Showing posts with label Huỳnh Mai Hoa. Show all posts
Showing posts with label Huỳnh Mai Hoa. Show all posts

Wednesday, April 3, 2019

Hậu Quả Của Sự Ích Kỷ




Vợ chồng ông Hiền và bà Thuý định cư tại một thành phố thuộc miền Bắc của tiểu bang Cali. Ông bà có một nhà hàng lớn làm ăn phát đạt nên gia đình rất khá giả. Ông bà có hai đứa con, một trai, một gái. Vì rất cưng con nên dù công việc nhà hàng bận rộn, ông bà cũng không để cho con nhúng tay vào, mà mướn người làm tất cả. Ông bà muốn để cho con có thì giờ học hành, với mong muốn là chúng nó sẽ thành tài, có địa vị trong xã hội.

Tuy nhiên, đứa con gái nhỏ nhờ siêng năng nên lấy được mảnh bằng đại học bốn năm. Còn thằng Hiển là đứa con trai lớn thì không thành công gì cả. Nó rất đẹp trai, tánh tình lè phè, thích ăn chơi hơn là học tập. Ông bà có khuyến khích, rầy la cho lắm thì nó cũng chỉ học đến hết bậc trung học. 

Lên đại học, học không nổi nên nó nghỉ. Khi đã hết lời, hết cách làm cho nó trở lại trường không được, ông bà đành bắt nó ra nhà hàng làm việc. Mà nó không thích làm  gì ngoài việc ngồi thu tiền, vì làm việc nầy nó mới có cơ hội ăn gian tiền của cha mẹ để ăn chơi thỏa thích. Lúc nào thích thì làm, không thì đi nhậu, đi nhảy đầm thâu đêm, suốt sáng. Bạn gái thì nay đứa nầy, mai đứa khác. Ông bà rất rầu vì đứa con hư nầy, nó đã 27 tuổi đầu rồi mà lúc nào cũng canh cánh một nỗi lo, còn hơn là lo cho đứa trẻ lên năm, lên ba.

Vì thấy không còn cách nào rầy la, khuyên nhũ thằng Hiển được, bà Thuý nghĩ ra một cách là cưới vợ cho nó, may ra nó sẽ " trụ hình " mà lo làm ăn. Bà thấy trên đời có những trường hợp như vậy. Bà biết người Việt ở đây biết nhau rất nhiều, nếu không biết trực tiếp thì cũng biết gián tiếp qua sự đồn đãi, sự nhiều chuyện của con người. Vì thế bà Thuý khi gặp người Việt Nam, thường làm quen, nhất là khách hàng của bà. Bà khéo léo tìm hiểu xem ai có con gái thì làm thân, nói bóng, nói gió mời làm sui. Ai không có con gái thì nhờ làm mai. Tuy nhiên, bà chỉ nhận được sự làm ngơ, vì người ta biết người khác thì cũng biết con bà.

Thằng Hiển hư đốn, nhưng bà muốn cưới cho nó một đứa con gái nhà lành, ngoan ngoản, giỏi giang. Riêng ông Hiền thì hiền lành, ông thường phản đối bà, ông không muốn cho thằng Hiển có vợ, vì thân nó, nó còn lo chưa xong, 27 tuổi mà cò ăn bám cha mẹ, chỉ biết ăn chơi, thì còn lo cho ai được nữa, chỉ làm khổ vợ con thôi .
                                        
*
Hôm nay bà Thuý làm việc tất bật trong nhà hàng mà lòng không quên được niềm vui mà bà vừa nhận được từ bà Bích, người em gái của bà bên tiểu bang Texas, đó là chuyện cưới vợ cho thằng Hiển. Theo lời bà Thuý nhờ cậy, bà Bích đã tìm được một cô gái vừa đẹp, vừa ngoan hiền, siêng năng. Nó tên Ngọc, vừa mới qua Mỹ 6 tháng cùng mẹ và một đứa em trai. Mẹ của nó là bạn của bà Bích hồi còn ở Việt Nam. Bà Bích đã giới thiệu với họ là gia đình bà Thuý giàu có, con bà là thằng Hiển đẹp trai, học giỏi, đang kinh doanh nhà hàng cùng cha mẹ. Nếu con Ngọc ưng thằng Hiển thì muốn đi học sẽ được nuôi đi học, muốn kinh doanh thì làm nhà hàng, khi cha mẹ chồng về hưu sẽ để lại nhà hàng cho vợ chồng nó làm chủ.

Gia đình Ngọc mới từ Việt Nam qua, nhà nghèo, còn bỡ ngỡ. Mẹ của nó đang làm  công cho chợ người Việt, Ngọc đang làm cho tiệm ăn Mỹ ban ngày, ban đêm đi học Anh văn để chuẩn bị vào college, đứa em trai đang học trung học. Nghe bà Bích giới thiệu gia đình người chị ruột quá lý tưởng, mẹ của Ngọc muốn gã con cho nó nhờ tấm.

Riêng Ngọc còn đắn đo, vì nó muốn học xong đại học rồi mới lấy chồng, nhưng nghe mẹ và bạn của mẹ nói mãi, nói rằng đây là cơ hội tốt, là dịp may hiếm có v.v..Ở Mỹ nầy có vợ chồng rồi vẫn đi học là chuyện thường, lại được gia đình chồng nuôi đi học thì còn gì bằng. Nói riết con Ngọc cũng xiu lòng, nhưng nó nói khi nào gặp được thằng Hiển rồi mới quyết định. Bà Bích khuyên chị mình đưa thằng Hiển qua để gặp con Ngọc.

Bà Thuý vui mừng bằng lòng ngay. Nhưng bà biết muốn cưới vợ cho thằng Hiển thì phải thuyết phục cả hai cha con nó. Ông Hiền thì dễ, dù ông phản đối cách nào, bà cũng thắng ông trong mọi quyết định. Còn thằng Hiển mỗi khi nói đến chuyện vợ con, nó cũng phản đối lắm. Nó chỉ thích hẹn hò, vui chơi chớ không muốn lấy vợ. Dù sao đó cũng là lúc chỉ nói khơi khơi , chưa có " mối ", bây giờ có rồi thì bà phải thuyết phục cho nó phải bằng lòng mới được, đây là dịp may mà bà không thể bỏ qua.

Hôm nay bà mong cho tới giờ đóng cửa tiệm để về nhà nói chuyện với ông Hiền và thằng Hiển. Tính như vậy, nhưng khi ngồi trên xe cho ông Hiền chở về nhà, bà buộc miệng kể hết câu chuyện cho ông nghe. Ông Hiền nghe xong rồi nói :

- Con gái người ta mới từ Việt Nam qua, chưa biết gì, lại xinh đẹp và ngoan hiền thì bà càng không nên đưa nó vào con đường khổ.

Nghe ông Hiền nói, bà Thuý hết ý kiến, bà tức giận nói lớn:

- Vậy là ông không muốn cho con mình làm lại cuộc đời hả? Thì thôi để tôi lo, tôi không cần ông nhúng tay vào.

Ông Hiền thở dài chán nản, bất lực. Về đến nhà, bà Thuý không thèm nói chuyện với chồng nữa, mà tập trung đầu óc vào để đối phó với thằng con. Bà phải chờ đế 2 giờ khuya thằng Hiển mới về. Bà cố lấy giọng ngọt ngào bảo nó:

- Hiển, con vào tắm rửa cho khỏe, má có tin vui nói với con.

Hiển nhìn  bà ngạc nhiên, từ lâu rồi nó chỉ nghe khuyên bảo, rầy la, chớ đâu có thấy bà ân cần như vậy. Nó thắc mắc nhưng cũng vào tắm rửa rồi ra sa-lông ngồi đối diện với bà chờ đợi.

Bà Thuý lấy giọng tự nhiên nhưng nghiêm trang nói:

- Hiển à, má tìm được nơi cưới vợ cho con rồi.

Thằng Hiển nhăn mặt, lắc đầu :

- Thôi đi, ai biểu má làm như vậy, con đã nói là con chưa muốn cưới vợ mà.

Bà Thuý cố gắng ôn tồn:

- Con nghe má nói đi rồi có ý kiến.

Rồi bà cũng đem thông tin từ bà Bích kể cho Hiển nghe. Cuối cùng không để cho nó nói gì, bà kết luận:

- Con chuẩn bị để vài ngày nữa đi với má qua dì Bích để gặp gỡ người ta. Nếu thấy được, má sẽ ngõ lời xin cưới con Ngọc luôn. Dì Bích nói con gặp nó sẽ thích liền, còn con có xấu trai hơn ai mà sợ.

Nghe bà Thuý nói quá nghiêm túc, lại có dì nó nhúng tay vào thì không phải là chuyện chơi. Tuy nhiên nó bỗng thấy vui vui và nỗi lên sự tò mò. Hồi trước tới giờ nó chỉ quen với mấy đứa con gái ăn chơi, ăn nói ngang tàng. Cô gái thuỳ mị đối với nó thật xa lạ, bí ẩn.

Hồi trước tới giờ nó ít nghe lời má nó, bây giờ nó mỉm cười, dịu giọng :

- Con sẽ đi với má, nhưng nếu con không thích cô ta thì má đừng ép con nghen.

Bà Thuý tươi cười gật đầu liền như sợ thằng con đổi ý. Bà không ngờ lần nầy thuyết phục thằng Hiển cưới vợ không khó lắm.

*
Ngồi trên máy bay đi qua Texas , bà Thuý háo hức như chính mình đi cưới vợ. Còn thằng Hiển thì xem như mình đi du lịch. Nếu gặp cảnh đẹp, người vui thì tốt, không cũng không sao, nó chẳng có kỳ vọng gì. Nhưng khi dì nó hẹn cho nó gặp con Ngọc thì nó thấy thích thích. Nó ngờ ngợ như đã gặp ở đâu rồi. Suy nghĩ mãi nó mới biết là con Ngọc giống các cô gái trên tờ quảng cáo các bộ phim Hàn Quốc. Vẽ đẹp đông phương đặc biệt của Ngọc như một làn gió mới thổi vào tâm hồn nó. Lời ăn tiếng nói của cô gái Việt Nam còn nguyên gốc làm nó thích thú. Trước cô gái nầy Hiển bỗng e ngại, giữ ý. Má nó cũng có dặn phải ăn nói đàng hoàng, đứng đắn với người ta, chớ đừng ăn nói ngang tàng như nói với những đứa bạn trời ơi đất hởi của nó. Vì thế Hiển càng thận trọng, sợ nói lỡ lời. Cữ chỉ nó cũng giữ gìn để đừng thấy thô thiển. Tóm lại Hiển bỗng trở thành người mới mà má nó cũng không ngờ.

Còn Ngọc cũng vì thế mà bị chinh phục dễ dàng. Trước một chàng đẹp trai, lịch sự, học giỏi, đủ tiền bạc dẫn đi chơi, mua tặng những món quà đắc giá (má Hiển cho tiền xài thoải mái với Ngọc ) còn được hứa hẹn một tương lai tươi sáng thì làm sao Ngọc không choáng ngợp. Vì thế mới có một tuần bên nhau mà hai đứa" tình trong như đã mặt ngoài còn e".

Nói về hai bà mẹ của hai đứa, khi gặp nhau cũng tâm đầu, ý hiệp. Mẹ của Ngọc hiền lành, chơn chất, còn bà Thuý khéo léo, ngọt ngào, lại tặng quà cáp rất nhiều trong ngày đầu tiên gặp gỡ, làm sao mà không cảm kích. Ngoài ra bà mai lại là bạn cũ thì đâu có gì phải nghi ngờ, lo ngại. Thế là chỉ vài lần gặp mặt, hai bà đã quyết định làm sui gia, sau khi hỏi ý kiến hai con, nó cũng bằng lòng. Bà Thuý cho Ngọc tiền để sắm sửa đồ cưới, còn nữ trang ngày cưới bà sẽ tặng sau. Rồi mẹ con bà Thuý từ giã mọi người về lại Cali, hẹn ba tháng sau sẽ qua làm đám cưới, rước dâu về. Việc in thiệp mời, sắp xếp tiệc cưới v.v.. ở Texas bà nhờ bà Bích lo liệu.  

Mọi việc tiến hành suông sẻ, nên ba tháng sau, bà Thuý đã rước dâu về. Sẵn nhà hàng, bà cũng làm một bửa tiệc đãi bà con, bạn bè của gia đình bà để giới thiệu con dâu.

Sau đám cưới, bà cho hai đứa đi hưởng tuần trăng mật vô thời hạn ở Hawaii. Bà muốn  Hiển có nhiều thời gian ở bên vợ để quên đi cái môi trường sống không lành mạnhcủa nó. Vợ chồng Hiển rất hạnh phúc trong tuần trăng mật. Tuy nhiên Ngọc là đứa con gái nề nếp, sau 10 ngày đi chơi, nó đề nghị Hiển trở về phụ gia đình buôn bán. Thấy con đi chơi về sớm, bà Thuý hỏi han thì được Hiển thố lộ tánh tình của con Ngọc. Bà rất vui mừng, hy vọng đứa con dâu sẽ chuyển hoá được cuộc đời con trai bà.

Ngọc rất siêng năng, xông xáo làm việc. Nó chỉ xin đi học lại. Bà Thuý giữ lời hứa.

Ngọc vừa học vừa làm. Hiển quấn quít bên vợ, cùng vợ làm việc, không đi chơi nữa.

Bài Thuý càng mừng hơn, ông Hiền cũng mừng thầm, nhưng ông là người thận trọng nên để từng ngày nhận xét.

Cho đến mấy tháng sau, ông bà bỗng thấy mấy đứa bạn giang hồ của thằng Hiển đến nhà hàng ăn uống rồi xầm xì to nhỏ với thằng Hiển. Mặc dù nó chưa có hành động gì cho thấy là nó nghe lời đám bạn, nhưng bà Thuý lại lo âu. Bà suy nghĩ rồi quyết định thuyết phục con Ngọc sanh con. 

Một hôm bà kêu Ngọc vào phòng rồi nói thật khéo:

- Ngọc à, má muốn con sanh cho má một đứa cháu nội, thấy bạn bè có cháu má thèm quá. Má biết con rất ham học, má sẽ lo tất cả cho con. Má mướn người về giữ cháu, làm việc nhà. Con sẽ có thì giờ học bài, rảnh thì coi con chút đỉnh. Ban đêm nó sẽ ngủ với má để con không bị mất ngủ mà ảnh hưởng việc học. Má còn khỏe, có thể lo cho con cháu được.

Nghe mẹ chồng nói hợp tình, hợp lý, và cảm kích trước sự yêu thương con cháu của bà, Ngọc không nỡ từ chối, dù nó chưa muốn có con. Nếu nó từ chối, sợ bà nghĩ là nó ích kỷ, chỉ nghĩ đế bản thân, nên nó đành chấp nhận. Khi nó nói với Hiển về yêu cầu của mẹ chồng, thì Hiển nói:

- Anh chưa nghĩ đến con cái gì cả, nhưng má muốn vậy thì em chiều má đi, má tính toán giỏi lắm.

Thế rồi hai tháng sau Ngọc mang thai. Nó vui thì ít mà lo thì nhiều. Dù bà Thuý hứa hẹn đủ điều, nhưng Ngọc vẫn lo lắng cho bổn phận làm mẹ sắp tới. Khi đứa con mới tượng hình, thì tình mẹ cũng trỗi dậy. Còn Hiển thì không vui, không lo gì cả, xem đó là  chuyện bình thường. Chỉ có bà Thuý là vui mừng, bà tính làm sao là ra như vậy. Bà hy vọng rằng với vợ con ràng buộc, thằng Hiển sẽ không còn tâm trí nghĩ đến chuyện ăn chơi.

*
Khoảng thời gian sau ngày đám cưới đến khi Ngọc có thai, đối với hai đứa là những ngày vui. Ngày vui thì cùng vui. Nhưng đến khi Ngọc có thai rồi thì chỉ một mình nó lo liệu. Tự đi khám thai, tự uống thuốc, tự chích ngừa... thằng Hiển không quan tâm tới.

Mỗi khi Ngọc nói về việc thai nghén hay con cái thì Hiển chỉ ừ hử cho qua chuyện. Riết rồi con Ngọc tự ái và tự trọng nên không thèm nói gì nữa, tuy trong lòng rất buồn vì sự vô tâm của Hiển mà bây giờ nó mới biết. 

Khi Ngọc có thai được 6 tháng thì bà Thuý cho phép Ngọc ở nhà, không phải ra nhà hàng làm việc nữa, để dưỡng sức chờ ngày sanh. Ngọc xin phép mẹ chồng rồi rủ Hiển cùng về Texas thăm gia đình, nhưng Hiển lấy cớ là phụ lo nhà hàng nên không đi. Ngọc đi một mình mà thấy buồn thấm thía vì có một người chồng quá vô tình. Nhưng đã lỡ rồi, biết làm sao. 

Ngọc có biết đâu khi nó vừa đi, thì ngay chiều hôm đó, thằng Hiển đi đến nửa đêm mới về, hôm sau lại đi nữa. Bà Thuý hỏi thì nó nói ở nhà lâu rồi tù túng quá, đi chơi chút đỉnh cho khuây khỏa. Bà rất lo âu, nhưng không lẽ con Ngọc mới đi mà lại kêu về, đành phải cắn răng chờ đợi.

Thằng Hiển đã trở lại vũ trường, chốn ăn chơi cũ. Nó thấy như mình mới từ trại giam trở về nhà. Ngôi nhà có những chai bia, những bạn nhảy, những tiếng nói giọng cười bạt mạng của đám bạn trai gái ăn chơi của nó. Nó thấy thoải mái quá, không bị một thứ gì ràng buộc, nó thấy thời gian nầy vô cùng quý báo, nên đi chơi mỗi ngày.

Khi con Ngọc trở về, nó phải ép mình lại, nhưng cảm thấy bức rứt, chân chỉ muốn đi. Thế là thỉnh thoảng cuối tuần nó kiếm cớ là đi sinh nhật bạn, đi thôi nôi con bạn v.v... mà không rủ Ngọc cùng đi. Ngọc không quan tâm chuyện đó, nhưng khi thấy Hiển mỗi tuần mỗi đi, khi về khuya còn có mùi rượu, Ngọc hỏi thì nó nói bạn bè ép nên phải uống. Ngọc rất buồn bực, nhưng chỉ có giận dỗi, chớ không dám gây gỗ ồn ào.

Thắm thoát mà tới ngày Ngọc đi sanh. Thằng Hiển chở má nó và con Ngọc đi như một người tài xế. Mọi thủ tục nhập viện cho tới nâng đỡ con Ngọc khi đau đớn nó cũng để má nó lo. Nó cũng vui khi nhìn thấy đứa con gái nhỏ xíu, xinh xắn mới lọt lòng, nhưng đó là niềm vui vô tư như nhìn một con búp bê dễ thương, chứ không nghĩ đây là đứa con mà nó phải có trách nhiệm cả đời.

Khi Ngọc từ nhà thương về, bà Thuý mướn người nấu ăn, giặc giũ cho con Ngọc, còn việc chăm sóc con, Ngọc muốn tự mình làm. Bà Thuý bảo Hiển đừng ra nhà hàng, ở nhà phụ vợ, nhưng có việc gì đâu mà phụ, người làm và Ngọc làm hết rồi. Hiển ở không đi tới, đi lui, nằm dật, nằm dựa. Đứa con bú rồi ngủ cả ngày, thỉnh thoảng khóc oe, oe. Nó nhìn riết thấy không có gì hứng thú. Thế là nó chỉ ở nhà cho đến khi ăn đầy tháng đứa con rồi lại đi chơi. Sau tháng ngày biến thành một con người khác để sống nề nếp với 

Ngọc, bây giờ dường như nó biến trở lại con người cũ. Nhưng nó chưa dám bộc lộ trắng trợn, cái vẽ hiền từ nhưng trang nghiêm của con Ngọc làm nó con e ngại.

Tuy nhiên khi không còn kềm chế được, thì nó cũng buông xuôi. Không phải chỉ đi cuối tuần mà ngày nào muốn đi là đi, không cần nói lý do nữa. Ngọc cay đắng lắm, nhưng âm thầm chịu đựng. Đứa con ngày một lớn, biết cười nói ư, e, cũng không giữ chân được nó, nó chỉ chơi với con một lát, rồi tới lúc muốn đi thì đi.

Bà Thuý vô cùng thất vọng. Bà thấy bà tính toán không thành công, thằng Hiển bây giờ là con ngựa quen đường cũ. Tuy nhiên, bà không hối tiếc việc cưới vợ cho thằng Hiển. Dù sao bà cũng được một con dâu ngoan hiền và một đứa cháu nội xinh xắn. Bà biết con Ngọc có buồn giận thằng Hiển, nên bà càng ân cần lo lắng cho nó hơn. 

Bà dấu diếm Ngọc chuyện thằng Hiển bê tha trước khi lấy vợ. Bà nói nó vì nể bạn quá nên mới như vậy. Đàn ông nhậu nhẹt một chút cũng không đến nỗi nào, để bà rầy la nó.

Mỗi lần nghe lời an ủi, rồi lời biện hộ cho con trai của mẹ chồng, Ngọc chỉ im lặng. Thấy vậy, bà tin rằng Ngọc hiền lành, sẵn sàng an phận, vì bây giờ đã có con rồi. Vả lại, nó có thiếu thốn gì đâu. Xe cộ đời mới bà cũng mua cho, bà cho tiền mua sách vỡ, áo quần, tiêu xài đầy đủ. Mới đây bà còn nhắc nó đi học lại, nhưng nó nói là để con nó lớn thêm một chút. Bà tin đó là sự thật vì Ngọc rất thương con.

Bà đâu ngờ con Ngọc nghĩ khác. Nó nghĩ mẹ con mình lầm lạc quá nhiều. Mẹ thì tinlời người bạn xưa lơ, xưa lắc nên muốn gã con cho người giàu có. Còn mình thì bị bóng sắc hào nhoáng bên ngoài nên mù quáng. Gia đình chồng giàu có ích lợi gì cho mình đâu, cũng làm việc không lương mới có cuộc sống đầy đủ trong gia đình chồng. Chồng thì bây giờ lộ ra bộ mặt ăn chơi, rượu chè, không thương vợ con. Con thì đang cần sự dưỡng nuôi tốt đẹp của mẹ cha. Nhưng còn hy vọng gì ở một người cha tệ hại. Ngọc nghĩ rằng trước đây Hiển đã ăn chơi, chớ không phải một sớm một chiều mà thay đổi nhanh như vậy. 

Bà cũng đâu ngờ Ngọc hiền lành nhưng can đảm. Nó nghĩ nó phải làm lại cuộc đời.

Trước tiên là phải xa lánh cái gia đình chồng đã bỏ tiền ra mua nó như một tên nô lệ.

Nó và Hiển chưa làm hôn thú, rất dễ chia tay. Nó phải trở về Texas ở với mẹ. Mẹ nó đang có việc làm, nhưng nó sẽ xin mẹ ở nhà giữ cháu, nó sẽ xin trợ cấp để nuôi con và đi học, có thể đi làm thêm cho đủ sống. Ở xứ Mỹ nầy, ai gặp hoàn cảnh khó khăn cũng được chính phủ giúp đỡ. 

Suy tính kỹ lưỡng rồi, một hôm nó xin phép bà Thuý bồng con về thăm ngoại, với ý định dứt khoát là không bao giờ trở lại.

*
Từ khi Ngọc bồng con về ngoại, bà Thuý thường xuyên gọi điện thoại hỏi thăm cháu, thằng Hiển thỉnh thoảng cũng gọi. Khi thấy Ngọc đi cả tháng không về, bà Thuý và Hiển mới hỏi khi nào về. Lúc nầy con Ngọc mới nói ra ý nghĩ và ý định của nó. Lý lẽ của nó làm bà Thuý và thằng Hiển lặng câm, họ không ngờ con Ngọc hiền lành mà dám dứt khoát một cách quyết liệt như vậy. Thằng Hiển không dám yêu cầu con Ngọc trở về, vì nó biết nó không thể sống cho con Ngọc vui lòng được. Nó chỉ hứa là thỉnh thoảng qua thăm con. Bà Thuý lúc nầy mới hốt hoảng vì sợ mất cháu. Tình máu mủ thiêng liêng làm bà đau đớn, ban đêm nằm nhớ cháu khóc thầm. Ông Hiền cũng rất buồn, ông đổ tất cả lỗi cho bà:

- Bà thấy chưa, bà làm chuyện mất đạo đức nên bây giờ bà mới là người đau khổ nhứt, tôi cũng khổ lây với bà. Bà tưởng cưới vợ thử cho thằng Hiển, hy vọng nó bỏ ăn chơi, được thì tốt, không cũng chẳng mất mát gì. Vợ nó khổ đâu có ăn thua gì đến bà. Bây giờ lòi ra đứa cháu, đó là quả báo làm cho bà đau khổ suốt đời đó. 

Lời nói ông Hiền như kim châm, muốt xát vào lòng bà Thuý, nhưng bà vẫn chưa chịu thua. Bà phải đi Texas để năn nỉ con Ngọc. Qua đến Texas bà ghé nhà em gái trước. Bà Bích đã biết hết câu chuyện, bà cũng đã nghe lời phiền trách của gia đình con Ngọc rất nhiều. Bà Thuý qua đây, chị em chỉ biết than thở với nhau. Bà Bích nói :

- Em có đến nhà má con Ngọc thăm cháu, nhưng họ lánh mặt em chị à.

Bà Thuý thở dài :

- Trước khi qua đây, chị có gọi cho con Ngọc, nó bằng lòng cho chị thăm cháu, chiều nay chị với em qua đó luôn.

Chị em bà Thuý đến nhà má con Ngọc được tiếp đón lạnh nhạt. Bà Thuý bồng cháu mà nghe đau thắt ruột. Ngày Ngọc bồng nó đi, nó được 4 tháng, nó đã nhận biết người thân, có cười nắc nẻ khi bà giởn với nó. Vậy mà mới hơn một tháng đi xa, nó dường như quên bà, dỗ lắm mới bồng nó được, làm mắt bà đỏ hoe. Bà định kiếm dâu và cháu để cảm hóa thằng con, nào ngờ con vẫn hư hỏng, dâu và cháu cũng vuột khỏi tay bà. Còn cháu đâu bên cạnh để ẩm bồng, nhà cửa vắng vẻ, quạnh hiu. Bà cố kềm nước mắt trước mặt mọi người để năn nỉ con Ngọc:

- Ngọc à, bồng con về với má đi con. Con muốn gì má cũng chiều con. Thằng Hiển ham chơi, nhưng nó đâu có bỏ vợ con, nó chơi chán rồi cũng quay về con à.

Nghe nhắc đến niềm đau,  Ngọc rất buồn, nhưng bình tĩnh trả lời :

- Con cần tình thương của anh Hiển hơn vật chất má à. Có vật chất mà không có tình  thương thì cuộc sống có vui gì. Con thấy rằng vợ con không phải là lẽ sống của anh Hiển, thì con về để làm gì. Con không thể về để sống trong đau khổ, con đâu phải là gỗ đá.

Chị em bà Thuý nghe Ngọc nói mà cúi mặt, ngượng ngùng. Mẹ của Ngọc xen vào:

- Thôi chị đừng nói nữa, con Ngọc hiền nhưng rất quả quyết. Cuộc sống mẹ con nó ổn định rồi, chị đừng bận tâm. Tôi vì tin chị Bích mà làm cho con tôi khổ, bây giờ tôi phải gánh vác con tôi.

Bà Bích phân trần :

- Mình làm mai cho cháu là muốn cho nó có hạnh phúc, chớ ai mà muốn nó dỡ dang. Tôi cũng buồn lắm chị à.

Thấy mẹ con của Ngọc không muốn nói chuyện nữa, chị em bà Thuý đành từ giã ra về. Bà Thuý trao cháu lại cho Ngọc mà đau như cắt ruột, bà cố nói vớt vát:

- Gia đình má lúc nào cũng chờ con trở về. Thỉnh thoảng má sẽ gởi tiền cho cháu. Có khó khăn gì nói với má, má sẽ giúp.

- Dạ, cám ơn má.

Tiếng dạ của con Ngọc trầm buồn, hờ hững. Bà Thuý nghe như tiếng trách phiền làm bà  ray rứt. Bà kín đáo để lại một số tiền cho cháu mà chợt nhận ra rằng đồng tiền không phải là mua được tất cả./.

Huỳnh Mai Hoa

Saturday, July 14, 2018

Nhìn Đời Bằng Phật Pháp





Ông Thắng và bà Loan cưới nhau đã được bốn mươi năm. Năm nay ông được bảy mươi hai tuổi và bà Loan được bảy mươi. Thời thanh xuân ông bà đã trải qua với nhau một mối tình thơ mộng, đã tranh đấu chết sống với gia đình hai bên để vượt qua vấn đề môn đăng hộ đối. Cuối cùng được sự nhượng bộ của gia đình, một đám cưới tươm tất đã được diễn ra trong niềm hân hoan tột cùng của cô dâu, chú rể.

Vào thời điểm đám cưới đó, ông Thắng là một Trung Uý trong binh chủng Biệt Động Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, đi hành quân liên miên. Còn bà Loan là một cô giáo dạy bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp. Cưới nhau mà không được thường xuyên ở gần nhau nên họ càng nhớ nhung, tha thiết . Những lần về phép ngắn ngủi như những đốm lửa sưởi cho mối tình ấm mãi, không cho nó lụi tàn.

Rồi hai đứa con lần lượt ra đời làm cho tình vợ chồng càng thêm bền chặt. Ông bà đối với nhau lúc nào cũng như mới. Thời gian yêu thương và chìu chuộng còn không đủ, có đâu để mà gây gổ, giận hờn.

Nhưng rồi cái ngày 30 của tháng tư đen đã đến, làm đảo lộn cuộc sống của gia đình bà. Ông ở tù Cộng Sản, còn bà là vợ của sĩ quan " ngụy "nên cũng bị bắt buộc nghỉ dạy. Gia đình cha mẹ ông Thắng từ một nhà buôn lớn, sau khi bị " đánh tư sản" đã suy sụp hoàn toàn. Cha chồng bà cũng vì thế mà uất hận chết sớm, còn lại bà mẹ chồng vì buồn rầu cũng nay bệnh, mai đau, về ở chung với bà nơi căn nhà nhỏ mà ngày trước cha mẹ chồng đã cho vợ chồng bà khi làm đám cưới. Vậy là bà Loan phải đưa lưng gánh vác. Bà phải mở một xe hủ tiếu bình dân bán trước sân nhà để kiếm tiền nuôi sống gia đình. Tiền kiếm dược chỉ đủ nuôi mẹ chồng và hai đứa con đi học trong hoàn cảnh thiếu trước,hụt sau. Dù bửa đói, bửa no cũng phải để dành mỗi ngày một ít để đi thăm nuôi ông.

Cuộc sống vất vả, căng thẳng từng ngày làm cho bà tiều tụy, xác xơ. Ngày trước bà khá xinh đẹp, nhưng bây giờ có lúc nhìn vào gương bà không biết mình là ai. Bà cũng biết nỗi khổ nầy không có người để chia xẻ. Mẹ chồng thì gần đất xa trời, con thì còn nhỏ dại, chồng thì tù tội. Thương chồng, thương con bà phải hy sinh tất cả. Mỗi lần đi thăm nuôi ông, bà về khóc mấy đêm liền, thương ông một người lính hiên ngang ngày nào nay chỉ còn là người tù tang thương, yếu đuối. Bà thấy sự cực khổ của bà có đáng là bao so với sự tù đày khốn khổ của ông. Trước kia ông là con nhà giàu, không quen thiếu thốn, cơ cực, còn bà là con nhà nghèo, chịu khó đã quen.

Sau sáu năm tù tội, ông được trở về, đứa con trai lớn đã được mười tuổi, đứa con gái nhỏ được tám tuổi. Những ngày hạnh phúc được đoàn viên, họ như quên đi cái khổ vì nghèo, niềm vui tinh thần đã che khuất nỗi buồn vật chất.

Rồi ngày tháng trôi qua, niềm vui lắng xuống, họ lại trở về với thực tại nghèo khổ. Tuy không còn phải đi thăm nuôi ông, nhưng lại phải nuôi ông hàng ngày, lại còn thêm khoản cà phê, thuốc hút. Dù vậy bà vẫn không nỡ bảo ông đi kiếm việc làm vì bà biết ông không thể kiếm được việc gì hơn ngoài đạp xích lô, phu hồ hay khuân vác. Còn ông thì chưa bao giờ nghĩ đến chuyện đi làm. Dù bị tụi Cộng Sản đày đọa, đói khổ trong sáu năm, nhưng giòng máu tiểu tư sản của ông vẫn còn đó. Chẳng thà ông ăn cháo, ăn rau qua ngày, chớ không làm những việc mà ông cho là hèn mọn. Có những khi quá túng thiếu, bà cũng mong ông tự động đi kiếm việc làm, nhưng ông vẫn bình chân như vại, nên bà cũng lặng im, coi như số phận của mình và cam chịu.

Cơ cực bao nhiêu bà cũng ráng chịu, nhưng bà đâu có ngờ những tật xấu của ông bổng phát sanh làm cho bà không thể nào chịu nỗi. Đó là tật khoe khoan, khoác lác và nói ngược ( nghĩa là ai nói ra điều gì là ông nói ngược lại điều đó, không cần biết điều đó đúng hay sai ). Thật sự, bà cũng không rõ đó là tật mới phát sanh hay đã có từ trước mà bây giờ mới có dịp bộc phát. Bởi vì từ khi yêu nhau rồi cưới, rồi ông đi hành quân, rồi ở tù Cộng Sản, tính theo ngày giờ thực tế, ông và bà ở gần nhau chưa được một năm. Những ngày còn là tình nhân thì khỏi phải nói, bà nói gì ông cũng cho là đúng, bà muốn gì ông cũng chìu. Khi đã là vợ chồng rồi, những ngày về phép thì chỉ có mặn nồng, âu yếm. Khi ông ở tù về, thời gian ở bên nhau được nhiều, bà mới nhận ra những tật xấu nầy của ông. Dù nó đã có từ trước hay bây giờ mới phát sanh, đối với bà nó cũng là một đại họa. Đại họa còn hơn ông bị ở tù và bà phải thăm nuôi.

Bà Loan hiền lành nhưng không nhu nhược. Bà lại là một cô giáo gương mẫu, nói và làm rất đàng hoàng, nghiêm chỉnh. Dù môi trường xã hội chủ nghĩa quá vô đạo đức, nhiễu nhương, nhưng bà vẫn giữ được tư cách của một con người trí thức, lương thiện. Bây giờ nơi ông lòi ra tánh xấu như vậy, chẳng khác nào lửa gặp nước. Thế là cải nhau triền miên. Cải nhau từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ. Có khi chỉ một câu nói như lời tâm sự của bà cũng đưa đến cải nhau. Thí dụ như bà nói :

- Anh à, không biết mình chịu đựng tụi Cộng Sản nầy đến bao giờ và có chịu nỗi không !

Thế là ông trả lời một cách dứt khoát :

- Tụi nó sắp tiêu rồi, em đừng lo.

- Em chỉ sợ mình tiêu trước tụi nó. Em mệt mõi quá rồi.

Ông cao giọng:

- Mệt gì mà mệt. Anh bị tụi nó hành hạ, đói lên đói xuống mà có chết đâu.

Sự buồn phiền làm cho bà buộc miệng than thở:

- Anh không chết vì anh có sức chịu đựng, mà chỉ chịu đựng cho một mình anh, còn em phải chịu đựng cho cả gia đình.

- Em sao quan trọng hoá vấn đề. Anh ngày trước ăn cao lương mỹ vị mà bây giờ ăn mắm, ăn muối, sao anh không than. Nếu tụi Việt Cộng không thắng, anh bây giờ anh đã lên tướng rồi, lúc đó em có than không?

Bà im lặng chán nãn. Cứ mỗi lần cải nhau là câu chuyện đi lạc đề xa lắc, nhưng nhờ đó bà lại phát hiện ra là ông không thương bà gì cả, mà ông chỉ thương thân ông, làm cho bà rất buồn. Bà không ngờ một thời yêu thương, một thời hy sinh của bà chỉ là những điều vô nghĩa vì bà đã vô phước thương nhằm con ngườI quá vô tâm. Bà nghĩ ngày xưa có lẽ ông chỉ yêu nhan sắc của bà hoặc là sự đam mê nhất thời của tuổi trẻ, khi tất cả đã qua đi thì không còn lại gì ngoài sự ích kỷ của bản thân.

Tuy nhiên, dù mỗi lần cải vả, cuối cùng bà phải chịu thua ông trong sự tức tối, muộn phiền, nhưng bà vẫn không bỏ ý định cảm hoá ông. Có những lần bà đã " méo mó nghề nghiệp", đem nhân, nghĩa, lễ, trí, tín ra để khéo léo khuyên ông, nhưng chỉ làm cho ông" nói ngang ba làng nói không lại".

Ngoài ra, còn một vấn đề làm cho bà xấu hổ là mỗi lần có bạn bè tới thăm hoặc đi thăm bạn bè, ông thường đem những "thành tích" trong quá khứ đời lính ra khoe. Có những chuyện bà thấy quá lố hoặc không có thật. Còn có những chuyện ông kể với bà thì khác, mà khi kể với bạn bè thì khác, làm cho bà không biết đâu là sự thật. Cuối cùng, lúc nào ông cũng kết luận một cách trực tiếp hay gián tiếp rằng chỉ có ông là tài giỏi nhất.

Thế nhưng, ngoài những chuyện " lớn" liên quan đến chính trị, xã hội v.v... còn những chuyện rất là nhỏ nhặt, ông cũng làm cho bà vô cùng phiền não. Thí dụ như hai ông bà cùng chứng kiến một vụ tai nạn xe cộ, cả hai bên chỉ bị trầy xước sơ sơ, mà khi về ông kể lại cho gia đình hay lối xóm là họ bị dập đầu, bể trán v.v...Hoặc có khi ông nói là có nghe tin một người bà con bị bịnh sắp chết, bà hãy mau đi thăm. Khi đến nơi, bà chỉ thấy họ bịnh sơ sài. Bà có trách ông không nói đúng sự thật thì ông bảo là nghe người nầy, người kia nói v.v...Nhưng bà biết chắc là ông đã thêu dệt. Từ từ, bà không còn tin tưởng bất cứ điều gì do ông nói ra. Đó là nỗi khổ tâm vô cùng to lớn đối với bà. Có đôi lúc bà nghĩ là ông không biết nói thật, chuyện gì cũng phải nói lệch đi, không nhiều thì ít. Ngoài ra nếu bà khen cái gì đẹp thì ông nói là xấu, Bà nói người nào dễ thương là ông bảo dễ ghét v.v...

Những cuộc cải vả làm cho bà mẹ chồng và hai đứa con từ từ lớn lên cũng phiền não theo.

Mẹ chồng bà thường khuyên:

- Thôi con à, cải với nó làm gì. Nó đã bị Việt Cộng nhồi sọ rồi.

- Vậy chứ ngày trước ảnh không có vậy sao má ?

- Đối với ba má nó đâu có cải bướng như vậy.

Bà suy nghĩ không biết ông có bị Việt Cộng nhồi sọ hay không, nhưng nghe mẹ chồng nói, bà chợt nhận ra tánh ông sao giống Việt Cộng quá. Lúc nào ta cũng là "đỉnh cao trí tuệ". Tuy rằng ông chữi Việt Cộng hằng ngày ( chữi lén thôi ), nhưng bà nghĩ nếu ông là Việt Cộng, chắc ông cũng giống y như tụi nó.

Hai đứa con có lúc cũng cằn nhằn:

- Mẹ cải với ba làm chi, tánh ổng đã như vậy, mẹ cải làm gì cho ổng chọc tức mẹ thêm.

Thôi thì, vì những người thân, vì không thể nói chuyện với ông bằng lý lẻ, bà hạn chế tối đa việc nói chuyện với ông, chỉ nói những việc rất cần thiết, và mỗi khi ông sắp giở giọng tranh luận là bà tìm cách bỏ đi chỗ khác. Những xung khắc theo ngày tháng làm cho tình vợ chồng ngày một phai lạt.

Thời gian trôi qua, mẹ chồng bà đã qua đời và chương trinh H.O cũng đến. Ông bà và hai đứa con được đến Mỹ định cư. Được sự trợ cấp của chính phủ Mỹ trong năm đầu tiên, tiếp theo ông bà xin được tiền bịnh vì lúc đó chính phủ Mỹ rất cảm thông cho những gia đình quân nhân Việt Nam Cộng Hoà đã bị khủng hoảng tinh thần và đau yếu thể xác trong những năm tháng bị sự trù dập và khủng bố của bọn Việt Cộng. Hai đứa con của ông bà cũng được chính phủ giúp đỡ đến trường học lại. Do đó cuộc sống gia đình ông bà được sớm ổn định. Sự lo toan, vất vả của bà đã hết, nhưng sự khổ tâm, phiền muộn về ông thì không chấm dứt. Chưa bao giờ bà thấy câu nói của dân gian :" Giang sơn dễ đổi, bản tánh khó dời " đúng như thế. Đôi lúc bà nghĩ chắc có xuống âm phủ ông cũng vậy thôi, thì có ăn nhằm gì khi vượt qua nửa vòng trái đất.

Người Việt Nam dần dần định cư tại Mỹ rất nhiều qua các diện H.O, ODP, con lai v.v... hình thành nên một cộng đồng người Việt. Riêng những cựu tù nhân chính trị cũng lập hội riêng để dễ bề sinh hoạt, tâm tình với nhau. Đây là cơ hội cho ông có nhiều chuyện đem về nhà để nói với bà. Khi trong hội có người nóI chuyện hoặc thuyết trình hay, ông nói là ông đã biết trước chuyện đó. Ai nói dỡ ông bảo rằng do vậy  mà mất nước v.v...Bà ngao ngán tự hỏi không biết bà phải chịu đựng ông cho đến bao giờ và có chịu đựng nỗi không, giống như ngày xưa bà đã hỏi ông:" Không biết mình phải chịu đựng tụi Cộng Sản cho đến bao giờ và có chịu nỗi không?"Hôm nay bà không còn chịu đựng bọn Việt Cộng nữa, nhưng bà vẫn còn chịu đựng ông, có khác gì đâu ?

Thời gian lại trôi. Có lẽ do định luật " Đường cùng tất biến ", một hôm sự may mắn đã đến với bà khi có người bạn rủ bà đi chùa. Bà nghĩ nên đi thử vào chùa xem có được an lạc chút nào không. Lần đầu tiên bước vào chùa bà cảm thấy tam hồn được chút ít thanh tịnh. Từ đó bà rất siêng đi, nhất là những buổi được nghe thuyết pháp. Những bài Phật pháp từ từ soi sáng tâm hồn bà như xoá đi dần dần những đám mây che. Rồi bà tìm tòi kinh, sánh để đọc, tìm băng đĩa để nghe các vị pháp sư giảng giải. Bà được biết rằng con người khi sanh ra đời đã mang sẵn tánh tham, sân, si, theo sự dẫn dắt của tiền bạc, tài sắc, danh tiếng, ăn uống, ngủ nghỉ ( danh từ Phật giáo gọi là lậu hoặc ), của những ghiền nghiện không thế bỏ ( tập khí ), của những truyền thống, tập quán huân tập từ gia đình, xã hội, dân tộc, tôn giáo ( kiết sử ), của những ẩn ức chứa đựng trong lòng từ nhiều kiếp ( tuỳ miên ). Ngoài ra con người còn sanh ra theo quy luật tương quan nhân quả. Đó là lãnh quả do nhân của đời trước, rồi tạo ra nhân của đời nầy để lãnh quả ở đời sau. Sự xoay vần của nhân quả không bao giờ chấm dứt nếu không có sự tu hành để giải thoát.

Càng tìm hiếu Phật pháp, bà càng hiểu rõ được tính cách của ông Thắng. Bà thấy con người ông bị cái tham danh chi phối rất nhiều. Ông muốn phô trương sự hiểu biết để được mọi người kính nể, nhưng sự hiểu biết của ông không được là bao, nên kết quả ông bị chê bai là khoe khoang, khoác lác. Ông huân tập từ gia đình sự nói nhiều ( ba ông cũng nói nhiều ) làm cho người chung quanh mỗi lần nghe ông mở miệng là sợ muốn chạy trốn. Ông bị khẩu nghiệp vì có quá nhiều vọng ngữ.

Nghĩ về ông rồi phải nghĩ về mình. Bà Loan thấy mình bị tánh sân và chấp quá nặng. Phật đã dạy rằng, lời nói hay hành động của con người là do nơi lậu hoặc, tập khí, kiết sử, tuỳ miên của họ dẫn dắt, rồi nó cũng theo luật vô thường mà mất như gió thoảng mây bay, tại sao mình cứ ôm lấy nó mà nỗi sân, mà tranh cải. Đó cũng là do bản ngã ( cái ta ) của mình quá lớn, mình muốn người ta phải nói cho mình nghe vừa lỗ tai, mình mới vừa lòng. Xét tới, xét lui, bà thấy ông có lỗi mà bà cũng có lỗi, nghĩa là ai cũng muốn đối tượng chịu thua mình, đó là sự si mê.

Rồi bà đem luật nhân quả ra để suy tư chuyện của bà và ông. Bà biết nhân quả nhiều đời nhiều kiếp đan xen chằng chịt bởi biết bao chuyện trên đời, nhưng bà thắm thía nhất là con người sanh ra để trả nợ hoặc đòi nợ, để trả ơn hoặc báo oán, vì đó là những điều gần gủi nhất của con người. Bà tin rằng trong tiền kiếp, bà đã nợ ông Thắng rất nhiều, từ tiền bạc cho đến tình cảm. Từ ngày lấy ông, bà đâu có được ông nuôi ngày nào. Ông được tiếng con nhà giàu nhưng là của cha mẹ. Lương lính của ông chỉ đủ ông xài, bà đi dạy học để nuôi con cái. Rồi Việt Cộng vào bà phải nuôi ông ở tù. Ông ra tù bà cũng phải nuôi ông đến ngày đi Mỹ. Còn về tinh thần thì ông thường xuyên làm bà tức giận, phiền lòng. Bà nghĩ kiếp trước chắc bà cũng từng làm ông phiền não.

Tư duy những điều như vậy, dần dần bà nhịn được ông. Ban đầu tuy nhịn được, nhưng nhịn trong sự chịu đựng, sau đó nhịn được một cách tự nhiên. Những lời nói ngược của ông đối với bà không còn tác dụng nữa, bà nghe như gió thoảng qua tai, có khi bà nghe mà không cần biết ông nói gì. Khi ông ba hoa, khoác lác, bà nghĩ thầm : "Kiết sử của ông đang nỗi dậy, không lẽ mình lại hơn thua với cái kiết sử của ổng". Nghĩ thế bà không còn nóng giận.

Chẳng những đối với ông bà đã nhẫn được như vậy, mà đối với thân bằng quyến thuộc, người quen hay người lạ bà cũng nhẫn được khi đem luật nhân quả ra để suy gẫm, để xử sự. Bà học được trong Phật pháp rằng khi người ta đối xử xấu ác với mình, đó là có hai trường hợp. Một là người ta đòi nợ mình đã xấu ác với người ta ở kiếp nầy hay kiếp trước. Hai là người ta đang tạo nghiệp nơi mình để kiếp nầy hoặc kiếp sau người ta phải trả. Cả hai trường hợp mình không nên oán thù, phẩn nộ. Nếu mình thiếu nợ thì mình phải trả, đó là lẽ công bằng, còn nếu người ta tạo nghiệp nơi mình thì nên thương hại họ, mà không nên cố chấp. Nếu mình cố chấp thì kiếp sau mình với họ lại tái ngộ để trả nợ cho nhau. Oan gia tương báo sẽ không bao giờ chấm dứt.

Với tình thương cũng vậy, nếu mình thương gia đình, thân bằng quyến thuộc bằng lòng luyến ái. Thương mà muốn giữ cho mình, muốn họ phải thương lại mình v.v... thì mình sẽ bị đau khổ nếu không vừa ý và kiếp sau mình và họ sẽ gặp nhau để trả nợ cho nhau. Vì thế, Phật dạy ta phải thương mọi người bằng lòng từ bi. Thương là cho đi vật chất và tình thương mà không cần đền trả, không hề nghĩ nhớ trong tâm. Có như thế mới chấm dứt giòng nhân quả. Tóm lại luyến ái và oán thù phải chấm dứt thì con người mới được giải thoát được. Chỗ nầy bà Loan thấm thía nhất, bà nhìn gia đình mình rồi nhìn ra chung quanh xã hội, bà thấy con người quay quắt trong sự thương, ghét mà tâm không lúc nào yên.

Càng học Phật pháp bà Loan càng tỉnh ngộ. Bà theo lời Phật dạy nên siêng năng tụng kinh, niệm Phật, ăn chay, cúng dường, bố thí, vì học thì phải hành. Hiểu giáo lý mà không thực hành thì cũng không đem lại kết quả. Từ từ bà thấy tâm bà được nhiều an lạc, những nỗi khổ cũng từ từ biến mất. Bà không còn giận ghét ai. Còn với những người hay sân hận, oán thù, bà thương hại họ, vì biết họ còn vô minh, chưa may mắn gặp được Phật pháp.

Từ khi thấy được sự an lạc trong tâm hồn, bà Loan chợt nhận ra rằng sự sung sướng hay đau khổ trong thế gian không có gì quan trọng. Quan trọng là sự giải thoát ra khỏi cuộc đời nầy, mà chỉ có Phật pháp mới giải quyết được. Đó cũng là mục đích tối hậu của đạo Phật. Đức Phật còn nói rằng dù con người có đối với ta tốt hay xấu, thiện hay ác, đó cũng là thiện tri thức của ta, ta phải cám ơn họ, vì nhờ họ mà ta mới tìm tới đạo để tu hành.

Những điều đức Phật dạy, có vài điều nho nhỏ bà đã trải nghiệm qua và thấy kết quả đúng như sự thật. Bà biết rằng Phật pháp cao siêu mà trong kiếp nầy bà không thể học hết, nhưng hiểu được những điều căn bản, đơn sơ, bà cũng thấy được lợi lạc rất nhiều. Bà nghĩ rằng được giác ngộ theo đạo Phật là một điều may mắn nhất trong đời bà mà bao nhiêu ngọc ngà, châu báo cũng không đổi được, vì ngọc ngà, châu báo không làm người ta hết khổ mà chỉ có đạo Phật mới làm người ta hết khổ mà thôi. Đạo Phật chính là một khoa học thực nghiệm về tâm linh có thí nghiệm là sẽ có kết quả. Đạo Phật không phải là một phép lạ, chỉ một mình Đức Phật mới có, mà nếu chúng sanh tu hành theo Đức Phật thì cũng sẽ được những sự nhiệm mầu như thế. Bởi vậy Đức Phật mới nói : " Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành." Bằng chứng là rất nhiều đệ tử của Phật đã thành Phật như ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ma ha Ca Diếp, A Nan, Kiều Đàm Di, Liên Hoa Sắc v.v...vì các ngài đã nhập Niết Bàn, tức là thành Phật.

Đạo Phật là đạo cứu khổ, không phải Phật cứu khổ mình, mà Phật chỉ cách cho mình tự làm cho mình hết khổ. Bà Loan đã làm theo lời Phật dạy và đã hết khổ. Ông Thắng vẫn như xưa, không có gì thay đổi, mà ông còn thấy bà nhẫn nhịn nên càng " thừa thắng xông lên ". Hoàn cảnh chung quanh bà vẫn còn phức tạp, đảo điên, Nhưng bà đã đứng bên lề để nhìn đời bằng Phật pháp. Bà cám ơn đời, cám ơn người đã đưa bà đến bước đường cùng để bà tìm đến Phật pháp và tu hành, dù là ở tuổi bảy mươi. Trong những thời khoá tu hành hàng ngày, bà đều cầu nguyện cho ông Thắng sớm tin Phật pháp và tu hành để diệt trừ lậu hoặc, tập khí, kiết sử, tuỳ miên của ông, ngoài ra không có cách gì khác. Bà cũng cầu nguyện cho tất cả chúng sanh đều gặp được Phật pháp để cho đời họ hết khổ và thế giới được hoà binh./.
 
Huỳnh  Mai  Hoa

Sacramento  28-6-2015

Blog Archive