Wednesday, October 7, 2026

KỸ NGHỆ “VẶT LÔNG”

Ông Minh lắp cho thằng Cối chiếc xe đạp, thằng Cối thích thú chạy quanh hỏi hết cái này đến các khác.

Từ lúc mẹ thằng Cối mua chiếc xe về, nó bỏ cả iPad, xem hoạt hình, chỉ mong sáng mai được ra công viên cùng ông nội tập xe.

Hơn mười năm trước, ông mua nhà ở đây cũng chỉ vì trong quy hoạch có cái công viên rộng rãi.

Nghỉ hưu quanh quẩn trong nhà coi như đợi chết.
Bọn trẻ con không có chỗ chơi khác gì bị giam lỏng, đầu to, mắt cận, béo phì, tự kỷ chẳng qua không có không gian cho chúng vận động.

Thằng Cối háo hức, nó dậy từ sớm, thúc giục ông nội đem xe ra công viên tập.

Hai ông cháu đến gần công viên thấy Công an, dân phòng, tự quản, cùng xe ủi, xe xúc, cẩn cẩu và rất nhiều công nhân vòng trong, vòng ngoài.

Họ làm rào chắn không cho ai vào công viên.

Chuyện gì đang xảy ra?
Ông Minh thấy đám bạn thể dục đang túm năm tụm ba, bèn đến hỏi.
Mọi người bức xúc thông tin cho ông biết, Chính quyền thành phố giải phóng mặt bằng công viên thành đất sạch để đấu giá xây dựng chung cư, hay dự án gì đấy.

Dân cư xung quanh thấy công viên bị bỏ đi, đổ ra kín cả đường, họ bức xúc như thế chính quyền chẳng khác gì lừa dân.

Hơn mười năm trước, cái biển quy hoạch cắm ở đằng kia vẽ cái công viên rõ rành rành, bên dưới còn ghi rõ số quyết định phê duyệt quy hoạch của Chủ tịch thành phố. Họ phải mua đất, mua nhà giá cao cũng chỉ vì có cái công viên này.

Hoá ra, họ quy hoạch công viên rộng để giá nhà xung quanh tăng cao, giữ quỹ đất để “ăn thịt” dần.

Quy hoạch, thay đổi quy hoạch, giải phóng lấy đất tất cả đều quyền của họ.

Muốn làm gì, tự họ ra nghị quyết, cả hệ thống chính trị do họ lập ra, cùng nhất trí cao, cùng hưởng lợi, chia chác với nhau thì dân nào chống được, luật pháp có cũng bằng thừa?

Mặt trời bắt đầu lên cao, nắng tháng sáu làm không khí nóng hầm hập, nhưng không ai bỏ ra về.

Ngày mai cuộc sống của bao nhiêu người bị đảo lộn, mọi người không còn chỗ tập, chỗ chơi, tất cả quanh quẩn trong nhà như bị giam lỏng.

Các cụ nằm chờ chết, trẻ con quanh quẩn TV, iPad, điện thoại, chơi bi, đánh đáo trên giường…

Hỏi trẻ em sao không đầu to, mắt cận, béo phì, người cao tuổi không huyết áp, tiểu đường.

Sao họ ác đến như vậy, lúc nào cũng chỉ nghĩ mưu, nghĩ kế móc túi dân, bắt chấp tất cả miễn có tiền.

Tiếng còi của xe cảnh sát hú lên, cảnh sát cơ động 113 xuất hiện, họ mở loa kêu gọi mọi người giải tán.

Đám đông dần dần vãn đi, thất vọng và bất lực…

Mọi lực lượng chuyên chính, hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt thế này đứng đấy bàn cãi, bức xúc chỉ tự hành mình chẳng giải quyết gì, từ trước đến nay dân nào chống được chính quyền.

Ông Minh dắt xe đạp, thằng Cối thất thểu đi sau trở về nhà.
Thằng Cối mồ hôi, mồ kê nhễ nhại, mặt nó buồn rười rượi, vừa đi vừa hỏi: “Ông ơi, bao giờ được tập xe đạp, hả ông?”

Ông Minh nhìn nó, mắt ông ngấn lệ, ông dỗ dành nó:
“Mai hai ông cháu mình về quê, tha hồ có chỗ tập”.
Người Pháp ăn sáng

Người Pháp vốn nổi tiếng thế giới với nghệ thuật ẩm thực tinh tế, và bữa sáng của họ cũng không phải là ngoại lệ. Khác với nhiều quốc gia thường xem bữa sáng là một bữa ăn thật nhiều món để ăn cho no, người Pháp có cách bắt đầu ngày mới khá nhẹ nhàng: Ăn vừa đủ, uống một chút cà phê, thưởng thức chiếc bánh ngon và dành cho mình một khoảng thời gian thư thả.

Trước hết, ngay cái tên gọi bữa sáng trong tiếng Pháp đã nói lên phần nào đặc điểm của nó. Người Pháp gọi bữa sáng là "le petit déjeuner", nghĩa là “bữa ăn nhỏ”. Chữ "petit" có nghĩa là nhỏ, còn "déjeuner" là ăn bữa đầu tiên trong ngày. Vì vậy, bữa sáng truyền thống của người Pháp đúng nghĩa là một “bữa ăn nhỏ”, không quá cầu kỳ và cũng không nhằm mục đích ăn thật no.

Một bữa sáng kiểu Pháp thường khá đơn giản. Một tách cà phê, có thể là cà phê đen hoặc cà phê pha với sữa; đôi khi là một ly sữa hay một tách trà. Đi cùng với thức uống thường là bánh mì, bánh mì nướng phết bơ và mứt, hoặc những loại bánh ngọt nổi tiếng của Pháp như "croissant" "pain au chocolat" hay "pain aux raisins".

Trong số đó, "croissant" có lẽ là hình ảnh quen thuộc nhất khi người ta nghĩ tới bữa sáng nước Pháp. Chiếc bánh có hình lưỡi liềm, bên ngoài vàng giòn, bên trong mềm và thơm mùi bơ. Người ta có thể ăn bánh không, hoặc phết thêm bơ hay mứt trái cây. Một chiếc "pain au chocolat" với nhân sô-cô-la cũng là món được nhiều người ưa thích.

Tuy nhiên, không phải người Pháp nào, ngày nào cũng ngồi ăn một chiếc "croissant" nóng hổi bên tách cà phê như hình ảnh trong phim ảnh và quảng cáo. Trong đời sống thường nhật, nhất là tại nhà, bữa sáng có thể đơn giản hơn nhiều: vài lát bánh mì phết bơ và mứt, một ly sữa hoặc cà phê. Trẻ em có thể ăn bánh mì với bơ, mứt hoặc những loại bánh ngọt nhỏ. Một số người lớn có thể ăn thêm phô mai hay jambon, tức thịt nguội, nhưng nhìn chung bữa sáng vẫn không quá nặng nề.

Điều đáng nói là văn hóa cà phê gắn liền với bữa sáng của người Pháp. Cà phê không đơn thuần chỉ là một thức uống để giúp tỉnh ngủ. Nó còn là một phần của đời sống xã hội. Ở những thành phố như Paris, người ta có thể ngồi tại một quán cà phê, uống cà phê, ăn bánh, đọc báo, nhìn người qua lại và trò chuyện với nhau.

Một tách cà phê vì vậy có khi kéo dài cả một khoảng thời gian. Người ta không nhất thiết phải uống thật nhanh để chạy đi làm. Quán cà phê trở thành một nơi để gặp gỡ, trao đổi câu chuyện đời thường và ngắm phố phường. Chính cái cách thưởng thức ấy làm cho bữa sáng trở thành một phần của phong cách sống chứ không chỉ là chuyện ăn uống.

Dĩ nhiên, đời sống hiện đại đã làm thay đổi nhiều thói quen. Không phải người Pháp nào cũng có thời gian ngồi hàng giờ trong quán cà phê. Người đi làm có thể ăn sáng rất nhanh tại nhà hoặc mua một chiếc bánh trên đường. Nhưng hình ảnh người Pháp ngồi bên tách cà phê và chiếc bánh nhỏ vẫn là một nét văn hóa rất đặc trưng trong mắt người ngoại quốc.

Thời điểm ăn sáng cũng không phải lúc nào giống nhau. Có người ăn ngay sau khi thức dậy, nhưng cũng có người dùng bữa muộn hơn tùy theo giờ làm việc và nhịp sống. Ở thành phố, người ta có thể dành thời gian buổi sáng để chuẩn bị, uống cà phê rồi mới ăn. Vì thế, không nên hiểu rằng mọi người Pháp đều có thói quen nhất định phải chờ đến 9 hay 10 giờ mới ăn sáng. Điều này còn tùy từng người và từng gia đình.

Bữa sáng Pháp cũng có những khác biệt theo vùng miền. Ở Provence, các món ăn buổi sáng có thể mang ảnh hưởng của ẩm thực Địa Trung Hải, với bánh mì, trái cây và những sản phẩm địa phương. Ở Brittany, bánh "crêpe" là một đặc sản nổi tiếng và có thể xuất hiện trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, kể cả bữa sáng. Còn ở Paris, hình ảnh "croissant" và cà phê gần như đã trở thành một biểu tượng văn hóa.

Nếu đem bữa sáng Pháp so với Anh hay Mỹ, sự khác biệt càng dễ nhận thấy.

Người Anh có món "Full English Breakfast" nổi tiếng, thường gồm trứng, xúc xích, thịt xông khói, đậu, nấm, cà chua và bánh mì. Đây là một bữa sáng khá đầy đặn, giúp người ăn no lâu.

Người Mỹ cũng có những bữa sáng thịnh soạn với trứng, bacon, pancake, xúc xích, khoai tây và nhiều loại thức ăn khác. Một bữa sáng như vậy có thể cung cấp khá nhiều năng lượng cho một ngày làm việc.

Trong khi đó, người Pháp truyền thống lại thiên về một bữa sáng nhẹ: bánh mì hoặc bánh ngọt, bơ, mứt và một thức uống nóng. Họ không xem việc phải ăn thật nhiều vào buổi sáng là điều bắt buộc.

Nhưng nói bữa sáng Pháp “nhẹ” không có nghĩa là người Pháp lúc nào cũng ăn uống theo một công thức dinh dưỡng cứng nhắc, càng không nên hiểu rằng họ tuyệt đối không ăn trứng, thịt hay những món ăn giàu đạm vào buổi sáng. Những điều này vẫn có thể xuất hiện tùy người, tùy gia đình và tùy hoàn cảnh. Điểm đặc trưng hơn cả nằm ở truyền thống và thói quen: Bữa sáng thường đơn giản, nhỏ gọn và thiên về bánh mì, bánh ngọt cùng thức uống nóng.

Điều làm cho bữa sáng Pháp trở nên đặc biệt, vì thế, không hẳn nằm ở chiếc "croissant" hay tách cà phê, mà nằm ở cách người ta thưởng thức chúng.

Một chiếc bánh ngon nếu ăn vội trên đường thì cũng chỉ là một chiếc bánh. Một tách cà phê nếu uống vội trong lúc chạy đi làm thì cũng chỉ là một thức uống. Nhưng khi người ta ngồi xuống, cắn một miếng bánh, nhấp một ngụm cà phê, nhìn ra đường phố và để cho buổi sáng bắt đầu một cách thong thả, thì bữa sáng đã trở thành một khoảnh khắc của đời sống.

Có lẽ đây mới là điều người ngoại quốc cảm nhận rõ nhất khi nói đến văn hóa ăn sáng của người Pháp: "ăn không chỉ để no mà còn để thưởng thức."

Bữa sáng của người Pháp vì vậy phản ánh một phần quan niệm sống của họ: không nhất thiết phải có thật nhiều mới là ngon; không nhất thiết phải ăn thật no mới là một bữa ăn đáng giá. Đôi khi chỉ cần một ổ bánh mì, một chút bơ, một ít mứt và một tách cà phê là đủ để bắt đầu một ngày.

Nhìn từ bên ngoài, đó có thể là một bữa sáng quá đơn giản. Nhưng với người Pháp, cái đáng quý không chỉ nằm trong thức ăn mà còn nằm trong cách ăn, thời gian ăn và niềm vui khi ăn.

Một buổi sáng ở nước Pháp, vì thế, có thể bắt đầu rất giản dị: một chiếc "croissant" vàng giòn, một tách cà phê nóng, một chiếc bàn nhỏ bên hè phố và dòng người đang bắt đầu một ngày mới.

Không cần quá nhiều món. Không cần quá no. Chỉ cần ngon, vừa đủ và có thời gian để thưởng thức.

Đó có lẽ chính là nét duyên riêng của bữa sáng Pháp.

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

ELON MUSK NHẬN VAI TRÒ MỚI TRONG CHÍNH QUYỀN TỔNG THỐNG TRUMP, THAM GIA ĐỊNH HÌNH TƯƠNG LAI CHIẾN TRANH HOA KỲ

Elon Musk sẽ đảm nhận một vai trò mới trong chính quyền Tổng thống Trump, lần này tham gia giúp Ngũ Giác Đài xác định những võ khí và kỹ thuật mà quân đội Hoa Kỳ sẽ cần để chiến đấu trong các cuộc chiến tương lai.

Bộ trưởng Bộ Chiến Tranh Pete Hegseth hôm Thứ Tư loan báo Musk sẽ đồng lãnh đạo Project Meridian, một sáng kiến mới của Ngũ Giác Đài có nhiệm vụ nhìn xa nhiều năm, thậm chí nhiều thập niên, để xác định những lãnh vực chiến tranh mới đang xuất hiện và những khả năng mà quân đội Hoa Kỳ cần có để chiếm ưu thế.

Musk, người từng lãnh đạo Department of Government Efficiency, DOGE, trong chính quyền Tổng thống Trump, sẽ thực hiện công việc này cùng tỷ phú kỹ thuật quốc phòng Palmer Luckey và cựu Chủ tịch Hạ viện Newt Gingrich. Project Meridian sẽ hoạt động dưới sự điều hành của Giám đốc Kỹ thuật Bộ Chiến Tranh Emil Michael.

Trong bài diễn văn State of the Force tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến Quantico, Bộ trưởng Hegseth nói: “Những người dự đoán tốt nhất về các cuộc xung đột tương lai không chỉ nằm bên trong Ngũ Giác Đài.” Ông nói việc để chính Ngũ Giác Đài vừa đặt câu hỏi vừa tự trả lời những câu hỏi đó có những thiên kiến và rủi ro rõ ràng.

Bộ trưởng Hegseth cho biết sáng kiến sẽ bắt đầu ngay lập tức. Sau bài diễn văn, ông dự trù gặp Musk, Luckey và Gingrich tại một địa điểm an ninh cách sân khấu khoảng 200 yard.

Project Meridian sẽ có 120 ngày để “thẳng tay lập bản đồ diễn tiến của chiến tranh, các lãnh vực và kỹ thuật.” Kết quả sau cùng sẽ được công bố công khai, cùng với một phần phụ lục mật.

Bộ trưởng Hegseth mô tả phạm vi công việc của nhóm trải dài “từ dưới lòng đất đến bên ngoài Mặt Trăng.” Nhóm sẽ không chịu trách nhiệm soạn thảo các chiến lược hoặc chính sách quân sự mới. Thay vào đó, họ sẽ xác định “những lãnh vực mà chúng ta phải chinh phục và những khả năng mà chúng ta phải làm chủ.”

Project Meridian cũng sẽ tập trung vào việc “khám phá, phát triển và đưa vào sử dụng” những võ khí và hệ thống mà các thế hệ quân nhân Hoa Kỳ trong tương lai có thể cần.

Musk và Luckey đều đã trực tiếp tham gia phát triển kỹ thuật cho quân đội Hoa Kỳ. SpaceX của Musk là một nhà thầu lớn của Ngũ Giác Đài, trong khi Luckey sáng lập Anduril Industries, một công ty kỹ thuật quốc phòng chuyên về võ khí tự hành và những hệ thống quân sự tối tân khác.

Kinh nghiệm trong kỹ nghệ của Musk và Luckey giúp họ có cái nhìn trực tiếp về những kỹ thuật mới và chiến trường hiện đại. Fox News cũng nêu khả năng xuất hiện những câu hỏi về xung đột quyền lợi vì các công ty của họ cạnh tranh để nhận hợp đồng quốc phòng, trong lúc họ tham gia xác định những khả năng và kỹ thuật mà quân đội nên theo đuổi.

Project Meridian là một phần trong kế hoạch rộng lớn hơn được Bộ trưởng Hegseth công bố hôm Thứ Tư nhằm thay đổi quân đội theo hướng chiến tranh tự hành và những kỹ thuật đang phát triển nhanh chóng.

Bộ trưởng Hegseth cũng loan báo thành lập Autonomous Warfare Command, gọi tắt là AUTOWARCOM. Đây sẽ là một bộ tư lệnh tác chiến cấp 4 sao với những thẩm quyền mà ông mô tả là tương tự các quân chủng, nhằm mở rộng khả năng tự hành và robot trong toàn lực lượng hỗn hợp.

Bộ Chiến Tranh cũng sẽ bắt đầu đưa vào áp dụng những khuôn khổ nghề nghiệp mới trong các quân chủng. Mục tiêu là thiết lập những con đường binh nghiệp chuyên biệt dành cho thế hệ mà Bộ trưởng Hegseth gọi là những “chiến binh tự hành.”

Bộ trưởng Hegseth nói: “Chúng ta đáng lẽ phải nghĩ đến Autonomous Warfare Command từ 10 năm trước.” Ông cho biết Project Meridian được thiết lập để nhìn đủ xa về phía trước, nhằm nhận diện sự chuyển đổi kỹ thuật kế tiếp trước khi quân đội bị tụt lại phía sau.

Các sáng kiến được công bố trong lần thứ 2 Bộ Chiến Tranh tổ chức bài diễn văn State of the Force thường niên của Bộ trưởng Hegseth tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến Quantico. Địa điểm vẫn giống năm ngoái, nhưng thành phần tham dự lần này khác biệt đáng kể.

Trong bài diễn văn đầu tiên, Bộ trưởng Hegseth đã triệu tập các tướng lãnh, đô đốc và những giới chức quân sự cao cấp từ khắp thế giới đến Quantico. Tại đó, ông trình bày những thay đổi lớn liên quan đến tiêu chuẩn quân đội, nhân sự và điều mà ông gọi là “tinh thần chiến binh.”

Lần này, Bộ trưởng Hegseth nói chuyện với một thế hệ lãnh đạo quân sự trẻ hơn, gồm những quân nhân cấp E-6 và sĩ quan cấp O-3 có thành tích cao trong toàn quân. Ông gọi họ là những “lãnh đạo hiện tại và tương lai ở tuyến đầu” của quân đội.

Bộ trưởng Hegseth sử dụng bài diễn văn hôm Thứ Tư để công bố 6 sáng kiến mới, từ việc quân đội tiếp nhận chiến tranh tự hành đến kế hoạch làm cho các căn cứ Hoa Kỳ và chuỗi cung ứng quốc phòng ít bị tổn thương hơn trước những sự gián đoạn từ ngoại quốc.

Trong bài diễn văn, Bộ trưởng Hegseth cũng đưa ra những phát biểu mạnh mẽ về nỗ lực thay đổi văn hóa quân đội. Ông nói: “Chúng ta không còn là một bộ woke hay một bộ yếu đuối. Không người béo phì, không người chỉ đến để tập luyện, không kẻ kỳ quặc, không người để râu, không kẻ yếu đuối, không người cực đoan. Chỉ có những chiến binh.”

Bộ trưởng Hegseth sau đó cáo buộc một số ký giả tham gia vào điều mà ông gọi là “hoạt động vận động đảng phái,” gây nguy hiểm cho các hoạt động quân sự và quân nhân Hoa Kỳ. Ông gọi những hoạt động báo chí như vậy là “về căn bản chống Mỹ,” sau đó nói: “Điều đó thật bệnh hoạn. Đó là sự phản bội quốc gia. Thật ra, đó là phản quốc.”

Nguồn: Fox News
Phân tích và biên tập: Luan Vo
Tổ chức Vận động Nhân quyền và Lao động Châu Á, AHRLA, LÊN ÁN CÁO BUỘC BẮT CÓC XUYÊN QUỐC GIA

Ngày 29/9, ông Phil Robertson, Giám đốc Tổ chức Vận động Nhân quyền và Lao động Châu Á, AHRLA, lên tiếng chỉ trích việc Việt Nam bắt giữ hai ông Nguyễn Đức Thuận và Trần Hiệp, gọi đây là hành động “gây phẫn nộ” và “không thể chấp nhận được”.

Theo ông Robertson, vụ việc làm dấy lên quan ngại về việc các cơ quan chức năng Việt Nam có thể sử dụng các biện pháp vượt ra ngoài lãnh thổ để truy bắt những người mà chính quyền cho là có liên quan đến các hoạt động bị cấm. Ông cho rằng nếu việc bắt giữ được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không thông qua các thủ tục pháp lý phù hợp, đây sẽ là vấn đề nghiêm trọng liên quan đến chủ quyền quốc gia và luật pháp quốc tế.

AHRLA kêu gọi làm rõ hoàn cảnh hai ông Nguyễn Đức Thuận và Trần Hiệp bị bắt giữ, địa điểm xảy ra vụ việc cũng như cơ sở pháp lý của hành động này. Tổ chức này đồng thời yêu cầu bảo đảm các quyền cơ bản của những người bị bắt, bao gồm quyền được tiếp cận luật sư và được xét xử theo đúng quy trình pháp luật.

Tuy nhiên, các cáo buộc liên quan đến một vụ “bắt cóc xuyên quốc gia” cần được phân biệt với những thông tin đã được cơ quan chức năng hoặc các nguồn độc lập xác nhận.

Vụ việc đang thu hút sự quan tâm của các tổ chức nhân quyền, trong bối cảnh vấn đề truy bắt và đưa những người bị bắt trở về nước tiếp tục gây tranh luận về chủ quyền, quyền con người và việc tuân thủ luật pháp quốc tế.

Bản Tin Á Châu
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Sustainable Development
6/10/2026
—-
Hôm Chủ Nhật vừa rồi, tôi ghé lại tiệm tạp hoá trái cây của 1 chị người Việt gốc miền Tây ở phố Changsin, khu Đông Đại Môn (Dongdaemun). Mỗi lần ghé tới khu Việt Nam là tôi ưa tới mua cái gì ủng hộ chị, dù những thứ tôi thực sự muốn mua như măng cụt hay các loại trái cây Việt Nam khác đều không có. Tôi chỉ mua trái bưởi da xanh, sầu riêng Thái Lan và xoài keo của Việt Nam.

Còn gian hàng đồ khô thì tôi không mua được gì nên tôi cũng không vào làm gì. Trong khi chờ chị xẻ sầu riêng cho khách, tôi bước vào thì thấy hộp cà phê pha sẵn có thương hiệu “Cà Phê Phố”. Hộp này màu xanh lá, ghi là cà phê chồn.

Lâu nay tôi chỉ uống cà phê hoà tan hiệu UCC của Nhật Bản nên không mua cà phê Việt. Không phải vì cà phê Việt không ngon, mà tôi chọn cà phê Nhật vì niềm tin vào an toàn thực phẩm đối với sản phẩm của Nhật Bản.

Nhưng tôi luôn mua 1 gói cà phê G7 của Trung Nguyên để trong phòng làm việc để đãi khách. Đa số khách uống cà phê G7 đều khen ngon. Hầu như bạn bè quốc tế nào của tôi cũng biết tới thương hiệu cà phê hoà tan G7 của Trung Nguyên.

Về phát triển bền vững, ông Vũ Qua của Trung Nguyên đóng góp cho Việt Nam hơn gấp ngàn lần mấy doanh nghiệp bất động sản, cho dù họ có giàu hơn ông đi chăng nữa.

Thứ nhất ông Vũ Qua đã giới thiệu Việt Nam qua gói cà phê G7 khắp thế giới, đưa Việt Nam vào bản đồ sản xuất cà phê của thế giới. Cà phê chính là sản phẩm phát triển bền vững vì nó tận dụng được tài nguyên đất, khí hậu, thổ nhưỡng và tạo sinh kế cho rất nhiều nông dân.

Trong khi đó, các đại gia bất động sản chỉ làm giàu cho quan chức thông qua hối lộ dự án, khiến giấc mơ sở hữu nhà của hàng triệu người ngày càng xa vời vì chúng thổi giá và phải chi quá nhiều cho phí hối lộ dự án và lãi suất ngân hàng.

Đó là chưa kể chúng lấy hết tiền dành dụm của giới trung lưu nếu họ phải bỏ của chạy lấy người, bỏ cọc, bỏ tiền trả góp để bán huề vốn hay bán lỗ.

Đương nhiên các chủ nhân này cũng vì ham lợi mà đầu cơ bất động sản, ham lợi mà vay tiền ngân hàng để lướt sóng bất động sản…

Giấc mơ làm giàu nhanh quá lớn khiến ai cũng rơi vào cái vực thẳm của giới kinh doanh bất động sản.

Trở lại với gói cà phê hoà tan của thương hiệu ‘Cà Phê Phố”. Công bằng mà nói là rất thơm, đậm đà hơn cà phê của Trung Nguyên. Nếu mùi thơm này không phải là hương liệu hoá chất, và cà phê của họ thật sự sạch thì đây là sản phẩm rất có triển vọng đi xa như gói cà phê G7.

Nhắc tới cà phê, có 1 tin khá vui là người sáng lập chuỗi cà phê Highlands Coffee, 1 Việt Kiều Mỹ, đã mua lại cổ phần từ tập đoàn Jollibee của Phillippines để trở thành cổ động kiểm soát, đồng thời là CEO của chuỗi cà phê này. Về mảng quán cà phê thì Highlands Coffee hơn hẳn Trung Nguyên, và có lẽ là chuỗi cà phê hoạt động hiệu quả nhất Việt Nam. Các chuỗi khác chỉ làm sớm nở tối tàn, đầu tư vào thiết kế cho nhiều nhưng chẳng hiệu quả bao nhiêu, làm kiểu rửa tiền hay ủ mưu phát hành cổ phiếu ra thị trường.

Mỗi lần tôi về Việt Nam là tôi chọn uống Highlands Coffee, bởi đó là chuỗi cà phê hiện đại đầu tiên ở Việt Nam khi tôi còn ở Sài Gòn. Tôi nhớ quán ở tầng trệt của Saigon Centre trên đường Lê Lợi ở thập niên 90.

Đáng lẽ Việt Nam phải tập trung vào những mặt hàng chiến lược như cà phê, trái cây tươi xuất khẩu, nước trái cây đóng hộp, thuỷ hải sản sạch cao cấp… để nuôi sống lượng nông dân đông đảo và để phát triển bền vững… thì các ngân hàng lại cho vay vô tội vạ để phát triển nền kinh tế PHÂN LÔ BÁN NỀN. Nhiều người cứ tưởng nhiều toà nhà xi măng trên đường phố là chỉ số của sự phát triển kinh tế, nhưng nếu những toà nhà đó không lấp đầy, xuống cấp theo thời gian thì đó là những khoản nợ.

Nội chi phí san ủi các đô thị ma của Nhơn Trạch (Đồng Nai) hay các khu đô thị ven Sài Gòn đã là sự lãng phí rất lớn. Đám lùa gà bất động sản ở Đồng Nai, đặc biệt khu vực quanh sân bay Long Thành toàn là tội phạm kinh tế.

Đó là chưa kể những biệt thự hàng chục đô ở khu Ba Son giáp sông Sài Gòn đang bị lún. Tương lai phải tháo dỡ và gia cố lại đất nền. Hàng trăm tỷ đồng đổ xuống sông là có thiệt.

Nhìn mấy đại gia bất động sản, rồi nhìn qua Vũ Qua, người sáng lập Highlands Coffee… sẽ thấy ai có công với nền kinh tế, ai là kẻ ăn hại đái nát…

Thời kỳ Đại Tái Thiết đã bắt đầu.

Hoa OC
PHÚ QUỐC ĐANG ĐI TRÊN CON ĐƯỜNG SAI LẦM

Tôi đến Phú Quốc lần đầu khoảng năm 2010. Ngày ấy, Phú Quốc còn rất khác. Đảo còn hoang sơ, những cánh rừng xanh ngút mắt, những bãi biển dài và trong veo, những con đường còn thưa người. Biển có một màu xanh mà người ta chỉ cần nhìn thôi cũng thấy lòng mình dịu lại. Phú Quốc khi ấy chưa phải là một “điểm đến”, chưa phải một thương hiệu du lịch, càng chưa phải một cuộc đua xây dựng khổng lồ. Nó đơn giản chỉ là Phú Quốc. Một hòn đảo đẹp, hoang sơ và có một sức quyến rũ rất riêng. Từ đó đến nay, vì có người thân ở Phú Quốc, tôi đã trở lại đảo hơn 20 lần. Có lẽ không nhiều nơi tôi đi đi lại lại như vậy. Và chính vì đã nhìn thấy Phú Quốc của ngày hôm qua, tôi càng đau lòng khi nhìn Phú Quốc hôm nay. Phú Quốc đang thay đổi quá nhanh. Những khối bê tông khổng lồ mọc lên ngày càng nhiều. Những công trình cao lớn, đồ sộ, lớp nọ nối lớp kia, chen chúc trên một hòn đảo vốn nhỏ bé và vô cùng dễ tổn thương.

Tôi không phản đối phát triển. Tôi cũng không phản đối đầu tư. Không thể bắt một hòn đảo đứng yên khi đất nước đang phát triển và người dân cần việc làm, cần thu nhập, cần một cuộc sống tốt hơn. Nhưng tôi tự hỏi: Có nhất thiết phải phát triển Phú Quốc theo cách này không? Một hòn đảo đẹp như Phú Quốc có nhất thiết phải biến mình thành một đô thị bê tông khổng lồ mới được gọi là phát triển? Có nhất thiết phải xây thật nhiều, thật nhanh, thật lớn rồi mới nghĩ xem thiên nhiên còn lại bao nhiêu?

Tôi sợ rằng chúng ta đang nhầm lẫn giữa phát triển Phú Quốc và xây dựng trên Phú Quốc. Hai việc ấy hoàn toàn không giống nhau. Phú Quốc không phải một mảnh đất trống để chúng ta muốn đặt gì lên đó cũng được. Nó là một hệ sinh thái. Là rừng. Là biển. Là những bãi cát. Là những dòng nước. Là san hô. Là cá, chim, thú, cây cối và vô số sinh vật mà phần lớn chúng ta thậm chí còn chưa kịp biết tên. Và trên hết, đó là một vẻ đẹp tự nhiên đã mất hàng triệu năm để hình thành nhưng con người có thể phá hủy chỉ trong vài chục năm. Tôi đau lòng khi thấy rừng bị thu hẹp. Đau lòng khi những mảng xanh tự nhiên nhường chỗ cho những công trình bê tông. Đau lòng hơn nữa khi nghe và chứng kiến những tổn thương ngày càng rõ của biển, của những rạn san hô và hệ sinh thái ven bờ. Rừng mất đi thì rất khó trở lại như cũ. San hô chết đi cũng không thể trồng lại trong một sớm một chiều. Và màu xanh của biển Phú Quốc, một khi đã mất, có thể sẽ không bao giờ trở lại đúng màu xanh mà chúng ta từng yêu. Nhìn từ xa, những công trình ấy có thể được gọi bằng những cái tên rất đẹp: khu nghỉ dưỡng, đô thị, tổ hợp du lịch, trung tâm thương mại...

Nhưng đứng giữa một hòn đảo, nhìn những khối nhà khổng lồ mọc lên lớp lớp, đôi khi tôi chỉ thấy một điều: Phú Quốc đang bị bê tông hóa. Đặc biệt ở phía Nam đảo, cuộc chạy đua xây dựng dường như ngày càng dữ dội. Các tập đoàn lớn từ nhiều nơi đổ về, cùng với rất nhiều nhà đầu tư khác, tạo nên những quần thể công trình đồ sộ. Có những công trình đẹp, có những công trình hiện đại, có những nơi thực sự hấp dẫn. Nhưng cũng có những thứ tôi không hiểu vì sao phải xuất hiện ở Phú Quốc. Những kiến trúc lai căng, xa lạ với cảnh quan và tinh thần của một hòn đảo nhiệt đới. Những khối bê tông khổng lồ đứng chình ình giữa thiên nhiên. Và đáng buồn nhất là có những nơi xây xong rồi lại vắng vẻ. Những khu đô thị, những dãy nhà, những công trình từng được kỳ vọng rất lớn, nhưng người đến ở chẳng bao nhiêu. Cỏ mọc. Cửa đóng. Những con đường rộng thênh thang vắng bóng người. Có nơi nhìn chẳng khác gì một thành phố bỏ hoang.

Đó là một nghịch lý đau lòng. Chúng ta đã hy sinh thiên nhiên để xây dựng những thứ mà đôi khi chính con người cũng không cần đến. Chúng ta chặt một cánh rừng để xây một khu đô thị. Lấp một khoảng đất tự nhiên để xây những công trình khổng lồ. Thay đổi cảnh quan để thu hút khách.Rồi một ngày nào đó, nếu khách không đến như dự tính, những công trình ấy nằm đó, im lặng giữa cỏ cây. Nhưng rừng đã mất thì không thể vì thế mà tự mọc lại. Biển đã bị tổn thương cũng không vì một dự án vắng khách mà tự nhiên hồi phục. Đó mới là điều đáng sợ. Tôi cứ nghĩ mãi: Có phải chúng ta đang lấy cái quý giá nhất của Phú Quốc để đổi lấy thứ có thể xây dựng ở bất cứ nơi nào? Một khách sạn có thể xây ở nhiều nơi. Một trung tâm thương mại có thể xây ở nhiều nơi. Một khu đô thị có thể xây ở nhiều nơi. Một tòa nhà bê tông có thể mọc lên ở hàng nghìn thành phố trên thế giới.

Nhưng một cánh rừng nguyên sinh của Phú Quốc chỉ có thể tồn tại ở Phú Quốc. Một vùng biển xanh của Phú Quốc chỉ có một. Những rạn san hô của Phú Quốc cũng chỉ có một. Và vẻ đẹp hoang sơ của Phú Quốc, một khi biến mất, sẽ không thể dùng tiền để mua lại. Tôi từng nghĩ, nếu phải chọn một con đường khác cho Phú Quốc, tôi sẽ chọn con đường khó hơn nhưng bền vững hơn.

Hãy biến Phú Quốc thành một trong những khu bảo tồn rừng - biển lớn và quý giá nhất của Việt Nam. Hãy giữ thật nhiều rừng. Giữ thật nhiều biển. Giữ những vùng san hô. Giữ các hệ sinh thái tự nhiên. Giữ những bãi biển còn hoang sơ. Và nếu phát triển du lịch, hãy phát triển du lịch sinh thái chất lượng cao, số lượng vừa phải, giá trị lớn, để mỗi người đến Phú Quốc đều hiểu rằng mình đang bước vào một nơi cần được trân trọng chứ không phải một công trường để tiêu dùng. Không cần hàng triệu người cùng lúc. Không cần xây kín đảo. Không cần biến mọi khoảng xanh thành dự án. Không cần nơi nào cũng phải có một tòa nhà thật lớn mới được coi là thành công. Có thể Phú Quốc sẽ đón ít khách hơn. Nhưng những người đến sẽ ở lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn và yêu hòn đảo hơn. Người dân địa phương vẫn có thể sống tốt. Doanh nghiệp vẫn có thể kiếm tiền. Nhà nước vẫn có thể có nguồn thu. Nhưng quan trọng nhất là Phú Quốc vẫn còn là Phú Quốc. Đó mới là thứ đáng để chúng ta truyền lại cho con cháu. Phú Quốc có một lợi thế mà rất ít nơi có được. Đó là nó nằm giữa biển. Nó cách xa đất liền. Nó từng có một khoảng cách tự nhiên với sự xô bồ của đất đai, giao thông và con người. Đáng lẽ khoảng cách ấy phải trở thành hàng rào bảo vệ thiên nhiên. Đáng lẽ chúng ta phải nói: “Ở đây không thể xây như trên đất liền.” “Ở đây không thể phát triển bằng mọi giá.” “Ở đây phải biết dừng lại.”

Nhưng dường như chúng ta đang làm ngược lại. Chúng ta đang đưa chính sự xô bồ của đất liền ra đảo. Đưa những cuộc đua bất động sản ra đảo. Đưa những khối bê tông ra đảo. Đưa cả lòng tham của con người ra đảo. Và rồi chúng ta tự hỏi tại sao Phú Quốc không còn giống Phú Quốc ngày trước. Có lẽ bởi vì chúng ta đang đòi hỏi hòn đảo phải trở thành thứ gì đó khác với chính nó. Tôi biết có người sẽ nói: “Không phát triển thì lấy gì để sống?” Tôi đồng ý. Nhưng phát triển không đồng nghĩa với phá bỏ tất cả những gì không thể tái tạo. Một đất nước nghèo cần tăng trưởng. Một hòn đảo cũng cần kinh tế. Nhưng tăng trưởng không có nghĩa là phải bán đi tương lai. Hôm nay chúng ta còn nghèo nên có thể chưa thấy tiếc. Một dự án mang lại vài nghìn tỷ đồng, chúng ta thấy ngay. Một cánh rừng mất đi, chúng ta chưa thấy ngay cái giá phải trả. Một rạn san hô chết đi, không ai lập hóa đơn. Một loài sinh vật biến mất, không ai gửi thông báo. Một bãi biển mất đi vẻ đẹp tự nhiên, cũng chẳng có con số nào trong báo cáo tài chính. 

Nhưng vài chục năm nữa, khi Việt Nam giàu hơn rất nhiều, khi con người có thể mua được những thứ hôm nay còn nằm ngoài khả năng, tôi tin chúng ta sẽ bắt đầu thèm khát những thứ không thể mua bằng tiền. Một cánh rừng già. Một bãi biển hoang sơ. Một vùng biển trong xanh. Một đàn cá bơi dưới làn nước. Một rạn san hô còn sống. Một buổi chiều đứng trước biển mà không nhìn thấy bê tông. Và khi ấy, có thể chúng ta sẽ nói: “Giá như ngày xưa chúng ta giữ lại Phú Quốc.” Giá như khi còn nghèo, chúng ta đã nghĩ như những người giàu có của tương lai. Giá như chúng ta hiểu rằng có những thứ càng quý thì càng phải biết không biến nó thành tiền. 

Tôi đã đến Phú Quốc từ khoảng năm 2010. Tôi đã trở lại đảo hơn 20 lần. Tôi đã nhìn thấy một Phú Quốc còn rất hoang sơ và đẹp đến nao lòng. Vì thế, những gì tôi viết hôm nay không phải là lời của một người chỉ đi du lịch qua đây một lần rồi phán xét. Đó là nỗi buồn của một người đã nhìn thấy Phú Quốc trước và sau những năm phát triển quá nhanh. Tôi không muốn Phú Quốc nghèo. Tôi càng không muốn người dân Phú Quốc nghèo. Tôi muốn Phú Quốc giàu. Nhưng tôi muốn Phú Quốc giàu mà vẫn là Phú Quốc. Giàu mà rừng vẫn xanh. Giàu mà biển vẫn xanh. Giàu mà san hô vẫn sống. Giàu mà chim vẫn bay trên những tán rừng. Giàu mà những bãi biển vẫn còn những khoảng trời rộng không bị những khối bê tông che khuất. Giàu mà con cháu chúng ta sau này vẫn có thể đứng bên biển và nói: “May quá, ngày ấy ông cha mình đã biết dừng lại.” Than ôi... 

Bây giờ có còn quay lại được không? Tôi không biết. Tôi chỉ sợ rằng chúng ta đã đi quá xa. Nhưng nếu vẫn còn một cơ hội, dù rất nhỏ, thì tôi mong chúng ta hãy dừng lại một chút. Hãy nhìn Phú Quốc từ trên cao. Đừng chỉ nhìn những dự án đã xây được bao nhiêu mét vuông. Hãy nhìn xem còn bao nhiêu màu xanh. Còn bao nhiêu rừng. Còn bao nhiêu biển. Còn bao nhiêu san hô. Còn bao nhiêu thiên nhiên nguyên vẹn. Và hãy tự hỏi một câu rất đơn giản: “Chúng ta muốn để lại cho con cháu một Phú Quốc giàu có hơn, hay một Phú Quốc không còn gì để mất?” 

 Tôi vẫn yêu Phú Quốc. Có lẽ chính vì yêu nên tôi mới đau lòng đến thế. Và tôi vẫn mong một ngày nào đó trở lại đảo, đứng trước biển, nhìn về phía rừng xanh và có thể mỉm cười: Phú Quốc đã không đi hết con đường ấy. Phú Quốc đã kịp dừng lại.

Hung Pham
ĐÔI MẮT NGƯỜI THƯƠNG

Nguyễn Cát Thịnh

Nó và tôi không xa lạ. Thời sinh viên, tôi là gia sư của anh em nó. Trái với đứa anh, nó thông minh, có cá tính, nhưng ham chơi biếng học. Tôi mất nhiều thì giờ dậy dỗ nên nhớ nó rất rõ.

Sau cuộc biển dâu, gặp lại nhau trên đất khách quê người. Dù nó đã lột xác, tôi vẫn nhận ra.

Thật là thích thú được nghe câu chuyện đời tư của nó.

Tôi chỉ viết lại theo lời kể, không thêm bớt.

Ghi chú: nhân vật xưng “Tôi” chính là nó.

***
TÀI XẾ VÀ THÁNH NỮ

Tôi là một người Việt gốc Hoa. Nhà tôi có 3 anh em. Trên tôi là anh Hai, hơn tôi gần 2 tuổi. Dưới tôi là gái út, kém tôi 4 tuổi.

Thuở nhỏ, tôi và anh Hai học cùng lớp. Anh sáng dạ, học rất khá. Tôi lười học, chỉ giỏi mầy mò tháo ráp máy móc, thích đánh lộn..

Đến tuổi quân dịch, anh Hai nhận được giấy gọi nhập ngũ. Anh buồn lắm, nhìn thấy tương lai mờ mịt, suốt ngày than thở. Thương anh phải bỏ dở chuyện học hành, tôi ngỏ lời tình nguyện đi thay. Tôi và anh hoán đổi lý lịch.

Sau này, dù đáo hạn tuổi, anh vẫn được hoãn dịch, lý do gia cảnh, vì anh trở thành con trai duy nhất còn lại trong gia đình.

Cha mẹ đồng ý.

Phường khóm chỉ biết chúng tôi với những cái tên ở nhà nên khi tôi cầm giấy tờ của anh trình diện, không ai nghi ngờ. Vả lại, anh em tôi nhìn không khác nhau nhiều.

Sau khi mãn khoá quân trường, ông nội lo lót cho tôi về phục vụ trong ban quân xa của một đơn vị ngoại thành.

Một dịp ngẫu nhiên, tôi được điều động đi sửa chữa khẩn cấp xe jeep của một vị sĩ quan cấp tá chết máy khi đang trên đường công tác. Thấy tôi nhanh nhẹn, tay nghề vững chắc, vị sĩ quan rất hài lòng. Mấy tuần sau tôi nhận được sự vụ lệnh thuyên chuyển về làm tài xế cho vị sĩ quan đó.

Cuộc đời tôi bước vào một ngã rẽ, và số mệnh đã được định đoạt từ đây.

Ngoài công tác lái xe, tôi được ông Tá (tên vị sĩ quan) xem như người nhà. Khi rảnh rỗi, tôi tình nguyện giúp sửa chữa những việc lặt vặt tại tư gia của ông. Thỉnh thoảng được mời ngồi ăn cơm chung với gia đình.

Ông bà có 4 người con, 2 trai 2 gái. Tất cả đều học trường Pháp. Cô gái lớn tên Sylvie xinh đẹp, có dáng dấp khỏe mạnh tây phương, rất tự nhiên với tôi. Nhưng tôi thì không tự nhiên khi tiếp xúc, có cảm tưởng cô chỉ xem tôi như một gia nhân. Tự ti mặc cảm, tôi chấp nhận, không thắc mắc.

Một ngày nọ, bà Tá bận việc không đón cô tan học như thường lệ nên ông Tá nhờ tôi.

Hôm đó trời mưa tầm tã suốt buổi.

Chiếc xe jeep nhà binh không có vạt che 2 bên, mưa tạt mạnh vào trong. Trông cô như một tài tử đang diễn cảnh vừa rơi xuống hồ bơi mặc nguyên quần áo, bước lên xe. Run rẩy.

Chiếc chemise trắng và chiếc jupe vàng dán sát làm phông, nổi bật nội y. Lồ lộ một bông hoa đang hé nở. Toàn thân phác họa sẵn những đường nét hình thành một thần vệ nữ tương lai.

Tôi không ướt nhiều mà cũng run rẩy. Mặt nóng bừng bừng, mê man trong cơn sốt ảo.

Chỉ đến khi cô nhắc cho xe chạy tôi mới sực tỉnh.

Tôi cởi chiếc áo khoác lính đưa cô che đậy. Tránh ánh mắt nhìn hau háu, chiêm ngưỡng, ghen tỵ của những chàng trai qua đường.

Tôi sung sướng suốt mấy ngày. Cười nói huyên thuyên. Chiếc áo khoác tôi treo sát đầu giường, không bao giờ phơi, không bao giờ giặt. Hương thơm phảng phất cho tôi quên hết mệt nhọc sau ngày dài làm việc và ban đêm dìu tôi vào giấc ngủ dễ chịu êm ái nhất.

Hình ảnh hôm ấy của cô khắc sâu trong tâm trí. Nếu là họa sĩ tôi có thể vẽ không thiếu một chi tiết.

DI TẢN VÀ ĐỊNH CƯ

Ngày di tản. Dòng người hối hả chen lấn xô đẩy khi chiếc máy bay chưa kịp ngừng hẳn. Tôi xách 2 chiếc vali định trao cho ông Tá rồi trở về nhưng bị chèn ép, không thoát ra được. Bị nhét vào bên trong máy bay, trở thành người di tản bất đắc dĩ.

Chúng tôi được định cư ở Grand Rapids thuộc tiểu bang Michigan.

Tại Mỹ, tôi hội nhập dễ dàng hơn gia đình ông bà. Hội nhà thờ giới thiệu tôi và ông Tá làm công nhân trong một xưởng sản xuất phụ tùng xe hơi. Tôi học thêm nghề hàn, sống khá thoải mái. Bà Tá vẫn còn hoài niệm mệnh phụ phu nhân, không chấp nhận lao động chân tay. 4 người con được xếp vào các lớp học theo độ tuổi.

Trong hãng xưởng có nhiều công nhân Việt Nam thuộc đủ mọi thành phần xã hội. Buổi ăn trưa chúng tôi thường tách thành nhóm riêng, nói tiếng Việt rôm rã.

Một hôm, có một thanh niên không hiểu sao sừng sỏ, nói bóng gió, ở VN làm tướng làm tá hách dịch, qua đây thằng nào cũng như thằng nấy, cũng cu li như nhau. Tôi không dằn được cơn giận, định dậy cho anh ta một bài học nhưng ông can ngăn.

Tôi lớn tiếng, ông thầy tôi đã ngã ngựa nhưng vẫn khí khái. Không nề hà công việc nào, miễn là lương thiện, anh phải kính phục hơn là khinh thường. Hơn nữa tuổi của ông ta bằng tuổi cha chú của anh, anh không được hỗn xược gọi ông là thằng.

Mọi người vỗ tay hoan nghênh, anh ta xấu hổ bỏ đi, từ đó bị tất cả xa lánh.

Ông Tá lủi thủi bước, cúi mặt, nói với chính mình, “Thằng ông lưu vong ơi, đã đủ nhục chưa?”.

Cô Sylvie bỏ học, theo đám bạn bè cùng lứa, sống bầy đàn khiến ông bà phiền lòng không ít. Ông vốn sống lặng lẽ lại càng lặng lẽ. Tôi là người duy nhất hầu chuyện ông, giúp ông khuây khỏa.

Có lần ông nói với bà mà tôi vô tình nghe được, phải chi con Sylvie chịu lấy thằng … thì đâu đến nỗi.

Bà trừng mắt nói, ông muốn gả con gái ông cho ai? Cho nó ư? Nó chỉ là thằng lính tài xế!

Ông nhỏ nhẹ, tuy thế nó biết trên dưới, biết lễ độ, biết chí thú làm ăn, không khá hơn cái đám bạn bè ăn chơi của con bà ư?

Tôi không khỏi suy nghĩ. Tự nhủ, phải quyết tâm tìm chút công danh cho mở mắt với đời. Tôi dành thời giờ buổi tối, ôn luyện chương trình trung học. Sau đó nhờ bà láng giềng tốt bụng hướng dẫn ghi danh học ở Kalamazoo Valley Community College 2 năm và tiếp theo 2 năm nữa ở University of Michigan-Flint.

Bốn năm học tập vất vả rồi cũng qua. Tôi nhận được văn bằng tốt nghiệp Cử nhân Khoa học Kỹ thuật Cơ khí. Ông Tá chúc mừng, đãi tôi bữa cơm thân mật. Ông nói với bà:

-Bà thấy chưa? Mỹ là đất nước của cơ hội. Mọi người đều bình đẳng. Có ý chí phấn đấu sẽ thành công. Từ thằng tài xế nó đã trở thành ông kỹ sư. Không tiến thủ, ỷ lại, sẽ bị bỏ rơi phía sau như con gái bà. Đấy! Cô tiểu thư của bà, dân trường tây trường đầm bây giờ có ra gì!

Bà Tá tỏ vẻ bất cần, không đáp trả.

Tôi tìm được công việc mới, phù hợp với khả năng. Ông Tá thay đổi công việc vài lần rồi tới tuổi hưu trí.

Mỗi cuối tuần tôi đều rủ ông đi uống cà phê, đi câu cá, đi ăn ngoài hoặc đi gặp các bạn già của ông.

Ông rất quý mến tôi. Riêng tôi vẫn kính trọng ông như ngày xưa, nói với ông, tôi lúc nào cũng là lính của ông.

Tôi âm thầm theo dõi sinh hoạt của cô Sylvie, vẫn tôn thờ thánh nữ của tôi. Đồng thời cùng chia sẻ sự lo lắng của ông bà Tá.

Tôi hứa với cô, bất cứ khi nào cô cần đều có tôi, không điều kiện. Những lần cô gọi tôi giúp giải vây đám côn đồ, tôi đều hăng hái. Cô xem đó như là nhiệm vụ của tôi phải bảo vệ cô. Buồn ít nhưng vui nhiều.

ĐÔI MẮT NGƯỜI THƯƠNG

Những năm sau này tôi nhận ra mắt thường bị khô, cộm. Đôi lúc nhạy cảm với ánh sáng, nhất là với ánh sáng chói. Tôi nghĩ, có lẽ do hậu quả của thời gian làm nghề hàn nên không quan tâm.

Tôi hối hận đã không mua thêm bảo hiểm cho dịch vụ khám mắt định kỳ, ngoài Medicaid của tiểu bang. Nếu được phát hiện sớm tôi đã không lâm vào hoàn cảnh ngặt nghèo.

Cho đến khi thị lực giảm, nhìn mờ. Soi gương thấy có đốm trắng trên giác mạc, tôi hoảng hốt, đến bệnh viện nhãn khoa khám thì tỉnh trạng đã khá nghiêm trọng.

Bác sĩ chẩn đoán thoái hóa giác mạc nặng, thị lực có thể suy giảm theo thời gian. Nguy cơ mù vĩnh viễn nếu không được điều trị kịp thời.

Các loại thuốc nhỏ mắt và thuốc nhỏ nước mắt nhân tạo chỉ giúp giảm khô mắt và bảo vệ giác mạc tạm thời.

Hai giải pháp được bác sĩ đưa ra. Hoặc cấy ghép mô nhân tạo bằng phương pháp hiện đại giúp tái tạo giác mạc, hoặc phẫu thuật ghép giác mạc của người hiến tặng. Giải pháp thứ hai có lẽ thích hợp với tôi hơn, nhưng danh sách chờ ghép quá dài, vì hiếm nguồn hiến tặng.

Tôi được giới thiệu ghi danh tại chi nhánh của tổ hợp “Northwest Eye Surgeons” ở Chicago, với hy vọng rất mỏng manh.

Tin dữ ập đến với gia đình ông bà Tá. Cô Sylvie bị tai nạn giao thông! Tình trạng nguy kịch. Bệnh viện tiên liệu xấu, khó qua khỏi. Gia đình họp khẩn cấp. Không ai giữ nổi bình tĩnh ngoại trừ ông Tá.

Tôi nghe tin mà bất lực, mắt đã mờ hẳn, không thể di dịch xa như ý muốn. Cậu em trai của cô chở tôi đến bệnh viện gặp mọi người.

Cô Sylvie đã chết não. Bà Tá khóc lóc thảm thiết, ôm con nói trong nước mắt ràn rụa, con tôi chết trẻ, chết oan uổng, làm sao có thể nhắm mắt.

Ông Tá nghe thế, đột nhiên có một ý nghĩ nảy sinh trong đầu. Ông đề nghị hiến giác mạc của cô Sylvie cho tôi để cặp mắt của cô sẽ sống mãi.

Bà Tá không đồng ý nhưng dưới áp lực và lời khuyên chân thành cuối cùng chấp nhận.

Quá bất ngờ, tôi không kịp suy nghĩ, bất động, cảm kích không nói nên lời. Việc lấy giác mạc phải được thực hiện trong vòng 6-24 giờ sau khi người hiến qua đời để bảo đảm chất lượng mô nên xe cứu thương đưa xác cô Sylvie và tôi đến bệnh viện nhãn khoa “Northwest Eye Surgeons” tức thời.

Cuộc phẫu thuật thành công như mong đợi. Ghép giác mạc là một phẫu thuật ngoại trú. Sau khi theo dõi vài giờ, không thấy có nguy cơ biến chứng, tôi đã được xuất viện cùng ngày. Phải giữ băng mắt trong 2 ngày và dán nắp kính bảo hộ khi ngủ, để tránh vô tình chạm dụi mắt.

Sau 2 ngày thì tháo băng. Không có cảm giác khó chịu và sưng nên tôi lại nhờ cậu em trai đưa về nhà ông bà Tá để cảm ơn tấm lòng nhân đạo bao la của ông bà và cũng để đến trước di ảnh cô Sylvie thành tâm tưởng nhớ.

Ông bà muốn xem đôi mắt tôi nhưng không được vì vẫn còn mang kính do nhạy cảm với ánh sáng và chảy nước mắt. Chỉ khi thị lực ổn định mới được để mắt trần.

Điều kỳ lạ, mỗi khi nhìn vào gương, tôi không thấy chính mình, mà thấy hình bóng cô Sylvie. Đôi mắt ấy, cái nhìn ấy – là của cô!

Mỗi lần nhắm mắt, tôi đều cảm nhận như cô vẫn ở bên cạnh, cười với tôi, nói chuyện với tôi bằng chính đôi mắt đó.

Bà Tá vẫn chưa hoàn toàn chấp nhận sự thật. Bà không biểu lộ thiện cảm với tôi vì nghĩ tôi không xứng với con gái bà. Nhưng giờ đây, mỗi lần nhìn tôi, bà lại thấy đôi mắt ấy – đôi mắt của cô Sylvie, trong veo mà day dứt.

Có lần bà buồn bã nhìn tôi, chợt hỏi:

– Dạo này… con có nhớ Sylvie nhiều không?

Tôi sững lại. Bà chưa từng gọi tôi là “con”. Tôi khẽ gật đầu:

– Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút bà ạ.

Bà Tá im lặng nhìn tôi. Gọi tôi là con nhưng có bao giờ bà xem tôi như con đâu. Giờ đây, từng ánh nhìn, từng cử chỉ của tôi đều gợi cho bà hình bóng cô Sylvie. Có lẽ, định mệnh đã sắp xếp để chàng trai này cùng chung sống với một phần cơ thể của con gái bà.

Một buổi chiều muộn, tôi ghé thăm nhà. Ông Tá ra mở cửa, vỗ nhẹ lên vai tôi, vẫn ánh mắt ấm áp:

– Vào đi con, lâu rồi sao con không tới ăn cơm với gia đình?

Căn nhà từng đóng kín cửa vì nỗi đau mất con, hôm nay lại mở rộng với tôi. Bước vào, thấy trên bàn thờ di ảnh cô Sylvie, rạng rỡ như ngày nào. Tôi khẽ cúi đầu, thì thầm trong lòng:

-Cô…, cô vẫn đang đồng hành cùng tôi trên con đường đời, đúng không?

Ngoài hiên, gió nhẹ lay lay những chùm hoa giấy, nghe như tiếng động gật đầu. Từ ngày bước vào căn nhà của ông bà với tư cách một người thân, tôi dần quen với sự hiện diện của bà và ông trong cuộc đời mình.

Bà Tá vẫn không thể gọi tôi là “con rể”, nhưng sự quan tâm của bà dành cho tôi không khác gì mẹ lo cho con. Bà kín đáo quan sát tôi. Mỗi lần đến thăm, bà đều cho tôi thưởng thức những món ăn Sylvie từng thích.

Đôi khi bà hỏi han chuyện công việc của tôi, rồi chuyện nọ chuyện kia. Nhắc nhở tôi giữ gìn sức khỏe.

Tôi không biết từ khi nào tôi đã trở thành một thành viên của gia đình ấy.

Mỗi khi ở bên ông bà, tôi cảm thấy gần cô Sylvie hơn, như thể cô vẫn hiện diện đâu đây, qua từng món ăn, từng bức ảnh, từng kỷ niệm nhỏ mà mọi người kể lại.

Sau ca ghép giác mạc, tôi phát hiện ra một điều lạ lùng. Đôi mắt tôi không chỉ giúp tôi nhìn rõ hơn mà dường như còn chứa đựng một phần ký ức. Có những lúc mơ màng, mơ mà như thực. Tôi thấy mình lái xe dưới cơn mưa tầm tã đón cô ở cổng trường, thấy bàn tay mình cầm một cuốn sổ nhỏ với những dòng chữ quen thuộc tôi chưa từng viết.

Một đêm nọ, tôi giật mình tỉnh dậy, tim đập thình thịch. Trong giấc mơ, tôi thấy mình đang đứng trước gương, nhưng khuôn mặt phản chiếu không phải của tôi, mà là của cô. Cô cười vui, hàm răng trắng bóng, ánh mắt tràn đầy yêu thương.

– Cô vẫn ở đây, bên tôi, đúng không? Tôi lẩm bẩm, nhìn chằm chằm vào gương.

Đôi mắt trong gương loé lên ánh nhìn linh động. Không có tiếng trả lời, nhưng tôi có cảm giác như cô đang mỉm cười với tôi qua chính đôi mắt ấy.

Tôi không kể điều này với ai. Tôi sợ nếu nói ra, người ta sẽ bảo tôi bị bệnh hoang tưởng. Dần dần cảm giác đó không ám ảnh nữa. Nó trở thành một sự hiện hữu quen thuộc, một niềm an ủi đích thực. Tôi không còn thấy cô đơn, vì biết rằng cô vẫn ở bên tôi, theo một cách đặc biệt.

Bà Tá lúc đầu vẫn giữ khoảng cách với tôi, nhưng càng ngày, bà càng thấy hình ảnh của chính con gái mình rõ nét hơn trong từng ánh mắt, từng cử chỉ của tôi.

Bà lặng lẽ nhìn tôi chăm sóc chậu hoa giấy con gái bà từng yêu thích, thấy tôi cẩn thận lau chùi từng món đồ kỷ niệm của Sylvie, thấy tôi thỉnh thoảng lặng người nhìn về phía bàn thờ, như đang trò chuyện với cô.

Một hôm trong bữa cơm, bà bỗng giật mình, dí sát, nhìn vào mắt tôi, rơi cả đũa. Ảo giác khiến bà lạc giọng:

– Đúng rồi! Đúng đứa con gái bé nhỏ của mẹ đây rồi! Con tôi đã trở về! Con tôi! Mẹ đã thấy con trong đôi mắt con. Mẹ…mẹ muốn…cho mẹ ôm con vào lòng… Bà giang hai tay ôm một chiếc bóng vô hình rồi hôn lên mắt tôi. Bà nếm những giọt nước mắt lăn dài mà tôi không biết chảy từ lúc nào.

Bà nói trong nước mắt:

-Cứ khóc đi con! Mẹ và con cùng khóc ! Những giọt nước mắt hạnh phúc của hai mẹ con mình!

Qua cơn xúc động, bà trìu mến hôn lên mắt tôi một lần nữa:

-Hay là con dọn về ở đây đi. Mẹ muốn thấy con của mẹ mỗi ngày.

Rồi giọng bà mềm đi:

–Ừ!, mẹ biết… con thương Sylvie. Con hãy xem nơi này như nhà nghe con.

Tôi nghẹn lời. Đã vài lần bà gọi tôi là “con”, nhưng lần này gọi con xưng mẹ một cách tự nhiên. Cảm giác nhận được chân tình của bà tràn ngập trong lòng, tôi khẽ gật đầu.

Từ hôm đó, tôi qua lại nhà ông bà hàng ngày. Tôi chăm sóc họ như cha mẹ mình, còn họ xem tôi như con trong gia đình. Bà không khách sáo, mà dần chấp nhận sự thật.

Bằng tâm linh, con gái bà vẫn tiếp tục sống trong thế giới này, với đôi mắt ấy, thông qua chàng trai trước mặt bà.

Thời gian trôi qua, tôi vẫn không yêu ai khác. Trong lòng tôi, cô chưa bao giờ rời xa.

Tôi vẫn giữ thói quen đi dạo trên những con đường cô từng đi, vẫn giữ quyển sổ nhật ký của cô bên mình, dù chưa một lần mở ra. Tôi sợ biết những điều không muốn biết.

Một buổi chiều, khi đang ngồi bên hiên nhà ngắm nhìn hoa giấy bay trong gió, bà Tá chợt hỏi:

– Con vẫn không định tìm một ai khác sao?

Tôi mỉm cười lắc đầu. Không cần phải nói gì thêm, vì bà đã hiểu.

– Thôi được rồi… Bà thở nhẹ, không còn băn khoăn như trước. Dù sao thì, con vẫn là con của gia đình.

Tôi nhìn bà, cười tươi. Tôi biết, dù cô đã không còn, nhưng tôi thay chỗ cô trong gia đình, vẫn cùng cô đi đi về về. Và dẫu cuộc sống có ra sao, tôi vẫn luôn mang theo đôi mắt người thương, để nhìn thế gian này bằng ánh mắt của cô, để yêu thương mọi thứ theo cách cô từng yêu thương.

Hoàng hôn buông xuống, nhuộm vàng cả khung trời. Qua làn gió thoảng, dường như có ai đó đang cười bằng mắt.

***
Đồng cảm, người viết gửi tặng người trong truyện mấy câu:

Một đôi mắt, nhập hai tâm hồn,
Vui buồn cười khóc với thế nhân.
Sống-chung đời-lòng thề không đổi,
Nhắm mắt cùng nhau lúc lìa trần.

Nguyễn Cát Thịnh
Ngày 10 tháng 2 năm 2025





TÌM ĐƯỜNG RA ĐI: SAU KHI RỜI BẢNG ĐEN PHẤN TRẮNG

Phần 7

Thân phận người tị nạn.
Chúng tôi sống như vậy khoảng 3 tuần thì được chuyển lên trại Phanat Nikhom. Đây là một trại tị nạn dành cho cả ba nước Việt - Miên - Lào, nằm ở phía Đông Bắc Bangkok, thuộc tỉnh Chonburi, Thái Lan.

Sáng sớm ngày 10/03/1987, một chiếc xe Coast Bus (loại xe chở du khách đường dài) đến đón chúng tôi. Xe chạy đến Ty Cảnh sát Songkhla để đón thêm mấy cô phụ nữ nữa. Khi lên xe trao đổi, chúng tôi mới biết các cô cũng là người Việt tị nạn như mình. Nhưng số phận các cô thật nghiệt ngã: bị cướp biển bắt cóc ngay trên biển, sau khi hãm hiếp chán chê, chúng ném các cô xuống bờ biển và may mắn được cảnh sát cứu giúp. Thật tội nghiệp cho những cô gái trẻ đẹp mà phải chịu cảnh đọa đày.

Khoảng 10 giờ sáng, xe bắt đầu chuyển bánh về hướng Bắc. Nhìn thành phố Songkhla thật đẹp dưới ánh nắng chan hòa, bình yên của miền Nam Thái Lan. Anh tài xế cho biết từ Songkhla đến Phanat Nikhom dài hơn 1.000km, xe phải chạy khoảng 12 tiếng vì đoạn ngang qua Bangkok thường rất kẹt xe.

Sau gần 3 tuần lễ ở vùng miền Nam Thái Lan, tôi thấy đời sống người dân nơi đây thật yên bình và an nhàn. Nghĩ mà thương quê mình, muốn đi từ làng này qua làng khác cũng khó khăn, người dân phải lo chạy gạo từng ngày. Sau này, khi đã định cư ở Canada – "xứ lạnh tình nồng" – đôi lúc phải mệt mỏi cuốn theo vòng xoáy vật chất quá cao, tôi lại ước mơ được sống như người dân vùng quê Thái Lan yên bình đó. Nhưng cuộc đời đâu phải muốn là được, bởi vậy cụ Nguyễn Du hơn một thế kỷ trước đã than thở:

"Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao."

Xe chạy xuyên đêm. Đến khoảng 3-4 giờ sáng thì ngang qua Bangkok. Vì là ban đêm nên không thấy gì nhiều, nhưng tôi cảm nhận được đây là một thành phố rất lớn. Hệ thống đường cao tốc chạy thẳng vào trung tâm thành phố rất khác với hệ thống cao tốc ở Bắc Mỹ sau này tôi sống (thường nằm ở ngoại vi, xa trung tâm).

Khoảng 10 giờ sáng, xe chúng tôi đến trại tị nạn Phanat Nikhom. Xe đỗ ngay hội trường lớn ở cổng trại. Tất cả chúng tôi ngồi dưới sàn xi măng theo từng nhóm để chờ MOI (sau này mới biết đây là tổ chức thuộc Bộ Nội vụ Thái Lan, lo về an ninh trong trại).

Khi nghe anh chô (Joe) lên lớp và phổ biến luật lệ, bao nhiêu ảo tưởng về sự mơ tưởng về tương lại trong suốt 3 tuần qua của tôi hoàn toàn tan biến. Câu nói làm tôi đau lòng nhất là: "Ai mời các anh đến đây?". Nghe câu đó thốt ra từ miệng một người Thái nói tiếng Việt, cảm giác xót xa vô cùng.

Xin lỗi, tôi quên giới thiệu sơ qua về anh Joe này. Anh là người Thái, lúc đó trạc tuổi tôi (khoảng hai mươi mấy, chưa đến ba mươi), nói tiếng Việt rất tốt. Lúc đầu nghe anh nói có vẻ không tôn trọng người lớn kẻ nhỏ, tôi cũng bực lắm. Nhưng sống ở đó một thời gian, tôi dần hiểu và thầm cảm ơn anh. Trại tị nạn rất đông, không gian chật hẹp, đủ mọi thành phần xã hội, nếu không có "kỷ luật sắt" thì mọi thứ sẽ loạn hết.

Nghe kể lại, Phanat Nikhom trước đây là trại Transit (chuyển tiếp) dành cho những người đã được nước thứ ba chấp nhận, lên đây để học đời sống và chờ chuyến bay. Tuy nhiên, khoảng năm 1986-1987, chính phủ Thái Lan dẹp các trại như Songkhla hay Sikhiw... rồi chuyển hết về đây. Có lúc cao điểm, riêng khu người Việt đã trên 20.000 người. Nếu tính cả người Lào và Campuchia ở các khu kế bên, nghe đâu tổng cộng có lúc lên đến hơn 40.000 người.

Về việc phân chia chỗ ở: vì trại quá đông nên diện tích sinh hoạt rất hạn chế. Mỗi gia đình hoặc nhóm bạn được sắp xếp ở chung trong những căn nhà san sát. Lúc này, cô em gái Đà Lạt chắc thấy tôi "nhát gái" thật rồi nên cô cùng mấy người bạn khác nhập vào nhóm khác, không ở gần tôi nữa.

Gia đình Duẫn (người bạn tôi quen từ khi còn ở Việt Nam) nhập chung với gia đình tôi. Tổng cộng 7 người trong một căn phòng chưa đầy 15 mét vuông, tính ra mỗi người chưa được 1,5 mét vuông. Nhưng thôi, ông bà mình dạy "ăn nhiều chứ ở bao nhiêu". Khổ nhất không phải là chỗ ở chật chội mà là vấn đề nước. Mỗi người chỉ được cấp 15 lít nước mỗi ngày cho cả việc nấu ăn, tắm rửa và giặt giũ. Lúc đầu là một thử thách lớn, nhưng ở lâu quen dần, biết cách "vận động" thì việc xin thêm nước cũng không quá khó khăn. Còn thực phẩm trại phân phát gạo thì không thiếu nhưng thịt và cá và rau cải thì có tính cách tượng trưng, nếu ai không có thân nhân ở nước ngoài cho tiền mua thêm đồ ăn thì sống cũng khó khăn lắm, may mắn tôi được ông Anh ở Đức thường gởi tiền và ba cháu gái tôi dẫn đi từ Mỹ cũng gởi nên tôi sống không quá khó.

Còn một viêc nữa mà tôi rất sợ khi ở trại là cái cầu tiêu, mỗi 8 căn nhà hơn 200 người chỉ có 1 hầm cầu tiêu ngăn ra làm 4 phòng cầu khác nhau liền kề chỉ bước lại gần thôi chưa bước vô đã nghe mùi nồng nặc, nhưng biết sao bây giờ vì mình mang thân phận tị nạn.

Lên trại không bao lâu, cả hai anh em tôi đều bị sốt rét. Chắc do những tuần ở trại nhỏ không quen thời tiết hoặc bị muỗi đốt nhiều. Nhiều hôm giữa trưa nắng 30-40 độC mà tôi nằm run lập cập, đắp bao nhiêu mềnh cũng không đủ. Cuối cùng, tôi phải vào bệnh viện trong trại nằm mấy ngày vô nước biển mới khỏe lại, và phải uống thuốc ròng rã 6 tháng mới dứt hẳn bệnh.

Không muốn "nhàn cư vi bất thiện", tôi xin làm thiện nguyện dạy học cho trường tiểu học trong trại. Dĩ nhiên là dạy không có lương, nhưng bù lại tâm hồn thanh thản. Song song đó, tôi ghi tên học tiếng Anh và học nghề tại trung tâm huấn nghệ. Dù chỉ ở trại một năm rưỡi, nhưng tôi đã học và lấy được 5-6 bằng nghề. Nếu tính luôn "nghề" thầy giáo thì tôi có tới 7 nghề...tức là thất nghiệp (nói vui vậy thôi). Chính nhờ chịu khó làm thiện nguyện, học tiếng Anh và học nghề mà tôi được giới thiệu đi theo diện nhân đạo sớm. Có những người không may mắn phải ở trại 5-7 năm, thậm chí là 10 năm.

Nhìn lại, tôi xin tạ ơn Trời Phật đã dành nhiều may mắn cho chuyến ghe của chúng tôi và cá nhân tôi. Ở trại, tôi chứng kiến nhiều cảnh đời đau thương: có những ghe đi 30-40 người mà chỉ còn vài người sống sót. Có những câu chuyện kể lại tưởng như không có thật. Như cô em gái đi cùng xe từ Songkhla lên kể rằng: cô không biết bơi, bị hải tặc bắt qua ghe hành hạ thể xác xong đẩy xuống biển. Cô bám vào một chiếc nắp thùng xốp, lênh đênh gần 5 ngày đêm trên biển mới được tàu khác cứu. Lúc vào bờ, mặt và lưng cô bị nắng và nước biển ăn lở loét, phải điều trị trong bệnh viện mấy tháng mới hồi phục để lên Phanat Nikhom. Trong khi đó, ghe chúng tôi chỉ đi 3 ngày 3 đêm là đến đất Thái bình an. Thật sự không biết nói bao nhiêu lời cảm ơn cho đủ vì sự may mắn kỳ diệu này.

Đứa cháu đi cùng anh em tôi chỉ ở trại khoảng 3-4 tháng là được đi Mỹ thẳng (không phải qua Philippines học đời sống như người lớn). Tôi và em tôi vừa đi làm thiện nguyện đi học đúng một năm sau được Canada nhận theo diện nhân đạo lúc đó gọi là diện (DC1).nói đến việc được phái đoàn Canada nhận, tôi cũng phải nói cám ơn đến một ân nhân là người bạn người Mỹ mới quen, làm thiên nguyên chung với tôi ở trường tiểu học của trại, Tên cô là Elizabeth chắc nhỏ hơn tôi 1-2 tuổi, cô là người Mỹ ở TP Denver, tiểu bang Colorado sang trại tị nạn làm thiện nguyện, đã nhiệt tình giúp đở tôi để được gặp phái đoàn Canada phỏng vấn và được nhận. Chúng tôi chờ thêm 6 tháng để học đời sống và sắp xếp chuyến bay. Đến ngày 20 tháng 9 năm 1988 tôi mới lên đường đi Canada xứ sở được mênh danh là vùng "Đất lạnh tình nồng"

Tính đến nay, tôi đã định cư ở Canada được 38 năm. Hôm trước, tôi có viết bài "Tạ Ơn Người, Tạ Ơn Đời: Chuyện Những Năm Đầu Nơi Xứ Lạ" để nói lên lòng biết ơn với tất cả những may mắn đã nhận được.

Nhân đây, tôi cũng xin cảm ơn tất cả bạn bè trên Facebook và ngoài đời đã dành thời gian đọc, bình luận và chia sẻ bài viết của tôi. Đó chính là nguồn cảm hứng và động lực để tôi tiếp tục viết trong những ngày an hưởng tuổi già.

Xin hết.
XIN CÁM ƠN TẤT CẢ CÁC BẠN

Chinh Le


Blog Archive