ 121969/52 ID Tag
TRAN, G. O. SQ 58/202.400 ID Tag
NGUYEN, Tanh Xuan SQ 10172 ID Tag
TRAN, Than V SQ 63A 108.047 ID Tag
LE, Hoa Van Birth Certificate
NGUYEN, Tuyet Thi Partial ID Card
LE, Suyen Van SQ 57/211.162
NGUYEN, Tai Van SQ 566726 Vietnam Armed Forces Card
DO, Dien Van SQ 125.114 ID Tag
NGUYEN, Tanh Xuan SQ 10172 ID Tag
TRAN, Than V SQ 63A 108.047 ID Tag
NGUYEN, Tuong Van SQ 591535 ID CARD
DO, Linh Van SQ 55A 121.239 ID TAG
LE, Thu Ng SQ 55A 121.239
LAM Dan Sy SQ 51/302.734 ID CARD
THY ID CARD

BICH, Pham N. SQ 401978 ID TAG (Hình như là Đại Đội Trưởng ĐĐ72ND)

Một số hài cốt thu hồi được trong 17 bao vào năm 1974 của 81 chiến sĩ nhảy dù vẫn còn lưu giữ tại phòng giảo nghiệm hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh tại Hawaii (Defense POW/MIA Accounting Agency Hawaii) đã qua 45 năm tính tới năm 2019. Không biết có bao nhiêu gia đình Cô Nhi Qủa Phụ và thân nhân của của các Tử Sĩ Nhảy Dù biết được chuyện chuyến bay định mệnh ngày 11 tháng 12 năm 1965. “

Nơi Đất và Trời giao hòa, nơi Thiên và Địa gặp nhau:

Trong bài viết của mình, ông Jim Webb đã nói về những nổ lực của mình để tìm một nơi yên nghỉ ngàn thu cho những hài cốt của người lính miền Nam Việt Nam, ông gọi họ là những người lính không có quê hương vì ông đã liên lạc với Hà Nội hai lần về yêu cầu chôn cất và đều bị từ chối. Ngược lại, bởi họ không phải là chiến sĩ Hoa Kỳ hay có quốc tịch Hoa Kỳ để có thể được chôn cất theo lễ nghi quân cách trang trọng ở Hoa Kỳ.

Và rổi họ trở thành các chiến sĩ vô danh trong khi thực sự, họ đã hy sinh chiến đấu cho một đất nước nay không còn hiện hữu tồn tại nữa.

Nơi Yên Nghỉ Cuối Cùng: Westminster’s Freedom Park

Ông Jim Webb vẫn không ngừng tìm kiếm nơi yên nghỉ cuối cùng cho 81 chiến sĩ nhẩy dù của quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trong trái tim của ông, 81 chiến sĩ VNCH này không phải là riêng rẽ ở trong chuyến bay bị tai nạn đó.

Với 17 bao tải đựng hài cốt lẫn lộn của 4 phi hành đoàn Hoa Kỳ, kết quả phân tích và xác định được hài cốt của 4 binh sĩ Hoa Kỳ qua kỹ thuật DNA ở Bangkok, phần còn lại không lên được danh sách xác nhận vì là binh sĩ VNCH.

Do đó, tới năm 1986, tất cả phần hài cốt còn lại được chuyển về căn cứ quân sự Hoa Kỳ POW/MIA lab ở Hawaii . Từ đó tới nay năm 2019 là 33 năm dài, họ đã nằm quạnh hiu và cô đơn ở đây.

Dù thế nào đi nữa, chuyện vẫn không làm thay đổi ý nghĩ và cảm xúc của ông. Ông vẫn coi 81 chiến sĩ này là những người lính đồng minh cùng chiến đấu bên cạnh những người lính Hoa Kỳ, ông luôn luôn nghĩ họ thật xứng đáng để được tưởng nhớ với danh dự và đầy nhân cách.

Ông vẫn tiếp tục đi tìm nơi yên nghĩ cuối cùng cho 81 hài cốt người lính nhẩy dù này.

Trong hai năm qua, ông không ngừng nghỉ tìm kiếm, thương thảo và tranh đấu trên phương diện ngoại giao và pháp lý để cuối cùng, ông đã tìm được một nơi yên nghỉ cho 81 chiến sĩ ông gọi là những người sánh vai đồng minh chiến đấu với đất nước Hoa Kỳ, xứng đáng có một nơi yên nghỉ với danh dự và đầy nhân cách.

Ngày 26 tháng 10 năm 2019, một buổi lễ rất trang nghiêm trong nghi lễ quân cách sẽ được thực hiện tại Westminster’s Freedom Park

Ông kết luận rằng buổi lễ không những sẽ mang ý nghĩa lớn hơn là sự hy sinh của những người lính trẻ chiến đấu cho tự do dân chủ của một đất nước nay không còn tồn tại mà còn là một câu chuyện nhắc nhở về hàng trăm hàng ngàn người lính khác đã hy sinh trong cuộc chiến mà thân xác không bao giờ được tìm thấy nhưng sẽ không bao giờ bị lãng quên.

Đó là trang sử buồn và là cái giá phải trả để đến được xứ tự do Hoa Kỳ của hai triệu người Mỹ gốc Việt.

Ông nói trong phần chót của bài viết:

Chúng ta sẽ nhớ đến và cám ơn những đóng góp của họ đã làm cho đất nước Hoa Kỳ mạnh mẽ và sáng sủa hơn. Đó là những gì chúng ta sẽ không quên khi là người Hoa Kỳ, một dân tộc luôn luôn trân quý sinh mạng con người và sẽ không bao giờ quên đến những người đã sát cánh bên vai với chúng ta khi bị cực kỳ lâm nguy khổ nạn.

Thân nhân muốn hỏi thăm tin tức về 81 quân nhân của ĐĐ72 - TĐ7ND bị mất tích, nên liên lạc gấp với Mr. Robert Maves, Civ JPAC J2 Robert.Maves@JPAC.PACOM.MIL.

Hoặc liên lạc với anguyen219@yahoo.com, dsmd@hotmail.com để được giúp đỡ thêm

Nguyễn Ngọc Phúc.

9/13/2019

***********************

Trích và tham khảo:
· Jim Webb: Remember South Vietnam’s forgotten soldiers

Jim Webb, Opinion contributor Published 6:00 a.m. ET Sept. 13, 2019 USA Today
81 Chiến Sĩ Đại Đội 72, Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù tử nạn trên chuyến bay C-123 của Không Lực Hoa Kỳ ngày 11 tháng 12 năm 1965

Posted on May 29, 2019 by dongsongcu

Nguyễn Quân
Bài viết trên Vietbao.com: Đại đội 72, Tiểu đoàn 7 Nhảy dù mất tích trên chuyến bay định mệnh ngày 11 tháng 12 năm 1965 - 28/09/2016 00:02:00(Xem: 8564) Tân Sơn Hoà

Blog Archive