Showing posts with label Vuot Bien. Show all posts
Showing posts with label Vuot Bien. Show all posts

Wednesday, October 7, 2026

TÌM ĐƯỜNG RA ĐI: SAU KHI RỜI BẢNG ĐEN PHẤN TRẮNG

Phần 7

Thân phận người tị nạn.
Chúng tôi sống như vậy khoảng 3 tuần thì được chuyển lên trại Phanat Nikhom. Đây là một trại tị nạn dành cho cả ba nước Việt - Miên - Lào, nằm ở phía Đông Bắc Bangkok, thuộc tỉnh Chonburi, Thái Lan.

Sáng sớm ngày 10/03/1987, một chiếc xe Coast Bus (loại xe chở du khách đường dài) đến đón chúng tôi. Xe chạy đến Ty Cảnh sát Songkhla để đón thêm mấy cô phụ nữ nữa. Khi lên xe trao đổi, chúng tôi mới biết các cô cũng là người Việt tị nạn như mình. Nhưng số phận các cô thật nghiệt ngã: bị cướp biển bắt cóc ngay trên biển, sau khi hãm hiếp chán chê, chúng ném các cô xuống bờ biển và may mắn được cảnh sát cứu giúp. Thật tội nghiệp cho những cô gái trẻ đẹp mà phải chịu cảnh đọa đày.

Khoảng 10 giờ sáng, xe bắt đầu chuyển bánh về hướng Bắc. Nhìn thành phố Songkhla thật đẹp dưới ánh nắng chan hòa, bình yên của miền Nam Thái Lan. Anh tài xế cho biết từ Songkhla đến Phanat Nikhom dài hơn 1.000km, xe phải chạy khoảng 12 tiếng vì đoạn ngang qua Bangkok thường rất kẹt xe.

Sau gần 3 tuần lễ ở vùng miền Nam Thái Lan, tôi thấy đời sống người dân nơi đây thật yên bình và an nhàn. Nghĩ mà thương quê mình, muốn đi từ làng này qua làng khác cũng khó khăn, người dân phải lo chạy gạo từng ngày. Sau này, khi đã định cư ở Canada – "xứ lạnh tình nồng" – đôi lúc phải mệt mỏi cuốn theo vòng xoáy vật chất quá cao, tôi lại ước mơ được sống như người dân vùng quê Thái Lan yên bình đó. Nhưng cuộc đời đâu phải muốn là được, bởi vậy cụ Nguyễn Du hơn một thế kỷ trước đã than thở:

"Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao."

Xe chạy xuyên đêm. Đến khoảng 3-4 giờ sáng thì ngang qua Bangkok. Vì là ban đêm nên không thấy gì nhiều, nhưng tôi cảm nhận được đây là một thành phố rất lớn. Hệ thống đường cao tốc chạy thẳng vào trung tâm thành phố rất khác với hệ thống cao tốc ở Bắc Mỹ sau này tôi sống (thường nằm ở ngoại vi, xa trung tâm).

Khoảng 10 giờ sáng, xe chúng tôi đến trại tị nạn Phanat Nikhom. Xe đỗ ngay hội trường lớn ở cổng trại. Tất cả chúng tôi ngồi dưới sàn xi măng theo từng nhóm để chờ MOI (sau này mới biết đây là tổ chức thuộc Bộ Nội vụ Thái Lan, lo về an ninh trong trại).

Khi nghe anh chô (Joe) lên lớp và phổ biến luật lệ, bao nhiêu ảo tưởng về sự mơ tưởng về tương lại trong suốt 3 tuần qua của tôi hoàn toàn tan biến. Câu nói làm tôi đau lòng nhất là: "Ai mời các anh đến đây?". Nghe câu đó thốt ra từ miệng một người Thái nói tiếng Việt, cảm giác xót xa vô cùng.

Xin lỗi, tôi quên giới thiệu sơ qua về anh Joe này. Anh là người Thái, lúc đó trạc tuổi tôi (khoảng hai mươi mấy, chưa đến ba mươi), nói tiếng Việt rất tốt. Lúc đầu nghe anh nói có vẻ không tôn trọng người lớn kẻ nhỏ, tôi cũng bực lắm. Nhưng sống ở đó một thời gian, tôi dần hiểu và thầm cảm ơn anh. Trại tị nạn rất đông, không gian chật hẹp, đủ mọi thành phần xã hội, nếu không có "kỷ luật sắt" thì mọi thứ sẽ loạn hết.

Nghe kể lại, Phanat Nikhom trước đây là trại Transit (chuyển tiếp) dành cho những người đã được nước thứ ba chấp nhận, lên đây để học đời sống và chờ chuyến bay. Tuy nhiên, khoảng năm 1986-1987, chính phủ Thái Lan dẹp các trại như Songkhla hay Sikhiw... rồi chuyển hết về đây. Có lúc cao điểm, riêng khu người Việt đã trên 20.000 người. Nếu tính cả người Lào và Campuchia ở các khu kế bên, nghe đâu tổng cộng có lúc lên đến hơn 40.000 người.

Về việc phân chia chỗ ở: vì trại quá đông nên diện tích sinh hoạt rất hạn chế. Mỗi gia đình hoặc nhóm bạn được sắp xếp ở chung trong những căn nhà san sát. Lúc này, cô em gái Đà Lạt chắc thấy tôi "nhát gái" thật rồi nên cô cùng mấy người bạn khác nhập vào nhóm khác, không ở gần tôi nữa.

Gia đình Duẫn (người bạn tôi quen từ khi còn ở Việt Nam) nhập chung với gia đình tôi. Tổng cộng 7 người trong một căn phòng chưa đầy 15 mét vuông, tính ra mỗi người chưa được 1,5 mét vuông. Nhưng thôi, ông bà mình dạy "ăn nhiều chứ ở bao nhiêu". Khổ nhất không phải là chỗ ở chật chội mà là vấn đề nước. Mỗi người chỉ được cấp 15 lít nước mỗi ngày cho cả việc nấu ăn, tắm rửa và giặt giũ. Lúc đầu là một thử thách lớn, nhưng ở lâu quen dần, biết cách "vận động" thì việc xin thêm nước cũng không quá khó khăn. Còn thực phẩm trại phân phát gạo thì không thiếu nhưng thịt và cá và rau cải thì có tính cách tượng trưng, nếu ai không có thân nhân ở nước ngoài cho tiền mua thêm đồ ăn thì sống cũng khó khăn lắm, may mắn tôi được ông Anh ở Đức thường gởi tiền và ba cháu gái tôi dẫn đi từ Mỹ cũng gởi nên tôi sống không quá khó.

Còn một viêc nữa mà tôi rất sợ khi ở trại là cái cầu tiêu, mỗi 8 căn nhà hơn 200 người chỉ có 1 hầm cầu tiêu ngăn ra làm 4 phòng cầu khác nhau liền kề chỉ bước lại gần thôi chưa bước vô đã nghe mùi nồng nặc, nhưng biết sao bây giờ vì mình mang thân phận tị nạn.

Lên trại không bao lâu, cả hai anh em tôi đều bị sốt rét. Chắc do những tuần ở trại nhỏ không quen thời tiết hoặc bị muỗi đốt nhiều. Nhiều hôm giữa trưa nắng 30-40 độC mà tôi nằm run lập cập, đắp bao nhiêu mềnh cũng không đủ. Cuối cùng, tôi phải vào bệnh viện trong trại nằm mấy ngày vô nước biển mới khỏe lại, và phải uống thuốc ròng rã 6 tháng mới dứt hẳn bệnh.

Không muốn "nhàn cư vi bất thiện", tôi xin làm thiện nguyện dạy học cho trường tiểu học trong trại. Dĩ nhiên là dạy không có lương, nhưng bù lại tâm hồn thanh thản. Song song đó, tôi ghi tên học tiếng Anh và học nghề tại trung tâm huấn nghệ. Dù chỉ ở trại một năm rưỡi, nhưng tôi đã học và lấy được 5-6 bằng nghề. Nếu tính luôn "nghề" thầy giáo thì tôi có tới 7 nghề...tức là thất nghiệp (nói vui vậy thôi). Chính nhờ chịu khó làm thiện nguyện, học tiếng Anh và học nghề mà tôi được giới thiệu đi theo diện nhân đạo sớm. Có những người không may mắn phải ở trại 5-7 năm, thậm chí là 10 năm.

Nhìn lại, tôi xin tạ ơn Trời Phật đã dành nhiều may mắn cho chuyến ghe của chúng tôi và cá nhân tôi. Ở trại, tôi chứng kiến nhiều cảnh đời đau thương: có những ghe đi 30-40 người mà chỉ còn vài người sống sót. Có những câu chuyện kể lại tưởng như không có thật. Như cô em gái đi cùng xe từ Songkhla lên kể rằng: cô không biết bơi, bị hải tặc bắt qua ghe hành hạ thể xác xong đẩy xuống biển. Cô bám vào một chiếc nắp thùng xốp, lênh đênh gần 5 ngày đêm trên biển mới được tàu khác cứu. Lúc vào bờ, mặt và lưng cô bị nắng và nước biển ăn lở loét, phải điều trị trong bệnh viện mấy tháng mới hồi phục để lên Phanat Nikhom. Trong khi đó, ghe chúng tôi chỉ đi 3 ngày 3 đêm là đến đất Thái bình an. Thật sự không biết nói bao nhiêu lời cảm ơn cho đủ vì sự may mắn kỳ diệu này.

Đứa cháu đi cùng anh em tôi chỉ ở trại khoảng 3-4 tháng là được đi Mỹ thẳng (không phải qua Philippines học đời sống như người lớn). Tôi và em tôi vừa đi làm thiện nguyện đi học đúng một năm sau được Canada nhận theo diện nhân đạo lúc đó gọi là diện (DC1).nói đến việc được phái đoàn Canada nhận, tôi cũng phải nói cám ơn đến một ân nhân là người bạn người Mỹ mới quen, làm thiên nguyên chung với tôi ở trường tiểu học của trại, Tên cô là Elizabeth chắc nhỏ hơn tôi 1-2 tuổi, cô là người Mỹ ở TP Denver, tiểu bang Colorado sang trại tị nạn làm thiện nguyện, đã nhiệt tình giúp đở tôi để được gặp phái đoàn Canada phỏng vấn và được nhận. Chúng tôi chờ thêm 6 tháng để học đời sống và sắp xếp chuyến bay. Đến ngày 20 tháng 9 năm 1988 tôi mới lên đường đi Canada xứ sở được mênh danh là vùng "Đất lạnh tình nồng"

Tính đến nay, tôi đã định cư ở Canada được 38 năm. Hôm trước, tôi có viết bài "Tạ Ơn Người, Tạ Ơn Đời: Chuyện Những Năm Đầu Nơi Xứ Lạ" để nói lên lòng biết ơn với tất cả những may mắn đã nhận được.

Nhân đây, tôi cũng xin cảm ơn tất cả bạn bè trên Facebook và ngoài đời đã dành thời gian đọc, bình luận và chia sẻ bài viết của tôi. Đó chính là nguồn cảm hứng và động lực để tôi tiếp tục viết trong những ngày an hưởng tuổi già.

Xin hết.
XIN CÁM ƠN TẤT CẢ CÁC BẠN

Chinh Le


Monday, October 5, 2026

TÌM ĐƯỜNG RA ĐI: SAU KHI RỜI BẢNG ĐEN PHẤN TRẮNG

Phần 6

(Bước đầu là dân tị nạn)
Sáng hôm sau khi thức dậy, tôi mở mắt ra thấy cay xé, cảm giác như có ai đổ cả đống cát vào mắt mình. Đây là triệu chứng do cả ba-bốn đêm liền tôi không ngủ. Không chỉ riêng tôi, mà gần như cả nhóm lái tàu chúng tôi đều bị như vậy. Triệu chứng thứ hai là khi đứng dậy bước đi, tôi có cảm giác mặt đất cứ nghiêng nghiêng như muốn ngã, sau này mới biết đó là triệu chứng "say sóng đất". Người ta nói phải mất ba bốn hôm mới hết cảm giác đó.

Khoảng 8-9 giờ sáng, có xe của Cao ủy Liên Hiệp Quốc đến thăm chúng tôi. Nhân viên Cao ủy là một phụ nữ người Indonesia khoảng 40 tuổi, bà giao tiếp với chúng tôi bằng tiếng Anh. Trong ghe, chúng tôi may mắn có anh Lợi – một sĩ quan VNCH, nói tiếng Anh rất lưu loát. Dĩ nhiên cũng có nhiều người biết tiếng Anh nhưng không giỏi bằng anh, nên anh Lợi trở thành thông dịch viên chính thức.

Chúng tôi bắt đầu làm hồ sơ với Cao ủy: khai sơ yếu lý lịch cá nhân, nghề nghiệp, tuổi tác, có thân nhân ở nước ngoài không, có ai đi cùng không, và lý do tại sao phải ra đi... Sau đó, bà nói cần 5-6 thanh niên khỏe mạnh đi theo để giúp một số việc nặng nhọc. Việc gì chứ việc tay chân thì với chúng tôi quá dễ dàng. Anh em chúng tôi – nhóm lái tàu hôm nào – dĩ nhiên có cả anh Lợi đi cùng để thông dịch.

Đi theo bà ra xe, đó là một chiếc minivan Toyota mới tinh, rất đẹp. Tôi bước lên xe mà lòng e ngại vì sợ làm dơ xe của người ta. Cả nhóm chúng tôi lúc đó chỉ còn duy nhất một bộ đồ trên người, lấm lem dầu nhớt và nồng nặc "mùi ghe" rất khó chịu như tôi đã kể ở phần trước. Chắc hẳn bà nhân viên Cao ủy cũng phải khổ sở lắm với cái mùi ấy. Cái mùi đặc trưng biển và mùi ói mữa này, phải mất hơn hai tuần tắm gội bằng xà bông Lux của Thái Lan mới hết.

Chạy khoảng 10 phút thì đến nơi. Bà cho xe vào một khuôn viên ngôi chùa rất rộng lớn. Sau khi trao đổi với một nhà sư Thái Lan đứng tuổi, bà trở lại nói chuyện với anh Lợi. Và anh dẫn chúng tôi ra phía sau chùa để đào một cái hố, làm nhà vệ sinh tạm thời cho cả nhóm dùng trong lúc chờ chuyển lên trại tị nạn chính thức. Nhà chùa cho mấy tấm thiếc cũ để che xung quanh làm nhà cầu. Gần giếng nước bên kia, chúng tôi che một nhà tắm tạm để các chị em phụ nữ có nơi tắm rửa, thay đồ. Còn cánh đàn ông chúng tôi thì đơn giản hơn, chỉ cần kéo nước từ giếng lên, xách lại khoảng sân xi măng gần đó rồi dội ào ào là xong.

Hôm sau, cả ghe chúng tôi được đưa về ở tạm trong căn nhà sàn gỗ phía sau ngôi chùa. Ngôi nhà khá rộng nhưng vì nhóm có đến 46 người nên ở chen chúc nhau, nhưng lại rất vui. Có lẽ vui nhất là ban đêm, khi mọi người giăng mùng sát bên nhau để ngủ. Vì số lượng mùng có hạn, nên cứ 4 người mới được 1 cái. Gia đình tôi chỉ có 3 người nên cô em gái gốc Đà Lạt (người quen cũ của tôi) đã nhập chung vào gia đình tôi để đủ 4 người một mùng. Dù ăn chung, ngủ chung sát sàn sạt như vậy suốt gần ba tuần, nhưng giữa chúng tôi không hề xảy ra chuyện gì quá giới hạn. Vì thế mà mấy đứa bạn cứ chê tôi là "thằng nhát gái", và biệt danh đó gắn liền với tôi từ đó.

Mấy hôm sau nữa, có phái đoàn Cao ủy Liên Hiệp Quốc khác đến thăm đông hơn, khoảng 4-5 người. Trong đoàn có mấy cô người Nhật rất đẹp và dễ thương cũng trạc tuổi tôi. Nhưng với thân phận người "Di tản buồn" cũng chẳng giám "ước mơ chi xa" nhưng tánh tôi thấy gái đẹp thì thích nhìn rồi có ảo tưởng vậy thôi...

Họ mang theo bánh kẹo để cho mấy em nhỏ, còn quần áo cho mỗi người một túi. Trong đó gồm một áo dài tay và quần dài kiểu thể thao rất đẹp. Tôi may mắn được một chiếc áo ngắn tay mà cả ghe ai cũng khen đẹp; tôi đã mặc nó suốt thời gian ở trại cho đến ngày rời trại ra đi. Ngoài ra còn có hai quần ngắn, mấy áo thun, và một chiếc khăn tắm... nói chung là khá đầy đủ.

Nghĩ lại, tôi thấy chiếc ghe của chúng tôi thật là may mắn, nay phải nói vạn lời cảm ơn Cao ủy tị nạn Liên hiệp quốc và Chính phủ Thái Lan lúc bấy giờ.

Sau này khi đã quen thuộc địa hình, chúng tôi lén trốn ra phía sau ngôi chùa, nơi có một con rạch nhỏ để tắm cho mát. Không biết ông nào trong nhóm rủ nhau bơi qua bên kia bờ kinh chơi, không ngờ lại phát hiện dưới bùn có rất nhiều ốc len. Thế là cả đám cùng nhau bắt ốc đem về ăn. Khổ nỗi lúc đó chúng tôi không có thùng hay bất cứ vật gì để đựng. Lúc này, một ông bạn tôi nảy ra sáng kiến độc đáo: Cởi quần đùi ra khi đang ở dưới nước, buộc túm lại để làm thành một cái túi đựng ốc. Nếu ở Mỹ hay Canada chắc chúng tôi phải đi đăng ký bản quyền cho sáng kiến độc đáo này rồi! Nhờ vậy mà chúng tôi thu hoạch được hai "túi ốc quần " đầy.

Vừa bơi về gần đến bờ thì thấy hai anh lính Thủy quân Lục chiến đứng trên bờ la hét quá trời. Khi biết chúng tôi chỉ đi bắt ốc về cải thiện bữa ăn, nhất là khi thấy hai cái (quần ốc) của chúng tôi các anh cũng mỉn cười dịu giọng lại nhưng nghiêm cấm từ nay về sau không được ra con rạch đó nữa vì vấn đề an ninh. Tôi cũng quên chưa kể với các bạn là kể từ khi đến Thái Lan, nhóm chúng tôi đi đâu cũng có hai, ba anh lính Thủy quân Lục chiến theo bảo vệ.

Mỗi tuần, xe của Cao ủy chở thực phẩm đến hai hoặc ba lần. Rau cải tươi rất ít, cá thịt cũng chỉ mang tính tượng trưng, không đủ chia đều. Tuy nhiên, gạo thì rất nhiều, thế là chị Ba (Chị anh Duẫn) mỗi sáng đều nấu một nồi cháo trắng thật lớn, ai muốn ăn cứ tự nhiên đến múc. Thật là một ý kiến hay, chúng tôi thầm cảm ơn chị Ba (vì quen gọi theo anh Duẫn nên tôi cũng không biết tên thật của chị là gì).

Giờ đây đã qua tuổi lục tuần, nếu ai hỏi tôi khoảng thời gian nào vui vẻ và hạnh phúc nhất trong đời, tôi sẽ không ngần ngại trả lời: Đó là 3 tuần lễ đầu tiên khi mới đặt chân đến Thái Lan (khoảng cuối tháng 2, đầu tháng 3 năm 1987). Tại sao ư? Vì khi đó ước mơ của mình đã đạt được, tương lai đang mở ra với những mộng đẹp, dù đôi khi đó chỉ là ảo mộng. Tuy nhiên ước mơ ấy không được trọn vẹn vì không có Cô Út đi cùng.

Sau này, khi tâm sự cùng bạn bè, có một chị bạn đã đọc cho tôi nghe hai câu thơ của nhà thơ Hồ Dzếnh để an ủi tôi.

 "Tình chỉ đẹp khi còn dang dở,
 Đời mất vui khi đã vẹn câu thề"

Nhưng ngẫm lại, nếu nói như thế thì cũng ích kỷ quá, tội nghiệp cho người phụ nữ, nhất là người phụ nữ Việt Nam. Nếu Cô Út có tình cờ đọc được những dòng này, tôi xin gửi một lời "tạ lỗi", dù lỗi lầm ấy chẳng hoàn toàn thuộc về tôi.

Còn tiếp phần 7.

Chinh Le
TÌM ĐƯỜNG RA ĐI... SAU KHI RỜI BẢNG ĐEN PHẤN TRẮNG

Phần 5

(Đến bến bờ tự do)
Ngày nay là ngày thứ hai ra biển. Tàu cứ chạy đều đặn ra xa, chúng tôi không còn thấy những chú cá heo đua theo ghe nữa. Thay vào đó là những con cá nhỏ chỉ bằng ngón tay, có hai cánh hai bên bay một đoạn khoảng 2-3 mét rồi mới rớt xuống biển. Chúng tôi không biết tên gì, cứ gọi đại là cá chuồn chuồn vì chúng có đôi cánh mỏng, biết bay giống như con chuồn chuồn, trông ngộ nghĩnh vô cùng. Càng ra xa, dòng nước biển xanh đen thẫm trông rất sợ. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại thấy mấy con rắn biển mà sau này mới biết ngư dân gọi là con đẻnh, nhìn rất đáng sợ.

Chiều ngày hôm đó, khi ghe đang chạy, bỗng nhiên tôi nghe tiếng máy vang lên rất lạ và cảm giác ghe không còn di chuyển được nữa. Tôi xuống hầm máy tắt máy để kiểm tra thì phát hiện sợi dây sên bẹ bị đứt, khiến lực không truyền được xuống chân vịt. Rất may là trước khi ra đi, tôi có mua theo một số phụ tùng và dụng cụ sửa chữa dự phòng.

Tôi vật lộn dưới hầm máy hơn hai tiếng đồng hồ mới sữa xong. Khi cho nổ máy lại và ghe chạy bình thường, ai nấy đều vui mừng cười vang. Chỉ có tôi là bước ra khỏi hầm máy không vững. Trong hầm máy vốn đã hôi hám, lại thêm mùi chất thải và mùi nôn mửa của hơn 40 con người dồn lại, tạo nên một thứ mùi kinh khủng mà sau này chúng tôi gọi tên là "MÙI GHE". Kể từ khi ra biển tới giờ tôi không hề bị say sóng hay nôn ói, vậy mà khi xuống sửa máy xong, tôi lại ói đến "mật xanh mật vàng".

Nói đến đây, tôi cũng nhớ đến các em trai trên tàu. Dù cha mẹ các em phải trả mấy cây vàng để được đi, nhưng các em vẫn không nề hà phụ túc trực tát nước ghe suốt đêm. Trên chiếc ghe ấy, ai cũng góp một bàn tay để cùng nhau đi đến bến bờ an toàn.

Sau khi máy chạy lại bình thường, tôi đóng hầm máy lại và cố gắng đi ra sau lái nằm nghỉ một chút khi trời sắp tối. Mấy người bạn biết tôi mệt nên để tôi nằm yên. Dù nằm đó nhưng tôi không tài nào ngủ được. Tối đêm đó, trời bỗng nổi cơn gió lớn, biển động mạnh. Con tàu nghiêng bên này, ngả bên kia. Mỗi khi có ánh chớp lóe lên, tôi lại thấy những cơn sóng cao vời vợi. Câu nói của ông bà ta thật chẳng sai: "Lớn thuyền lớn sóng". Cơn sóng thực sự rất lớn, có thể cao gấp mấy lần chiếc ghe bé tẹo của chúng tôi. Có lúc chiếc ghe bị đẩy lên cao chót vót rồi lại chúi mũi lao xuống; nếu ghe nằm giữa hai ngọn sóng thì cảm giác như đang ở dưới đáy vực sâu cả 10 mét.

Một lúc sau, cơn mưa và gió tạm giảm nhẹ. Nhìn xung quanh, chúng tôi thấy ánh đèn của những con tàu đánh cá bủa vây bốn phía, tôi biết mình đã vào hải phận Thái Lan. Vì lo sợ khi gặp sóng lớn giữa đêm khuya, anh Lợi có bắn lên trời một trái le (pháo hiệu cấp cứu của phi công ngày xưa). Tiếng nổ vang lên như tiếng súng và một vệt sáng nhiều màu rất đẹp hiện ra.

Chút sau, có một tàu đánh cá Thái Lan đến gần hỏi xem chúng tôi cần giúp gì không. Anh Lợi là sĩ quan trước năm 1975, nói tiếng Anh rất giỏi nên ra nói chuyện. Tuy nhiên, họ không nói được tiếng Anh mà muốn nói tiếng Tiều. May thay, trên ghe chúng tôi có đủ thông dịch viên. Khi chúng tôi ngỏ ý muốn họ kéo vào bờ, họ từ chối vì nếu làm vậy sẽ bị chính quyền Thái Lan bỏ tù họ. Tuy nhiên, họ đã cho chúng tôi nước ngọt và một thùng dầu để chạy máy. Họ còn cho thêm mấy két nước ngọt đóng trong hộp giấy trông rất lạ mắt. Ngày xưa nước ngọt thường chỉ có lon nhôm, chúng tôi chưa thấy hộp giấy bao giờ. Sau năm 75 ở trong nước lấy đâu ra nước ngọt mà uống nên không hề biết tới. Những người ngư dân này rất tốt bụng, khi chúng tôi đưa mấy chỉ vàng để cảm ơn, họ nhất quyết không nhận.

Sáng hôm sau, chạy tới khoảng 11 giờ thì chúng tôi gặp một chiếc tàu đánh cá Thái Lan khác. Lần này họ chạy thẳng lại ghe chúng tôi và kêu: "Malaysia, Malaysia...". Rồi họ quăng dây cho chúng tôi buộc lại để kéo đi. Ai trên ghe cũng vui mừng khôn xiết.

Nhưng niềm vui ấy không kéo dài. Kéo được khoảng gần một tiếng đồng hồ, họ dừng lại và tràn qua tàu chúng tôi để cướp. Họ lấy tất cả vàng vòng, nữ trang, ngay cả chiếc đồng hồ điện tử đeo tay của tôi để xem giờ họ cũng lấy mất. Họ lục soát khắp cả tàu để tìm đồ quý giá, rất may là họ không phá máy tàu. Đến chiều, họ bắt hết phụ nữ qua ghe của họ, còn nam giới ở lại ghe cũ. Họ kéo ghe chúng tôi đi cả đêm, đến sáng hôm sau mới trả phụ nữ lại và thả cho chúng tôi đi. May mắn là họ trả đủ người, không mất một ai. Còn việc những người phụ nữ đó có bị hãm hiếp hay không thì tôi không rõ, người nói có, kẻ nói không. Nhưng biết để làm gì đây các bạn, tất cả đều là những nạn nhân tội nghiệp của thời cuộc.

Sau khi được tàu cướp biển thả ra, chúng tôi chạy tiếp đến chiều ngày hôm đó thì vào đến một bãi tắm miền nam Thái Lan thuộc tỉnh SongKhLa. Ở đó có rất đông du khách đang tắm biển, có cả khách nước ngoài da trắng. Chắc họ cũng ngạc nhiên lắm khi thấy chiếc ghe của chúng tôi nên chạy lại chụp hình lia lịa. Một lúc sau, lính và cảnh sát đến, không cho du khách tiếp xúc với chúng tôi nữa.

Người dân Thái cũng vây quanh rất đông. Mấy anh thanh niên thì cho thuốc lá hút. Có một cô lái xe pickup bán dưa hấu cũng đậu lại, xẻ mấy trái dưa cho chúng tôi ăn. Vừa từ dưới biển lên, đang khát khô cổ mà được miếng dưa hấu thì không gì bằng. Nói đến đây, tôi phải gửi lời cảm ơn chân thành đến người dân Thái Lan.

Dĩ nhiên, dân tộc nào cũng có kẻ xấu người tốt như những kẻ cướp biển hôm trước. Nhưng có lẽ tôi là người may mắn luôn được gặp người tốt nhiều hơn kẻ xấu, nên tôi luôn nhìn mọi người điều là người tốt,cũng có khi tôi đã nhìn sai làm khốn đốn không ít, nhưng cũng chẳng sao nếu có gặp khó khăn cũng bài học của cuộc đời.

Sau khi tập hợp lại và điểm danh, tôi mới biết trên ghe mình có tất cả 46 người,thật sự tôi không ngờ trên ghe tôi đông như vậy, trước ngày ra đi chủ của tôi nói có khoảng 20 mấy người mà thôi. Nay lên gấp đôi số lượng, nhưng được an toàn hết như vầy cũng mừng lắm rồi ghi lại cho vui chứ không có ý trách cứ ai.

Chúng tôi ngồi trên bãi cát chờ cảnh sát làm việc, ghi tên họ lấy lời khai sơ bộ. Sau đó, đưa chúng tôi về trạm y tế gần đó, tắm gội và ngủ qua đêm tạm trên nền xi-măng mà không có chăn gối gì hết.

Còn Tiếp phần 6.

Chinh Le


Sunday, October 4, 2026

Tìm đường ra đi... sau khi rời bảng đen phấn trắng

Phần 4
Đến Thốt Nốt xuống ghe thì đứa em trai tôi đã có mặt từ trước. Tôi bước lên nói lời cảm ơn và thanh toán tiền sửa chữa máy. Người anh em họ kéo tôi ra một góc riêng, nói nhỏ: "Ghe nhỏ quá, mấy anh đi như vầy có nguy hiểm không?". Tôi nhìn xuống đất, trả lời rất khẽ: "Không còn đường lựa chọn đâu chú Sáu"

Tôi xuống ghe, ba cậu cháu lui ghe xuôi dòng sông Hậu về Cần Thơ để kịp gặp mấy đứa bạn vào chiều tối nay. Chúng tôi cần sắp xếp một số việc như hẹn địa điểm, giờ giấc và phân phối khách cho mấy anh chị "taxi" (người đưa khách ra tàu), để hôm sau ráp nối ở bờ sông Cái Lớn rồi ra khơi. Khoảng 7 giờ tối, tôi đến điểm hẹn tại mấy tiệm bán bánh cống bên trong nhà lồng chợ Cần Thơ. Vừa ăn bánh cống, uống vài chai bia nội địa, chúng tôi vừa phân chia công việc và làm quen với những người "taxi" mới.

Tính đi tính lại, vẫn còn dư ra 4 người gồm 2 người lớn và 2 trẻ em không có "taxi" đưa đón. Tôi đành bảo mấy người bạn sáng sớm ngày mai dẫn 4 người này vô ngay cầu tàu chợ Cái Răng, tôi sẽ bốc thẳng lên ghe lớn luôn. Việc làm này là điều đại kỵ, rất nguy hiểm, nhưng biết sao bây giờ, người ta đã thiết tha muốn ra đi, bỏ lại thì tội nghiệp quá. Anh bạn và cũng là chủ của tôi cảm ơn tôi không xiết. Khoảng 9 giờ tối, mọi việc xong xuôi, tôi về ghe đậu dưới bờ sông Cần Thơ, len lỏi trong những ghe mua bán của nông dân đang đậu qua đêm ở đó.

Sáng sớm hôm sau, tôi chạy ghe vô chợ Cái Răng bốc hai người lớn và hai cháu nhỏ. Khi mọi người xuống ghe xong, tôi nhìn mà thấy phát sợ. Anh bạn mới này trạc tuổi tôi, người Đà Lạt, và một cháu tên Mỹ. Nhìn vẻ ngoài là biết ngay họ không phải dân quê sông nước. Anh bạn người Đà Lạt mặt mày trắng trẻo như con gái, đeo cặp kiếng cận dày cộm, trông đúng chất trí thức thành thị. Còn cháu Mỹ thì da trắng như hột gà bóc vỏ, mái tóc dài cắt tém thời trang rất đẹp. Lỡ chẳng may gặp trạm công an, họ chỉ cần chặn ghe kiểm tra sơ qua, nhìn thấy hai người này là bị bắt ngay lập tức.

Thôi thì giờ chẳng còn cách nào thay đổi, đành phó mặc cho số mệnh. Nhưng tôi cũng bắt anh bạn mới phải đội cái nón rơm cũ, kéo sụp xuống để che bớt làn da trắng trẻo. Còn cháu Mỹ thì tôi cho đội chiếc nón lá rách dính đầy dầu nhớt mà tôi có sẵn trên ghe. Tội nghiệp, anh bạn và cháu luôn làm theo mọi yêu cầu của tôi, cố gắng ít ra ngoài mui ghe để tránh bị phát hiện.

Khoảng 2 giờ chiều hôm đó, tôi đến chợ Gò Quao. Vì trên ghe có hai vị "khách quý" như đã kể nên tôi không dám cặp bến, cũng không dám đậu gần ghe nào. Tôi thả neo cách chợ chừng 1km để chờ đợi. Gần 3 giờ chiều, tôi cho ghe chạy ra gần chợ Xẻo Rô, từ đó bắt đầu quay đầu chạy vào trong để vớt khách. Mấy ông bạn "taxi" của tôi đã núp sẵn trong những đám dừa nước; khi thấy ghe tôi chạy ngang, họ liền chèo ra để tôi bốc khách lên ghe lớn. Chỉ trong hơn một tiếng, tôi đã đón xong tất cả mọi người.

Tôi quay đầu ghe lại, hướng ra biển và về phía bên Tắc Cậu để xuôi dòng ra cửa biển. Thật may mắn, nhờ con nước xuôi đang đổ ra biển nên chiếc ghe chạy rất nhanh. Theo sự hướng dẫn của anh Năm – một dân địa phương ở đây – tôi phải chạy cặp bờ bên Tắc Cậu. Nếu chạy gần phía Xẻ Rô thì dễ mắc cạn vì bên đó đất bãi bồi ra xa lắm. Hơn thế nữa, đầu kinh bên đó có trạm biên phòng. Lúc ghe tôi chạy ngang, có mấy tiếng súng nổ vang lên. Tôi cũng không biết họ bắn ghe tôi hay bắn ai, nhưng cứ nhắm mắt chạy đại. Tôi cũng tin lời anh Năm trấn an rằng cửa biển này rộng tới gần 2km, súng bắn từ bờ khó mà trúng được, đừng sợ. Đó có lẽ cũng là lời trấn an để tôi vững tinh thần thôi, lúc đó tôi chỉ biết lao tới, không còn đường thối lui.

Tôi nhìn đồng hồ, đã hơn 7 giờ tối, trời tối hẳn. Nhìn về phía tay phải, thành phố Rạch Giá đã lên đèn. Theo chỉ dẫn, tôi phải chạy hướng về phía ánh đèn Rạch Giá thêm khoảng một tiếng nữa rồi mới thực sự ra khơi, nếu ra sớm quá dễ bị mắc cạn. Đến 8 giờ tối, tôi vẫy tay chào từ biệt ánh đèn Rạch Giá, cũng là từ biệt quê hương lần cuối, rồi lái con tàu hướng thẳng ra biển khơi.

Từ lúc đó, chúng tôi bắt đầu lấy lại tọa độ theo sự hướng dẫn của anh Lợi – một cựu Đại úy VNCH đi cùng. Ngoài ra còn có các bạn Duẫn, Hải, Tân, Giàu, Phát và đứa em trai tôi năm đó mới 20 tuổi nhưng giúp được rất nhiều. Tất cả chia nhau lái tàu. Ra đến biển rồi, cứ theo tọa độ trên hải bàn và hải đồ mà chạy, không sợ đụng chạm ai, cảm giác rất thoải mái. Mấy anh bạn tôi như Hải, Tân, Lợi dù chưa một lần lái tàu cũng cầm lái như ai.

Sau khi tàu ra biển khơi được hơn một tiếng, tôi giao tay lái cho Duẫn. Tôi và một vài anh khác cùng phủ miếng bạt che lại khoảng trống phía trước ghe, đóng đinh nẹp kỹ để sóng biển không tạt nước vào trong. Đến khoảng 12 giờ đêm, mọi việc tạm ổn. Chúng tôi chia ca hai người lái 1-2 tiếng, những người còn lại nghỉ ngơi lấy sức.

Riêng tôi, nguyên một ngày căng thẳng từ việc bốc "khách" đến lúc vượt cửa biển qua trạm biên phòng, mấy đứa bạn khuyên tôi nên đi ngủ trước. Tôi ra phía sau ghe, nơi có sàn nước nằm nghỉ. Tôi không quên lấy sợi dây buộc ngang thắt lưng vào thành ghe, sợ ngủ quên lỡ rơi xuống biển là coi như xong. Nhưng nằm đó chứ tôi không sao ngủ được. Tính tôi hễ có việc lo lắng là cứ chập chờn.

Chẳng mấy chốc, tôi đã thấy ánh rạng hồng phía Đông. Mặt trời lên rất nhanh trên biển. Chúng tôi đã chạy được một đêm bình yên, trời êm biển lặng nên đi được khá xa bờ. Nhìn bốn bề giờ chỉ thấy mênh mông sóng nước. Chiều hôm đó, chúng tôi phát hiện phía sau có một chiếc tàu đánh cá khá lớn đang tiến gần. Lúc đầu còn xa, nhưng sau thấy nó ngày càng gần hơn. Lấy ống nhòm xem kỹ thì hình như là tàu đánh cá quốc doanh. Chúng tôi vô cùng lo lắng. Trên ghe có sẵn một cái máy đuôi tôm phụ nhưng mấy hôm nay không khởi động được. Thấy tình hình nguy ngập, tôi ra kiểm tra lại rồi cho nổ máy, đặt xuống chạy phụ thêm. Chiếc ghe tăng tốc rõ rệt, bỏ xa chiếc tàu đánh cá kia cho đến khi khuất bóng lúc chiều tối.

Nguyên ngày hôm đó trời tương đối tốt, không có sóng lớn, nhưng cái nắng biển thì rát cả da. Trên đường đi, có những đàn cá heo bơi đuổi theo ghe, nhảy lên đua cùng, nhìn rất lạ mắt. Mấy anh bạn bảo đi biển mà gặp cá heo là điềm lành, như thế này là rất tốt và may mắn...

Còn tiếp phần 5.
Chi Le



Tìm đường ra đi... sau khi rời bảng đen phấn trắng.

Phần 3
Sau những trục trặc vừa qua nay phải nhận một viêc mà Bản thân vốn chưa có chút kinh nghiệm gì về việc sửa chữa ghe cộ, lại đang trong tâm thế chẳng còn tin cẩn một ai, tôi hiểu rằng mình phải tự thân vận động. Chuyến ra đi này đặt cả sinh mạng của bao người trong đó có cả sinh mạng của tôi và người thân trên đó, nên tôi quyết định tự thuê thợ và giám sát thật kỹ lưỡng.

Tôi biết một anh bạn lớn tuổi hơn, có thâm niên trong nghề sửa ghe. Sau khi trao đổi, anh đồng ý nhận thầu trọn gói việc sửa chữa cho tôi với giá tiền công là 5 chỉ vàng – một số tiền rất lớn thời bấy giờ. Tôi tin tưởng giao việc và thanh toán đầy đủ ngay từ đầu. Thế nhưng, anh ta chỉ làm nhiệt tình được vài ngày đầu, sau đó cứ vắng mặt suốt, bỏ mặc một bác thợ lớn tuổi lụi cụi đục đẽo một mình.

Có lần tôi gặp anh, tha thiết nhờ cậy: "Anh gắng giúp cho xong vào cuối tháng giùm em." Anh ta vẫn thản nhiên: "Cứ yên trí, sẽ xong đúng hẹn."

Một hôm, từ Long Xuyên tôi lên thăm ghe thì được bác chủ bãi sửa ghe gọi vào nhà nói chuyện riêng. Bác nhìn tôi đầy nghiêm trọng: "Mấy chú làm gì tôi không muốn biết, nhưng nếu còn để ông này sửa nữa, mấy chú sẽ mất ghe và đi tù luôn đó." Tôi bàng hoàng hỏi lý do, bác kể: "Hôm qua tôi thấy ổng lượm miếng gỗ tạp cũ nát đóng vào phần cong của ghe. Tôi mới nhắc lấy gỗ đó đóng vào mấy hồi nó mục thì sao, ổng trả lời tỉnh queo: 'Ôi bà lo xa, mấy đứa này nó xài đâu có tới lúc mục đâu mà sợ'."

Nghe đến đó, tôi rụng rời tay chân. Hóa ra họ coi thường mạng sống của chúng tôi như vậy. Tôi cảm ơn bác chủ bãi rối rít. Tiền đã trả rồi, việc chúng tôi làm rất nhạy cảm nên tôi chẳng dám đôi co. Tôi đến nói nhẹ nhàng với bác thợ kia rằng ngày mai bác không cần làm nữa vì tôi đã trả đủ tiền cho người thuê bác rồi. Có lẽ anh ta cũng đã được trả sòng phẳng cho bác nên ông cũng không mặn mà gì việc làm này lắm, và ông cũng lẳng lặng rời đi.

Sau lần đó, tôi tìm được những người thợ chuyên nghiệp hơn qua sự giới thiệu của người quen bên cồn Mỹ Hòa Hưng. Khi qua xem xét và định giá, họ báo giá chỉ bằng một nửa so với người trước. Trò chuyện mới biết, người thợ này cũng có bà con xa với ba má tôi ở quê. Tôi rút kinh nghiệm, chỉ đưa trước một nửa tiền với lý do "đang kẹt tiền, vài hôm nữa mới có," đồng thời hứa sẽ thưởng thêm nếu xong sớm trong 2-3 tuần.

Lần này mọi chuyện hạnh thông. Hôm sau anh thợ đưa thêm 3 người nữa qua làm ròng rã 10 ngày là xong xuôi. Tôi mừng quá, thưởng cho anh gấp đôi số tiền anh ra giá ban đầu. Đôi bên cùng vui vẻ. Tôi cũng không quên mua quà tặng bác chủ bãi để cảm ơn lời cảnh báo chí tình của bác.

Ghe hạ thủy chạy thử, nhưng máy móc lại trục trặc. Tôi lại lạch bạch chạy ghe xuống tiệm sửa máy ở Thốt Nốt của một người anh em họ để sữa chữa lại toàn bộ. Vì sự cố này mà chuyến đi không kịp khởi hành trước Tết.

Thôi thì cũng là cái duyên, tôi gửi ghe lại tiệm máy rồi về quê ăn Tết cùng gia đình. Đó là cái Tết cuối cùng của tôi trên mảnh đất quê hương, và tôi đã gặp điềm lành như đã kể trong bài "HOA MAI NƠI XỨ TUYẾT: MỘT NHÀNH MAY MẮN"

Mùng 7 Tết, tôi trở xuống Thốt Nốt. Máy móc đã hoàn hảo, tôi và đứa em chạy thử mấy ngày thấy rất ổn định. Tôi về lại Sài Gòn báo tin cho bạn bè chuẩn bị xuất phát vào khoảng ngày 15, 16 tháng 2 năm 1987. Trước khi đi, tôi về quê lấy những vật dụng thiết yếu như hải bàn, hải đồ và đến nhà cô Út để xin phép.

Trái với mong đợi, khi đến gia đình cô Út Tôi cảm giác lạc lẻo khác thường. Cô nói : "Má nói mày cãi lời má trốn đi, tao chết cho mày coi!" Đau lòng nhưng không thể quay đầu, tôi chỉ biết cố gắng níu kéo bằng một lời hẹn: "Tất cả mọi việc đã sẳn sàng, ngày mai anh chờ em ở quán cà phê Bạn Trẻ lúc 10 giờ sáng" Rồi ra về không nhiều hy vọng.

Đêm đó ở nhà ba má, tôi trằn trọc không sao ngủ được mới 5-6 giờ sáng, nghe tiếng rao hàng rong đầu ngõ, tôi đã trở dậy. Má tôi biết hai anh em tôi sẽ đi vào hôm nay, gương mặt bà hằn lên nỗi lo âu cùng cực. Tôi ra chợ gần nhà uống ly cà phê cuối cùng với bạn bè nhưng tuyệt nhiên không dám hé môi về việc ra đi.

8 giờ sáng, tôi về nhà lấy đồ đạc. Má bảo: "Gắng chờ chút má nấu cơm xong, ăn rồi hãy đi con." Tôi không dám ở lại, sợ rằng nếu nhìn vào mắt má lâu hơn, tôi sẽ không cầm được nước mắt. Tôi chỉ kịp nghẹn ngào: "Thôi con đi má ơi!" rồi bước đi thật nhanh như một kẻ trốn chạy..

Ra đến Long Xuyên mới hơn 9 giờ, tôi ngồi ở quán cà phê Bạn Trẻ, vừa ăn sáng vừa ngóng đợi cô Út. Kim đồng hồ nhích dần đến 12 giờ trưa nhưng bóng dáng Cô Út đâu vẫn không thấy. Tôi biết mình phải làm gì. Tôi đi bộ lại nhà chị bạn chủ tiệm may – nơi cô Út từng học may trước đây – để đón đứa con gái của chị mới 12 tuổi cùng đi theo. Ba cháu đã sang Mỹ vài năm trước. Hai cậu cháu dắt díu nhau lên xe lam đi về hướng Thốt Nốt, bắt đầu một hành trình không chắc sẻ đi về đâu.

còn tiếp phần 4
Chi Le

Tìm đường ra đi... sau khi rời bảng đen phấn trắng

Phần 2
Sau khi chính thức tham gia vào nhóm bạn mới, họ nhận thấy tôi có một vài kỹ năng mà họ đang cần, như lái tàu trên sông hay sửa chữa máy móc lặt vặt. Vì thế, họ rất quý trọng tôi. Từ đó, tôi không còn gặp khó khăn về tiền bạc như trước nữa.

Nhưng ở đời, chuyện gì cũng có cái giá của nó. Công việc này khiến tôi có thể đi "ủ tờ" bất cứ lúc nào, nên tâm lý lúc đó là "có đồng nào xào đồng đó". Tôi bắt đầu biết đến mùi rượu và uống lai rai – những điều mà má tôi rất sợ. Dĩ nhiên, bà không thể nào biết được vì tôi cứ đi biền biệt, nay đây mai đó.

Trong những năm ấy, đời sống người dân đa số còn nghèo khó lắm, nhưng nhóm chúng tôi mỗi lần lên Sài Gòn là lại ở những khách sạn sang trọng như Lục Quốc hay khách sạn Sài Gòn. Chúng tôi thậm chí còn muốn thuê cả khách sạn Caravelle, nhưng không được vì nơi đó chỉ dành cho khách nước ngoài hoặc đại biểu Quốc hội, nên cuối cùng lại quay về Lục Quốc.

Đọc đến đoạn này, có thể bạn sẽ trách tôi: mới khổ đó mà sao giờ lại hoang phí vậy? Nhưng không đâu các bạn, lúc đó chúng tôi sống mà không hề biết tương lai ngày mai sẽ ra sao. Đến ngày "đi đánh" – một từ lóng để chỉ việc đưa tàu vượt qua trạm biên phòng – chỉ cần chút xui xẻo là có thể bị đạn đồng ghim vào ngực, hoặc may mắn hơn thì vào tù, bị đánh đập để khai ra chủ mưu và đồng bọn. Thế nên, có tiền là phải tiêu xài hết, chứ để làm gì? Nếu ngày mai vào tù, ai xài tiền đây?

Tôi cứ sống như một người không phương hướng như thế cho đến hơn một năm sau. Sau khi giúp nhóm thực hiện thành công vài vụ ra đi, tôi mới giật mình nhìn lại và tự bảo mình phải tìm một lối thoát thực sự. Đó là năm 1986, tôi nhất quyết phải ra đi trong năm này.

Khoảng tháng 6, nhóm quyết định từ đây đến cuối năm phải tổ chức một chuyến ra khơi nữa. Lúc này, tôi đã có được sự tin tưởng nên người chủ nhóm giao cho tôi quản lý nguyên chiếc ghe. Tôi có quyền quyết định cho ai đi, ai ở, chỉ cần đảm bảo đủ số lượng người mà họ đưa xuống.

Cơ hội này cho phép tôi mang theo những người thân của mình, kể cả cô Út. Dự tính khoảng tháng 10 hoặc tháng 11 năm đó sẽ khởi hành. Tôi sắp xếp cho đứa em trai kế cùng đi. Đứa em Út cũng muốn theo, nhưng tôi không dám cho cả ba anh em đi cùng một chuyến vì không ai biết trước số phận ra sao. Khoảng hai năm trước, trong xóm tôi có một chiếc ghe chở 4-5 anh em cùng đi rồi mất tích đến tận bây giờ không có tin tức gì. Ngày đó, đi lâu mà không có tin về coi như là đã chết.

May mắn lúc ấy cô Út được má cho ra Long Xuyên học may và ở trọ nhà cậu Năm trên đường Hùng Vương. Vì thế, chúng tôi thường xuyên gặp nhau mỗi khi tôi về Long Xuyên. Hai đứa bàn tính: sáng sớm ngày X cô Út ra bến tàu, tôi đến đón rồi cho ghe chạy xuống Cần Thơ, về Vị Thanh, qua Tắc Cậu để ra cửa sông Cái Lớn rồi ra khơi.

Nhưng người tính không bằng trời tính. Sau khi tôi nhận chiếc ghe mà nhóm kia đóng xong, tôi đưa về đậu ở khu ghe buôn bán gần Cồn Phố Quế, Long Xuyên. Sáng ngủ dậy, tôi bàng hoàng thấy nước đã tràn vào gần nửa chiếc ghe. Té ra bọn này làm ẩu để lấy tiền.

Tôi vội để đứa em tạm ở lại trông ghe, còn mình tức tốc đến điểm hẹn với cô Út để báo rằng chuyến đi bị đình lại, bảo cô cứ về nhà cậu Năm. Nhưng tôi không ngờ cậu mợ Năm đã biết chuyện cô Út có ý định đi cùng tôi. Họ báo cho mẹ cô ấy biết. Mẹ cô yêu cầu tôi phải làm đám cưới rồi mới được đưa cô đi, chứ không muốn để con gái đi như thế.

Thú thật, lúc đó tôi tự thấy mình còn lông bông quá, chưa sẵn sàng để làm chồng, làm cha. Hơn nữa, nếu cưới vợ mà lỡ chuyến đi không thành, phải ở lại thì lấy gì mà sống? Vì tôi cứ lần lự mãi không đáp ứng yêu cầu của mẹ cô nên cô cũng đâm ra giận tôi.

Sau đó, tôi phải đi Cần Thơ ngay để nhờ thằng bạn chạy về Sài Gòn chặn không cho khách xuống. Nếu cứ để họ xuống rồi lỡ có chuyện gì thì cả đám đi tù như chơi. Chuyến đi coi như bị đình lại không thời hạn.
Vì đã lỡ lấy chiếc ghe quá cũ kỹ, bỏ thì không đành nên tôi và thằng bạn dự định đi chung bàn với nhau: họ sẽ bỏ tiền ra để sửa chữa lại rồi sắp xếp ra đi sau. Tôi nhận trách nhiệm trực tiếp giám sát thợ sửa theo ý mình, vì chính tôi sẽ là người cầm lái chuyến này.

Khi thuê thợ rã ghe ra sửa, tôi mới kinh hoàng nhận ra tụi kia làm ăn quá tắc trách. Nếu chuyến đó tôi cứ nhắm mắt cho ghe ra khơi thì chỉ có con đường chết. Dưới lườn ghe đã mục nát hết, chỉ cần chạy máy mạnh một chút là đinh ốc không còn chỗ bám, nước sẽ ồ ạt tràn vào. Nếu ra đến biển, gặp một con sóng lớn thôi là ghe chắc chắn sẽ bể tan. Đúng là trong cái rủi lại có cái may.

con phan 3

Chi Le
Tìm đường ra đi....sau khi rời bảng đen phấn trắng

Phần 1
Chỉ còn vỏn vẹn hơn tháng nữa là kết thúc niên khóa, nhưng hoàn cảnh ngặt nghèo buộc tôi phải dứt áo ra đi ngay giữa niên khóa. Trong lòng không khỏi dấy lên nỗi ái ngại, xót xa cho những tiết học dang dở, cho gương mặt những đứa học trò nhỏ thơ ngây, nhưng "người ta" không thể chờ đợi tôi thêm được nữa. Một lời xin lỗi muộn màng gửi lại ngôi trường cũ, tôi bước chân vào cuộc hành trình mà chính mình cũng chưa biết về đâu.

Điểm dừng chân đầu tiên là Long Xuyên. Anh bạn thân dẫn tôi xuống bến đò Trà Ôn, nơi có bãi sửa ghe đang tất bật. Chúng tôi hối hả phụ những người thợ hoàn thiện chiếc ghe để kịp hạ thủy trong tháng sáu, chuẩn bị cho một chuyến "thử thời vận" ngoài biển lớn. Dù tháng Tám còn xa, nhưng chủ ghe muốn cho tàu xuống nước sớm để chạy rà soát trên sông, kiểm tra mọi ngóc ngách máy móc xem có trục trặc gì không.

Cũng may, tôi vốn là dân vùng sông nước, từ nhỏ đã quen việc lái tàu máy trong sông. Trước khi bước chân vào sư phạm, tôi từng có thời gian phụ việc ở tiệm sửa máy tàu của chú Bảy – người quen của ba tôi dưới chợ. Chút kinh nghiệm về máy đuôi tôm, máy bơm nước từ ngày ấy bỗng trở thành hữu dụng cho tôi lúc này.

Cuối tháng Sáu, lễ hạ thủy diễn ra. Từ một ông giáo cầm phấn, tôi chính thức trở thành một anh thủy thủ "bất đắc dĩ". Đấy các bạn thấy tôi làm việc gì cũng "bất đắc dĩ" nhưng mọi việc cũng khá suông sẻ.

Cuộc sống dưới ghe là một thế giới hoàn toàn khác, vui buồn lẫn lộn. Xưa nay ở nhà có Má nấu cơm dẻo canh ngọt, giờ trên ghe toàn những "thằng đực rựa" vụng về. Đói bụng thì "đầu gối phải bò", chúng tôi chia nhau nấu nướng. Bữa cơm trên sóng nước khi thì khét lẹt, khi thì hạt sống hạt chín, nhưng cũng phải gắng mà nuốt cho no bụng.

Kỷ niệm đáng nhớ nhất là về "anh bạn đồng hành" có sở thích kỳ lạ. Cứ hễ ghé chợ nào, anh ta cũng chỉ đòi mua hột vịt lộn để ăn, không chịu ăn bất cứ thứ gì khác. Tôi thì vốn sợ món đó, nên cực chẳng đã, hai thằng đành chia nồi, ai muốn ăn gì tự nấu lấy.

Có những chiều mưa tầm tã, củi ướt nhẹp, tôi phải khom lưng thổi lửa đến đỏ rực cả mặt, nước mắt giàn giụa vì khói cay chứ chẳng phải vì buồn tủi. Lúc ấy mới thấm thía lời dạy người xưa: "Các con có bữa ăn phải cực khổ lắm".

Chiếc ghe cứ thế ngược xuôi. Khi thì trôi theo dòng sông Hậu hiền hòa về Cần Thơ, lúc lại len lỏi vào Cái Răng, Phong Điền, qua Cầu Nhiếm, Trường Long. Có khi chúng tôi ghé chợ Nhân Nghĩa, rồi theo kinh sáng đi Bảy Ngàn, Tám Ngàn về Vị Thanh, Hỏa Lựu, ra sông Cái Lớn, qua Gò Quao về Tắc Cậu, rồi lại vòng về Long Xuyên.

Bây giờ kể lại chắc mọi người sẽ ngạc nhiên: "Đi lòng vòng thế để làm gì?". Thật ra, chúng tôi chẳng thể đậu một chỗ quá hai ngày vì sợ công an để ý, phiền phức. Để có lý do bám trụ, chúng tôi ghé Gò Quao mua ít lá dừa nước về Long Xuyên bán cho người ta lợp nhà. Chẳng cần lời lỗ, chỉ cần có việc để làm, có cớ để di chuyển là đủ. Những hành trình không tên cứ thế nối dài qua Sa Đéc, Vĩnh Long, Cái Bè, An Hữu, Cai Lậy...

Đến tháng Tám năm ấy, khi chuyến đi thực sự ra khơi đã cận kề, tôi và anh bạn "nghiện hột vịt lộn" nảy sinh bất đồng. Phần vì tính cách không hợp, phần vì chủ tàu muốn giữ tôi lại phụ thêm vài chuyến nữa trước khi chính thức đi xa, nên tôi đã chọn ở lại. Nhưng cả hai lý do đó cũng không phải là hai lý do chính mà tôi quyết định ở lại, mà tôi muốn làm tiếp với tụi bạn mới này thời gian nửa để được đẫn cô ÚT của tôi, người mà tôi phải lòng, còn cô thì "Tình trong như đã mặt ngoài còn e"

Sau mùa Trung thu năm đó, tôi cùng vài người bạn lẳng lặng Tiễn chiếc ghe rời đi trong một đêm không trăng không sao. Tôi trở về Sài Gòn, dành vài tuần nghỉ ngơi và chuẩn bị cho một kế hoạch mới: tìm mua một chiếc ghe khác, bắt đầu một chương mới cho cuộc đời tôi vốn đã quá nhiều ngã rẽ.

còn tiếp phần 2.

Chi Le

Sunday, September 6, 2026

Người tị nạn Việt Nam tai Israel

Vào tháng 6 năm 1977, một chiếc thuyền chở 66 người tị nạn Việt Nam trôi dạt nhiều ngày trên Biển Đông. Họ được một tàu chở hàng Yuvali của Israel cứu hộ, nhưng không quốc gia nào đồng ý tiếp nhận họ.

Israel, khi đó chỉ 29 năm tuổi và vẫn đang tiếp nhận làn sóng nhập cư Do Thái .
Thủ tướng Menachem Begin, người đã mất cha mẹ trong cuộc diệt chủng Holocaust, nói:

“Hãy để họ đến. Chúng ta, dân tộc Do Thái, hiểu cảm giác làm người tị nạn là như thế nào.”

Quyết định nhân đạo : Dù tàu Yuvali chỉ trang bị đủ phao cứu sinh và áo phao cho 30 thành viên thủy thủ đoàn, Thuyền trưởng Tadmor vẫn quyết định đón toàn bộ 66 người tị nạn lên tàu.

Tàu Yuvali đã đánh tín hiệu đến nhiều cảng biển ở châu Á (như Hong Kong, Singapore) và các quốc gia khác để xin cập cảng lánh nạn cho hành khách, nhưng không một nơi nào đồng ý tiếp nhận.

Khi biết tin, Thủ tướng Israel Menachem Begin vừa nhậm chức được vài ngày đã lập tức ban bố sắc lệnh đặc cách đón họ về Israel. Ông tuyên bố hành động này nhằm nhắc nhở thế giới về thảm kịch lặp lại của con tàu chở người Do Thái MS St. Louis năm 1939 – con tàu từng bị toàn bộ châu Mỹ từ chối và đẩy hàng trăm người Do Thái trở lại tay phát xít Đức.

Đến miền đất mới:
Ngày 26/6/1977, nhóm 66 người tị nạn chính thức đặt chân đến Sân bay Ben Gurion. Người đại diện phát ngôn cho nhóm lúc đó là bác sĩ quân y Trần Quang Hoa. Ông xúc động chia sẻ rằng trước khi được cứu, họ chưa từng biết đến cái tên Israel trên bản đồ thế giới.

Mở rộng vòng tay:
Sau nhóm đầu tiên trên tàu Yuvali, Israel tiếp tục đón thêm 2 nhóm tị nạn nữa trong giai đoạn 1977–1979, nâng tổng số người Việt được tiếp nhận lên khoảng 366 người.

Chính sách hỗ trợ:
Toàn bộ người Việt được cấp tư cách thường trú, sau đó là quốc tịch, căn hộ và được hỗ trợ học tiếng Do Thái (Hebrew). Họ định cư tập trung tại các thành phố duyên hải như Bat Yam, Jaffa, Haifa, và Tel Aviv.

Thách thức ngôn ngữ:
Thế hệ đầu tiên gặp rất nhiều rào cản khi hòa nhập vì tiếng Do Thái cực kỳ khó học và văn hóa có sự khác biệt lớn. Tuy nhiên, họ đã nỗ lực làm việc trong các nhà máy, mở nhà hàng món ăn Á Đông, hoặc làm việc trong ngành y tế. Thế hệ con cháu của họ (thế hệ thứ 2 và thứ 3) lớn lên nói tiếng Hebrew trôi chảy, đi học trường bản địa và tham gia nghĩa vụ quân sự như công dân Israel thực thụ.

Cuộc sống của cộng đồng hiện nay :
Theo thời gian, hơn một nửa số người tị nạn gốc Việt ban đầu đã rời Israel để chuyển sang các quốc gia có cộng đồng người Việt lớn hơn như Mỹ, Pháp, Canada nhằm đoàn tụ với người thân.

Hiện tại: Tính đến những năm gần đây, ước tính chỉ còn khoảng 150 – 200 người thuộc thế hệ tị nạn cũ và hậu duệ của họ ở lại gắn bó với Israel. Một số người đã gặt hái được thành công lớn, chẳng hạn như ông Dao Wong (từng đứng đầu chi nhánh Ngân hàng Hapoalim của Israel tại Singapore), hay ông Kien Wong (chủ nhà hàng Yan Yan nổi tiếng tại Haifa).

Hiện nay, Hội người Việt Nam tại Israel ghi nhận có tổng cộng khoảng 700 người Việt đang sinh sống tại đây. Con số này bao gồm gần 500 người định cư lâu dài (tính cả nhóm tị nạn năm xưa kết hôn với người bản địa, người sang lao động định cư) và số còn lại là du học sinh, tu nghiệp sinh nông nghiệp. Dù trải qua nhiều giai đoạn biến động địa chính trị ở Trung Đông, cộng đồng người Việt tại đây vẫn duy trì cuộc sống ổn định, đoàn kết và giữ mối liên hệ chặt chẽ với quê hương. 

( Võ Hữu Nhậm )

Friday, July 17, 2026

TẠ ƠN PULAU BIDONG - HÒN ĐẢO CƯU MANG NHỮNG MẢNH ĐỜI TỊ NẠN…

Có những nơi, chỉ một lần đi qua… nhưng sẽ ở lại trong tim suốt cả cuộc đời.

Hôm nay, tình cờ nhìn lại những tấm hình cũ của Pulau Bidong, nước mắt tôi chợt rơi…

Đã bao nhiêu năm rồi? Bốn mươi mấy năm… nửa đời người đã trôi qua. Thế nhưng, chỉ cần nhìn thấy một góc bãi biển, một mái lều đơn sơ, một con đường đất đỏ hay những khuôn mặt gầy gò năm ấy, mọi ký ức lại hiện về nguyên vẹn như mới hôm qua.

Pulau Bidong…

Hai tiếng ấy không chỉ là tên của một hòn đảo.

Đó là nơi đã ôm lấy những con thuyền mong manh giữa đại dương mênh mông. Đó là nơi đã cưu mang những con người kiệt sức sau bao ngày lênh đênh trên biển, đối mặt với bão tố, đói khát, hải tặc và ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết.

Có những người đã đặt chân được lên đảo trong niềm vui vỡ òa vì mình còn sống.

Có những người đã mất đi người thân ngay trên biển, mang theo nỗi đau không bao giờ nguôi.

Có những đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời trên đảo, và cũng có những người khép lại cuộc đời nơi ấy, mãi mãi nằm lại giữa lòng biển Đông.

Pulau Bidong đã chứng kiến tất cả…

Đã lặng lẽ ôm lấy biết bao nước mắt, biết bao lời cầu nguyện, biết bao giấc mơ về một ngày mai có tự do, có bình yên và có tương lai cho con cháu.

Ngày rời đảo để bắt đầu cuộc sống mới, ai cũng mang theo niềm hy vọng. Nhưng có lẽ, không một ai mang hết trái tim mình đi được.

Bởi một phần trái tim ấy… đã ở lại Pulau Bidong.

Hôm nay, những người từng là thuyền nhân năm xưa đã trở thành ông bà, cha mẹ. Con cháu chúng ta lớn lên trong hòa bình, học hành thành đạt và có mặt khắp năm châu. Các thế hệ tiếp nối có thể chưa từng đặt chân lên Pulau Bidong, nhưng tôi mong các con, các cháu sẽ luôn biết rằng: cuộc sống hôm nay được đổi bằng biết bao nước mắt, sự hy sinh và lòng can đảm của thế hệ đi trước.

Xin đừng bao giờ quên.

Đừng quên những con thuyền nhỏ đã vượt biển đi tìm tự do.

Đừng quên những người đã nằm lại giữa đại dương mà không bao giờ tới được bến bờ.

Đừng quên những quốc gia, những tổ chức nhân đạo và những tấm lòng đã dang rộng vòng tay cứu giúp người Việt tị nạn trong lúc tuyệt vọng nhất.

Và trên tất cả…

Đừng bao giờ quên Pulau Bidong – hòn đảo nhỏ nhưng mang một trái tim vô cùng lớn.

Nơi ấy không chỉ cứu sống hàng trăm nghìn con người.

Nơi ấy còn hồi sinh niềm tin, gieo lại hy vọng và viết tiếp tương lai cho biết bao gia đình.

Hôm nay, tôi xin chia sẻ những hình ảnh về những Bidongers và các thế hệ tiếp nối trên khắp thế giới.

Xin mời mọi người cùng nhìn lại, để nhớ… để biết ơn… để tri ân… và để kể lại cho con cháu rằng:

Đã có một hòn đảo mang tên Pulau Bidong.

Đã có một thế hệ mang tên Thuyền Nhân.

Đã có một cộng đồng mang tên Bidongers.

Và dù thời gian có trôi qua bao lâu, dù mỗi người đang sống ở một phương trời khác nhau…

Pulau Bidong vẫn mãi là quê hương của ký ức. Là chiếc nôi của hy vọng. Là mảnh đất thiêng trong trái tim của những người Việt tị nạn.

Có những hòn đảo chỉ hiện diện trên bản đồ.

Riêng Pulau Bidong… mãi mãi hiện diện trong trái tim của những người đã từng sống, từng khóc, từng hy vọng và từng được tái sinh từ nơi ấy.

Xin cúi đầu tưởng nhớ những người đã không bao giờ đến được bến bờ.

Xin trân trọng biết ơn những người đã mở rộng vòng tay cứu giúp.

Và xin gìn giữ ký ức Pulau Bidong như một ngọn lửa thiêng, để truyền lại cho muôn đời sau.

Pulau Bidong – Một lần là ký ức. Một đời là ân nghĩa. Một đời không quên.

NGHIA CAM
KG 3640


Friday, May 29, 2026

Ba Má Tôi Đã Đánh Hải Tặc Giữa Biển Đông

Có những đêm trên biển Đông, bóng tối không chỉ đến từ sóng gió… Mà còn đến từ lòng người.

Chiếc ghe gỗ chở hơn bốn mươi mạng người lặng lẽ rời bờ trong đêm. Không ai dám khóc lớn. Không ai dám quay đầu nhìn lại quê nhà lần cuối. Chỉ có tiếng máy ghe phành phạch và tiếng sóng đập vào mạn gỗ như nhịp tim run rẩy của những con người đang đánh cược mạng sống để tìm tự do.

Trong khoang ghe chật hẹp ấy có một gia đình ba người.
Người cha tên Tư.
Người mẹ tên Hạnh.
Và cô con gái nhỏ mới mười hai tuổi tên Linh.
Linh ôm chặt con búp bê cũ đã sờn chỉ, ngồi nép vào lòng mẹ. Con bé không hiểu hết hai chữ “vượt biên,” chỉ biết ba má nói:
“Qua tới bển… con sẽ được đi học, được sống yên ổn.”

Suốt ba ngày lênh đênh, biển tương đối yên. Mọi người bắt đầu nuôi hy vọng.
Cho đến buổi chiều hôm đó. Khoảng gần hoàng hôn, từ xa xuất hiện một chiếc tàu lạ.
Một người đàn ông trên ghe chết lặng:
“Hải tặc Thái…”
Cả ghe lập tức chìm trong hoảng loạn. Mấy người đàn bà ôm con bật khóc. Có người quỳ xuống cầu nguyện. Người tài công run tay đến mức không giữ nổi bánh lái.
Chiếc tàu kia lao tới nhanh như cá mập ngửi thấy máu.
RẦM!
Hai tên hải tặc nhảy phốc sang ghe vượt biên, tay cầm dao dài và cây sắt. Mùi rượu, mùi mồ hôi và ánh mắt thú dữ khiến ai cũng lạnh sống lưng.
Chúng lục tung đồ đạc, giật vàng, xé túi xách. Một người đàn ông chống cự liền bị đập vào đầu ngã gục.

Rồi ánh mắt của một tên dừng lại nơi bé Linh. Con bé sợ đến cứng người, ôm chặt mẹ.
Tên hải tặc bước tới, cười ghê rợn.
Người mẹ lập tức kéo con ra sau lưng:
“Đừng đụng tới con tôi!”
Tên kia quát lớn rồi chụp lấy cánh tay Linh.
Con bé hét lên.
Tiếng hét ấy như xé nát mặt biển chiều hôm đó.
Người cha lao tới đầu tiên.
Ông Tư không có vũ khí. Chỉ có đôi tay trần của một người cha. Ông đấm thẳng vào mặt tên hải tặc khiến hắn lảo đảo. Nhưng tên còn lại lập tức vụt cây sắt vào lưng ông.
BỐP!
Ông ngã quỵ. Máu trào nơi khóe miệng.
“Ba!” Linh gào khóc.
Nhưng người mẹ lúc ấy như hóa thành người khác.
Bà Hạnh chụp lấy cây chèo gãy dưới sàn ghe rồi lao tới.
“Muốn giết thì giết tao trước!”
BÀM!
Cây chèo quật trúng vai tên hải tặc.
Hắn không ngờ một người đàn bà gầy gò lại dám chống trả dữ dội như vậy.
Bà đánh thêm cái nữa. Rồi thêm cái nữa. Tóc bà rối tung trong gió biển. Hai tay run lên vì sợ, nhưng vẫn đứng chắn trước mặt con gái.
Tên hải tặc chửi thề rồi lao tới bóp cổ bà.
Ngay lúc đó, ông Tư từ dưới sàn ghe bật dậy, ôm chầm lấy chân hắn kéo ngã xuống.
Cả chiếc ghe hỗn loạn.
Tiếng la hét.
Tiếng khóc.
Tiếng sóng đánh dữ dội.
Một người trên ghe liều mạng xông vào phụ giúp. Rồi thêm vài người đàn ông khác cùng nhào tới.
Hai tên hải tặc thấy chống cự quá dữ nên cuối cùng bỏ cuộc. Chúng nhảy trở lại tàu mình, trước khi phóng đi giữa biển chiều đỏ như máu.

Chiếc ghe im lặng đến rợn người.
Ông Tư nằm thở dốc, lưng đầy máu. Bà Hạnh quỳ ôm con gái run bần bật.
Linh khóc nấc:
“Má ơi… con sợ…”
Người mẹ ôm chặt con vào lòng:
“Không sao đâu… má ở đây…”
Đêm đó, không ai ngủ.
Ngoài biển tối đen, nhiều người lặng lẽ khóc vì biết mình vừa thoát khỏi địa ngục.
Linh nằm giữa ba má. Con bé thấy tay ba vẫn còn run. Vai má còn bầm tím.
Nó khẽ hỏi:
“Ba má… hồi nãy không sợ hả?”
Ông Tư nhìn con gái rất lâu.
Rồi người cha khàn giọng:
“Có chứ…”
“Vậy sao ba má vẫn đánh họ?”
Bà Hạnh vuốt tóc con bé, nước mắt rơi xuống má con:
“Vì dù có chết… ba má cũng không để ai chạm tới con.”

Nhiều năm sau, khi đã định cư nơi đất khách, Linh vẫn không quên buổi chiều trên biển năm ấy.
Người ta thường hỏi tại sao cô luôn cúi đầu thật lâu mỗi khi nhắc đến cha mẹ.
Bởi chỉ mình cô hiểu…
Có những anh hùng không mặc quân phục.
Không có huy chương.
Không ai biết tên.
Nhưng giữa biển Đông đầy máu và nước mắt năm đó…
Một người cha và một người mẹ Việt Nam đã dám lấy thân mình chống lại hải tặc để giữ mạng sống và nhân phẩm cho con gái mình.

Phạm Sơn Liêm


Blog Archive