Friday, September 20, 2019

NGỬA MẶT NHÌN TRỜI
 
Nguyễn-đại-Thuật
 
Hơn một tháng đi xa, nay trở về nhà. Tôi mở cửa sổ nhìn ra công-viên cây xanh sau nhà. Ngôi trường học mẫu giáo vẫn còn đóng cửa ngủ yên. Lũ học trò không còn xuất hiện nô-đùa ồn ào như những ngày còn học, chắc chúng theo gia-đình đi nghỉ hè những nơi xa xăm nào đó. Công-viên thật yên-lặng. Trên những chiếc ghế dài nằm rải rác dưới những tàng cây hoặc trong những khoảng trống, một vài người lớn tuổi ngồi phơi nắng. Trên một bậc cấp đi đến đài phun nước, một người ngồi,  nhìn lên trời. Tôi nghĩ đó là chuyện bình thường. Người ta tắm nắng cho khuôn  mặt của mình. Tôi lui vào trong sắp xếp lại hành lý xong trở lại nhìn ra công-viên, người kia vẫn ngồi tại chỗ, mặt vẫn nhìn lên trời. Tôi tự hỏi, sao người kia không nằm trên một ghế trống nào đó hay nằm trên cỏ để phơi nắng cho toàn thân và cả mặt của mình, người đó không mỏi cổ sao ? Hay là trên trời có gì lạ ? Tôi nhìn lên trời. Bầu trời trong xanh, phơn-phớt vài cụm mây trắng mong manh trôi lơ-đễnh.  Từ sau những tòa nhà cao tầng xuất hiện một chiếc máy bay hạ cánh thấp dần để đáp xuống phi-trường, ngoài ra không thấy có gì lạ...Rồi người đó rời chỗ ngồi, đi ra khỏi công-viên, lối ra gần cửa sổ nhà tôi, đó là một bé trai, mặt mày xanh xao, hốc hác, ước chừng chưa quá mười lăm tuổi.

Buổi tối, tôi qua gõ cửa nhà bà Mina để tặng món quà nhỏ, cám ơn bà coi chừng  dùm nhà trong thời gian tôi đi vắng. Bà Mina sống với chồng và đứa con gái đang học đại-học. Gia-đình bà đến từ Afghanistan. Năm 2010, quân Taliban tấn công  vào thủ-đô Kaboul, hai vợ chồng bà là viên-chức của chính-quyền trung-ương, trốn thoát được trận chiến, vượt biên qua nước Pakistan rồi xin tỵ-nạn tại Pháp. Lúc gia-đình bà dọn đến chung cư, tôi là người giúp-đỡ, hướng dẫn đưa đón làm mọi thủ-tục giấy tờ để ổn-định cư-trú, vì vậy gia-đình tôi và gia-đình bà sống với nhau rất thân-thiện. Cửa mở, vợ chồng bà và con gái có vẻ vui mừng khi biết tôi đã trở về.

Đang chuyện trò, bà Mina nói với tôi nhà bà đang có khách, bà sẽ giới-thiệu cho tôi người khách mới. Nói xong, bà xoay người hướng về một phòng có cửa đang hé mở nói bằng tiếng Anh:

 - Daryab, ra chào ông Lê, người hàng xóm của nhà mình.

Một người bước ra khỏi cửa phòng. Dưới ánh sáng rỡ ràng của ánh đèn Néon, tôi nhận ra ngay là người thiếu-niên sáng nay ngồi phơi nắng ngoài công-viên mặt ngửa nhìn trời. Em đến cạnh tôi cúi đầu chào bằng tiếng Anh:

 - Chào ông.

 Chào xong, em đến ngồi bên cạnh bà Mina.

 Bà Mina nói tiếp:

 - Cháu là con của người em trai tôi. Cháu gọi tôi bằng cô. Cháu đến từ Kaboul sau gần hơn tám tháng gian nan khổ sở. Cháu được tôi đón về từ trại tạm-cư dành cho trẻ em tỵ-nạn chiến-tranh tuổi chưa quá mười tám, nay cháu vừa tròn mười bốn. Kể đến đây bà úp mặt vào lòng bàn tay khóc. Cô con gái cũng khóc theo.

Người chồng đứng lên đi vào bên trong. Daryab mặt nhìn trần nhà, lạnh lùng.  Tôn trọng nỗi buồn của gia-đình, tôi vội chào cáo lui.

Những ngày sau đó, tôi được vợ chồng bà Mina nhờ giúp đưa Daryab đến tòa hành chánh thị xã để lập thủ tục xác nhận nơi cư-trú cho kịp nộp đơn nhập học cho mùa khai-giảng đang tới. Hai ông bà còn bận đi làm việc. Người con gái cũng vừa đi học vừa đi làm. Tôi vừa nghỉ hưu nên rỗi rãnh. Ngồi chờ đến phiên được gọi, tôi cần được biết vài chi tiết về bản thân của em để giúp em chuyển ngữ đến giới chức sẽ làm việc với em. Qua lời kể bằng tiếng Anh không được trôi chảy, tôi đã kết-hợp được câu chuyện của em.

Cha của Daryab xuất thân từ một đại-học nổi tiếng tại Luân-đôn, về nước làm việc cho một ngân-hàng ở Kaboul. Mẹ em không đi làm, ở nhà săn sóc em và người anh trai hơn em ba tuổi, hai anh em đều đi học. Mùa xuân năm 2018, tết Dương-lịch, cha em lái xe đưa gia-đình về thăm quê-nội phía Nam, cách thủ-đô Kaboul không xa, ước chừng một trâm cây số. Xe bị chận lại bởi những người vũ-trang Taliban. Gia-đình em bị bắt giữ vì họ phát-hiện trên giấy tờ ba em làm việc cho ngân-hàng của nhà nước Afghan. Gia đình em bị đưa vào nhốt trong một hang động rất âm-u và lạnh lẽo. Vài ngày sau, người ta đưa mẹ em đi giam giữ một nơi khác, người ta nói đàn bà có một khu giam-giữ riêng. Mặc cho hai anh em khóc lóc cầu xin để mẹ lại với chúng em. Anh của em còn bị đánh và trói tay chân vì tội giành giựt lôi kéo giữ mẹ lại khi bị đưa đi; em thấy mẹ lăn lộn trên nền đá lạnh, kêu khóc thảm-thiết. Cha thì đứng im, không nói được lời nào, nước mắt chảy dòng xuống hai má. Em cũng khóc, nhào tới kéo mẹ lại, nhưng người ta giữ chặt em, không nhúc-nhích nổi, lòng em đau đớn như đứt ra từng khúc. Rồi đêm hôm đó, vì mệt mỏi, đói, lạnh, em đã ngủ. Sáng hôm sau thức dậy thì cha em không còn ở đó nữa, người ta đã đưa cha em đi trong đêm khuya. Hai anh em chỉ còn khóc. Vì đói, vì lạnh, cả ngày hai anh em ôm nhau để chuyền hơi ấm cho nhau.  

Không lâu sau đó, hai anh em được đưa đến một thôn xóm nhỏ nằm trên một cánh đồng gần chân núi. Hai anh em được giao cho một chủ gia-đình ở đây, không có người canh gác. Mỗi chân của hai anh em bị khoá bằng một sợi xích, đầu kia được luồn trong một hòn đá, mỗi khi di chuyển phải dùng tay kéo sợi xích để nâng hòn đá cùng bước đi. Trong những nhà chung quanh cũng có vài người bị xích chân như hai anh em. Người chủ nhà rất tử tế, cho hai anh em ăn uống no đủ vì cùng ăn với họ. Đêm đến có được chăn mền đáp ấm. Ban ngày, từ sáng còn mờ sương, hai anh em bị đánh thức đưa ra làm việc trên cánh đồng trồng cây thuốc phiện.  Hai anh em bị cấm tuyệt-đối không được liên lạc với những người ở những nhà cũng bị xích chân. Làm việc đến khoảng mười giờ thì được cho nghỉ, về nhà, và đến khoảng ba giờ chiều thì bắt đầu làm việc trở lại cho đến tám chín giờ tối. Người ta tránh làm việc từ mười giờ trưa cho đến ba giờ chiều để tránh máy bay phát hiện bắn phá. Thời gian nầy trời trong sáng, không có nhiều mây phủ che khuất tầm nhìn của máy bay. Thỉnh-thoảng cũng có máy bay gầm, rú bay quanh khu nông trại, rít lên bắn vài loạt đạn rồi biến mất. Không có ai chết hay bị thương.

Khoảng hai mươi ngày sau, người ta thâu hoạch thuốc phiện. Tối hôm đó hai anh em bị đánh thức để khuân những bao thuốc phiện thâu hoạch trong ngày chất lên lưng những con lạc-đà cùng những con lừa do một toán võ trang Taliban đến nhận. Chiều hôm đó, hai anh em được vợ chồng bà chủ nhà cho ăn rất sớm. Ăn xong, bà chủ cho thêm hai gói thức ăn làm sẵn, bà nói:

 - Hai con giữ lấy để có ăn tối nay. Buổi chiều hai con sẽ được người ta đưa đến nông trại trồng bắp.

Nhận gói thức ăn từ tay bà, em thấy từ mắt bà có những giọt nước mắt. Khi bà đi vào phía sau nhà, em nghe tiếng chồng bà:

 - Không biết con nhà ai mà tội nghiệp quá !

 Tiếng bà nói trong xúc động:

 - Ba năm rồi, thằng Amir nhà mình cũng nổi trôi như vậy thôi, năm nay nó đúng mười tám tuổi rồi.  

Em thấy thương bà vô cùng, em muốn chạy đến ôm bà như đã từng ôm mẹ. Anh em ngồi xuống trong góc nhà, kéo ôm em vào lòng, và em đã ngủ bên cạnh người  anh, và đó cũng là giấc ngủ lần sau cùng của em trong vòng tay của anh Nasim.  Có tiếng động mạnh bên ngoài sân, em tỉnh ngủ. Vợ chồng người chủ nhà giao hai anh em cho người lính Taliban rồi lặng lẽ quay vào nhà. Qua ánh sáng tù-mù của ngọn đèn dầu, em nhìn thấy ông bà chủ nhà đứng lặng lẽ nhìn theo. Hai anh em được đưa đến bên bờ một con sông sau gần hơn nửa giờ đi lên và xuống đồi. Hai anh em bị đẩy lên một chiếc ghe, trên ghe có một số người nhưng trời tối em không nhận ra nhiều hay ít.  

Tiêng máy ghe nổ, ghe từ từ chạy, từ phía rất xa, em nhìn thấy một vùng ánh sáng của thành phố, em nghĩ đó là thủ đô Kaboul của em, nơi có nhà của cha mẹ, có trường học, có bạn bè, bao hình ảnh êm-đềm hiện ra trong đầu em. Rồi tự nhiên có tiếng súng nổ vang từ hai bên bờ. Ánh lửa lòe lên rồi tắt. Cỏ tiếng những ai đó la lên :" Chúng  ta bị phục kích...chúng ta bị phục kích.." Chiếc ghe tròng trành, người trên ghe kêu tên nhau, tiêng la và tiếng khóc chen lẫn tiêng súng nổ. Em gọi "Nasim, Nasim, anh hai, anh hai". Không có tiếng trả lời. Rồi chiếc ghe xoay tròn, thân ghe chìm xuống  nước. Em rơi xuống, toàn thân em lạnh cóng. Em bơi. Em đi học, nhà trường có dạy em bơi. Hàng tuần em theo bạn bè đi tắm hồ bơi gần nhà. Tiếng bì bõm  trong nước, tiếng ho sặc sụa. Em có nghe tiếng gọi: "Daryab,....Daryab..." từ một góc xa xôi nào đó trong giòng sông, giữa đêm đen mù mịt. Tiếng gọi của anh Nasim.

Em nương theo giòng nước, cho thân thả trôi theo bờ sông. Khi mặt trời mọc thì em gặp một thuyền buôn cứu, cho em lên thuyền. Trên thuyền người ta nói chuyện với nhau, em nghe nói thuyền đang đi trên dòng Kaboul hướng về Pakistan. Những người trên thuyền rất cộc-cằn thô-lỗ, sau khi gặn hỏi em lý-do bị nước cuốn trôi, họ cười hô-hố khi biết được chuyện, em thấy họ không có tấm lòng nhân ái. Thuyền của họ không di chuyển ban ngày, ban ngày họ tắp vào những nơi rậm-rap có cây cối hay cạnh những vách đá, họ chỉ di chuyển về đêm. Ngày thư ba, trước khi thuyền rời bến, có một người đàn ông đẫy đà bước lên thuyền, có một người cầm súng theo sau. Mọi người trên thuyền đứng yên-lặng cho đến khi người đàn ông và người lính cân-vệ vào một phòng nhỏ đóng cửa lại. Tối hôm đó, em được đưa vào phòng người đàn ông lên thuyền lúc ban chiều mà những người trên thuyền gọi là ông chủ, ông đang nằm trên giường, dường như ông đã biết chuyện của em, vừa nhìn thấy em, ông nói liền:

 - Mày ở đây làm việc với anh em trên thuyền, tương-lai sẽ có nhiều việc để làm cho mày cho đến khi mày tìm được gia-đình.

Ông bảo em ngồi cạnh giường ông, em không nhìn thấy có chiếc ghế nào trong phòng ông. Người lính cận-vệ ông ở trần, không mặc áo, em thấy còn trẻ lắm, không lớn hơn anh Nasim bao nhiêu; theo lời sai của ông chủ, người nầy rót cho em một chén nước trà thơm. Em nhận chén trà thì người nầy bắt đầu đấm bóp cho ông chủ. Em uống chưa hét nửa chén trà thì em cảm thấy em rất buồn ngủ và em mơ hồ nghe thấy âm thanh của chén trà rơi xuống sàn thuyền.

Gần hơn một tháng, đêm nào em cũng phải vào hầu ông chủ, thân xác em đau đớn rã-rời, chỉ biết khóc. Người cận vệ có lần nói riêng với em:

 - Trước đây mình cũng như bạn vậy, bây giờ cũng vậy thôi. Những chuyến đi xa trên thuyền không có đàn bà nên ông chủ cần mình, đến khi về nhà thì ông có vợ con và mình sẽ được nghỉ ngơi. Sắp đến Kandahar rồi, nhà ông ấy ở thành phố đó. Bạn cố chịu đựng, đau đớn rồi sẽ hết.

Rồi thuyền cũng đến Kandahar vào một buổi sáng mù sương. Những người phục vụ trên thuyền lần lượt chuyển những bao vải xuống những chiếc ghe nhỏ chờ sẵn tiến sát con thuyền. Em theo ông chủ và người cận vệ lên một chiếc xe màu đen rời bến tàu.

Nhà ông chủ nuôi rất nhiều chó, chung quanh có tường cao không nhìn thấy bên ngoài. Nhà có vài người giúp việc, nhưng em thấy hầu như mọi việc do bà chủ đm đang hết. Bà đối đãi với em rất tốt, cho em ăn uống no đủ cũng như may sắm cho áo quần. Từ đó, mỗi tuần ông chủ lại đến với em một lần, có khi đêm, có khi ngày, sau một lần như vầy, lần đầu em nghe ông hỏi:

 - Còn đau đớn gì nữa không ?

 Em cảm thấy ê-chề, gớm ghiết, tủi thân, khóc và không trả lời.

Mấy ngày sau, ông chủ gọi em vào phòng, người cận vệ bên cạnh ông, trên bàn em nhìn thấy một chùm trái chà-là óng vàng. Ông chủ nói với em:

 - Mấy tháng nay đã chuẩn bị, nay chúng ta bắt đầu làm việc. Ông vừa nói xong, người cận-vệ tiến đến gần em, bảo em khom người rồi kéo quần em xuống. Người cận-vệ ngắt một trái chà là nhúng vào một dung-dịch như dầu rồi nhét vào hậu môn của em. Em sợ hãi chống cự. Ông chủ nhiều lần đe dọa nếu em tiếp-tục chống-cự sẽ bị cùm chân tay không cho ăn uống. Em cương quyết cưỡng lại lời ông chủ. Em bị trói chân tay nhốt dưới hầm sâu, bị bỏ đói. Mấy ngày tiếp theo, đói lạnh không chịu nỗi, người cận vệ khuyên em, giống như anh ấy trước đây, phải chịu đựng đau buồn, tủi nhục như em bây giờ, rồi mọi việc sẽ quen đi. Nếu tiếp tục kháng-cự, một ngày nào đó người ta sẽ ném em xuống sông. Và em đã phải nghe theo lời người cận vệ. Lần thực hiện đầu tiên, người cân-vệ đưa vào vài trái chà là. Vài phút sau những trái chà là bị tống ra. Gần một tuần lễ, ruột em có thể tích trữ được gần mười trái chà là....Ông chủ lại đối đãi tử tế với em. Và những trái chà là bất đầu ngoan ngoãn, chịu nằm yên, không tháo ra ngoài, chúng chỉ ra ngoài theo ý muốn của em. Để chuẩn bị cho chuyến du ngoạn qua một thành phố trong lãnh địa Pakistan kế cận, theo lời của ông chủ, trưa ngày hôm trước em không được ăn, buổi sáng trước khi khởi hành, em được cho uống một ly nước, rồi không lâu sau đó tất cả phân trong người bị tống tháo ra ngoài. Ông chủ trao cho người cận-vệ một hộp có những viên nhựa bằng cỡ những trái chà-là, trong đó có chứa bột màu trắng, người cận-vệ lần lượt cho vào ruột em, em tính được mười hai viên. Em cũng thấy người cận-vệ cũng tự cho những viên nhựa nầy vào ruột của mình.

Em được ông chủ làm giấy tờ đầy đủ, có cả giấy thông hành. Ông lái xe chín chỗ ngồi đưa em và người cận vệ ra bến xe đò, ông mua vé cho hai người lên xe đò xong ông lái xe bỏ đi. Xe đò vào lãnh-thổ Pakistan được vài cây số, xe ngừng trước một trang trại nuôi cừu, người cận-vệ kéo tay em xuống xe. Trên xe cũng có vài người xuống theo. Ông chủ lại xuất hiện, trên xe ông đã có người ngồi sẵn, chỉ còn để trống 2 chỗ cho em và người cận vệ. Trên xe toàn đàn ông, với nhiều lứa tuổi khác nhau, có người râu bạc, có người nhỏ tuổi như em. Tất cả im-lậng, không ai được nói chuyện với nhau. Xe chạy vào một ngôi nhà có tường bao quanh. Lần lượt mọi người xuống xe từng lúc, khi có lệnh của ông chủ.  

Em là người xuống sau cùng. Một người dẫn em đến một phòng nhỏ, đưa cho em một  thau nhựa có lót giấy, và em đã xổ vào thau hết những viên nhựa đã bị đưa vào trong ruột của em.

Công việc nầy em được lệnh thực hiện hai lần một tuần. Hết tuần lễ thứ tám, ông chủ nói với em rằng ông sẽ cho em đi du-lịch nước Pháp vì em đã làm việc tốt.  Từ thành phố Kandahar, ông chủ, em và người cận-vệ đi máy bay đến Dubai hai ngày trước. Ngày lên phi trường Dubai để đi Pháp, trong nhóm hành khách làm thủ-tục lên máy bay, em nhận ra hầu hết những người em từng gặp trong những lần đi với ông chủ từ Kandahar qua biên giới vào lãnh thổ Pakistan. Buổi sáng, lúc chuẩn bị lên phi-trường Dubai, trong nhà ngũ, người cận-vệ lại đưa những viên nhựa chứa bột trắng vào ruột của em, anh tiết lộ cho em biết, chuyến đi nầy ông chủ cho đi bốn mươi người, anh đã đi Pháp hai lần, Paris đẹp lắm, nếu em biết làm việc và biết nghe lời ông chủ em có thể được ông chủ cho đi nhiều nước ở Âu-châu. 

Khi đến phi-trường quốc-tế Charles-de- Gaulle, người cận-vệ, em và ông chủ cùng đi ra chung. Khi đi qua khu vực kiểm tra của cảnh-sát hải-quan, có những con chó chạy đến ngữi ngữi vào người em và nhiều người khác. Con chó không phát hiện gì nơi em cả. Lúc còn ở Dubai, nơi nhà ngủ, sau khi cho những viên nhựa vào ruột của em, anh cận vệ đã xịt vào toàn cơ thể em một chất gì đó mà anh nói những con chó sẽ không bao giờ phát hiện được những viên nhựa chứa bột màu trắng trong người em. Khi người nhân viên hải-quan Pháp ra dấu cho em đi qua khỏi mấy con chó, em nhìn thấy từ trong góc khu kiểm soát có một người... và em bỏ rớt cái túi xách trên tay, mừng quá, em gọi thật lớn:

 - Chú Jangi.

Người ấy chạy đến ôm em. Hai người cùng khóc. Trong nổi xúc-động nhận được người thân, em rùng mình, không kiểm-soát được toàn thân, những viên nhựa từ ruột em rơi xuống đất, lăn tròn quanh chân em. Những con chó cùng chạy đến ngồi bên chân em. Em lo sợ, run rẩy. Em được đưa vào một phòng riêng. Chú Jangi là em út của cha em, chú dạy học ở Kaboul. Thời gian quân Taliban kiểm soát một phần thủ-đô Kaboul, chú trốn thoát qua Iran...rồi vào Pháp xin tỵ-nạn hơn mười năm nay. Thỉnh-thoảng chú có về thăm bà con ở Kaboul, em không ngờ chú ấy làm việc ở đây.
***** 
Chỉ còn một tuần nữa các trường học sẽ mở cửa. Daryab đã được nhận cho học một trường gần nhà. Nhân cuối tuần, gia-đình bà Mina tổ chức một buổi ăn trưa ngoài trời, thịt cừu nướng, bánh mì...nước ngọt. Địa điểm được lựa chọn cho bửa ăn là khu đồi Fort de Stains gần khu chung cư chừng mười phút đi bộ. Đây là khu đồi nhân tạo, nguyên trước đây là một cổ thành, được lấp đất, trồng cây để biến thành đồi. Một phần của đồi là một dốc đứng nhìn về đường bay lên, xuống của phi-trường quốc-tế Charles-de-Gaulle. Mỗi người một tay chuẩn bị bữa ăn. Daryab nằm dưới bóng mát của một tàng cây lớn, mặt ngửa lên trời....Tôi đang chăm-chú luôn tay trở thịt trong lò nường...tôi bỗng nghe những tiếng kêu thảng thốt của bà Mina, của chồng bà, của con gái bà :

 - Daryab ! Daryab ! Daryab.....ngừng lại, ngừng lại...

Tôi nhìn thấy mọi người đang hiện-diện trên đồi đều chạy nhanh về hướng dốc đứng của đồi. Tôi cũng chạy nhanh về hương đó. Từ lưng chừng dốc, Daryab đang nằm  lịm giữa những bụi cây. Có một ai đó đã gọi báo cho cảnh-sát và nhân viên cứu hỏa....Tôi nghe tiêng khóc của bà Mina giữa đám đông..

Tôi vào bệnh-viện thăm Daryab. Theo lời bác sĩ điều-trị cho biết em rất may mắn không bị chấn thương nặng, một hai ngày sẽ được xuất viện Tôi hỏi em sự việc em rơi xuống đồi ngày hôm trước. Em im-lăng một lúc lâu như rồi em chậm-rãi kể:

 - Trưa hôm đó em ngồi nhìn lên thẳt trời rất đẹp. Màu xanh của bầu trời gợi nhớ cha mẹ và anh Nasim. Những ngày từ thủ-đô Kaboul về thăm ông bà nội ở vùng quê, gia đình em cũng hay có những bữa ăn trưa ngoài trời. Sau bữa ăn, tất cả mọi người  đều nằm nghỉ ngơi dưới một bóng cây râm mát, nguớc nhìn lên bầu trơi xanh trong. Mẹ thường nói một cách ngọt ngào: " Daryab của mẹ đã lấy hết màu trong  xanh của bầu trời vào đôi mắt của con rồi, không chừa một chút nào cho anh Nasim "

Cha em trả lời mẹ: "Nasim đã lấy hết màu nâu vàng của núi đồi, bãi cát của quê hương vào mắt rồi, có chừa chút nào cho em Daryab của nó đâu ! " Những lời nói êm ái yêu thương như dìu em lên khỏi mặt đất, em trôi nhẹ- nhàng trên những cỏ cây.  

Em mơ màng nghe từ xa như có tiếng u..u của gió lùa qua những đụn cát  nơi quê nhà. Rồi em thấy một chiếc máy bay hiện ra sau những ngọn cây. Em thấy cha em, em thấy mẹ em, em thấy anh Nasim của em từ trong chiếc máy bay đưa tay vẫy gọi. Em thấy lá cờ Afghan hiện ra trên thân chiếc máy bay. Em thấy người thân cùng bạn bè em reo vui đi dưới lá cờ của đất nước em... Rồi em thấy người em như đuợc nhẹ nâng cao lên khi chiếc máy bay bay qua. Dường như có một luồng gió mạnh cuốn em bay theo. Cánh cửa máy bay mở tung, em ngã vào vòng tay của cha mẹ và của anh Nasim. Em theo gia-đình trở về quê hương,  bay vào khoảng không mênh-mông...

*****
Một ngày rãnh-rỗi, tôi đã mượn quyển tự-điển Afghan-Français để tìm nghĩa của chữ Daryab....người ta giải thích là Giòng Sông....Tôi thầm nghĩ, một Giòng Sông đã chảy từ một nơi xa xôi đã đến đây, đã tạm ngừng chảy, nhưng không biết mai sau còn chảy thêm đến một nơi nào nữa đây ? !!!.

Giòng Sông dễ thương lạ lùng. Giòng Sông như vẫn chảy chầm chậm, mặt Sông ngữa nhìn trời. Bầu trời luôn hiện hữu để Giòng Sông nhìn thấy và trong bầu trời thấp  thoáng hình ảnh của quê nhà xa tắp mà Giòng Sông nhớ thương.

 Nguyễn-đại-Thuật
 Nngày 16/9/2019 Đồi Fort de Stains : 1874 - 1878 Ile de France
Người cha di chúc một đồng cho lòng hiếu thảo của con

Chỉ để lại cho con gái một đồng nhân dân tệ, mọi tài sản giá trị khác người cha Trung Quốc dành cho bà giúp việc cuối đời.

Gần đây, một người đàn ông ở Thượng Hải trước khi qua đời đã lập bản di chúc trong bệnh viện. Tài sản mà ông để lại cho con gái họ Ngô chỉ là một xu, phần còn lại của tài sản bao gồm nhiều bất động sản và khoản lương hưu tiết kiệm 800.000 tệ (tương đương 2,6 tỷ đồng) được dành cho người giúp việc cuối đời của mình - bà Trần. 

Người đàn ông này ly hôn vợ 50 năm trước. Để có quyền nuôi con, ông đã bỏ lại hết tài sản cho vợ cũ và mang con gái ra khỏi nhà, làm bố đơn thân.

Một mình nuôi con, ông chưa từng nghĩ tái hôn vì sợ con gái khổ. Những đêm thức trắng trông con ốm sốt tại bệnh viện, ông hiểu rằng, trên đời này con gái là quan trọng nhất. "Bố sẽ luôn dành tình yêu thương tuyệt đối cho con. Bố yêu con rất nhiều", người cha nói với con gái.
Ảnh: cnjiwang.

Lớn lên, cô con gái ngày càng xa rời cha mình. Đến khi cô lập gia đình thì càng thêm xa cách. Mỗi tuần cô chỉ gọi điện về hỏi thăm bố một lần, đến khi cô sinh con thì cuộc gọi chỉ được tính trên tháng. Người cha vẫn rất hạnh phúc mỗi khi nhận được lời hỏi thăm đầy tính thủ tục của con gái, dù cuộc hội thoại đôi khi chỉ là "Bố khỏe không? Bố khỏe là tốt rồi. Dạo này con bận lắm, thế thôi bố nhé...".

Sống cách nhà bố một tiếng đi xe nhưng một năm cô con gái chỉ đảo qua đôi ba lần. Khi người bố do tuổi cao sức yếu phải nằm viện, cô nói rằng công việc không cho phép và thuê bà Trần chăm sóc. Tất cả mọi việc như vệ sinh cá nhân, ăn uống, trò chuyện... những ngày cuối đời của ông chỉ có một mình bà Trần giúp đỡ.

Trong lá thư gửi con gái trước khi qua đời, người cha viết:

"Một mình cha cô đơn trong bệnh viện, nhìn những người nằm cạnh có con cháu đến thăm tới tấp mà lòng quặn đau, mong con gái quá. Con cũng quá giang được 2 lần vào thăm bố nhưng lần nào cũng vội. Mấy ngày sau thì cô Trần được cử đến làm bảo mẫu cho người cha già này. Trái tim bố đã khô héo vì cô đơn và bị con cái bỏ mặc, con gái ơi".

3 tháng kể từ ngày bà Trần được cử đến chăm sóc, người cha qua đời. Trước khi ra đi ông để lại di chúc với lời nhắn con: "Thời gian qua bố đã ngẫm ra được nhiều điều. Dù sao cũng cảm ơn con đã thuê cho bố được người bảo mẫu tốt. Tiền thuê nhà ở Thượng Hải quá đắt, bố quyết định để lại nhà cho cô Trần tốt bụng, tiền tiết kiệm của bố không nhiều nhưng đủ cho con lấy chồng và sinh con, giờ chỉ còn hơn 800.000 tệ lương hưu, để cho cô nốt vậy. Con à, lòng hiếu thảo của con chỉ đáng giá một tệ".

Câu chuyện này sau đó trở thành chủ đề được bàn tán rất nhiều tại quốc gia đông dân nhất thế giới, nơi tỷ lệ người già sống cô đơn ngày càng nhiều.

Nhiều người trẻ cho rằng, cách hành xử của người cha không đúng, bởi "nước mắt chảy xuôi", dù con cái thế nào thì cũng là con ruột mình, nên bỏ qua mọi chuyện mà chấp nhận thực tế. "Cô ấy cũng đã thuê bảo mẫu đến chăm sóc rồi. Nếu bỏ công việc để chăm sóc cha thì ai sẽ nuôi con cô ấy?", một độc giả bình luận.

Thế nhưng những người lớn tuổi lại có suy nghĩ khác. "Rồi những người trẻ sẽ làm bố mẹ. Nếu họ tiếp tục đối xử với bố mẹ mình như vậy thì tương lai họ cũng sẽ bị con cái mình đối xử như thế. Tiền không thể mua được lòng hiếu thảo, bảo mẫu chẳng bao giờ có thể thay thế được con cái", một người khác viết.

Trong khi đó, một người phụ nữ lớn tuổi khác lại kể câu chuyện của mình: "Tôi đã dành cả tuổi thanh xuân để nuôi đứa con trai khôn lớn. Khi lớn lên, tôi còn bán cả nhà của mình để giúp con định cư tại Mỹ và hy vọng được sang đó với con. Thế nhưng một ngày, con trai gửi cho tôi một lá thư kèm theo 30.000 đôla Mỹ. Trong thư nó viết rằng nó không muốn tôi sang Mỹ cùng, và nó cũng tính toán tiền mà tôi nuôi nó đến khi trưởng thành vào khoảng 20.000 đôla Mỹ. Giờ nó gửi thêm coi như tiền cám ơn và yêu cầu tôi đừng làm phiền nó nữa".

"Tôi bị trầm cảm một thời gian, nhưng sau đó tôi đã dùng số tiền đó đi du lịch thế giới. Sau chuyến đi đó tôi nhận ra rằng, lòng hiếu thảo của con cái đôi khi là ăn may, nhà được nhà không. Được thì may, còn không được thì buồn cũng chẳng giải quyết vấn đề gì. Quan trọng là làm mọi thứ để bản thân vui vẻ là được, vì cuộc sống này rất ngắn", người phụ nữ viết.

Hải Hiền (Theo cnjiwang)
Công dụng “trời ban” của oxy già(hydrogen peroxide)

Ngoài tác dụng sát trùng vết thương, oxy già còn được sử dụng như một mỹ phẩm tuyệt vời. 12 ứng dụng này sẽ là gợi ý tuyệt vời cho bạn, đặc biệt là chị em phụ nữ.

Oxy già (H2O2) đóng vài trò quan trọng trong cơ chế miễn dịch của cơ thể. Nó được sản sinh trong các túi lysosome của tế bào bạch cầu và có tác dụng diệt các vi khuẩn xâm nhập từ bên ngoài vào cơ thể thông qua cơ chế thực bào (phagocytosis).

Hiện tượng này được phát minh bởi nhà miễn dịch học người Nga Metchnikoff năm 1882 và được trao giải thưởng Nobel y học năm 1908.

Vì có khả năng oxy hóa và diệt khuẩn rất mạnh nên trong thực tế nó được dùng để sát khuẩn vết thương, chất tẩy rửa - làm trắng và rất nhiều công dụng khác nữa. Dưới đây là 12 công dụng tuyệt vời của oxy già mà chị em phụ nữ nhất định phải biết.

1. Trị mụn trứng cá
Oxy già có tính kháng khuẩn và có thể làm dịu rất nhanh các mụn trứng cá đang sưng tấy. lấy đầu tăm bông sạch chấm vào dung dịch oxy già sau đó bôi trực tiếp nên những mụn trứng cá. Tránh không bôi sang vùng da lành vì oxy già có tính kích ứng da mạnh.

Nếu bạn bị mụn trứng cá tái đi tái lại thì có thể thực hiện các như sau: Bạn hãy hòa khoảng nửa chén oxy già với 1 lít nước lọc. Sau đó dùng hỗn hợp này để rửa mặt như bình thường. Chỉ sau 1 - 2 tuần tùy loại da, bạn sẽ thấy mụn xẹp dần và biến mất hẳn, làn da sẽ mịn màng trở lại

2. Súc miệng và làm trắng răng an toàn
Sử dụng dung dịch nước oxy già pha loãng theo tỷ lệ 1:1 để làm dung dịch súc miệng sau khi đánh răng sẽ làm cho răng trắng bóng dần.

Trong trường hợp bạn bị sâu răng hoặc bị vết loét hay nhiễm khuẩn trong khoang miệng. Bạn nên sử dụng dung dịch này súc miệng để chống nhiễm khuẩn nặng hơn.

3. Tắm thải độc tố
Trộn khoảng 8 chén oxy già vào nước bồn tắm và ngâm mình ít nhất 30 phút sẽ giúp cơ thể giải độc rất tốt và giúp cho làn da khỏe mạnh hơn.

4. Ngâm chân
Ngâm chân vào chậu nước ấm với oxy già. Cách làm này không chỉ giúp khử sạch vi khuẩn gây mùi hôi bám vào chân sau một ngày đeo giày mà còn làm mềm da, giúp dễ dàng lấy đi phần da chết và cả vệ sinh móng rất hiệu quả. Ngoài ra ngâm chân vào buổi tối còn có tác dụng làm cho giấc ngủ ngon hơn.

5. Giữ màu tóc nhuộm bóng tự nhiên
Trộn nước oxy già với nước theo tỷ lệ ngang nhau và xịt vào tóc sau khi tắm gội. Phương pháp này giúp mái tóc bạn giữ được màu nhuộm bền và rất tự nhiên. Bạn sẽ không tốn kém khi phải ra hiệu làm tóc thường xuyên.

6. Sử dụng oxy già trên mặt bàn và mặt thớt
Mặt bàn hay bất cứ bề mặt nào làm bằng gỗ đều là môi trường lý tưởng cho vi sinh vật phát triển đặc biệt trong môi trường khí hậu nhiệt đới như tại Việt Nam. Salmonella là một ví dụ phổ biến vì nó có thể tồn tại trong thịt sống ngoài chợ khi mua về chế biến.

Chỉ cần xịt lên các bề mặt như bàn và thớt với dung dịch oxy già 3% lưu lai trong khoảng 1 phút, sau đó lau sạch là có thể tiêu diệt được phần lớn các vi khuẩn.

7. Ngâm rửa rau quả
Hoa quả và rau củ mua ngoài chợ với rất nhiều nguy cơ nhiễm bẩn như nhiễm các sinh vật và hóa chất tác đông xấu tới sức khỏe của bạn.

Để loại bỏ chúng, trộn ½ ly nước oxy già với một chậu nước sạch, sau đó ngâm vài phút và rửa lại bằng nước sạch.

8. Kiểm soát nấm mốc tủ lạnh và rửa bồn rửa bát đĩa
Chúng ta thường xuyên sử dụng tủ lạnh và bồn rửa bát để dự trữ hoặc rửa thức ăn và các dụng cụ đồ bếp khác. Chúng có thể tích lũy nấm mốc và hàng nghìn vi sinh vật khác nhau vì vậy chúng ta nên định kỳ lau và xịt nước oxy già. Sau mỗi lần xịt để khoảng vài phút và lau sạch lại bằng khăn sạch.

9. Tấm bọt biển rửa bát đĩa
Ngâm tấm bọt biển rử bát này trong dung dịch nước oxy già với tỷ lệ 50% trong vài phút thì gần như tất cả các vi sinh vật sẽ không còn cơ hội sống sót để lây nhiễm bát đĩa và các dụng cụ đồ bếp khác.

10. Tẩy trắng quần áo và thảm nhà
Nước oxy già có khả năng tuyệt vời tẩy sạch chất nhơ bẩn bám dính trên quần áo trắng. Cho một cốc nước oxy già cùng với xà phòng giặt vào máy giặt và giặt như bình thường.

Để loại bỏ các vết máu trên thảm hoặc lụa, chỉ cần đổ nước oxy già trên những vết bẩn trong khoảng 1-2 phút hoặc làm như vậy sau khi đã giặt bằng nước lạnh. Vết bẩn sẽ nhanh chóng biến mất.

11. Diệt bọ chét, bọ rận tại các khe kẽ giường chiếu
Các loại bọ nhỏ bé tại khe kẽ giường chiếu hay những nơi khe kẽ khó vệ sinh. Xịt nước oxy già vào bất cứ các khu vực mà bạn nghĩ là có những sinh vật này.

12. Cứu cây cảnh sắp chết
Hầu hết các chị em phụ nữ đều yêu thích trồng hoa và cây cảnh trong nhà. Nếu cây cảnh, hoa cảnh trồng trong nhà bạn không khỏe mạnh, xanh tươi. Bạn hãy pha loãng nước oxy già với nước sạch theo tỷ lệ 1/32 rồi tưới cho cây. Nó sẽ thúc đẩy rễ cây phát triển khỏe mạnh và xanh tốt trở lại.

*Theo Steptohealth

Thursday, September 19, 2019

Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân & Mặt Trận Phan Rang

 

Bốn mươi năm nhìn lại ngày Phan Rang thất thủ, tôi lại nhớ một khuôn mặt tướng lãnh cựu tư lệnh sư đoàn 6 không quân (bản doanh đóng tại Pleiku), người đã bị địch bắt tại chiến trường, bị đem ra Bắc và trở thành người tù có thâm niên cao nhất (17 năm).

Trong số các sĩ quan bị trả thù sau cuộc chiến, ông là người vào tù sớm nhất (16-4-75) và ra trại trễ nhất (11-2-92). Thân tàn lực kiệt ông sống thêm được 10 năm và mất tại Quận Cam năm 2002. Trước khi mất ông dồn sức cố viết một hồi ức về trận đánh Phan Rang và làm một điều chẳng ai bắt ông phải làm là tỏ lời cáo lỗI cùng đồng bào qua mấy dòng bi tráng, Tôi cảm nhận rất có tội với đồng bào, vì làm tướng mà không giữ được thành.

Nói đến quân chủng Không quân người ta nhắc nhiều đến những khuôn mặt vừa hào hoa vừa gan dạ, lấy không gian làm nhà, lấy nghiệp bay làm lẽ sống, và trong hàng tư lệnh mang sao đã có hai ông một thời làm tới Phó tổng thống và một ông làm tư lệnh cảnh sát đã tự tay bắn chết tên VC trong tết Mậu thân (mà sau này hãng CNN đã chọn là một trong số 100 sự kiện nổi bật của…thế kỷ 20!).

Nhưng dư luận và báo chí ít chú ý đến vị tướng gốc Nam Kỳ này, tên ông chỉ được nhắc khi được đề bạt làm tư lệnh một sư đoàn sau chót của không quân mới thành lập cuối năm 1972 nhằm yểm trợ cho chiến trường cao nguyên và trở thành bại tướng khi Phượng Hoàng (danh xưng chỉ huy của ông) gãy cánh tại Phan Rang hai tuần trước ngày mất nước.

Ngược dòng tiểu sử ít ai biết tướng Phạm Ngọc Sang, người đã có gần 25 năm quân vụ, nguyên xuất thân là một sĩ quan bộ binh (khóa 1 Thủ Đức), sau được tuyển sang không quân du học tại Pháp, trở thành một phi công chuyên lái vận tải. Nhờ tài năng và tác phong gương mẫu, ông được tin cậy và là một trong ba người được chọn lái riêng cho tổng thống Diệm. Sau 63 trả về không quân ông tiếp tục bay và có thời đã làm Chỉ huy trưởng trung tâm đào tạo phi công tại Nha trang. Ông cũng là chánh võ phòng cho tướng Kỳ khi ông này làm chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương.

Trước khi vào quân ngũ ông cũng từng là nhà giáo, có kiến thức văn hóa, song hành với nghiệp bay, ông là sĩ quan cấp tá duy nhất tốt nghiệp các khóa quân sự về chỉ huy tham mưu và quốc phòng nổi tiếng của Việt nam và Hoa kỳ, đáng kể là khóa cao đẳng quốc phòng (VN), chỉ huy tham mưu cao cấp tại Leavenworth (Kansas) và quản trị quốc phòng tại trường đào tạo hậu đại học của Hải quân Mỹ tại Monterey (California).

Cứ dựa vào thâm niên và tài năng ông xứng đáng trở thành Tư lệnh của quân chủng, nhưng vốn không có tham vọng, lại khiêm tốn, không phe cánh, mãi đến 1972 mới lên tư lệnh và được thăng một sao một năm trước ngày gãy cánh. Cũng năm này được tuyên dương trước toàn quân với Anh dũng bội tinh kèm nhành dương liễu về công trạng yểm trợ không lực hữu hiệu cho chiến trường cao nguyên.

Là người hay viết về chân dung tướng lãnh của Quân lực VNCH khi các vị nằm xuống, tôi hụt viết về chuẩn tướng Sang khi ông từ giã bạn bè và người thân vì ngày ấy tôi chưa quay lại làng văn làng báo. Nhưng cũng may tôi có dịp gặp ông hai lần trớ trêu thay trong cùng cảnh tù của một trại giam hắc ám nhất miền Bắc, trại Nam hà, rồi khi ra hải ngoại lại có dịp được biết thêm về ông qua các sĩ quan thuộc cấp đã gần gũi ông tại Pleiku và những tháng ngày cuối cùng trước ngày Sài gòn tắt thở.

Viết về ông hơi khó vì bản thân ông không thích người khác ca ngợi mình, lại càng kín tiếng vì không thích chuyện chính trị, ông là một mẫu quân nhân thuần túy, dù là một phi công mang tiếng hào hoa nhưng cá nhân lại hết mực nghiêm túc, trọng quân phong quân ký, có thể vì gốc nhà giáo và luôn tỏ ra gương mẫu trong nếp chỉ huy của quân trường, nơi một lần ông đã uốn nắn các sinh viên sĩ quan theo đuổi nghiệp bay cả về kỹ thuật lẫn tác phong.

Tôi nhớ lần lén gặp ông trong khu biệt giam tướng lãnh, khó ai ngờ ông là tướng một sao, cảm tưởng nhìn ông cặm cụi tưới mảng rau thơm và rau cải để tự cải thiện trong một khu đất khép kín của trại tù, người ta hình dung giống như một ông giáo già người Nam bộ đang chăm sóc mảnh vườn nhà èo uột dưới quê.

Nhưng bên trong con người này là một nhân cách đáng kính, lầm lỳ ít nói, ngay cả khi địch bắt cũng chẳng khai thác được gì, bảo lên đài nói để kêu gọi binh sĩ ta đầu hàng buông súng ông không chịu làm, bảo thành khẩn khai báo quá trình bản thân để sớm được tha ông vẫn an nhiên tự tại, ông không dại gì mà chống khi cánh bay đã gãy, nhưng phía cán bộ địch vận ở trung ương và quản lý trại giam nơi nhốt ông, họ biết người này khó mà chiêu hồi, cải tạo, có thể vì vậy mà khi trại giam tù cải tạo cuối cùng trên đất Bắc đóng cửa, người ta đem ông về Nam để nhốt thêm. Ông là người cuối cùng ra khỏi trại giam sau 17 năm, chính thức khai tử cái chính sách khoan hồng mà cộng sản rêu rao dành cho những kẻ cựu thù của chúng.

Trở lại những ngày cao nguyên di tản, ông là nhân chứng đầu tiên ngoài tướng Nguyễn Văn Phú, người nhận lệnh từ tổng thống Thiệu. Ông vẫn hận về cái lệnh quái đản bằng miệng từ người tổng tư lệnh cho một tư lệnh quân đoàn qua đường điện thoại (từ Khánh Hòa Nha Trang), áp đặt một quyết định sinh tử cho việc tháo lui bỏ ngỏ một vùng cao nguyên chiến lược mà chính người thi hành chỉ có không đầy… 72 tiếng đồng hồ để sắp xếp!

Ông vẫn còn nhớ như in trong cuộc họp tham mưu tại văn phòng tướng Phú, cú điện thoại gần như độc thoại từ đầu dây bên kia và phía đầu dây bên này chỉ có những độc âm…dạ, dạ, dạ,…rồi ngưng, không kịp để phát thêm một lời xin giải thích và nhu cầu thời gian cho một cuộc di tản chiến thuật vô tiền khoáng hậu. Mặt buồn như người đưa đám, người tư lệnh cấp cao hơn ông chỉ đạo các đơn vị tự lo lấy phương tiện chuẩn bị băng qua con lộ 7, mà mấy ngày sau thành tử lộ trên đường rút về Tuy hòa, một thị trấn gần Nha Trang, nơi chưa đầy một tuần trước ông Thiệu và đoàn tùy tùng có cả đại tướng Cao Văn Viên đã có mặt tại đây.

Chưa đầy một tháng sau, bản đồ miền Nam được vẽ lại, Phan Rang trở thành tuyến đầu của lãnh thổ cộng hòa. Tướng Thiệu cho gom góp các đơn vị vừa tản hàng sau cuộc di tản, từ cao nguyên đổ về, từ miền Trung dạt xuống, bằng mọi giá phải bảo vệ thị trấn này cũng là hometown của ông, không để cho Bắc Việt lấn chiếm thêm. Từ đây, tướng Sang thêm một nhiệm vụ mới, làm phụ tá cho tướng ba sao Nguyễn Vĩnh Nghi, một cựu tư lệnh đồng bằng sông Cửu đang bị thất sủng nên chịu giữ chức tư lệnh tiền phương phòng thủ Phan Rang.

Có một giai thoại là tại mặt trận tiền phương, tướng Nghi đã chỉ định tướng Sang đặt bộ chỉ huy trên không để dề bề điều động phối hợp, nhưng ông đã nói đùa, tướng 3 sao dưới đất, tướng 1 sao trên trời coi sao tiện, ông đã xin cùng ngồi ở bộ chỉ huy đóng gần phi trường, để rồi cùng số phận ít ngày sau khi Phan Rang thất thủ cả hai ông trở thành tù binh có cấp bậc cao nhất bị bắt tại chiến trường. Một thuộc cấp cũng là bạn của tôi thuật lại nếu Phượng Hoàng cứ ở trên không thì chiếc vận tải biết đâu đã quay hướng Sài gòn và số phận của mấy thầy trò đã có ngả rẽ khác.

Viết lại về ông điều đáng nói không phải muốn đề cao một khuôn mặt từng được kính nể cả về tài năng lẫn phẩm chất, cái đáng phục dù không được nhắc nhớ như năm vị tướng đã chết theo thành, nhưng Phuợng Hoàng khi gãy cánh đã trả giá bằng những tháng năm tù đầy gian khổ qua các trại giam của kẻ thù từ Bắc vào Nam, rồi trước khi về cõi đã dũng cảm nhìn lại bằng tri nhớ của mình và nhờ các thuộc cấp bổ sung, ông đã viết được một tài liệu mang tính hồi ức thuật lại trận đánh Phan Rang mà những chi tiết có thể dùng làm tư liệu cho người viết quân sử.

Theo dư luận chung ông chẳng có lỗi gì, trái lại đã làm hết sức mình trước tình hình vận nước đã đến hồi mạt vận, dù ông đã tự thân xin lỗi đồng bào vì đã để mất Phan Rang. Các đồng đội vẫn tự hào khi nhìn lại thấy Thầy mình sống chết có nhau, hơn nhiều kẻ chóp bu đã bỏ thành trước giờ tàn cuộc.

Mọi sự đã thuộc về lịch sử, thắng thua để các người sau phân giải. Bên thắng cuộc họ mới kỷ niệm ầm ỹ 40 năm Sài gòn mất tên, nhưng cảnh đói nghèo tụt hậu vẫn còn là vết thương nhức nhối của một quê hương tan nát.

Tôi mượn lời của các thuộc cấp trong lễ truy niệm với đầy đủ lễ nghi quân cách trong ngày tiễn ông ra đi, “Thôi thì, ân đất nước đã đền, nghĩa đồng bào đã trả, xin Tướng quân thanh thản ra đi”. Chúng tôi, những người lính không cùng quân chủng, với lòng quí mến của các cựu tù xin Phượng Hoàng cứ yên nghỉ ngàn thu.

Viết tại quận Cam
Đỗ Xuân Tê

o0o


Mặt Trận Phan Rang
Nhớ lại suốt hạ tuần tháng 3 năm 1975, sau khi có lệnh bỏ Huế và Đà Nẳng, các đơn vị ta cứ lần lượt tháo lui, làm các tỉnh thành, quận lỵ phải rút theo, tạo ra cảnh đỗ vở tan thương cho không biết nhiêu gia đình quân nhân cũng như dân chính. Tốc độ rút lui nhanh hơn tốc độ truy đuổi. Các đơn vị VC đến tiếp thu, không bị đánh chận, nên cứ ung dung tiến văo thành phố đã bị bỏ ngỏ. Đến khi vào tiếp thu Nha Trang, chúng vẫn cứ tin rằng Phan Rang cũng đã bỏ chạy, nên tiếp tục cho các toán tiền thám cứ tiến vào. Ngạc nhiên, và cũng là lần đầu tiên bị ngăn chận trước khi đến Phan Rang, chúng bèn tháo lui về hướng Bắc, vào ẩn nấp trong vùng Ba Ngòi chờ viện binh. Mãi đến ngày 16.4.1975, khi tung ra toàn lực áp đảo, chúng mới vào được Phan Rang.
Vào thời điểm các đại đơn vị ta rút lui, mà không có một sự kháng cự đáng kể nào để làm khó khăn và thiệt hại cho đối phương, thì căn cứ Phan Rang đã anh dũng chống cự, và đã làm thiệt hại đáng kể cho quân đội chánh quy Bắc Việt. Chiến trận tại Phan Rang có thể chia ra làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhứt: từ ngày 1 đến 3.4.1975, là giai đoạn hình thành tuyến phòng thủ, với Sư đoàn 6 Không quân và Tiểu đoàn 5 Dù thuộc Lữ đoàn 3 Dù cùng một số đơn vị địa phương quân còn lại.
Sư đoàn 6 Không quân gồm:
- 3 Phi đoàn A-37, 524, 534, 548
- 1 Phi đội A-1
- 2 Phi đội tản thuơng 259 B và 259 C
- 2 Phi đoàn Trực thăng 229 và 235
Lữ đoàn 3 Dù gồm:
- Bộ chỉ huy
- Tiểu đoàn 5
Giai đoạn thứ hai: từ ngày 4 đến 12.4.1975, là giai đoạn củng cố tuyến phòng thủ, với sự thành lập Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 3, với Lữ đoàn 2 Dù. Đây là thời gian đem đến ít nhiều lạc quan trong việc ổn định tình hình sau nhiều ngày xáo trộn. Một số đơn vị nhỏ của địch đã hoàn toàn bị đẩy lui khỏi đèo Du Long rút về ém quân tại khu Vườn Dừa, Cam Lâm đợi tăng viện.
Lữ đoàn 2 Dù gồm:
- 3 Tiểu đoàn 3, 7, 11
- 1 Tiểu đoàn Pháo binh
- Các đại đội Trinh sát, Công binh, Quân y, Truyền tin, Yểm trợ Tiếp vận
Giai đoạn thứ ba: từ 13 đến 16,4.1975, là giai đoạn của trận chiến quyết định, với các đơn vị gồm:
Liên đoàn 31 Biệt động quân gồm:
- 3 Tiểu đoàn 31, 36 và 52.

Tăng cường cho Bộ Tư Lệnh Tiền phương:
- Toán Thám sát / Nha Kỷ thuật

Sư đoàn 2 Bộ binh gồm:
- 2 Trung đoàn 4 và 5
- 2 Pháo đội gồm 10 khẩu 105 ly
- 2 Chi đội Thiết Vận Xa gồm 10 chiếc

Lực lượng Hải quân gồm:
- Duyên đoàn 27
- 2 Khu trục hạm
- 1 Giang pháo hạm
- 1 Hải vận hạm và một số tàu yểm trợ
Trong 2 ngày 13 và 14, Lữ đoàn 2 Dù được lịnh rút về Saigon. Liên đoàn 31 Biệt động quân và Sư đoàn 2 Bộ binh ra thay. Vừa thay quân vừa chiến đấu, và phòng tuyến Phan Rang bị tràn ngập vào trưa ngày 16.4.1975, bởi 2 sư đoàn VC 325 và 3 Sao vàng, cùng với các đơn vị của Đoàn 968 VC. Trong ngày 14.4.1975, ngoài Duyên đoàn 27 đã có mặt tại Phan Rang, Hải quân Saigon tăng cường khẩn cấp 2 Khu trục hạm, 1 Giang pháo hạm, 1 Hải vận hạm cùng một số tàu yểm trợ.
Lực lượng địch:
Theo tù binh thuộc Đoàn Hậu cần 57 địch bị bắt tại đèo Du Long ngày 9.4.1975, các cấp chỉ huy địch ngở Phan Rang đã bỏ chạy, nên tiếp tục cho các bộ phận truy đuổi, cứ yên tâm tiến vào tiếp thu. Bị đánh đuổi, chúng lui về lẫn trốn vùng Vườn Dừa, Ba Ngòi chờ đại quân của 2 Sư đoăn 3 và 325 VC từ phía Bắc đến. Các nhóm du kích vẫn hoạt động gần phi trường. Đoàn 968 VC vừa ghi nhận có mặt. (xác nhận bởi Đại tá Nguyễn Thu Lương và Trung Tá Phạm Bá Mạo khi bị đơn vị nầy bắt tại mặt trận.)
I. HÌNH THÀNH TUYẾN PHÒNG THỦ
Kể từ ngày 1.4.1975, sau khi Nha Trang bỏ ngỏ, căn cứ Phan Rang đương nhiên trở thành căn cứ tiền tuyến của Miền Nam. Buổi tối cùng ngày, Trung tá Lê Văn Phát, Lử đoàn trưởng Lử Đoàn 3 Dù cùng Bộ chỉ huy Lữ đoàn và một phần của Tiểu đoàn 5, trên đường rút từ Khánh Dương xin vào để chờ phi cơ về Saigon. Căn cứ tôi lúc bấy giờ rất là trống trải, vì một số lớn quân nhân Địa Phương Quđn canh gác vòng đai đã bỏ nhiệm vụ. Trong căn cứ, một số quân nhân trẻ nổ súng loạn xạ vì lo sợ vu vơ. Ngoài thị xả, Tỉnh trưởng đã rời nhiệm sở, dân chúng thì ngơ ngác, phân vân. Trên quốc lộ 1 và 11 hướng về Saigon, từng đoàn xe dân sự và quân sự chật nứt người rầm rộ tiếp nối nhau chạy giặc. Tệ hại hơn nửa là Đà Lạt cũng bỏ chạy, và đoàn xe của Trường Võ Bị Đà Lạt đang theo Quốc lộ 11 trên đường đi Bình Tuy cũng vừa chạy ngang căn cứ. Lúc nầy thực sự, căn cứ tôi đang trở thành tiền đồn và đang ở trong tình trạng hết sức cô đơn.
Chuẩn bị tìm phương kế giữ an toàn, tôi chỉ thị hạn chế sự ra vào căn cứ để tránh xáo trộn do toán người tháo chạy mang đến. Vì vậy nên khi nghe có đơn vị Dù xin vào căn cứ, tôi liền hỏi xin lệnh Bộ Tư Lệnh KQ. Được biết đó là do Bộ Tư Lệnh Dù yêu cầu để Lử đoăn III được văo căn cứ như đơn vị tăng phái phối hợp phòng thủ, tôi mới thuận cho đoàn quân của Trung tá Phát vào phi trường. Thật là đúng lúc cần thiết và tôi rất bằng lòng có thêm người để giử an toàn cho căn cứ hiện trong tình trạng bỏ ngỏ. Tôi phối họp ngay với Trung tá Phát để phối trí việc phòng thủ căn cứ với Không đoàn Yểm Cứ của Trung tá Phạm Bá Mạo và Trung tá Nguyễn Văn Thiệt vì căn cứ mênh mông với vòng đai hình vuông mỗi cạnh 6 km, mà Liên đoàn Phòng Thủ chỉ có khả năng phụ trách canh gác vòng đai gần mà thôi. Dù muốn dù không, căn cứ không quân Phan Rang đã trở thành tiền đồn của Miền Nam mà tôi đang là người có nhiệm vụ phải chống giữ. Tôi chỉ thị Trung tá Diệp ngọc Châu Phụ tá Nhân Huấn phải theo dỏi sát vấn đề nhân viên, để đừng xảy ra tình trạng bung chạy, vì quá hoang mang, giao động trước việc, có thể chiến đấu như bộ binh.
Trung tá Phát xử dụng Đại đội Trinh sát Dù, bung ra kiểm tra nội vi căn cứ và đánh đuổi một vài tên du kích mon men vào Đồn Đại Hàn gần cổng số 2 của căn cứ. Về phần Không quân, câc cấp phi hành và kỷ thuật đê am hiểu tình hình mới, chấp nhận thực trạng và hết mình nổ lực chiến đấu vì nhu cầu phòng thủ.
Vào buổi chiều, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 ghé căn cứ thăm hỏi tình hình. Sáng hôm sau, rời căn cứ bay về Saigon.

Ngày 2.4.1975, Saigon tăng cường một đơn vị Dù. Trung tá Phát liền xử dụng để kiện toàn an ninh cho phi trường và phối hợp với các đơn vị Địa phương quân trong việc giữ an ninh cho thị xả.

Lúc 2 giờ chiều, tôi bay xuống Phan Thiết đón Trung tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh Quân đoàn 3. Khi gặp tôi, ông nói sở dĩ muốn gặp tôi tại Phan Thiết là để xác nhận sự hiện hữu của Phan Rang, mà giờ nầy lẻ ra cũng đã bỏ chạy như Nha Trang và Cam Ranh rồi. Sau khi nghe tôi thuyết trình tình hình, Trung tướng Toàn nói:” kể từ buổi thị sát nầy, Phan Rang sát nhập vào Quân đoàn III, trở thành cứ điểm cực Bắc của quân đoàn.”

Cùng ngày tôi nhận được lệnh Bộ tổng tham mưu chỉ định tôi phụ trách bảo vệ Phan Rang.

Ngày 3.4.1975, TĐ5 Dù để tạm kiểm soát các khu vực cạnh thị xã và nội vi phi trường. Từ Ba Râu đến Thị xã, dân chúng bớt hoảng sợ mặc dầu sanh hoạt vẫn còn rụt rè. Trong căn cứ Không đoàn Yểm Cứ đã chấn chỉnh an ninh nội bộ khiến cho căn cứ lần lần lấy lại sanh hoạt bình thường.

Đại tá Lê văn Thảo Không đoàn trưởng Không Đoàn 92 Chiến Thuật với 3 phi đoàn A-37, 524 Thiên Lôi, 534 Kim Ngưu và 548 Ó Đen. đã sát cánh cùng đoàn viên xuất kích đêm ngày rất hữu hiệu.

Trung tá Lê Văn Bút Không đoàn trưởng Không Đoàn 72 Chiến Thuật với 2 phi đoàn trực thăng 229 và 235, 1 phi đoàn Quan sát 118 và một bộ phận của Phi đoàn 530 A-1 với Phi đội tản thương 259 C, đã bay thi hành nhiều công tác khó khăn nguy hiễm.

Trung tá Đổ hữu Sung và đoàn kỷ thuật gan dạ, chu toàn mọi công tác sửa chửa và trang bị dưới làn pháo kích ngày đêm của địch.

Theo tin tức của các quân nhân ta từ các nơi ghé xin phương tiện về Saigon, thì VC đang xuất hiện ở Vườn Dừa, Ba Ngòi. Tôi liền cho phi cơ quan sát bao vùng và chỉ điểm cho phi cơ A-37 đánh phá.

Cộng thêm các khó khăn, việc tiếp tế nhiên liệu đang gặp trở ngại vì xe bồn không cung cấp như bình thường, bởi cảng Cam Ranh đã bị địch chiếm. Vì vậy hàng ngày, tôi phải nhận tiếp tế từ Saigon bằng phi cơ C-130, một số lượng nhiên liệu tối thiểu cho hành quđn mà thôi.

Để tránh hổn loạn khi bị pháo kích dồn dập, tôi cũng phải cho nửa số phi cơ về trú đêm ở Saigon, để sáng hôm sau trở ra với đầy nhiên liệu.

Trong ngày, khi biết có tàu Mỹ đang lảng vảng ngoài vịnh Phan Rang để chở một số người, tôi liền cử Trung tá Lý Văn Bút dùng trực thăng đáp trên một trong những tàu đó để chào hỏi và cho biết hiện tình ở Phan Rang. Tiếp đón và trả lời những điều muốn biết trong lối 1/2 giờ, Hạm trưởng thúc giục Trung tá Bút rời tàu. Xuyên qua lời trình thuật của Trung tá Bút, tôi đê hiểu rỏ ràng là trong cấp thời, Mỹ không còn có ý định dính líu gì nửa đến cuộc chiến đang diễn tiến hiện nay.
II – BỘ TƯ LỆNH TIỀN PHƯƠNG
Phan Rang nằm vào phía Nam của một thung lủng hẹp bao bọc bởi các dải núi về hướng Tây, Bắc và Đông Bắc, có các cao điểm và đèo Du Long rất thuận tiện cho việc phòng ngự. Ngày đêm phi cơ trong căn cứ liên tục quan sát bao vùng và oanh tạc ngay các mục tiêu bị phát hiện. Các đơn vị VC đã tiến quá xa với hậu tuyến của họ. Họ chỉ mới tiếp thu Nha Trang và Cam Ranh. Với mức độ hành quân 10 cây số ngày hoặc gia tăng với phương tiện chiếm được thì không thể tập trung tấn công ngay được. Có thể có những phần tử lẻ tẻ đã xâm nhập và đang ém quân, nhưng ngoài ra Phan Rang chưa có nguy cơ bị tấn công ngay bởi quân chánh quy. Muốn tấn công, có thể chỉ có từ 2 hướng: Một là từ hướng Bắc, theo QL 1 tiến qua đèo Du Long thẳng vào thị xả và hai là từ hướng Tây tấn công từ Khrông Pha qua Tân Mỹ hướng về thị xả Phan Rang. Ngoài ra còn có một ít đường mòn từ Vườn Dừa, Ba Ngòi chạy theo hướng Nam Tây Nam sát căn cứ KQ hướng về Tân Mỹ có thể chọn để xâm nhập được. Trong lần bay quan sát chiều ngày 14.4.75, tôi thấy một vài thiết vận xa địch trên những đường mòn nầy vào hướng Tây Bắc của căn cứ, cách khoảng 8 km. (Đương nhiên, khi bị phát hiện, chúng đều lẫn trốn trước khi bị oanh tạc.)
Thị xã và Phi trường Phan Rang nằm vào phần Nam của cái thung lũng đó. Quốc lộ 1 và đường xe lửa chạy song song xuyên qua đèo Du long về thị xả, tách ra tại Thôn Ba Râu, chạy sát phi trường rồi tiến về Nam không qua thị xã. Từ thị xã đến Du Long khoảng 15 km với Ba Râu khoảng 9 km và với Că Đú khoảng 4 km. Từ Cà Đú đến thị xã, mặt đất bằng phẳng.

Phi trường Phan Rang rất rộng, hình vuông, mỗi cạnh trên dưới 6 km, nằm giữa QL 1 và QL 11 và sát với đường xe lửa về hướng Đông, cách thị xả 5km và Nha Trang khoảng 80km. Có 2 đường bay song song, 1 bằng xi măng cốt sắt vă 1 bằng vĩ nhôm dài 10.000 bộ, rộng 150 bộ. Có đầy đủ cơ sở cho kỷ thuật, tiếp liệu với các bồn xăng và kho bom theo tiêu chuẩn an ninh tối tân. Việc phòng thủ bao gồm 60 chòi gác, với 2 cổng chung quanh căn cứ do 7 đại đội Địa phương quân phụ trâch.
Ngày 4.4.1975, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi chánh thức đến Phan Rang cùng với toán truyền tin và chuyên viên, nhận trách nhiệm phòng thủ Phan Rang, và thiết lập Bộ chỉ huy Tiền Phương trong Căn cứ của Sư đoàn 6 Không quân, nằm vào lối 5km Bắc Tây Bắc của Thị xã Phan Rang. Ông cho biết là đã được Thượng cấp chấp thuận gởi ra một số đơn vị chưa bị ảnh hưởng của việc rút quân để giữ Phan Rang. Bởi tin tưởng vào lời hứa hẹn nầy, nên Ông rất vui lòng đảm nhận chức vụ.

Vì địa thế của Phan Rang có nhiều thuận lợi cho việc phòng thủ, nên Trung tướng Nghi quan niệm:

Phải chống giữ mặt Bắc từ Quận Du Long, mặt Tây từ Quận Tân Mỹ và phải giữ an toàn cho căn cứ Không quân, cũng như giữ an ninh cho Thị xả phối họp với một số đơn vị Địa phương quđn còn lại.”

Theo quan niệm đó, Trung tướng Nghi thảo ra kế hoạch phòng thủ Phan Rang với một lực lượng cở 2 sư đoàn mới có thể trong tạm thời phòng thủ được. Đó là:

Mặt Bắc, trên Quốc lộ 1 trấn giữ các điểm cao tại đèo Du long với một dải chiến tuyến hùng hậu tại Du Long cùng các tuyến phụ tại Ba Râu và Ba Tháp để ngăn chận mọi cuộc tấn công hướng vào thị xả hoặc vào căn cứ.

Mặt phía Tây, trín Quốc lộ 11, án ngữ tại vùng Tân Mỹ, một chiến tuyến để chận địch và bảo vệ mặt Tây và Nam của phi trường.

Bảo vệ an ninh cho thị xả và phi trường do các đơn vị chánh quy phối hợp với Địa phương quân phụ trách.

Ngày 5.4.1975. Trong ngày, thỉnh thoảng vẫn có vài quân nhân Không quân thất lạc trình diện xin phương tiện về Saigon và luôn xác nhận là vẫn có một số VC xuất hiện ở Vườn Dừa, Ba Ngòi. Chúng nói vì có quân Dù của ta ở phía trước nên chúng còn nấp chờ chi viện.

Ngoài ra Tướng Times, phụ trách an ninh cho Tòa Đại sứ Mỹ, đến thăm và nói sẽ sắp xếp cho người của ông thường xuyên ở lại đây, để chuyển tin ngay về tòa đại sứ.

Trong mấy ngày qua, tôi đã điều hành công việc như là cấp có trách nhiệm ở Phan Rang, ngoài trách vụ chuyên môn là phụ trách Sư đoàn 6 KQ. Vô tình tôi đã biến căn cứ Không quân Phan Rang thành một cứ điểm phòng thủ tiền tiêu của cuộc chiến tranh rất phức tạp nầy.

Ngày 6.4.1975, trong ngày, sinh hoạt trong căn cứ không quân đã có sự bình thường và các phi vụ đều được thi hành như thông lệ. Thêm một số quân nhân của 7 Đại đội Địa phương quân phụ trách canh gác vòng ngoài phi trường tiếp tục trở về.

Quân địch sau khi chiếm Nha Trang, liền vội vã đến tiếp thu Cam Ranh. Toán viễn thám của họ theo đă chạy tiếp thu, có thể đã xâm nhập từ Vườn Dừa, Ba Ngòi, qua đồi Du Long, xuống về phía Nam. Các Sư đoăn xâm nhập chưa thấy xuất hiện. Chỉ biết có đơn vị F-10 hoặc 968 đang lẫn núp xâm nhập lẻ tẻ.
Ngày 7.4.1975 là ngày đáng ghi nhớ.

Đại tá Trần Văn Tự, Tỉnh trưởng Phan Rang, vừa trở về với một số công chức, và đang tập họp các lính Địa phương quân và Nghĩa quân.

Đại tá Nguyễn Thu Lương, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 2 Dù, với 3 Tiểu đoàn 3, 7, 11 và 1 Tiểu đoăn Pháo binh cùng các Đại đội Trinh sát, Công binh, Quân y, Truyền tin, Yểm trợ Tiếp vận lần lượt đến căn cứ. Trung tướng Nghi liền giao cho nhiệm vụ chiếm các cao điểm và tổ chức tuyến phòng thủ tại Du Long mặt Bắc và tại Tân Mỹ mặt Tây. Tập trung lực lượng khi cần để chận không cho địch vượt qua Du Long. Xử dụng Tiểu đoàn 5 Dù của Trung tá Phát hiện có mặt tại căn cứ giữ an ninh cho phi trường.

Ngày 8.4.1975, khi đơn vị cuối cùng của Lữ đoàn 2 Dù đến căn cứ, Đại tá Lương liền điều dộng giải tỏa đoạn Quốc lộ 1, từ Thị xã đến Du Long, qua các Thôn Cá Đú, Ba Tháp, Ba Râu và Du long, với 2 Tiểu đoàn 11 và Tiểu đoàn 3. Trên đường tiến quân, Tiểu đoàn 3 Dù đuổi địch chạy tán loạn khỏi Ba Tháp và Ba Râu. Địch tổn thất khoảng một đại đội với nhiều vũ khí. Tiểu đoàn 11 được trực thăng của Sư đoàn 6 Không quân, đưa đến chiếm Du Long, và các cao địa trọng yếu kiểm soát đường đỉ Du Long.

Bắt sống tại đèo Du Long, 7 xe tiếp tế thuộc đoàn hậu cần địch cùng một số quân lính VC, vì ngở Phan Rang đã bị chúng chiếm, nên cứ ngang nhiên di chuyển. Đồng thời, tìm thấy bộ đồ bay của Trung úy Lý Tống, thuộc Không đoàn 92 Chiến thuật/ Sư đoàn 6 Không quân, còn để tại vùng đèo Du Long, khi phi cơ A-37 của mình vừa bị bắn rơi, lúc cùng phi đội oanh tạc khu Vườn Dừa. (Trung úy Lý Tống là người đã thả truyền đơn chống cộng tại Saigon năm 1992, tại Cuba trong năm 2000 và tại Saigon cuối năm 2000, nhân dịp Tổng Thống Bill Clinton đến thăm Việt Nam.)
Tại phía Tây, phần lớn của Tiểu đoàn 5 Dù đã trấn ngữ đầu cầu hướng về Tân Mỹ, ngừa được sự tấn chiếm từ hướng nầy. Trong căn cứ, toán Trinh sât Dù cũng lại đuổi khỏi đồn Đại Hàn một số quân nhân địch vừa lén lút xâm nhập. Tiểu đoàn 7 trừ bị giám sát việc giữ an ninh trong căn cứ không quân với Tiểu đoàn 5 của Lữ đoàn 3 Dù. Kết quả là trong ngày nầy, Phan Rang đã hoàn toàn kiểm soát được tình hình vốn bị trì trệ từ khi Nha Trang và Cam Ranh tháo chạy.
Buổi sáng, lúc Trung úy Nguyễn thành Trung vừa oanh tạc Dinh Độc Lập, thì Bộ Tư Lệnh Không Quân bảo tôi phải cho ngăn cản và bắt đáp, nếu Trung bay qua Phan Rang. Lệnh đã được cấp tốc thi hành, và Trung đã không bay qua đây.

Đặc biệt Cha giáo sứ Hồ Diêm, với niềm phấn khởi, đến thăm Trung tướng Nghi để hoan nghênh quân Dù đã giải tỏa được Phan Rang. Điểm đáng đề cao là chính Cha, cùng với lực lượng Nghĩa quân và Nhân dân tự vệ của giáo sứ, đã thành công bảo vệ địa phận mình chống lại các cố gắng len lỏi xâm nhập của địch.
Ngày 9.4.1975, Trung tá Lê Văn Bút, Không đoàn trưởng Không đoàn 72 Chiến Thuật, bay chỉ huy 40 trực thăng HU với 12 trực thăng Võ trang cơ hữu cùng 8 trực thăng Chinook từ Biên Hòa biệt phái. Mục đích là để lên Khánh Dương tìm kiếm và chở về các toán còn kẹt lại của Lữ đoàn 3 Dù, gồm 2 Tiểu đoàn 2 và 6 cùng một số quân của Tiểu đoàn 5, lúc Nha Trang rút chạy. Cùng đi có Trung tá Trần Đăng Khôi, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 3 Dù phụ giúp tìm kiếm, chọn bãi đáp để rước toán thất lạc nầy trở về. Bấy giờ khu vực Khánh Dương đa trở thành vùng địch kiểm soât, nên tôi cho bay theo 2 phi đội A-37 yểm trợ. Kết quả là đoàn trực thăng đã mang về đến căn cứ Phan Rang, hơn 600 người mà phần lớn lă quân nhân của các Tiểu đoàn 2 và 6, cùng một số thất lạc của Tiểu đoàn 5 với một số ít dân sự chạy loạn đi theo. Toán nầy vào buổi chiều được chở toàn bộ vào Saigon. Cuộc hành quân trực thăng vận thành công tốt đẹp, đem về được số quân nhân thất lạc của Lữ đoàn 3 Dù. Thật đúng là một chuyến bốc quân lịch sử. Đoàn trực thăng 60 chiếc đã phải bay qua vùng địch chiếm với mọi hiểm nguy và bất trắc khôn lường.
Trong thị xã, Đại tá Trần Văn Tự Tỉnh trưởng tiếp tục chấn chỉnh các phần vụ hành chánh, đồng thời lo chỉnh đốn hàng ngũ các đơn vị Địa phương quân. Ngoài thị xã, dân chúng hãy còn e dè ở lại, nhưng không tuôn chạy nhiều như những ngày trước. Cuộc sống có chỉ dấu trở lại bình thường, tạo nhiều phấn khởi.

Các ngày 10 và 11. 4.1975 có được sự yên tĩnh trong toàn bộ vùng Phan Rang. Bộ Tư lệnh tiền phương đang trù tính kế hoạch chiếm lại Cam Ranh để sau đó lấy lại Nha Trang. Địch sau khi bị đuổi khỏi các địa điểm xâm nhập đang tập trung ém quân tại vùng Vườn Dừa ở Cam Lâm chờ đợi viện quân.

Ngày 12.4.75 là ngày khởi đầu có bất trắc trong việc phòng thủ Phan Rang.

Lệnh từ Quân đoăn III cho biết sẽ rút Lữ đoàn 2 Dù và Tiểu đoàn 5 Dù vào ngày 13.4.1975, và thay bằng Liên đoàn 31 Biệt động quân với 3 Tiểu đoàn, và Sư đoàn 2 Bộ binh với 2 trung đoàn, cùng 2 Chi đội Pháo và Chi đội Thiết vận xa.

Liên đoàn 31 Biệt động quân vừa rút khỏi Chơn Thành, sau nhiều ngày tác chiến gian khổ với nhiều tổn thất, chưa kịp nghĩ dưỡng quân, thì được tung ra tiền tuyến với quân số thiếu thốn trầm trọng.

Sư đoàn 2 Bộ binh cũng vừa tháo chạy từ Quảng Ngải, vừa tập trung tại Bình Tuy và đang được bổ sung quân số thì được lịnh phải ra Phan Rang, trong khi cả đơn vị hảy còn hoang mang, dao động. Vì chưa kịp bổ sung thiết bị, đơn vị nầy phải thu lượm một số pháo và thiết vận xa để mang theo cùng với các trung đoàn ra Phan Rang bằng đường bộ.

Bộ Tổng tham mưu Phòng 7 vừa bổ sung toán thám sát, vì kiểm thính phát hiện rộ lên nhiều liên lạc vô tuyến của các đơn vị địch xung quanh Phan Rang.
Chuẩn tướng Lê Quang Lưởng Tư lệnh Sư đoàn Dù và Trung tướng Trần Văn Minh Tư lệnh Không Quân, cùng đến thám sát công cuộc phòng thủ. Cả hai vị đều tỏ ý bất đồng về việc điều quân nầy. Trung tướng Minh nói để căn cứ không quân làm tiền đồn là sai lầm, vì khi hữu sự dưới lằn đạn pháo thì không thể sửa chửa, trang bị cho phi cơ có khả năng hành quân như yêu cầu được. Chuẩn tướng Lưỡng cũng nói, muốn giữ Phan Rang làm bàn đạp để lấy lại Cam Ranh và Nha Trang, tại sao lại rút đơn vị đang chiến đấu tốt mà thay bằng 2 đơn vị đã từng vội vã rút quân vă còn đang chờ đợi bổ sung quân số.

Trung tướng Nghi cũng bất ngờ vì không có được những đơn vị như đã hứa trước lúc ra nhận trách nhiệm phòng thủ Phan Rang.
III. TRẬN CHIẾN QUYẾT ĐỊNH
Ngày 13.4.1975 là ngày đánh dấu nhiều việc không may xảy đến cho tuyến phòng thủ Phan Rang.

Trong ngày, liên tục toán kiểm thính Phòng 7 TTM báo cáo có sự hoạt động bất thường của các đơn vị Sư đoàn 325 và Sư đoàn 3 Bắc Việt.

Tướng Times của Tòa Đại sứ Mỹ hấp tấp bay đến, dẫn theo Ông Lewis, chuyên viên truyền tin, để chuyển về Tòa Đại sứ mọi biến chuyển mới nhứt của mặt trận. Ông Lewis ở lại, rất tích cực làm việc và rất bình tĩnh lúc địch dồn dập tấn công.

Sau mấy ngày ém quân, địch bắt đầu chuyển quân từ khu ém quân và khởi sự pháo kích văo căn cứ không quđn. Các đơn vị địch đang tìm cách tấn công các điểm cao ở vùng đồ Du Long và phía Đông Ba Râu. Đơn vị địch 968 cũng bắt đầu xâm nhập lẻ tẻ từ phía Tây của căn cứ không quân, phối họp với từng đợt pháo kích.

Tiếc thay, trong tình thế như vậy mà cơ cấu phòng thủ phải thi hành lệnh thay quân đang chiến đấu tốt, bằng 2 đơn vị vừa mới được bổ sung sau khi bị tổn thất nhiều về trang bị và tinh thần.
Trong khi bộ phận lớn của Lữ đoàn 2 Dù, gồm Tiểu đoàn 7 với các bộ phần nặng và Tiểu đoăn 5 của Lữ đoăn 3 Dù rời căn cứ, thì Đại tá Nguyễn Văn Biết, chỉ huy trưởng Liên đoàn 31 Biệt động quân và 3 tiểu đoàn 31, 36 và 52 cũng vừa từ Biên Hòa tới bằng phi cơ C-130. Quân số Liên đoàn gồm khoảng 1.000 người. Các đơn vị liền vội vã đến trám vào các địa điểm đóng quân của Tiểu đoăn 11 Dù tại Du Long và Ba Râu. Tiểu đoàn 31 trám tại Du long, Tiểu đoàn 36 trám từ Ba Râu đến Cá Đú và Tiểu đoàn 52 làm trừ bị. Đang thay quân thì chạm súng với các toán thăm dò của địch.

Cùng lúc, Trung đoàn 4 của Sư đoàn 2 Bộ Binh, quân số khoảng 450 người, từ Bình Tuy theo đường bộ cũng vừa tới, và được giao trách nhiệm trấn giữ mặt Tây căn cứ và bảo vệ phi trường thay cho Tiểu đoàn 5 Dù vừa rời căn cứ.

Theo khuyến cáo của Bộ Tư lệnh Không quân, Đại tá Nguyễn Đình Giao, Tham mưu trưởng Sư đoàn 6 Không quân được nhiệm vụ cùng các chuyên viên về Tđn Sơn Nhất để phụ lo việc quân số và tiếp liệu cho Sư đoàn.
Ngày 14.4.1975, Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt, Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh, cùng Trung đoàn 5 vừa đến với khoảng 450 quân, được giao nhiệm vụ bảo vệ mặt Nam căn cứ và phi trường vì Lữ đoàn 2 Dù đã hết nhiệm vụ và đã bàn giao với Trung đoàn 4 hôm qua. Lực lượng Pháo binh chỉ có 1 Pháo đội 105 ly hiện diện tăng phái cho Tiểu khu trong đó có một Trung đội đóng tại An Phước, phía Nam phi trường lối 10 km.

Thị xả được phòng vệ bởi khoảng 1 tiểu đoàn Địa phương quân còn lại. Cùng lúc, Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt, theo lệnh, đề cử Đại tá Trương Đăng Liêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 giử chức vụ tỉnh thưởng thay Đại tá Trần Văn Tự.

Cũng để dự phòng cho những ngày tác chiến sắp tới, Bộ Tư lệnh Không quân cũng vừa gởi đến, một phi cơ C-47 để tăng cường phương tiện hành quân cho Bộ Tư lệnh Hành quân.

Bên ngoài căn cứ, từ sáng sớm, địch lần lượt tung vài đơn vị cấp Đại đội từ khu ém quân, đánh thăm dò cơ cấu phòng thủ tại Du Long và Ba Râu. Một trong các đơn vị nầy đã xâm nhập được vào cổng số 2 phi trường về phía Bắc, lúc mờ sáng. Phi cơ trực thăng tuần tiểu phát hiện, và cùng với trực thăng võ trang, yểm trợ cho một bộ phận của Tiểu đoàn 11 Dù đang chờ phi cơ về hậu tuyến, được gởi ra tiêu diệt toán xâm nhập nầy. Kết quả địch rút chạy, bỏ lại gần 100 tên bị hạ với khoảng 80 vũ khí đủ loại, trong đó có 2 súng cối 82 ly và 2 khẩu đại bác không giựt 75 ly. Ta chỉ có 6 chiến sĩ hy sinh và 1 thiết vận xa phòng thủ phi trường bị chây. Trung tướng Nghi tưởng thưởng ngay huy chương Anh dũng bội tinh cho các quân nhân hữu công.
Khoảng trưa, Tướng Nghi và tôi cùng Đại tá Lương chạy xe thong thả từ phi trường đến Ba Tháp, Ba Râu và Du Long thị sát công việc phòng thủ. Tại Du Long Tướng Nghi có tập họp và trấn an số Nghĩa quđn có mặt tại đây.

Tóm lại, mặc dầu hôm nay có các cuộc đánh thăm dò của địch, mặt trận vẫn đứng vững như những ngày qua. .

Ngày 15.4.1975 từ sáng sớm địch liên tục pháo từng chập văo căn cứ. Buổi chiều khoảng 2 giờ, có phái đoàn của Trung tướng Trần Văn Đôn Tổng trưởng Quốc phòng và Trung tướng Nguyễn Văn Toăn Tư lệnh Quân đoàn 3 đến thị sát mặt trận. Sau khi thăm thị xả, nghe Tướng Nghi thuyết trình tình hình và ghi nhận các đề nghị, Trung tướng Tổng trưởng Quốc phòng tỏ vẻ chú trọng đến việc phòng thủ Phan Rang và hứa sẽ tìm mọi cách bổ sung đầy đủ mọi trang thiết bị thiếu hụt.

Từ chiều trở đi, Trung tướng Nghi liên tiếp nhận được tin địch sẽ tập trung tấn công đêm nay. Một trong những công điện của Bộ chỉ huy địch với danh hiệu Sông Hồng, đóng tại Ba Râu, cho hay địch sẽ tấn công vào Phan Rang lúc 5 giờ sáng. Tiến quân theo đường rầy xe lửa cùng với 300 chiến xa, theo quốc lộ 1 phát xuất từ rừng dừa ở Ba Ngòi. Biết ý định của địch, Trung tướng Nghi báo động ngay mọi nơi đề phòng, đặc biệt là Liên đoàn 31 Biệt động quân có nhiệm vụ án ngữ ở Du Long.
Quả nhiên, sau 8 giờ tối địch gia tăng cường độ pháo vào phi trường, đồng thời cho di chuyển suốt đêm rất nhiều đoàn xe chở bộ binh, thiết giáp, pháo binh v.v…Chúng vượt đồi Du Long, chủ yếu chỉ để tràn qua phòng tuyến phòng thủ của Tiểu đoàn 31 Biệt động quân mà tiến nhanh về hướng Nam. Tiểu đoàn 31 đã ở tại chổ chiến đấu gan dạ mặc dầu đoàn xe địch vượt được qua. Tại Ba Râu, Ba Tháp và Cá Đú, từ địa điểm đóng quân chờ di chuyển về hậu cứ, từ 2 giờ sáng trở đi, Tiểu đoàn 11 Dù trừ và Tiểu đoàn 3 Dù, cùng với Tiểu đoàn 36 Biệt động quân vừa trám chổ, chạm địch ác liệt, làm chậm sức tấn công ồ ạt của đoàn cơ giới địch. Liên tục bị oanh kích, chúng tẻ xuống đường, tắt đèn và lại tiến tới. Phi cơ A-37 không ngớt tung xuống đợt oanh tạc ngăn chăn, nhưng vì không đủ phương tiện soi sâng và hỏa long, nên chúng vẫn tràn qua, sau khi bị tổn thất khá nặng nề. Bên ta có 4 A-37 bị bắn bể bình xăng phải về đáp. Trận nầy Không đoàn 92/Chiến thuật đã tung toàn lực phi cơ cơ hữu kể cả 4 A-1 của Phi đoàn 530.

Tôi cùng Trung tá Lưu đức Thanh Phụ tá Hành quân Sư đoàn 6 KQ đích thân theo dỏi trận đánh suốt đêm. Chúng tôi liên tục đốc thúc phần tham gia của không quân, kể từ lúc các đơn vị bộ binh chạm súng, liên tục báo cáo địch đang xử dụng hàng đoàn xe để đến sáng chạy từ Du Long tràn xuống. Cuối cùng, đoàn xe tắt đèn vượt qua Ba Râu, vă chiếm thị xả lúc 7 giờ sáng ngày16.4.1975.
Tại Bộ chỉ huy tiền phương, Trung tướng Nghi cũng theo dỏi trận chiến suốt đêm và không nhận được tin gì từ Du Long của Liên đoàn 31 Biệt động quân sau 3 giờ sáng. (Sau nầy, Thiếu tá Đào Kim Minh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 36 Biệt động quân và Thiếu tá Nguyễn văn Tú Tiểu đoăn trưởng Tiểu đoàn 31 Biệt động quân có nhiệm vụ trấn giữ Ba Râu và Du Long cho biết không hiểu vì lý do gì mà từ 2 giờ sáng không liên lạc được với Bộ chỉ huy. Sở dỉ cần liên lạc khẩn cấp là vì đã 3 ngày, từ lúc thay quân, cứ liên miíê đụng địch nên cấp số đạn dược mang theo đã gần cạn. Đến sáng, khu vực trách nhiệm vẫn yên tịnh như sau những lần chạm súng. Trên đường vẫn an toàn nhưng nhìn vào phi trường thấy đang bị pháo kích.)

Ngày 16.4.1975, lúc vừa sáng, địch lại lẻ tẻ xâm nhập vào cổng số 2 của phi trường về hướng Bắc và kho bom ở hướng Tđy. Đến khi phòng không chúng, bắn trúng chiếc phi cơ quan sát O-1 vừa cất cánh quan sát hành quân, phải trở lại đâp khẩn cấp, thì đồng thời chúng gia tăng số lượng pháo kích.

Lúc bấy giờ mới khoảng gần 8 giờ sáng. Đại tá Biết bổng báo cáo là Du long bị mất và địch đã vào thị xã khiến cho Trung tướng Nghi phải tìm phương thế thích nghi. Cùng lúc, Chuẩn tướng Nhựt vừa đặt văn phòng cạnh Văn phòng Trung tướng Nghi, liền được mời tham gia vào việc duyệt xét tình hình. Sau đó Ông đi thị sát mặt trận tại nơi trách nhiệm của đơn vị mình.
Trong khi Trung đoàn 4 Bộ Binh đang án ngữ bên ngoài phía Tây của phi trường và Trung đoàn 5 đang phòng ngự địch tràn lên từ thị xả, thì bên trong căn cứ tình hình bắt đầu có chiều hướng bất lợi. Địch vẫn giữ mức độ pháo kích quấy rối từng chập. Nhân có các khoảng trống giữa những đợt pháo kích, một số lớn phi cơ đã rời căn cứ. Còn lại chỉ có một số rất ít trực thăng võ trang và tản thương ở lại đến phút chót.

Khoảng hơn 9 giơ sáng, khi trực thăng võ trang bị hỏa tiển SA.7 bắn tại ngọn đồi gần phi trường thì tình hình đã khá nguy ngập. Trung đoăn 4 báo cáo đang chạm địch. Toán Dù bảo vệ Bộ Tư lệnh Tiền phương đang thanh toán các toán VC lẻ tẻ chạy lạng quạng gần khu vực Bộ Tư lệnh Tiền phương. Đến lúc nầy, Trung tướng Nghi vẫn tin tưởng văo khả năng chiến đấu của Trung đoàn 4 bảo vệ phi trường và Trung đoàn 5 án ngữ ngăn chận địch tràn vào cổng số 1 của căn cứ.

Đến khoảng gần 10 giờ, khi tiếng súng càng lúc càng dồn dập, Tướng Nghi liền họp cùng Chuẩn tướng Nhựt, Đại tá Lương và tôi để tái duyệt xét tình hình. Vì lẽ mặt trận đã bị thủng từ Du Long và địch đang hăm dọa căn cứ nên Trung tướng Nghi dự tính có thể sẽ dời Bộ Tư lệnh Tiền phương về Cà Ná để lập tuyến phòng thủ mới tại đó, nếu địch chọc thủng được phòng tuyến bảo vệ phi trường. Dự trù sẽ đi khỏi phi trường từ cổng số 1 và đi cùng Trung đoàn 5.
Khoảng 10,30 giờ sáng, mãi đến khi các toán quân địch sắp tiến vào Bộ Tư lệnh Tiền phương thì Trung tướng Nghi mới ra lịnh rời căn cứ bằng đường bộ, từng đơn vị theo đơn vị trưởng mình rút theo hướng Nam về Cá Ná để lập phòng tuyến mới. Trung tướng Nghi, Đại tá Lương, Ông Lewis chuyên viên Tòa Đại sứ Mỹ cùng các quân nhân của Bộ Tư lệnh Tiền phương, Sư đoàn 6 Không quân, Lữ đoàn 2 Dù cùng các toán quân lẻ tẻ của Liên đoàn 3I Biệt động quân lối 400 người rời căn cứ tiến ra cổng số 1 về hướng Nam.

Đoàn quân di chuyển trật tự đến cổng số 1 khoảng 11 giờ, để cùng đi với Trung đoàn 5 về Cà Ná như dự định. Tại đây, vì không liên lạc được với Chuẩn tướng Nhựt, nên Trung tướng Nghi quyết định theo đường rào phía Nam, di chuyển dọc theo đường từ Tour Cham đến ngã ba An Phước. Đoàn quân an toàn đến Thôn Mỹ Đức lúc 12 giờ trưa.

Trên đường rút khỏi Ba Tháp, Tiểu đoàn 3 Dù lần xuống bãi biển, tẻ sâu về hướng Nam và không còn thấy Giang đoàn 27, chiến hạm WHEC cùng bất cứ chiếc tău nào khác tại cảng Ninh Chử. Đến một bãi cát xa hơn về hướng Nam của thị xả, đơn vị Dù nầy, gặp và kháng cự với một toán quân địch khác đến bao vây. Sau khi thoát vòng vây với ít nhiều tổn thất, Tiểu đoàn 3 Dù được một đoàn trực thăng, bốc về an toăn. (Đoàn trực thăng cấp cứu nầy, dự trù đón Bộ tư lệnh tiền phương, nhưng vì Trung tướng Nghi không thuận cho đáp vì lý do an toàn bãi đáp, nên trên đường trở về, mới bốc được toán Dù trên.)

Tiểu đoàn 11 Dù còn lại rút được qua sông, phối hợp với toán quân vừa thoát khỏi trận phục kích ở Thôn Phú Qúy về được an toăn.

Liên đoàn 31 Biệt động quân và Sư đoàn 2 Bộ binh với một ít đơn vị cố gắng di chuyển về Nam lại chịu thêm tổn thất trên đường rút lui. Đại tá Lê Thương, Chỉ huy trưởng Pháo binh Sư đoàn 2 Bộ binh, trên đường rút về An Phước nơi có Trung đội Pháo binh đang trú đóng, cũng gặp địch đã đóng làm nút chận tại đây rồi,

Tại phi trường, khi đoàn quân của Trung tướng Nghi di chuyển khá xa, thì Sư đoàn 325 VC phối họp với Sư đoàn 3 VC cùng Đoàn 968 tấn công và chiếm phi trường lúc 11,30 giờ trưa.

Thiệt hại của Sư đoăn 6 không quân rất đáng kể vì mất toàn bộ kho bom đạn và các trang thiết bị phụ thuộc, với lối 10 phi cơ đủ loại không bay được. Tuy nhiên tổn thất hành quân tương đối là nhẹ: 1 A-37 rớt, 4 A-37 bị bắn về đáp an toàn, 2 trực thăng cháy, 1 phi cơ quan sát cùng khá nhiều trực thăng bị bắn nhưng về đáp được an toàn.

Hải quân ta chỉ có một số ít Giang thuyền bị chìm và một chiến hạm bị pháo.

Tại Thôn Mỹ Đức lúc khoảng 4 giờ chiều, Trung tướng Nghi được toán truyền tin của Đại tá Lương cho hay có 1 đoàn phi cơ xin xác nhận vị trí để xuống bốc. Lúc bấy giờ, với số gần 700 quân nhân vă thân nhân nên khó bóc hết được, vả lại khi trực thăng đến, khó lòng mà giữ được trật tự, chắc chắn sẽ tạo hổn loạn làm lộ mục tiêu giúp địch đến vây bắt. Vì vậy Trung tướng Nghi quyết định vì sự an toàn cho đồng đội, từng khổ cực chiến đấu với nhau mà không vì an toàn cho bản thân, nên ra lịnh toán cứu cấp đó không nên đâp, và chỉ nên đến ngày hôm sau, tại một địa điểm xa hơn về phía Nam.

Lúc 9 giờ tối, dưới sự hướng dẫn của Đại tá Lương, đoàn người bắt đầu rời Thôn Mỹ Đức. Chưa đi được bao xa thì bị phục kích. Trung tướng Nghi, Ông Lewis và tôi cùng một số quân nhân bị địch bắt. Chúng dẫn 3 chúng tôi ngược về Nha Trang sáng hôm sau. Trên đường tôi thấy rất nhiều xe địch nằm la liệt dọc hai bên đường, và từng nhóm đồng bào ngơ ngác, thất thiểu, lang thang đi ngược trở về. Tôi bổng cảm nhận rất có tội đối với đồng bào, vì làm tướng mà không giữ được thành. Ở tại Đồn điền Yersin 2 ngày, chúng đưa chúng tôi ra Đà Nẳng bằng đường bộ. Tại đây, ngày 22.4.1975 chúng đem phi cơ chở chúng tôi ra Bắc, giam tại nhà giam Sơn Tây nơi từng giam giữ tù binh Mỹ. Chúng thả Ông Lewis vào tháng 8.1975, Trung tướng Nghi vào năm 1988 và tôi năm 1992.
IV. KẾT LUẬN
Sư đoàn 6 Không quân rời Pleiku ngày 16.3.1975 đến tạm trú tại Nha Trang. Ngày 22.3.1975 được lịnh đến căn cứ Phan Rang đồn trú. Chưa kịp thích nghi với sanh hoạt địa phương thì phải đương đầu với nhiều nổi ưu lự kể từ lúc Nha Trang rút bỏ. Liên tiếp trong 16 ngày, toàn thể quân nhân Sư doăn 6 Không quân đã khắc phục bao khó khăn, trong một hoàn cảnh khác thường của một căn cứ Không quân bổng trở thành một tiền đồn, vừa thi hành các phi vụ, vừa tham gia chiến đấu như bộ binh.
Địa phương quđn và Nghĩa quân Phan Rang có những đơn vị hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ đáng khen, như việc bảo vệ Giáo xứ Hồ Diêm được an toàn là một thí dụ.

Sư đoàn 2 Bộ binh với 2 Trung đoàn 4 và 5, tuy có một số lớn quân nhân hảy còn hoang mang, dao động vì lo lắng cho thân nhân còn kẹt lại khi đơn vị vội vả rút lui, nhưng cũng đã cố gắng tham dự.
Liên đoàn 31 Biệt động quân với 3 Tiểu đoàn 31, 36 và 52, chứng minh được cái tinh thần của người chiến sĩ mũ nâu, mặc dầu sau những trận đánh ác liệt tại Chơn Thành được điều động thẳng ra Phan Rang, không có một ngày nghĩ dưỡng quân, cũng như không được bổ sung quân số, tái trang bị đầy đủ.
Lữ đoăn 2 Dù với các Tiểu đoàn 3, 7 và 11 cùng Tiểu đoàn 5 của Lữ đoàn 3 Dù đã chiến đấu rất tích cực và tạo được sự tin tưởng của nhiều người, quả xứng đáng là những đơn vị thiện chiến của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Với những đơn vị như trên cộng thêm Phan Rang có vị trí rất thuận lợi cho việc phòng thủ, đáng lý Phan Rang không thể bị chiếm quá nhanh như thế được.
Chiếm được Phan Rang, địch mới có lý do tung ra kế hoạch Tổng công kích, mà đáng lý ra theo dự trù, chúng chỉ có thể tung ra vào năm 1976 thay vì năm 1975. Tướng VC Văn Tiến Dũng, sau chiến thắng, đê tuyên bố tại Cuba: ” Khi chiếm được Phan Rang thì coi như chiếm được miền Nam.” Lời tuyên bố nầy chứng minh được việc chọn phòng tuyến Phan Rang là một quyết định đứng đắn của Bộ Tổng tham mưu Quđn lực Việt Nam Cộng Hòa. Việc mất Phan Rang quả đúng là một tổn thất quá lớn cho công cuộc bảo vệ Miền Nam vậy.
Đã hơn 25 năm, chắc chắn tôi không thể còn nhớ đầy đủ các diễn biến liên quan đến việc phòng thủ Phan Rang. Tôi đã tham khảo một vài tài liệu và tiếp xúc một vài thân hữu. Cộng với ký ức, tôi đã cố gắng ghi lại trong bài viết nầy mọi hiểu biết có thể có và đương nhiên chắc phải có nhiều thiếu sót.
Viết xong ngày 15 tháng 1 năm 2002
Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang

Blog Archive