Mỹ, Đài Loan và chính sách "Một Trung Quốc"
Hơn 30 năm trước, nơi tôi làm việc nằm trong ngôi nhà mái ngói xanh với các cột đỏ này, khi ấy nó là Viện Kinh Tế, số 175 Hai Bà Trưng, Q.3, Sài Gòn. Hiện tại nó là Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc. Nhưng trước 1975 nó là Toà Đại sứ Trung Hoa Dân Quốc, tức Đài Loan.
Bao giờ tôi cũng coi Đài Loan là một quốc gia với đầy đủ chủ quyền, và quân đội Trung Hoa Dân Quốc cũng là lực lượng đã cùng với Đồng minh chiến thắng phe Trục năm 1945 và góp phần lập ra LHQ. Tiếc thay Đài Loan đã bị cô lập trên trường ngoại giao thế giới vì dã tâm của Trung Quốc cộng sản.
Hình 2 là hướng dẫn của cơ quan Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ Hoa Kỳ USCIS dành cho những người nhập cư sinh ra tại Đài Loan khi làm thủ tục nhập tịch Mỹ.
Theo hướng dẫn này, một đương đơn sinh ra tại Đài Loan có thể ghi Đài Loan (Taiwan) là quốc gia nơi sinh của mình. Giấy chứng nhận nhập tịch (Certificates of Citizenship) của các đương đơn này sẽ được cấp với thông tin Đài Loan là quốc gia nơi sinh. USCIS không cấp các giấy chứng nhận cụ thể các cụm từ như: "Taiwan, PRC" (Đài Loan, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), "Taiwan, China" (Đài Loan, Trung Quốc), "Taiwan, Republic of China" (Đài Loan, Trung Hoa Dân Quốc), hay "Taiwan, ROC"...
Quy định này của cơ quan di trú Mỹ mang tính nhất quán và độc lập về mặt hành chính, thể hiện rõ lập trường ngoại giao của Washington là: chính phủ Mỹ từ chối công nhận về mặt hành chính rằng Đài Loan là một tỉnh hay một phần thuộc chủ quyền tài phán của chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc đại lục) trên các giấy tờ công dân.
Văn bản này cũng cấm ghi các danh xưng chính thức của chính quyền Đài Loan như "Republic of China" (Trung Hoa Dân Quốc) hay "ROC". Điều này nhằm tuân thủ chính sách "Một Trung Quốc" mang tính ngoại giao của Mỹ (chỉ duy trì quan hệ chính thức với Bắc Kinh, không công nhận nhà nước ROC về mặt pháp lý), nhưng đồng thời tôn trọng thực tế độc lập của hòn đảo bằng cách cho phép dùng duy nhất một chữ "Taiwan" (Đài Loan) làm danh xưng độc lập. Như vậy, chính sách "Một Trung Quốc" đối với Mỹ chỉ là một thủ thuật ngoại giao.
Trước hết việc hình thành chính sách "Một Trung Quốc" của Mỹ trong giai đoạn thập niên 1970 diễn ra trong bối cảnh cả hai bờ eo biển Đài Loan tức cả Mao Trạch Đông (Bắc Kinh) và Tưởng Giới Thạch (Đài Bắc), đều có quan điểm cứng rắn giống nhau là: Chỉ có duy nhất một nước Trung Quốc hợp pháp.
Trong khi từ thời Mao cho đến chính quyền Tập Cận Bình hiện tại luôn khăng khăng lấy trọn Đài Loan vào "Một Trung Quốc", thì sinh thời Tưởng Giới Thạch cũng khẳng định sẽ thu giang sơn về một mối, nghĩa là Trung Quốc đại lục cũng là một phần của Trung Hoa Dân Quốc.
Lịch sử ngoại giao Mỹ đã tận dụng chính sự "đồng thuận ngược đời" này giữa hai kẻ thù không đội trời chung để thiết lập nên cấu trúc chính sách "Một Trung Quốc" (One-China Policy). Chi tiết lịch sử diễn ra như sau:
Quan điểm của Tưởng Giới Thạch: "Hán tặc bất lưỡng lập"
Sau khi thất bại trong cuộc Nội chiến và rút chạy ra đảo Đài Loan vào năm 1949, Tưởng Giới Thạch vẫn duy trì lập trường Trung Hoa Dân Quốc (ROC) là chính phủ hợp pháp duy nhất đại diện cho toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc (gồm cả đại lục).
Tưởng Giới Thạch coi chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) ở Bắc Kinh là "phiến quân" cướp chính quyền và từ chối mọi giải pháp chia cắt hay công nhận hai quốc gia độc lập.
Khẩu hiệu bất hủ của Đài Bắc lúc đó là "Hán tặc bất lưỡng lập" (nghĩa là Người Hán chính thống và giặc cộng sản không thể cùng tồn tại). Tưởng Giới Thạch tuyên bố thẳng thắn: Nếu một quốc gia muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với Đài Bắc, họ buộc phải cắt đứt quan hệ với Bắc Kinh, và ngược lại.
Trong suốt gần 30 năm (1949 – 1978), Mỹ chấp nhận luật chơi này của Tưởng Giới Thạch và chỉ công nhận ngoại giao với Đài Bắc để chống cộng sản. Tuy nhiên, đến thập niên 1970, cục diện Chiến tranh Lạnh thay đổi. Mỹ cần bắt tay với Bắc Kinh để cô lập Liên Xô.
Vì cả Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch đều ép thế giới phải chọn 1 trong 2, Mỹ không thể áp dụng công thức "Công nhận cả hai" (như trường hợp Đông Đức - Tây Đức hay Nam Hàn - Bắc Triều Tiên). Do đó, Mỹ đã phải nhượng bộ áp dụng chính sách "Một Trung Quốc".
Mỹ ghi nhận thực tế rằng: "Mỹ thừa nhận rằng tất cả người Trung Quốc ở cả hai bên eo biển Đài Loan đều duy trì quan điểm chỉ có một Trung Quốc và Đài Loan là một phần của Trung Quốc". Đây chính là việc Mỹ mượn lời của cả Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch để làm cái cớ dọn đường ngoại giao.
Năm 1979, Mỹ chính thức chuyển dịch công nhận ngoại giao từ Đài Bắc sang Bắc Kinh, trong khi Tưởng Giới Thạch qua đời vào năm 1975 và con trai ông là Tưởng Kinh Quốc lên thay thế và vẫn tiếp tục duy trì lập trường bảo thủ "Một Trung Quốc" của cha mình.
Do đó, vào thời điểm Tổng thống Mỹ Jimmy Carter tuyên bố chính thức cắt đứt quan hệ với Đài Loan vào cuối năm 1978 (có hiệu lực ngày 1/1/1979), chính quyền Đài Bắc vẫn đang vận hành hoàn toàn theo tư tưởng của Tưởng Giới Thạch.
Mãi sau này khi Đài Loan tiến hành dân chủ hóa, các nhà lãnh đạo thuộc thế hệ mới dần từ bỏ yêu sách chủ quyền đối với Trung Quốc đại lục để tập trung bảo vệ bản sắc độc lập của hòn đảo. Nhưng lúc này, khuôn khổ "Một Trung Quốc" mà Mỹ ký kết từ thời Tưởng Giới Thạch đã trở thành một nền tảng pháp lý quốc tế không thể đảo ngược.
Và tất nhiên với danh nghĩa một quốc gia có quốc hiệu, quốc kỳ, quốc ca, thủ đô, có nền kinh tế mạnh mẽ và đông đảo nhân dân chấp thuận sống trong một chính thể... thì Đài Loan hoàn toàn có quyền tuyên bố độc lập, nếu không ngại tuyên chiến với Trung Quốc.
Nhưng như vậy thì sẽ là một thảm hoạ nhồi da xáo thịt, không chỉ cho hai bờ eo biển Đài Loan. Cho nên tốt nhất Đài Loan cứ giữ nguyên trạng và chuẩn bị thế và lực đủ mạnh để nếu cần thì chiến.
Nhiều người lầm tưởng chính sách "Một Trung Quốc" của Mỹ đồng nghĩa với việc Mỹ đồng ý Đài Loan thuộc về Bắc Kinh. Thực tế, ngoại giao Mỹ thiết kế chính sách này cực kỳ khôn khéo và mập mờ:
-Mỹ chỉ thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Bắc Kinh (PRC).
-Đối với yêu sách của Bắc Kinh rằng "Đài Loan là của Trung Quốc", các văn bản của Mỹ chỉ dùng chữ "ghi nhận" (acknowledge) chứ chưa bao giờ dùng chữ "thừa nhận" (recognize).
-Đồng thời, Mỹ ban hành Đạo luật Quan hệ Đài Loan (TRA) để cam kết cung cấp vũ khí tự vệ cho hòn đảo.
Do đó, chính sách này cho phép Mỹ vừa không làm mất lòng Bắc Kinh, vừa âm thầm giúp Đài Loan vận hành trên thực tế như một quốc gia độc lập có quân đội, hộ chiếu, hiến pháp và chính phủ riêng
FB Uyen Vu


No comments:
Post a Comment