Showing posts with label Hoàng Nga. Show all posts
Showing posts with label Hoàng Nga. Show all posts

Friday, November 7, 2025

Lại chuyện hàng xóm

Hoàng Nga

Về Sydney, không như lúc ở Âu châu, run rủi nên tôi cư ngụ ở một chỗ rất đông đồng hương. Chỉ cần một con đường ngăn ngắn chừng vài trăm thước thôi, không kể Lào, Thái, Miên, là đã có đến năm bảy gia đình phe ta. Sáng sáng đi học, đi làm, ngang qua những ngôi nhà có các anh chàng mặc pyjama ra trước sân, chắp tay sau lưng đi tới đi lui ngắm trời ngắm đất, thuốc lá đốt mịt mù như khói xe lửa, và cảnh các cô, quần áo ngủ mỏng manh gợi cảm, tà tà bắt ốc, hái rau ngoài vườn như bàn dân thiên hạ không có ai, lúc đầu không quen mắt, thấy người thấy cảnh như vậy, tôi cứ nơm nớp lo sợ người bản xứ khó chịu. Sau chẳng nghe ai than phiền, cũng chẳng thấy ai la làng hay kêu cảnh sát, tôi mới biết thì ra chỉ có… mình tôi khó chịu, nên bèn phì cười quay đi.

o O o

Sáng sáng, trưa trưa, chiều chiều, ngang qua những ngôi nhà dọc hàng rào trồng ổi, trồng xoài, hai bên lối đi xanh mướt húng quế tía tô, đầu ngõ thanh tao lê lựu, thềm hiên rợp bóng mát khổ qua bầu bí, có nhiều lúc tôi đã không biết mình đang đứng cạnh ngôi nhà từ đường ở Huế, hay đang đi dưới cái nắng ấm áp bên kia sông Cẩm Lệ, sông Hàn. Ngó qua ngó lại, nếu không sợ Tây nó thắc mắc, thì có hàng xóm nói cùng thứ tiếng, chung màu da, cũng vui!

Hàng xóm. Lâu lâu có người đi câu được dăm con cá, xúc được vài xô tôm, bèn gọi nhau í ới, biếu xén quà cáp, hay mua bán trao đổi, chộn rộn đến vui tai.

Và cũng hàng xóm. Nên một hôm nghe ầm ĩ ngoài sân nhà bạn tôi mà giật cả mình:

– Chèn ơi, con trai chị phá đời con gái em!

Bạn tôi đứng tim. Hàng xóm có hai cô con gái dưới tuổi vị thành niên. Bạn tôi run giọng:

– Cái gì? Em nhìn thấy cái gì? Thật không?

Hàng xóm:

– Thiệt chớ sao hông. Thì cái hôm chị thả nó lông nhông ra ngoài đó. Em bắt gặp tại trận ở ngay nhà em mà.

Con trai bạn tôi có bồ hai năm nay, và đã dọn ra ở riêng với cô bạn gái từ khuya. Bạn tôi nhăn mặt:

– Ê, ê, nói chuyện gì không hiểu nổi. Thằng con chị đâu có bị ai nhốt mà em nói là thả chạy lông nhông.

– Sao không!

– Không à nha!

– Chời chời, hôm bữa chị thả thằng Bobby ra đó, giờ còn cãi.

!!! Bạn tôi chưng hửng, và… té ngửa. Thì ra “thằng” Bobby là em cún, nuôi để giữ nhà. Cái “thằng” thiệt hư sự. Mới chỉ một hôm chạy rông là đã đi làm chuyện bậy. Hàng xóm đe dọa:

– Mai mốt con gái em mà có bầu là chị phải chịu trách nhiệm.

Bạn tôi không biết cãi lại như thế nào. Mấy tháng sau “con gái” hàng xóm sản xuất một bầy năm em cún con. Trắng đen đủ loại, có một “thằng” ngó giống hệt “thằng” Bobby nên bạn tôi mỗi tháng phải chịu “child support” hai lon sữa, và sau phải mang về nuôi báo cô.

o O o

Hàng xóm. Quen mặt, quen người. Tôi lạ hoắc lạ huơ ở đâu mới về, một hôm tình cờ đi ngang căn nhà đầu đường, thấy nhánh lá cây hết sức dễ thương nằm trên cành sum suê lá, tự dưng bỗng muốn xin về cắm trên bàn viết. Hàng xóm lúc ấy đang ngồi uống bia với vài người bạn sau hè. Tôi gõ cửa. Hàng xóm thò đầu ra hỏi chuyện gì. Tôi lịch sự:

-Thưa anh, anh có thể cắt cho tôi xin một nhánh lá cạnh hàng rào được không ạ?

Hàng xóm trợn mắt:

– Hả, cái gì? Lá gì?

Tưởng hàng xóm không đồng ý. Tôi nhẹ giọng lịch sự hơn:

– Dạ tôi chỉ muốn xin một nhánh nhỏ thôi, tôi nghĩ chắc không làm hại đến cả nhành cây đâu.

Hàng xóm vẫn cứ trợn mắt ngó tôi như tôi rớt từ trên trời xuống. Mãi sau mới đưa tay chỉ ra ngõ:

– Thì ra đó cắt đi.

Tôi nhỏ nhẹ:

– Dạ xin anh cho mượn cây kéo tỉa nhánh.

Hàng xóm không trả lời. Cũng không thấy có phản ứng gì khác, nhưng đột ngột bỗng xăm xăm bước ngang qua mặt tôi, tiến thẳng đến phía trước, ra ngõ. Ðến hàng cây tôi muốn xin nhánh lá, hàng xóm hất đầu:

– Cái này phải không?

Tôi gật đầu, chưa kịp nhắc đến cái kéo tỉa nhánh, hàng xóm đã bẻ cái rụp nguyên một cành to tướng đưa cho tôi. Nói:

– Cái nhánh cây này cần gì xài tới kéo.

Tôi lí nhí cám ơn. Hàng xóm làm xong nghĩa vụ nhân đạo, quay lưng vào nhậu tiếp. Tôi loay hoay ôm nhánh cây bước ra khỏi sân. Cái nhánh cây to, trùm gần hết mặt tôi, nên tôi phải bước chậm lại.

Ðang đi, tôi bỗng nghe rõ mồn một từ phía sau lưng mình có tiếng người đối đáp:

Bà nội đó cần cái gì dậy?

– Xin cành cây.

– Cành cây gì?

– Cái cành cây trắng trắng ngoài ngõ tao đó.

– Chời. Dậy mà thấy bả rụt rè quá, tưởng có chiện gì.

-Thì dậy. Tao biểu ra bẻ đi mà mẻ không chịu, hỏi mượn cái kéo tại sợ cái cây hư. Mẹ, mấy cái cây đó cau-xồ (*) mà không làm khó dễ tao đã chặt mẹ nó từ năm ngoái. Thiệt tình, con mẹ lịch sự thấy ớn luôn!

HN

Cau xồ: council, hội đồng thành phố.


Tuesday, December 13, 2016

Buche de Noel và... Tôi


blank
Bánh của Pháp.

"Find something youre passionate about and keep tremendously interested in it." Julia Child.
Bánh của Pháp, nổi tiếng là ngon và thanh nhã. Nên gần như ở thành phố nào trên nước Mỹ cũng có một pâtisserie, tiệm bánh Pháp. Người Việt vốn gắn bó với croissants, pâté chaud, choux cream, gateaux, madelein… đã lâu, bánh mì baguette kể từ khi du nhập vào Việt Nam thời Pháp thuộc, còn “bị” biến thành là món “của” mình. Bánh mì ổ “biến tấu” thành bánh mì chiên tôm, bánh mì hấp, bánh mì chà bông, bánh mì paté thịt nguội... Lúc người Việt di tản, bánh mì thịt nguội xuống tàu vượt biên theo ra hải ngoại, rồi có mặt ở khắp mọi nơi.

Gần đây, trong những chương trình nấu ăn trên đài truyền hình Hoa Kỳ, món bánh mì nhận thịt với những cái tên như Vietnamese-style Sandwich, Vietnamese Banh Mi... xuất hiện thường xuyên trong các show thi nấu ăn như Chopped của Ted Allen; Cutthroat Kitchen của Alton Brown, Grocery Games của Guy Fieri…, hay những show giới thiệu món ăn ngon của các ngôi sao, đầu bếp nổi tiếng do Alex Guarnaschelli, Bobby Flay, Andrew Zimmern…, đảm nhiệm. Và không những chỉ hiện diện, đài truyền hình Foodnetwork còn ra một cuốn “kim chỉ nam” làm bánh mì Việt Nam, có tên là “The Banh Mi Handbook: Recipes for Crazy-Delicious Vietnamese Sandwiches”, với giá bán là 16.99 đô la, trong đó có những bài viết và giới thiệu rất xôm tụ. (Chỉ có điều tôi không biết họ lấy từ đâu ra mà có… năm mươi cái công thức làm bánh mì nhận thịt!).

Bánh Pháp, bao gồm cả bánh mì và bánh ngọt, rất dễ hấp dẫn thực khách từ cái nhìn cho đến mùi vị. Mỗi bận nhớ đến Paris, là tôi lại nhớ cái mùi thơm nồng nàn của những tiệm bánh mì, lại nhớ những chiếc croissants vàng ngậy, những chiếc bánh ngọt petite được chưng bày đẹp đẽ và thanh lịch trong những tủ kính bóng loáng. Và rồi cuối cùng thế nào cũng lại nhớ đến Buche de Noel, bánh khúc cây.

Bánh Buche de Noel thường được dùng gần như là một truyền thống trong mùa Giáng Sinh ở Pháp, ở Bỉ. Sau đó lan sang Canada, Liban, và một số nước nói tiếng Pháp hay thuộc địa cũ của Pháp. Đây là một loại bánh bông lan có tên génoise, còn gọi là sponge cake hay swiss roll, được cuộn thành hình một khúc cây, nhân bên trong là mứt (marmelade), hoặc kem tươi (whipping cream) thỉnh thoảng trộn chung với trái cây; và phía bên ngoài phủ một lớp sô cô la (chocolate genache) hoặc kem sô cô la (chocolate butter cream). Đến mùa Giáng Sinh những ổ bánh kem bình thường này được trang trí thêm bằng trái cherry, dâu tươi, hay những búp nấm được làm bằng lòng trắng trứng gà và đường (meringue), điểm thêm vài chiếc lá thông thật hoặc làm từ kem. Nhiều ổ bánh sắc sảo hơn thì còn có Santa Claus hay snowman, tuần lộc kéo xe, chuông, thợ kéo gỗ vân vân, nặn từ fondant hay gumpaste -một loại hỗn hợp giữa đường, tròng trắng trứng và cream of tartar hoặc tylose…

Buche de Noel bắt đầu có thế kỷ thứ mười sáu nhưng mãi đến thế kỷ thứ mười chín người dân Paris mới phổ biến rộng rãi món ăn này. Khởi đầu từ chuyện người Celt đốt những khúc gỗ sồi, gỗ du và gỗ cây cherry vào những ngày cuối năm để chuẩn bị chào đón mùa xuân sắp về để cầu mong mùa gặt hái kế tiếp được nhiều may mắn; đến thế kỷ thứ mười hai, nhiều người Công Giáo tại Pháp du nhập tục lệ và truyền thống này vào gia đình của họ bằng cách để người con trai nhỏ tuổi nhất kéo khúc gỗ vào nhà mình và tin rằng ngọn lửa cháy lên từ những khúc gỗ này sẽ đốt đi những điều sai trái trong năm cũ. Nhiều ngày trước khi các khúc gỗ này được đốt, người ta sẽ trang trí chúng bằng những sợi giây ribbon xanh, đỏ rất đẹp mắt, và chế rượu, dầu ô liu, cũng như rải muối lên trên cho có mùi thơm. Tại Provence, hay tại Brittany, mọi người trong gia đình sẽ cùng đốt những khúc cây này lên rồi cùng cầu nguyện xin Chúa ban phước lành. Tại Burgundy thì trẻ em cầu nguyện ở một phòng khác, sau khi cầu nguyện xong chúng sẽ chạy đi tìm quà mà cha mẹ sẽ dấu dưới các khúc cây. Nhiều năm sau, do tình trạng dân cư càng lúc càng tăng, lò sưởi ngày càng xây nhỏ lại, thay vào đó người ta trang trí một khúc gỗ rồi đặt lên bàn ăn. Dần dà về sau, chúng biến thành những chiếc bánh khúc cây hấp dẫn ngọt ngào.

Một trong những người có công đưa cái ngon, cái thanh nhã, cái đẹp của món ăn Pháp vào Hoa Kỳ là bà Julia Child. Có rất nhiều câu nói của bà đã trở thành như những nhận định, được dân sành điệu ăn uống tán thưởng, và được rất nhiều người trích dẫn. Chẳng hạn như khi bà cho rằng chỉ có bốn loại nghệ thuật lớn là âm nhạc, hội họa, điêu khắc và trang trí bánh ngọt, thì không hề bị ai phản đối, hay câu khác “một bữa tiệc không có bánh ngọt thì chỉ là một buổi họp” vẫn thường được khen ngợi…

Julia Child sinh ngày 15 tháng 8 năm 1912, là đầu bếp, là người viết sách và là người làm chương trình truyền hình nổi tiếng của Hoa Kỳ về nghệ thuật nấu nướng. Bà lớn lên trong gia đình giàu có với nhiều người giúp việc và có cả đầu bếp riêng tại nhà. Năm 1930 bà theo học ngành lịch sử tại đại học Massachusetts. Trong thời gian chiết tranh thế giới lần thứ hai, bà làm việc cho văn phòng Strategic Services, với ước mơ sẽ trở thành một điệp viên. Sau khi ra trường và làm việc, bà thường được gửi đi công tác ở nước ngoài, nên cũng chính vì vậy mà vào năm 1943, bà đã có cơ hội gặp Paul Cushing Child. Mối tình lãng mạn của hai người đã chớm nở khi họ cùng được chuyển đến Trung Hoa. Chính Paul là người đã truyền cho bà niềm yêu thích những món ăn thanh nhã và giới thiệu với bà về nghệ thuật làm bếp của Pháp.

Hết chiến tranh, bà Julia về Beverly Hills để theo học ngành nấu nướng. Năm sau hai người cưới nhau, rồi Paul chuyển sang làm ngoại giao và nhận nhiệm sở mới ở Paris vào năm 1948. Tại nơi đây đã mở ra một cánh cửa mới cho cuộc đời của Julia Child. Bà quyết định học tiếng Pháp và học nấu nướng món Pháp. Một thời gian sau bà ghi danh vào trường dạy nấu ăn Cordon Bleu nổi tiếng. Rồi cùng với hai người bạn học, Simone Beck và Louisette Bertholle, bà đã mở trường L'Ecole des Trois Gourmandes (School of the Three Gourmets), đồng thời bắt đầu viết sách nấu ăn với Simone Beck. Năm 1961, bà quay về lại Massachusetts sau khi chồng nghỉ hưu và bắt đầu sự nghiệp từ đấy.

Trong cuốn “Mastering the Art of French Cooking” gồm hai tập, mỗi tập dày 600 trang, được phát hành cùng năm, Julia Child đã cho người đọc thấy cả tâm tình, lòng nhiệt thành và sự đam mê của mình. Hoàn toàn không giống như những cuốn sách dạy nấu ăn khác chỉ có công thức và phương pháp, bà giải thích tường tận, tỉ mỉ và rõ ràng với rất nhiều hình ảnh thật hữu dụng để người dùng công thức của bà có thể thực hiện được một cách mỹ mãn. Bà Julia Child đã rất thành công khi làm chương trình truyền hình mang tên The French Chef, do có nhiều kiến thức cộng thêm sự tinh tế trong cách giảng dạy. Bà có một phong cách riêng, đặc biệt rất khôi hài và duyên dáng trong khi chỉ dẫn, truyền đạt kinh nghiệm và công thức nấu nướng của mình. Năm 1965, rồi sang năm 1966, bà đã nhận được những giải thưởng như Peabody, Emmy... Tiếp sau đó là những thành công vang dội trong lãnh vực sách báo, truyền hình. Bà đã tham dự rất nhiều chương trình, và trở thành một trong những người sáng lập học viện Rượu và Thực Phẩm Hoa Kỳ (the American Institute of Wine and Food).

Trong thời gian sống tại Cambridge, vợ chồng bà Julia đã xây một căn bếp không thiếu bất cứ một dụng cụ làm bếp nào tại nhà của mình. Về sau này bà đã dùng căn bếp này để thu hình cho những chương trình truyền hình. Trước khi qua đời, vào năm 2002, Julia Child tặng căn bếp này cho viện Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia Hoa Kỳ, Smithsonian tại Washington DC, dùng để triển lãm.

Người ta thường hay nhắc đến Julia Child là người đầu bếp nổi tiếng, người viết sách nấu ăn tuyệt vời, và cũng là một trong những người thành công muộn nhưng rực rỡ. Công thức nấu ăn của Julia Child rất nhiều. Nhiều đến nỗi một cô gái trẻ dân New York, Julie Powell, đã ước muốn thực hiện 542 công thức nấu ăn của bà từ cuốn “Mastering the Art of French Cooking” trong vòng 365 ngày. Sau đó cô đăng tất cả những gì mình thực hiện được lên trên một blog riêng và được rất nhiều người ủng hộ. Năm 2009, nữ đạo diễn Nora Ephron đã dựng lại cuốn phim mang tên Julie & Julia, do Meryl Streep và Amy Adams đóng vai chính, nói về một phần cuộc đời của Julia những năm bà mới khởi nghiệp trong ngành ăn uống và cô gái trẻ Julie Powell. Cốt chuyện chính nêu lên sự tương đồng giữa hai người phụ nữ khi tìm ra mối đam mê của mình, và biến niềm đam mê ấy thành sự thật, tương tự như lời bà Julia Child từng nói, "Find something youre passionate about and keep tremendously interested in it."

Bà Julia chỉ cách nấu ăn rất tỉ mỉ, cặn kẽ. Tuy nhiên theo thiển ý của tôi, thì đôi lúc cái “quá” này làm người đọc thấy… sợ. Sợ vì thấy mình không có đủ kiên nhẫn, không đủ thì giờ và không đủ cả đam mê để bắt tay vào làm. Gia đình tôi, cả ba mẹ con đều thích nấu ăn, nên cũng đã thử được kha khá công thức nấu nướng của bà Julia. Tuy nhiên thường là chỉ sau khi… thất bại với những… bí quyết “mì ăn liền” đọc thấy trên internet mà các sư phụ các blog ấy hay quảng cáo là ”cực dễ”, “cực nhanh”, “shortcut”, “easy cook”, “only in a few minutes” vẫn “ngon không kém gì nhà hàng”, hoặc “impressive like professionals” vân vân, thì lúc đó chúng tôi mới chịu khó ngồi xuống đọc kỹ lưỡng lại công thức của bà.

Có thể nói, không phải công thức nào của Julia Child cũng đều hợp khẩu vị với tất cả mọi người, chẳng hạn như bà cho quá nhiều muối trong bánh mì, croissants…, hay một vài món khác thì lại khá nhiều bơ… Tuy nhiên cách hướng dẫn của bà rất đáng tin cậy. Nếu thận trọng đọc và làm theo từng bước như bà chỉ, tôi chắc chắn kết quả bánh sẽ ra bánh, món sẽ ra món. Một trong những món tôi theo công thức của bà và rất thích là Buche de Noel.

Buche de Noel có mặt trong những ngày cuối đông, trùng dịp với ngày Chúa Jesus giáng thế, nên nhiều sử gia cho rằng Noel có nguồn gốc tiếng La tinh là Natalis có nghĩa là “hạ sinh”, vì thế trên những ổ bánh khúc cây vào dịp này thường hay được trang trí với những hàng chữ “joyeux Noel”, “Merry Christmas”, hay “mừng Thiên Chúa giáng sinh”. Người có đạo mừng Chúa từ giã ngôi vị cao trọng giáng thế làm người để cứu rỗi những ai tin Ngài, còn người không có có đạo thì hoà theo niềm vui của kẻ được đã rỗi về phần hồn. Những truyền thống dựng cây thông Giáng Sinh, làm hang đá nơi Chúa Jesus ra đời, rồi ăn réveillon, lễ nửa đêm không chỉ ở phương tây, mà đã rất quen thuộc với người Việt từ trước 75, Buche de Noel vì thế cũng không xa lạ gì với người miền nam. Nếu người nào đó chưa từng ăn vì không thích thức ăn ngọt, hay vì lý do nào đó, cũng có thể nhìn thấy ở nhiều tiệm bánh ngọt quanh phố.

Sau khi miền Nam mất, thì những chiếc bánh Buche de Noel và cả những chiếc bánh kem khác cũng gần như đã biến mất theo. Giáng Sinh, tôi thường bùi ngùi đứng nhìn tượng Chúa hài đồng, nhìn hang đá trong sân nhà thờ mà nhớ cái tưng bừng, nhớ cái không khí ngày trước. Những mùa lễ lạy sau 75, thường rất nặng nề vì nhiều linh mục và mục sư bị bắt trước giờ cử hành lễ khiến giáo dân, tín đồ hoang mang, sợ hãi. Có thể nói có đạo vào thời điểm đó, đã là một điều… xa xỉ, huống gì là bánh trái, thức ăn dành cho những ngày lễ, nên có lẽ vì vậy mà khát khao của tôi rớt xuống chỉ còn lại là một… chiếc bánh kem vào sinh nhật thứ mười tám của mình.

Thay cho những dự tính, những kế hoạch mà ba tôi đã chuẩn bị sẽ cho tôi ra nước ngoài du học như chị tôi ngày trước; thay cho hoài bão, thay cho khát vọng, tôi đã ước mơ rất tầm thường là sẽ nấu được một nồi súp, làm một cái bánh và mời vài đứa bạn thân tới nhà vào ngày tròn tuổi. Nên tôi bắt đầu xin mẹ cho tôi… nuôi một con gà. Con gà trống thiến!

Khi mẹ tôi nghe như vậy, bà đã thở dài nhìn tôi buồn bã và mãi sau mới nói được vài chữ, là phải chi bà còn tiền… Tôi an ủi mẹ, bảo chỉ cần được như vậy cũng đủ làm tôi vui rồi. Mẹ tôi làm thinh nhưng sau đó bà chuẩn bị cho tôi một cái lồng tre và một chiếc đệm bằng cói, rồi những ngày sau đó thì chuyển sang lo lắng vì không biết con gà có… lớn kịp hay không. Lo thêm chuyện tôi đã không biết làm bánh, nhà lại không có lò nướng.

Cái bánh kem có vẻ như chuyện đội đá vá trời! Thuở ấy, sau khi những chị người làm đã bị “cách chức vĩnh viễn”, công việc nấu cơm, rửa chén quét nhà… thuộc về tay nhân dân, ngày hai bữa tôi là kẻ phải xông pha khói lửa nấu nướng cho cả nhà. Kể ra thì tôi nêm nếm cũng không đến nỗi khó ăn, nhưng mẹ tôi cứ thở vắn thở dài mỗi khi thấy tôi rị mọ với con gà và bàn chuyện sinh nhật. Tôi không biết mẹ tôi đã không đủ sức tin con gái mình hay vì bà cảm thấy xót thương tôi quá mà lại tỏ “mối quan ngại” của mình qua những tiếng thở dài như vậy. Thỉnh thoảng bà lại nói hy vọng là sẽ không có gì trục trặc, chẳng hạn con gà sẽ… lăn đùng ra chết vì dịch cúm kiếc gì đó! Chắc có lẽ mẹ tôi đã nghĩ đến chuyện… thua me gỡ bài cào, đã mong nếu con gà không “lên đường” trước ngày sinh nhật tôi, thì cái bánh có tệ quá cũng còn một chút gì để… vớt vát.

Mẹ tôi không biết tôi đã tự tin như thế nào. Tôi khoe với bà là tôi đã giấu được cuốn sách nấu ăn sau “chiến dịch truy lùng tàn dư văn hóa Mỹ ngụy”, và chỉ cho bà thấy trong đó có một công thức làm bánh bông lan không cần lò nướng và đánh kem không cần máy. Tôi đinh ninh cuốn sách gia chánh ấy do một người có tên tuổi viết thì không thể nào trật đi đâu được, ngô khoai hẳn sẽ ngon lành. Vì thế tôi bắt đầu đi lùng sục mua đường mua bột. Vào những năm ấy, tuy đường cát trắng đã thuộc loại quí hiếm, nhưng cũng còn có thể kiếm ra. Cái “vấn đề” còn lại cho ổ bánh của tôi là nằm ở vụ bột mỳ. Giống mọi người, chẳng thể tin vào bất cứ cái gì made in… Liên xô, nên tôi đã phân vân lưỡng lự rất lâu, nhưng cuối cùng vì tất cả những thứ dính dáng đến… Mỹ ngụy đều bị quét sạch ra khỏi chợ, tôi đành khuân về nhà nửa ký bột viện trợ. Con em tôi đã cầm lên, lật tới lật lui một hồi rồi đưa ra nhận xét:

- Bột mỳ “xịn” theo tui đoán, thì chắc chỉ có ở… trung ương. Còn cái bột này mịn màng quá, nhưng lại không tỏa hương… cứt chuột, cứt gián như mấy thứ bột mỳ tui thường thấy ở ngoài chợ nên tui nghi đây chỉ là bo bo xay nhuyễn.

Sau đó con nhỏ cười hi hí, nói thêm, “thời buổi này, tin ai được chớ! À mà quên, không được gọi là bo bo mà phải gọi là cây cao lương”, rồi cuối cùng nó kết luận một câu như… sét đánh:

- Vì là cao lương nên tui hy vọng bà sẽ làm ra được một ổ bánh… mỹ vị!

Cái con em ác nhơn thất đức của tôi giáng trúng ngay điểm yếu, quậy đúng ngay vào nỗi lo sợ của tôi. Cuốn sách dạy nấu ăn ấy có ghi rõ ràng là phải dùng bột mỳ số 8 mà tôi vốn đã mua bột mỳ Liên Xô không biết… số mấy rồi, nếu nhỡ tôi đã mua phải bột bo bo, bột cao lương như con nhỏ nói, thì chẳng biết số phận cái bánh mơ ước của tôi sẽ đi về đâu! Nhưng về sau này, khi nấu ăn làm bánh nhiều rồi, tôi mới biết ra bột bo bo có bán ở rất nhiều ở siêu thị Mỹ, có tên thông dụng là sorghum flour, thường hay thấy nhất là do hãng Bobs Red Mill nổi tiếng sản xuất. Đấy là một loại bột không chứa chất gluten, nên những người mắc bị bịnh tiểu đường hoặc bị dị ứng với bột mỳ, thường dùng để nấu và làm bánh. Nhưng vì nó không chứa chất gluten, nên để đạt được kết quả tốt, tương tự các loại bánh khác, phải trộn thêm một ít bột gạo (cho cookies), hay bột bắp, bột năng (cho bánh bông lan), hoặc xanthum gum (cho bánh mì).

Vào cái thưở nhà đã nghèo, “kinh tế thị trường” đã eo hẹp, thiếu thốn đủ thứ mọi bề, tôi còn… tài hèn sức mọn, nhưng chỉ vì khát khao được cắm một ngọn nến trên cái bánh kem cho ngày mười tám tuổi, nên đã đặt hết niềm tin vào… cuốn sách nấu ăn. Nhưng phải thật tình mà nói, cho đến cả ngày hôm nay cũng vậy, rất nhiều sách dạy nấu ăn, và những trang web chỉ dạy cách nấu ăn của người Việt thường được viết khá sơ sài, hoặc không mấy rõ ràng. Nếu như là người rành nấu nướng, khi đọc “nêm chút muối, chút đường cho vừa ăn”, thì chắc chắn chỉ mỉm cười và sẽ biết bỏ vào nồi bao nhiêu thìa muối thìa đường để cho “vừa”, nhưng ngược lại với người thiếu kinh nghiệm, “một chút” ấy, có thể sẽ làm hỏng nguyên cả nồi hoặc vì quá nhạt, hoặc vì quá mặn.

Tôi đã tin và đã mường tượng ra cái bánh của mình sẽ phồng xốp, trên mặt là một lớp kem mịn màng. Tôi không còn nhớ cái công thức trong cuốn gia chánh ấy bảo dùng bao nhiêu đường bao nhiêu bột, nhưng vẫn còn nhớ tác giả đã viết về cách làm vô cùng đơn giản. Là chỉ cần đánh trứng và đường cho nổi (mà không nói rõ như thế nào là “nổi”), sau đó trộn bột và bột nổi từ từ vào, cuối cùng đổ vào một cái nồi gang có quét dầu hoặc bơ, rồi đặt lên một cái bếp than, phía trên nắp phủ đầy than nóng, và nướng cho tới khi… bánh vàng!

Một cái công thức thật hết sức ngoạn mục. Hết sức quyến rũ, hết sức hấp dẫn và “hết sức thuyết phục” đối với những kẻ… chưa từng làm bánh bao giờ như tôi! Nên vì thế, tôi cũng đã vô cùng… ngoạn mục. Có nghĩa là để chắc ăn cho biết khi nào bánh vàng, tôi cứ thỉnh thoảng cứ “mục”, cứ mở nắp ra xem chừng. Tôi không hề biết chuyện mở nắp ra như vậy là điều tối kỵ khi nướng bánh, nhất là bánh bông lan. Bởi vì không khí lạnh từ ngoài sẽ tràn vào lò nướng làm bánh bị chai đi, và chưa kể đến cái “lò” nồi gang ngồi trên bếp, có đội một mớ than đỏ ấy của tôi còn không thể kiểm tra được nhiệt độ đang nướng là bao nhiêu!

Cái bánh ước mơ của tôi, cho đến lúc được lấy ra khỏi “lò”, là một cái bánh có… ba tầng. Tầng cuối cùng nằm sát nồi đen thùi lùi như cơm cháy, tầng thứ hai hơi nhão nhão ở chính giữa, đặc quánh như bánh… khoai mì ở chung quanh, và tầng cuối cùng thì sem sém vàng. Lúc lấy được cái bánh ra khỏi “lò” rồi, tôi đã ngồi ngó nó như ngó tuổi mười tám của tôi ám khói, thảm não đang bước tới với mình.

Nhưng tôi đã khóc không nổi vì sững sờ tiếc của và bần thần không biết sẽ làm gì với nó. Tuy nhiên người ta thường hay nói mười tám tuổi sẽ có rất nhiều điều để nhớ, và nhiều chuyện thần kỳ sẽ xảy ra. Nên chắc vì vậy mà ngày mười tám tuổi của tôi đã có một bà tiên hiện đến với tôi. Đó là người sui gia với người chị con bác tôi. Bà là đầu bếp, chuyên nấu ăn, làm bánh cho các giáo sĩ người Mỹ trước năm 75. Bà đã ghé thăm ba mẹ tôi trên đường đi Đà Lạt. Chỉ tiếc là bà đã đến hơi muộn. Chút xíu. Chút xíu thôi, trước khi tôi bắt đầu thực hiện cái công thức làm bánh… quỷ khốc thần sầu!

Chưa kịp nghỉ ngơi, bà đã xuống bếp, giúp tôi đánh kem, trang trí, làm viền đăng ten, và dùng những lời lẽ thật dịu dàng, êm ái để an ủi tôi. Cuối cùng, nỗi tang thương của tôi cũng dịu xuống vì cái bánh, nếu trừ phần “nội dung” do tôi đảm nhiệm, thì gần như là một cái bánh mà tôi đã mơ ước.

Mấy mươi năm sau, lúc đã đọc Kinh Thánh khá nhiều rồi, tôi mới nghiệm ra bà đúng là một người nữ tài đức, vừa giỏi giang nội trợ, vừa hiền lành đức độ như vua Salomon từng khen ngợi trong sách Châm Ngôn. (“Nàng mở miệng ra cách khôn ngoan. Phép tắc nhơn từ ở nơi lưỡi của nàng. Nàng coi sóc đường lối nhà mình. Không hề ăn bánh của sự biếng nhác…”).

Và cũng mấy mươi năm sau, mỗi năm cứ đến sinh nhật Chúa thì tôi lại làm Buch de Noel, và đến sinh nhật mình thì lại bông hoa kem kiếc rộn ràng. Những ổ bánh tôi làm mỗi năm… có vẻ như ngon hơn, đẹp hơn. Tôi nghĩ chắc có lẽ vì tôi đã bỏ thêm vào đó một chút đam mê như bà Child nói. Và riêng với “bà tiên” của mình, thì tôi vẫn cố gắng bắt chước bà cách ăn ở nhân từ, cũng như dùng lời an ủi với người chung quanh nhiều hơn…

Một vài công thức tôi đã dùng, xin chia sẻ với các bạn:

1. http://www.marthastewart.com/914245/julia-child-and-jacques-pepin-chocolate-roulade
2. https://njbrown.wordpress.com/2009/12/26/julias-buche-de-noel-for-christmas/
3. https://njbrown.wordpress.com/2009/12/26/julias-buche-de-noel-for-christmas/

Hoàng Nga

Wednesday, October 19, 2016



Một Chuyến Đi

Hoàng Nga

Không bà con, nhưng chơi “xúm chùm” kiểu chị học chung với chị, em học chung với em, Hân và tôi vốn đã gần gũi, đã thân, đến lúc tôi định cư qua Mỹ lại càng thân nhau hơn. Hân hay dùng chữ “côi cút” để nói về mình và hay bảo “kiến tỷ như kiến… chị” mỗi lúc nhắc đến cô chị, người bạn thuở thiếu thời của tôi. Khi có dịp xuống miền nam, tôi vẫn ghé lại nhà Hân, và lên miền trung, thì Hân tạt ngang nhà tôi.

Lần này, Hân bảo sẽ ở lại nhà chúng tôi một đêm rồi chở tôi đi họp gia đình. Nghe, tôi dãy nảy:

- Họp gia đình bên chồng Hân, sao lại rủ chị?

Hân đáp, đi cho vui. Tôi trả lời tôi không buồn nên không cần… đi cho vui. Hân la lên:

- Chị ở cái chỗ chẳng bao giờ gặp người đồng hương, giờ có dịp được nghe được nói tiếng mẹ đẻ sao không vui?

Tôi phì cười:

- Ở nhà, chị vẫn nói chuyện với con chị bằng tiếng Việt và hằng ngày vẫn gặp bạn bè, bà con đấy thôi.

Hân hỏi gặp ở đâu. Tôi bảo ở… Facebook, Facetime. Hân chậc lưỡi, “chị thiệt tình”, nhưng sau đó thì kỳ nài, năn nỉ và sửa lại là “đi cho em vui” để lôi tôi đi theo. Nói qua nói về, nói tới nói lui, than vãn mồ côi mồ cút, một mình một bóng, cộng thêm ỉ ôi nhiều ngày, cuối cùng thì tôi cũng xiêu lòng mặc dầu thấy đi như vậy là khá vô duyên.

Thật tình mà nói, tôi không ngại gặp người lạ, không ngại bắt chuyện hay làm quen với người mới, giao tế cũng không đến nổi dở tệ, nhưng tôi lười. Lười điện thoại, lười thư từ, lười cả tâm tình nên thường vẫn không thích có thêm những mối giao hảo, quen biết mới. Cứ mỗi bận nghĩ đến chuyện phải giữ kẽ, để ý từng lời ăn tiếng nói của mình trước người mới quen là tôi đã thấy... không khỏe rồi.

Điều mà tôi vẫn thường mắc phải là vì lười như thế nên lâu lâu sực nhớ đến ai đó, định thăm hỏi đôi điều mới biết ra hoặc họ đã đổi điện thoại từ lâu, hoặc không còn ở chỗ cũ. Hoặc tệ hơn nữa là đôi khi họ gặp phải một vài chuyện không may nào đó nhưng tôi lại hoàn toàn không biết. Bị hố một vài lần, nếu có dịp mặt đối mặt với những người rất lâu không liên lạc, tôi vẫn thường tránh những câu hỏi “anh/ chị lúc này ra sao rồi”, hay “các cháu vẫn ổn chứ” để khỏi phải bắt gặp một cái cau mày, thậm chí một câu trả lời cộc lốc “tụi này ly dị lâu rồi”, hay “cái lũ mất dạy đó tôi đã từ mặt mấy năm nay”.

Lần trơ trẽn nhất đã khiến tôi áy náy mãi là lần gặp lại một người quen ở cùng một thành phố bên Úc sau một thời gian dài đi xa. Đã lười điện thoại, lười thư từ, lười nói chuyện mình, lười nghe chuyện người, lần ấy tôi lại còn ra vẻ mình hiểu biết, ra vẻ mình là người ân cần, nên xớn xa xớn xác thăm hỏi về con cái của người này. Nào là học hành ra sao, làm nghề gì, có gia đình chưa, vân vân, nhưng có ngờ đâu trong thời gian tôi ở Âu châu, thì thằng bé đã phạm tội buôn bán ma túy, đâm chém người và còn ngồi tù đến cả hơn mười năm...

Hân nói với tôi, tới đó nếu tôi buồn chán, Hân sẽ chở tôi đến một thành phố lân cận, nơi có rất nhiều người Đức sinh sống và nhiều hàng quán Đức để tôi tha hồ ăn xúc xích, uống bia. Tôi bật cười, trêu, nếu chuyến đi khiến Hân vui mà mình không mấy vui thì coi như tôi… gia ơn, làm phước nên Hân đưa tôi đi ăn nhậu là phải rồi. Hân dạ, chị làm từ thiện!

Gia đình bên chồng của Hân đông, qua Hoa Kỳ với đủ dạng, đủ cách, nên mỗi năm chọn ra một khu resort ở vùng nào đó thuận tiện cho việc đi lại của mọi người, rồi mướn một vài căn để họp mặt nhau như người Mỹ vẫn thường tổ chức Family Reunion. Tiền phòng tự trả, thức ăn tự lo bữa sáng, bữa trưa và chỉ ăn chung bữa tối. Nhưng chi phí cho bữa ăn chung này cũng sẽ được chia đều trên đầu người và cùng nhau nấu. Gia đình nào không có khả năng bếp núc thì tham gia dọn dẹp, rửa chén bát. Hân kể vào đêm cuối cùng là đêm họp hành để bầu bán, chỉ định người phụ trách mướn chỗ, đặt cọc tiền nhà và liên lạc với anh chị em cho năm tới. Cả chuyện ăn món nào trong những bữa chung cũng được bàn thảo và quyết định người chịu trách nhiệm chính. Hân bảo:

- Vì “nghị quyết đã được thông qua” nên sau đó là không thể có vụ cãi cọ hay than phiền. “Ông lớn” làm việc rất qui tắc, năm nào họp hành xong, ổng cũng ghi ra giấy, sau đó gửi email đi cho từng nhà. Ai có thắc mắc gì thì phải nói ra sớm, rồi đi hay không là phải trả lời trước ngày X, Y, Z nào đó do ổng quyết định. Phải đóng tiền cọc đàng hoàng đấy. Rồi gần tới ngày ổng còn confirm lại cho chắc ăn. Y chang như làm việc cho tổ chức hay cho văn phòng du lịch.

Một trong những lý do tôi bằng lòng đi theo Hân là do năm nay con của Hân bị đổi ngày đi thực tập không về kịp, lúc năn nỉ tôi, Hân nói, “không phải chỉ vì phòng trống, mà lòng em cũng trống nên em cần chị”. Hân bảo cần phải “tham khảo ý kiến” tôi để chuẩn bị ứng phó cho chuyện con cái muốn dọn ra khỏi nhà. Hân nửa đùa nửa thật bảo:

- Làm cha mẹ bên này mệt quá. Không hiểu con là coi như mất con, không cho chúng làm theo ý chúng là coi như… chưa sanh lần nào. Hưm… Chứ ở Việt Nam hả, khỏi cần nói on đơ gì hết, cứ… phang cho mấy gậy là xong!

Tôi phì cười. Hân đến ở lại nhà tôi, nói chuyện con cái khan cả cổ, tôi khuyên lơn bày kinh nghiệm “đối phó” của mình với con cũng khan cả cổ, qua ngày hôm sau mãi đến trưa mới khởi hành được nên khi chúng tôi tới nơi thì đã sâm sẫm tối. Chộn rộn chào hỏi, giới thiệu, tíu tít với người này người kia một hồi, Hân kéo tôi đi cất hành lý. Đẩy tôi vào căn phòng có cửa sổ nhìn ra mặt hồ, Hân nói để tôi nhìn ngắm mà làm thơ. Tôi lại bật cười.

Thật ra ngôi nhà xây cho khách du lịch nên không cần cửa sổ nhìn ra mặt hồ này cũng đã thừa thơ mộng. Cái vị trí xoai xoải trên sườn đồi của nó với dãy hành lang dài làm bằng gỗ sồi, hai bên cửa ra vào có những chậu hoa màu hồng nhạt được đặt cạnh những chiếc ghế tựa thật xinh xắn làm dịu mắt người nhìn. Cảm giác thơ thới an lành không cần phải cố gắng cũng hiện ra trong lòng. Tôi trêu Hân, với sự thơ mộng cố ý hệt như tất cả các khu nghỉ mát khắp nơi trên thế giới, làm người ta chỉ nghĩ đến vật chất, nghĩ đến chuyện làm sao kiếm ra tiền để đi nữa, nên sẽ không bao giờ viết được một câu thơ. Hân lườm tôi, nói chị không bao giờ biết tri ân lòng tốt của em.

Để “tri ân” Hân, tối hôm ấy khi ra ngồi ăn chung với mọi người, tôi đã bày hết lòng nhiệt thành và vui vẻ của mình. Nhưng đông quá, nên gần đến ngày về, tôi mới nhớ được một vài người. Hân có nói với tôi, có thể xem đây là một cộng đồng Việt Nam thu nhỏ ở Mỹ. Người đầu tiên tôi được giới thiệu là người mà Hân gọi là “ông lớn”, anh cả của chồng Hân. Lúc ngồi một mình với tôi, Hân kể:

- Ông này đi du học từ thập niên sáu mươi. Là người chẳng bao giờ hài lòng với bất cứ một thể chế nào tại Việt Nam. Thời nào cũng có lý do để ổng chống đối. Suốt những năm du học ở bên này, “ông lớn” miệt mài chê bai đệ nhất, đệ nhị cộng hòa, nên tham gia đủ loại đủ kiểu, trực tiếp, gián tiếp…, để chống chính phủ. Sinh viên xuống đường là ông gửi thư về khuyến khích bạn bè tham dự, ký giả biểu tình là ổng hô hào người nhà đi ủng hộ. Vụ Mậu Thân ổng cực lực lên án cộng sản, nhưng Mỹ bỏ bom Hà Nội thì ông cũng đi theo những người phản chiến hò hét la lối um sùm. Nhiều người quen vẫn nói ổng thiên tả, nhưng em không nghĩ vậy. Bởi em thấy ổng chống cộng cũng dữ lắm. Từ ngày miền Nam mất tới giờ ổng chưa hề về lại, vì bảo quyền tự do dân chủ và nhân quyền vẫn chưa được tôn trọng ở Việt Nam, ổng không muốn tiếp tay cho việc công nhận sự tồn tại của chế độ đó.

Tôi hỏi Hân vậy nên nghĩ về con người này như thế nào cho chính xác. Hân đáp:

- Em không biết nữa, nhưng có lẽ đó là một người không hề hài lòng với chung quanh, không bao giờ thấy thỏa mãn bất cứ thứ gì. Với chính trị, đụng ổng thứ gì cũng chống, thứ gì ổng cũng đòi hỏi sự toàn bích, mà đời sống hằng ngày ổng cũng không để yên. Đến nỗi bà vợ cứ nói muốn chết quách cho xong đời để khỏi phải sống chung nữa.

Tôi không nhịn được cười. Hân đưa mắt nhìn về phía đầu nhà, nơi có một người phụ nữ độ tuổi bảy mươi đang ngồi đọc sách, nhưng không phải là phu nhân của ông. Hôm qua Hân giới thiệu đó là chị dâu họ, cũng mới sang Hoa Kỳ vài năm như tôi. Hân nói:

- Bà này hồi mới từ Âu châu qua, cứ đụng mặt “ông lớn” là lại “choảng” nhau. Cùng là dân du học, cùng có những hoàn cảnh na ná nhau, rồi thời sinh viên cũng phong trào nọ phong trào kia, khi ông này phản đối lung tung thì bà ấy cũng phản chiến tơi bời, nhưng “ông lớn” là người bảo thủ, cực đoan, lúc nào cũng giữ khư khư truyền thống, còn bà ấy lại rất… “hiện sinh”, chỉ thích đả phá, đập nát hết tất cả mọi nền móng, nề nếp cũ của xã hội, kể cả những nền móng, và nề nếp tốt lành.

Hân bật cười:

- Mấy năm gần đây, hai người có vẻ bớt tranh cãi, bớt xung đột, không biết vì bắt đầu già, mệt, cãi nhau không nổi nữa hay thấy cãi hoài cũng chẳng đi tới đâu… Nhưng mà cũng có thể vì đang có cái nhìn giống nhau về chuyện tụi Tàu đang hoành hành ở biển đông.

Hân kể thêm người phụ nữ này là bạn khá thân của anh họ chồng Hân thời còn bé, sau khi bà đi du học thì hai người mất liên lạc. Một hôm tình cờ gặp lại nhau trên một chuyến Metro ở Paris. Lúc ấy cả hai đều mới vừa ly dị. Nhận ra nhau, người phụ nữ trở thành hướng dẫn viên du lịch cho ông bạn cũ trong những ngày ông bỏ đi xa cho quên thế sự nhân tình và nối lại tình bạn cũ. Sau đó hai người tới lui thăm viếng nhau nhiều lần, nhưng mãi cho đến lúc cả hai cùng về hưu mới kết hôn. Hân cười, bảo cả hai đều rất… lập dị, rất ương ngạnh và cứng đầu. Ngay cả chuyện họ theo một tôn giáo nào đó của Ấn Độ cũng xuất phát từ quan niệm sống “không giống ai” của mình.

Cái cộng đồng thu nhỏ “của” Hân, một số người được di tản trước ngày 30 tháng 04, sớm gặp nhiều cơ hội làm lại cuộc đời, nên có những thành công rất “đáng nể”. Một số là thương gia, số khác là luật sư, bác sĩ, hay kỹ sư. Nhiều người nắm giữ những chức vụ quan trọng trong các bịnh viện, và các công ty lớn nhất nhì nước Mỹ. Con cái họ cũng là những người thành danh, có chức có phận trên xứ người. Tuy nhiên cũng không hiếm người chỉ có đời sống bình thường, cháu con học hành bình thường, làm những nghề nghiệp bình thường. Nhiều khi so với những người sang Hoa Kỳ về sau này, họ còn có vẻ thua kém về cả mặt tài chánh lẫn địa vị xã hội nữa. Hân kể:

- Lần nào gặp nhau, thế nào cũng có người đi muộn nói với họ là mấy anh chị thoát ra sớm, sướng, đâu có chịu cái cảnh cùng cực như tụi này sau bảy lăm. Rồi sau đó thế nào họ cũng phải nghe thêm những câu chuyện thương tâm, đau khổ vì đói nghèo, vì thiếu thốn, vì tù đày, vì bị áp bức... Thật tình mà nói, nếu như những câu chuyện như vậy được kể ra để anh em biết về nhau nhiều hơn, hiểu nhau hơn, hay để nói đến sự tàn nhẫn của chế độ cộng sản thì chắc là không ai buồn ai rồi, nhưng vì có nhiều người đã kể với hàm ý những người đi sớm không chia sẻ khốn khó, cực nhọc với người bị kẹt lại, nên cũng tạo ra nhiều chuyện không vui.

Quả nhiên như lời Hân nói, một hôm có chị như phân trần với tôi vì tôi tình cờ ngồi gần chị, và cùng… bị nghe một lô một lốc chuyện người đi kẻ ở, chị nói:

- Thật ra đi sớm cũng khổ lắm em ạ. Bởi vì đâu có ai nghĩ đi là đi luôn một mạch như cái cây xanh bị bứt ra khỏi rễ vậy, nên đâu có chuẩn bị tâm lý cũng như chuẩn bị kiến thức cho mình. Những năm đầu tiên của tụi chị cũng tang thương không thua gì ai đâu. Sống cứ như trong chiêm bao, trong mơ, trong mộng, nhưng mơ là mơ dữ, mộng là mộng không lành. Em nghĩ xem, lạ cảnh, lạ người, lạ ngôn ngữ, lạ tập quán, lạ văn hóa, tụi chị đã phải loay hoay dữ lắm mới sống nổi. Thêm nỗi nhớ nhà, nhớ nước. Cái gì cũng nhớ, nhớ cha mẹ, nhớ anh em, nhớ bạn bè, hàng xóm, thức ăn…, nhớ cả tiếng mưa rơi, tiếng rao hàng, tiếng mắng con, tiếng chửi bới nhau ngoài đường. Khóc được là chuyện bình thường, những lúc không khóc được mới đau em ạ. 

Cái xứ này, lúc còn ở Việt Nam mình chỉ được xem trên phim ảnh, nên nhìn thấy cái ống khói, cái lò sưởi thì thấy cả trời thơ mộng, sang đây sống rồi mới biết những nơi có ống khói, có lò sưởi là những nơi phải thức dậy từ bốn năm giờ sáng để cào tuyết, quét dọn mới có thể chạy xe ra khỏi nhà mà đi làm. Cũng thuở còn ở quê nhà, nhìn những tấm thiệp Giáng Sinh có tuyết trắng, có đèn hoa…, cứ tưởng lễ lạc nơi đây sẽ tuyệt diệu lắm, lúc định cư rồi mới biết buồn thế nào khi Giáng Sinh, năm mới về. Lễ, người ta họp mặt gia đình, ngoài đường không một bóng người, nhiều khi không thấy cả xe, mà mình thì cô đơn, lẻ loi, cố gắng lắm vẫn không thể nào hòa vào cái không khí của họ.

Chị chép miệng:

- Từ tập tục đến thức ăn đều không cách gì một sớm một chiều mà làm quen được. Đã vậy thời ấy hàng quán Á châu ít lắm em à, nên hằng ngày nhìn thấy cà rốt khoai tây bắp cải thật đã muốn khóc rồi, lễ lộc được mời đi ăn lại càng khổ sở hơn… Có những món chỉ mới ngó sơ qua là đã biết không hợp, đã thấy thèm một tô bún riêu, một đĩa bánh cuốn.

Sau đó chị thở dài:

- Đi sớm, em nghĩ xem, đâu phải ai cũng có cơ hội được đi học hay học cao hơn, bởi vì còn phải tùy thuộc vào hoàn cảnh và trình độ của từng người, tùy thuộc vào khả năng ngoại ngữ nữa chứ. Có nhiều người chị biết học rất cao ở Việt Nam trước 75, nhưng khi sang đây phần lớn tuổi, phần không có khiếu sinh ngữ, nên cũng đành phải chấp nhận làm những nghề tầm thường… 

Nhiều khi tụi chị bị hỏi những câu đại khái như “ủa đi lâu vậy mà sao nhà cửa nhỏ xíu vầy nè?”, hay “con cái giỏi tiếng Mỹ vậy mà chỉ học tới đó sao?”, hay “sao hồi đó không học một ngành chuyên môn cho có cái nghề” từ những người qua sau nhưng thành công hơn, học cao hơn, con cái thành đạt hơn tụi chị... Em thấy đó, bộ mình khùng hay sao mà lại muốn ở cái nhà nhỏ, lại không thích con cái là bác sĩ, tiến sĩ, hay chính bản thân mình thành người trí thức, hoặc có một nghề nghiệp đàng hoàng vững chãi nào đó? Nhưng cái khả năng của mình tới vậy thì đành chịu vậy chứ làm sao hơn bây giờ? Mà em thấy không, người Mỹ “thiệt”, ông cố ông sơ đến đây lập nghiệp cả mấy trăm năm trước, cũng không thiếu gì người ở nhà mướn, con cái không học hành đỗ đạc cao, thì tụi chị ăn nhằm gì chứ!

Chị chớp mắt, “bởi vậy, nghe hỏi, mà thật là buồn…”. Tôi an ủi chị:

- Những câu hỏi tương tự như vậy thật ra không chỉ ở Hoa Kỳ thôi, mà ở đâu cũng có thể nghe vì người hỏi không tinh ý, không tế nhị, không sợ người khác chạnh lòng nhiều lắm chị à –rồi tôi đùa- Chuyện chị kể giống như chuyện không biết quả trứng có trước hay con gà có trước, em thấy giữa hai người, một có tiền nhưng không mua được thứ mình muốn và một thấy thứ mình thèm nhan nhản ở chung quanh mà lại không có tiền để mua, thì chẳng biết ai sẽ khổ hơn ai.

Việc người đi trước kẻ đi sau, người thoát được kẻ còn ở lại, có rất nhiều điều éo le. Như nhà bên chồng Hân lúc nhận được nhập cảnh, vì sợ những thay đổi bất ngờ có thể xảy ra nên má chồng Hân đã quyết định bán đổ bán tháo căn nhà đang ở chỉ với vài cây vàng, không đủ để sắm sửa đồ đạc cho cả nhà. Mười năm sau, căn nhà ở ngay quận ba ấy trở thành một tài sản khổng lồ làm bà tiếc ngẩn tiếc ngơ. Hân bảo:

- Tụi em cứ an ủi bà cụ điều quan trọng nhất là mình thoát được chế độ đó, và dầu gì thì cũng còn bán được vài cây vàng, chứ nhiều người đi sớm hơn đã phải “hiến” không tài sản đất đai cho nhà nước. Má chồng em, thật ra cũng hiểu như vậy, nhưng thỉnh thoảng nghĩ đến công lao gầy dựng cả hàng bao nhiêu năm thì lại đắng lòng. Đã vậy còn phải chứng kiến cảnh con cái còng lưng ra bắt đầu lại từ đầu với hai bàn tay trắng nên bà cứ xót ruột.

Anh em bên chồng Hân tương đối hòa nhập nhanh, nhưng hầu hết đều là công chức hay nhân viên bình thường cho các hãng xưởng, nên sống chỉ vừa đủ, trong khi đó một số người bà con khác bị trục trặc giấy tờ, đi muộn hơn nhưng lại ổn định nhanh hơn. Họ bán được nhà ở Việt Nam với giá cao, trong số đó không thiếu gì người đã tìm cách chuyển tiền qua trước, nên khi sang đến nơi là có nhà, có vốn làm ăn ngay. Khấm khá, lại đổi nhà cao hơn, rộng lớn hơn. Xe cộ cũng sắm thứ đắt tiền hơn người. Vì vậy càng thấy cảnh người ung dung nhàn nhã hơn các con, má chồng Hân lại càng buồn. Tôi đùa “hay không bằng hên”. Hân gật đầu:

- Đúng vậy chị à. Hơn vậy nữa là xã hội nào cũng có nhiều người biết cách xoay xở, có người giỏi, nhưng trong đó cũng có người giống như lươn, như rắn, uốn éo đủ mọi đường.

Vừa nói Hân vừa đưa mắt về phía một người đàn bà cao lớn, trắng trẻo, mà ngay từ hôm mới đến, tôi đã chú ý vì kiểu cách nói chuyện “miệng bằng tay, tay bằng miệng” ấy. Hân nói “là một đại diện đấy chị”.

Người đàn bà “đại diện” cho… lươn lạch, có giọng nói tuy không lớn nhưng chắc nịch và như thể lúc nào cũng muốn cuốn người chung quanh vào câu chuyện của mình. Cái giọng nói ấy còn mang dáng dấp của một người từng có thói quen chỉ huy người khác. Hân già chuyện:

- Bà này luôn miệng nói mình chỉ là nhân viên vớ vẩn bên y tế, chỉ nhờ buôn bán chút đỉnh nên mới có “tí vốn liếng cho các cháu sang bên này kiếm ít chữ”, nhưng thật ra rất giàu. Là dân Bắc “hai nút”, vào miền nam sau thời kỳ “mở cửa”. Có bao nhiêu con cái, đều cho đi du học rồi kiếm người cưới để ở lại. Mỗi năm bả qua thăm con một, hai lần gì đó. Là sui gia bên cô của ông xã em nên lần nào cũng tới đây.

Rồi Hân nhăn mặt:

- Nhưng cái đứa con gái của bà này mới buồn cười. Lúc mới qua đây, cứ hễ nói chuyện về người Mỹ thì nó gọi họ là “cái bọn Mỹ”, gọi lính Việt Nam Cộng Hòa là “tụi ngụy”, lâu lâu lại còn “loa” lên một câu đại loại, “bọn Mỹ này ngày xưa ác nhưng giờ đã biết ăn năn nên đã đền cho nhà nước mình đến mấy tỷ đô la”. Thỉnh thoảng thì chê bai cuộc sống bên này, nói “biết vậy không thèm đi”. 

Có lần bực mình quá, em nói “ai là mình với cái nhà nước của mày?”, còn mấy chị khác thì bảo phải ngưng ngay cái giọng cộng sản con, và nếu như thích cái “nhà nước mình” ấy quá, mấy chị sẽ “giúp” cho nó về đó sống. Nó im re. Dần dà về sau thì đỡ đỡ ra, lúc này đã bớt nói năng cái điệu dễ bị ăn tát đó rồi….

Tôi phì cười. Hân tiếp:

- Bà má của nó luôn miệng nói mình chỉ là “nhân viên vớ vẩn”, nhưng cứ hễ đứa con nào bên này có được thẻ xanh là bả bay qua mua liền cho hai cái nhà, một cái ở, cái cho thuê. Tiền tuôn ra giống y như nước ấy. Tụi em hay nói chắc bả bán… tim bán gan người, chứ kinh doanh chút đỉnh cái kiểu gì mà xài toàn tiền đô, cứ y như giấy vàng mã!

Chuyện bây giờ người trong nước cho con đi du học như một hình thức chuyển tài sản ra nước ngoài một cách công khai tôi nghe đã nhiều. Bạn bè thời trung học của tôi với mớ lý lịch có công với đảng, trở thành cán bộ sau 75, đưa con đi ra nước ngoài “du học” cũng không ít. Tuy nhiên không đứa nào kể mánh lới làm ra tiền và dùng khoản “hở” nào của chính phủ Hoa Kỳ để con cái ở lại và có thể mua sắm nhà cửa một cách ung dung như vậy. Hân bảo:

- Theo luật của Hoa Kỳ, thì ai cũng có quyền mua nhà. Có hay không có quốc tịch đều không thành vấn đề nếu như không cần mượn tiền của ngân hàng. Với phía Mỹ, nếu chứng minh được nguồn gốc tiền mình có, là có thể mua được nhà. Tuy nhiên chuyện người ta “làm sao” để đưa tiền qua đây thì em không biết…

Tôi hỏi Hân:

- Vậy Hân nghĩ ai là người chịu thiệt thòi nhất ở xứ này?

Hân cười, đùa, những người bình thường như em với chị. Sau đó Hân nói:

- Thật ra thì rời khỏi được cái xã hội nhiễu nhương và mất tự do đó thì có gì đi nữa, cũng không thể gọi là mình đã bị thiệt thòi. Em nghĩ cái cá tính tạo nên hoàn cảnh cho chính mình. Vì nhiều khi đi cùng một lần, sống cùng một chỗ, có cùng một việc làm như nhau, nhưng người có ý chí muốn vươn lên thì chắc chắn sẽ có cuộc đời khác so với người chỉ muốn yên phận hay sợ sự thay đổi. Người dám và không dám thử thời vận cũng sẽ có kết quả khác nhau. Trong chừng này người đang có mặt ở đây, thì có nhiều gia đình qua đây theo diện nhân đạo HO, nhưng người thế này, kẻ thế khác. Có người chỉ muốn ngồi kể lể về quá khứ của mình mà chẳng muốn hội nhập vào xã hội mới, nhưng lại có người đã xem những gì mình từng có và mất đi chỉ là những thăng trầm của đời sống nên cố gắng bước tới phía trước bằng tất cả sức lực của mình. Lắm người thành công và cũng lắm người người tủi phận.

Và Hân nhỏ giọng:

- Nhưng có một điều rất buồn là nhiều người dường như đã quên mất hạt cơm mình từng ăn, quên mất những ơn huệ mình có được từ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và chính phủ Hoa Kỳ, nên họ chạy theo đuôi đám trong nước, hí hố về làm ăn với tụi nó, rồi còn lên án cộng đồng mình “giờ này mà còn làm chuyện ruồi bu, ngày xưa có vũ khí còn không giữ nổi đất nước, giờ bày đặt chống đối…, vân vân”.

Hân không chỉ rõ ra là ai, nhưng lại đưa mắt về một vài người. Tôi chép miệng:

- Bởi vậy mới có cái thứ gọi là là tình đời và lòng người.

Hân gật đầu. “Thật vậy, đã nói đến lòng người thì không biết nói như thế nào”. Hân kể:

- Chỉ trong vòng chừng trên dưới ba mươi người tính luôn con nít, mà chị có thể nhìn cái bức tranh cuộc đời, xã hội và cộng đồng ở đây đấy. Năm nay vắng bóng một cặp vì họ mới vừa rã đám không bao lâu. Ở hải ngoại lâu thì chị thừa biết chuyện sau khi ổn định, sau khi bắt đầu thấy thư thả, đã có vô số ông bỏ vợ chạy về Việt Nam bồ bịch hoặc cưới mấy cô gái trẻ, nhưng cặp này lại đổ vỡ vì bà vợ. Không chạy đi xa tới nửa vòng trái đất mà chắc chị biết là những lúc gần đây ở hải ngoại cũng như trong nước thường hay tổ chức đủ các cuộc họp mặt, trường xưa lớp cũ, cựu sinh viên, đồng hương vân vân…, nên chị ấy chỉ từ Texas chạy qua California là đã có thay đổi.

Hân có đi họp trường vài lần, bảo lắm khi vui vì gặp lại bè bạn hoặc người cùng thời, cùng lớn lên ở một nơi, cùng chung những kỷ niệm về chốn cũ, về thầy cô. Nhưng cũng nói có khi thấy rất buồn vì càng ngày càng vắng người do kẻ bịnh hoạn, kẻ ra đi không về… Hân nhìn quanh:

- Năm nào em cũng ráng đi họp gia đình với bên chồng vì lý do trên. Năm nay không thấy mặt anh chị ấy, em nao lòng… Cặp này ngày xưa không yêu nhau nhưng cưới nhau vì đôi bên cha mẹ đã định sẵn. Đúng ra là chị không yêu anh. Chị đã có người yêu. Khi chị lấy chồng thì người yêu chị rời thành phố rồi biền biệt. Chị làm vợ, làm mẹ nhiều năm rất chu toàn, kể cả lúc anh đi cải tạo, chị cũng ở nhà chăm lo cho con, chờ anh về. Sau đó khi được qua bên này, chị lại cặm cụi đi làm, cùng với anh nuôi con, mua nhà mua cửa, dựng vợ gả chồng cho các con… Ai nhìn cũng nghĩ anh chị hạnh phúc, vui vẻ. Ai nhìn cũng không biết sóng to gió lớn như thế nào trong nhà anh chị, đùng một cái chị đi họp mặt hội ái hữu gì đó gặp lại người yêu cũ, thế là chị về nhà bảo với anh và các con rằng chị muốn ly dị, muốn cùng đi với người cũ cho đến hết đoạn đời còn lại…

Gần bảy mươi, ở lứa tuổi nhiều người đã bắt đầu nghĩ về những ngày cuối đời của mình, về một chỗ ở yên tĩnh, một khu an dưỡng, thậm chí một nấm mồ, vậy mà chị lại về nhà thẳng thắn kể ra chuyện gặp lại cố nhân, sau đó lại can đảm nói ra quyết định của mình, và rồi còn làm theo cái quyết định ấy. Tôi xốn xang suy nghĩ.

Những chuyện ly hôn, chia tay như thế thời bây giờ đã không còn lạ, chẳng phải chỉ ở hải ngoại, mà còn cả Việt Nam, tuy nhiên thường xảy ra ở những cặp đang độ tuổi đôi mươi, tứ tuần, ngũ tuần. Vì càng lớn tuổi, người ta càng ngại thay đổi, càng ngại phải bắt đầu lại từ đầu. Nếu phải ly thân, ly hôn, thường những cặp lớn tuổi này sẽ tách ra, mỗi người sống với một đứa con nào đó, hoặc sống một mình. Trường hợp của chị thì khác hẳn. Chị làm người nghe chuyện băn khoăn. Hẳn sẽ có rất nhiều người chê trách chị đã già mà còn làm những chuyện kém suy nghĩ, nông nổi. Nhiều người khác có thể chế giễu hành động của chị. Và có lẽ không mấy ai bênh ực cho chị.

Hân hỏi tôi cách nghi ngờ, có phải vì tình cũ chưa phai nhạt trong lòng chị hay còn có điều gì khác mà Hân không thể hiểu được. Tôi trả lời:

- Chuyện của chị, thì chỉ có mình chị hiểu rõ thôi. Người ngoài chỉ nhìn thấy gia đình anh chị không sóng gió, nhưng ai có thể nói là đã không sóng gió? Đâu có ai biết được chị đã trải qua mấy mươi năm ấy như thế nào. Trong đời sống thật, có rất nhiều người phải chịu đựng nỗi uất nghẹn, khổ tâm với người phối ngẫu vì những chuyện không vui xảy ra giữa hai người, nhưng không đủ lớn để trở thành một cơn bão, không đủ mạnh để nổ bùng. Chúng nho nhỏ, chúng âm ỉ nhưng chúng hệt như mối mọt đục ruỗng mối hôn nhân, đục ruỗng mối quan hệ của hai người thì đã đành mà dường như còn giết chết luôn cả đời của một con người. Hầu hết người ta sẽ nhẫn nhịn vì chịu đựng quá lâu đâm ra thành thói quen, và không còn đủ can đảm, không còn sức lực để phản kháng nữa. Trường hợp như chị ấy là một hy hữu. Sự xuất hiện của người yêu cũ của chị ấy có thể chỉ là một giọt nước làm tràn ly…

Hân không nói gì. Tôi cũng im một hồi. Nhưng bỗng dưng tôi sực nhớ đến chuyện Hân phàn nàn con cái thời này hiếm khi thực hiện điều cha mẹ muốn, mà tôi đã nửa đùa nửa thật bảo ngày xưa con cái vẫn hay than thở lén sau lưng bố mẹ đã không chịu hiểu mình, và đã làm điều bố mẹ muốn chỉ vì không được xã hội, không có người chung quanh ủng hộ mà thôi.

Dưng không chuyện của chị bỗng trở nên ngắc ngứ trong trí tôi. Tôi tự hỏi chị chấp nhận cuộc hôn nhân miễn cưỡng thuở thanh xuân và phải chịu đựng nỗi đau nào đó, nỗi buồn nào đó trong suốt bao nhiêu năm trời, đến bây giờ bỗng có can đảm để đổi thay cuộc đời mình, có phải chăng là hậu quả của một sự “miễn cưỡng” mà cha mẹ chị đã áp đặt lên chị? Hay vì điều gì, như Hân đã thắc mắc?

Tôi thở dài. Trong cái thoáng yên lặng giữa hai chị em, tôi chợt nhận ra trừ những điều mình không thể chọn lựa chẳng hạn như sinh ra là con của một gia đình nào đó, dân tộc nào đó mà không là gia đình này, dân tộc kia…, thì chính cái thái độ sống, cách ứng xử của bản thân có thể làm sẽ cuộc đời mình chuyển sang một hướng hoàn toàn khác.

Rồi tôi cũng nhận ra cuộc sống vốn đã quá khó trong khi xã hội nào, cộng đồng nào cũng được thành hình từ nhiều người với cá tính, hoàn cảnh, tâm tư và tình cảm khác biệt nhau, nên muốn có thêm niềm vui, thêm hạnh phúc chắc tôi phải bắt đầu thêm vào đời sống mình một chút thông cảm, một chút yêu thương, một chút lắng nghe, chút vị tha, và đồng thời bớt đi một chút đoán xét, bớt đi một chút ganh ghét… như đã từng học từ Kinh Thánh.

Tôi quay sang nói với Hân, cám ơn Hân đã giúp tôi có một chuyến đi thật thú vị, mà thật lòng rất mong mình sẽ có được chút tâm tư thanh tịnh khi trở về nhà….

Hoàng Nga

Blog Archive