Friday, April 24, 2026

30 Tháng 4: Hồn Đi Lạc!

Nguyễn Trung Tây


Gặp tôi lang thang đầu đường xó chợ tựa như sát thủ Cain, một đời lang thang trên mặt đất, bạn chặn tôi ngay giữa đường, phán một câu, một lời tuyên án, hay cũng có thể được gọi là một lời than, “Ông Công giáo, lại là cha cụ, mà nhìn mặt cứ như người chưa bao giờ nhận được Tin Mừng ơn cứu rỗi!...”

Tôi, bất mãn kinh niên, nhăn nhăn vầng trán, “Cám ơn cho những lời nhận xét quý báu không ai mượn. Nhưng cũng không sao, tôi vẫn quý mến ông như thủa nào. Mà này, ông bạn, ông muốn nói điều gì vậy?”

Bạn nhìn thẳng vào mắt tôi, tiếp tục, “Rất thành thực! Không khách sáo! Ông nhìn lạc đường mùa chay quá!”

Ơi, tôi yêu mến làm sao những lời nói thẳng như ruột ngựa!
Tiếng Việt của bạn thật chuẩn, thật dễ thương!
Bạn có phải thầy bói, nhà tướng số, hay tiên tri của quá khứ quay về thế giới đảo điên để phán một lời tuyên ngôn về ngày tận thế?

Lạc đường là tôi! Lạc đường là tên! Lạc đường đã trở thành máu huyết luân lưu trong người. Lạc đường đã khắc ghi sâu trong tâm khảm mặc dù không chọn lựa. Lạc đường đã trở nên cá tính riêng biệt sở hữu. Tôi đã lạc ngay trong bụng mẹ. Tôi nghĩ có lẽ mình cũng chẳng muốn sinh ra trên cõi đời này làm chi…

Tôi đã lạc khi nhìn thấy xe tăng T-54 lăn bánh trên đường Lê Văn Duyệt, một trong những đại lộ Sài Gòn dẫn về tổng hành dinh của Nam Việt Nam, chính quyền mới bại trận. Bầu trời xanh lơ trưa mùa hạ bỗng trở nên xám đen, đừng hỏi tại sao, tôi chỉ diễn tả những chi mình đã nhìn thấy. Thành phố hỗn loạn trong cơn tháo chạy! Những cột khói bốc cao! Bầu trời Sài Gòn bỗng dưng ngập tràn trực thăng, tựa như những chú ruồi sa mạc, di tản người thân ruột thịt. Những khuôn mặt hốt hoảng! Những giọt lệ buồn tủi! Những tiếng kêu tuyệt vọng! Những tiếng hét kinh hoàng! Những hàng người nối dài cho một chỗ ngồi trên chiếc trực thăng đậu cao trên nóc một tòa nhà cao ốc.

Tôi đã lạc dưới bầu trời nắng lung lửa đỏ, bụng đói meo với không một chén cơm, chân đi bộ tới trường trung học Nguyễn Thượng Hiền. Một tô cơm gạo trắng khi đó bỗng dưng trở thành xa xỉ phẩm cho cậu bé thiếu niên của Sài Gòn, Sài Gòn một thời hãnh diện được gọi Hòn Ngọc Viễn Đông.

Tôi đã lạc ngay sau khi bị bật gốc khỏi quê nhà bởi cuộc chiến Việt Nam, một cuộc chiến đến ngày hôm nay, tôi vẫn còn thắc mắc tìm hiểu đâu là nguyên nhân chính.

Tôi đã lạc khi bước chân lên tàu vượt biên, thuyền trôi lênh đênh trên mặt sóng, và tất cả những cô gái tuổi ươm mơ trong khoang thuyền bị hạ nhục bởi ngư phủ Thái. Khi bị tấn công bởi lưỡi dao, anh tôi ngã gục xuống sàn tàu, hét lớn, hai tay ôm mặt; và máu, những dòng máu đỏ tuôn chảy từ những ngón tay. Tôi, hốt hoảng với thảm kịch xảy tới cho người thân, không biết làm gì, bật tiếng khóc!

Tôi đã lạc khi ngư phủ Thái xếp hàng những người thanh niên trên tàu. Từng người rồi từng người bị ngư phủ bạo hành. Tới phiên! Tôi nhắm mắt lại đợi chờ giây phút, nhưng ngư phủ Thái đã dừng lại nắm đấm giữa trời. Tôi nghĩ cũng có thể bởi khuôn mặt thất thần trắng xanh của mình. Hoặc bởi một lý do gì đó, có ai mà hiểu. Ngư phủ nhìn tôi, nhoẻn miệng cười, gỡ cặp kính của tôi ra, đeo vào mặt. Cặp kính cận dầy cộm, ai đeo cho nổi! Ngư phủ loạng choạng những bước chân! Đầu lắc lắc! Cặp kính cận rớt xuống, rơi thẳng một mạch xuống làn nước xanh đại dương. Tưởng thế là xong! Nhưng không, ngư phủ phóng theo vớt lại cặp kính. Một tay bám thành tàu, một tay nắm chặt kiếng cận, ngư phủ nhảy lên tàu, cẩn thận đeo trả lại vào mắt chủ nhân cặp kính. Rồi lại quay sang người đứng kế bên, đánh tiếp, như một chuyện bình thường, một chuyện phải xảy ra…

Tôi đã lạc trong khi hít thở bầu không khí ngột ngạt hôi thối của trại Sungai Besi, trại cấm Mã Lai. Từng mảng rồi từng mảng hồn đã bị gậm nhấm, ăn mòn bởi đời sống trại cấm.

Tôi đã lạc khi đặt chân lên đất Mỹ, vùng đất hứa! Họ là ai, những người không có tóc đen bóng mượt? Tại sao mắt họ lại không là mầu nâu? Tại sao họ ăn bánh mì sandwich với hamburger và cheese, nhưng lại không ăn cơm trắng với canh chua cá và thịt kho?

Tôi đã lạc khi nhận được tin bố, trút hơi thở cuối đời tại Việt Nam trong khi mình đang lang thang tại xứ người, hơn một năm rồi. Một phần hồn của tôi đã chết, một góc tim bị xé rách toang, không bao giờ còn khả năng bình phục kể từ giây phút đó…

Và khi tôi quay về lại quê nhà… Người cùng chủng tộc đối xử tôi tựa như tôi chưa bao giờ chôn nhau cắt rốn ở Việt Nam. Trong ánh mắt họ, tôi là người Campuchia hoặc Nhật. Có một lần tôi nói, “Cám ơn”, với cô chạy bàn trong tiệm Phở. Cô ta ngạc nhiên, nói liền, “Ông nói tiếng Việt giỏi quá!”

Và cô hỏi tôi trong tiếng Anh, “Tại Phi Luật Tân, ông sống ở đâu? Thủ đô Manila?”

Thật thế à?
Lạc, hồn tôi lạc như ao tù nước đọng. Tôi hôi thối! Tôi hiểm ác!
Lạc, thần trí tôi nhăn nheo tựa như trái táo khô để quên trong bếp từ lâu rồi. Tôi còn trẻ nhưng tâm hồn già khằng, ngàn năm tuổi!
Lạc, ngôn ngữ tôi hằn học nọc rắn độc!
Lạc đã trở thành một phần tâm hồn, hồn đi lạc.
Lạc, tôi lạc như Cô Tấm, bố mẹ chết…
Tôi thất vọng với đời, với người và với mình! Tôi lạc đường!
Chẳng trách chi bạn gọi tôi, Hồn Đi Lạc!
Nhưng... Khoan!
Xin bạn dừng lại một bước chân. Xin bạn khoan, đừng bỏ đi! Bởi tôi nói chưa hết! Xin cho tôi nói dứt lời...

Bạn,
Chính lúc hồn (nhân gian) đi lạc, lại là lúc mình được tìm thấy, không phải bởi ai trên cõi đời này, nhưng bởi chính Bụt! Chính lúc hồn trần thất vọng, lại là lúc hy vọng tràn đầy tuôn đổ trên hai bàn tay. Cô Tấm chân lấm tay bùn, bơ vơ không nơi nương tựa, vào giây phút tuyệt vọng đã gặp Bụt; và Ngài gọi chim trời từng đàn bay xuống nhanh nhanh nhặt đậu xanh đậu đỏ bỏ sang hai rổ đan tre trống vắng cả ngàn năm nay.

Bởi lạc đường, thất vọng, ngồi khóc, Cô Tấm đất thấp gặp gỡ trời cao. Bụt bất ngờ hiện ra. Chuyện buồn chuyển mình hóa ra chuyện đẹp, chuyện cổ tích thơm mùi cơm thơm.

Vâng, tôi lạc! Cũng chẳng sao!
Trời chưa bao giờ bỏ rơi tôi!
Bụt tiếp tục cất công lên đường vất vả tìm kiếm tôi, bởi tôi trị giá trăm ngàn lượng vàng trong đôi mắt thiên đàng. Thật sự ra, tôi vô giá!
Thế là no đủ! Ơn phúc dư thừa!

Vâng, tôi lạc! Cũng chẳng sao!
Tôi vẫn no đầy! Mưa trời vẫn tiếp tục đổ xuống đầy tràn hai bàn tay trống vắng lạc loài đưa cao hướng về thiên đàng!

Tôi, "tràn lan lộc trời. Bụt vẫn ở với tôi. Bụt vẫn gọi chim trời nhặt đậu xanh đậu đỏ trên mặt đất đen cho tôi."□





Phiếm

Ở Mỹ có hai thanh niên gốc Việt nổi danh cùng sinh năm 1971, một tên Việt, một tên Hùng. Hai người này đều theo gia đình di cư sang Mỹ từ thuở nhỏ, sau năm 1975.

Cuộc đời của hai thanh niên tuổi Hợi này có thể nói là rẽ sang những thái cực đối lập nhau. Việt học xã hội, Hùng học tự nhiên.

Việt làm giáo sư dạy văn, 3 môn 9 điểm, Hùng vào quân ngũ, lên hàng sĩ quan. Việt theo Dân chủ, Hùng theo Cộng hòa... Việt được giải Pulitzer thì Hùng thời may cũng làm CEO của lực lượng hải quân hùng mạnh nhất quả đất.

Điểm chung duy nhất là hai thanh niên này đều nhận mình là người Mỹ, dù phản ứng của hai người trong chuyện này khác nhau.

Việt thì hở ai lỡ miệng nhắc tới gốc châu Á, hay gốc Việt thì y như rằng lập tức bù lu bù loa lên kỳ thị, kỳ thì chủng tộc, lên báo khóc một lần mấy bài.

Hùng thì kêu bố vào quân ngũ, bố phụng sự nước Mỹ, bố không phải người Mỹ thì là gì, lộn xộn bố táng cho phát bây giờ.

Cuộc đời và lập trường của hai thanh niên này có thể nói cũng là đại diện cho cục diện của hai phe Dân chủ và Cộng hòa ở Mỹ hiện nay, cũng là hai mẫu đường đời điển hình của bên Dân chủ và bên Cộng hòa.

Điểm khác biệt nữa giữa Việt với Hùng là trong khi Hùng đếch quan tâm Việt là thằng nào, thì Việt cứ phải réo tên Hùng ra chửi một phát nó ăn cơm mới ngon được hay sao đó.

FB Duan Dang



Những bà bạn già của tôi

Hoàng Dược Thảo

Tôi thường đọc được nhiều bài viết của các ông viết về tuổi già của mình nhưng ít khi đọc được những bài viết của các bà về tuổi già. Thứ nhất có thể vì phụ nữ kị, tối kị chuyện già. Thứ hai, viết về nếp nhăn, về tóc bạc, về những cái răng không để cho mình yên, về cái lưng trở chứng để làm gì... Tôi nghĩ tuổi già của các bà mới là nhiều chuyện để viết vì tuổi già của các ông an nhàn quá, không có nhiều “trách nhiệm” như các bà. Bây giờ “chuyện lớn” đã không còn, các ông có hội họp cũng chỉ để “điểm danh” nhau, các ông cũng ít phải lo “chuyện nhỏ”. Vấn nạn lớn nhất khi về già của các ông có lẻ là bệnh tật nên nếu ông nào còn khỏe mạnh, còn lái được xe là đời còn phơi phới ngay. Bài viết này xin được viết về tuổi già của phụ nữ qua sự hiện diện của những bà bạn già vô cùng dễ thương, một phần đời không thể thiếu của tôi bây giờ.

Những bà bạn già của tôi, tôi xin được tạm chia ra làm hai phe: phe còn đôi bạn và phe lẻ bóng. Mỗi phe lại tạm chia ra làm hai nhóm: nhóm một chồng, một vợ cả đời và nhóm “tái hợp”. Phe lẻ bóng thì lại cũng phải chia làm hai nhóm: nhóm lẻ bóng “kinh niên” và nhóm bà góa. Phe nào cũng có điều hạnh phúc, cũng có điều đau khổ. Kể đến đây, tôi đã thấy thương cho “thế hệ” con dâu, con gái của chúng tôi rồi. Thử tưởng tượng phải “chịu đựng” một bà mẹ chồng 80 thì “kinh dị” như thế nào huống hồ khi trong đời, đi ra đi vào ngày nào cũng phải nghe vài bà già than đau, than khổ, hay giận, hay hờn, hay tủi. Tôi không phải làm dâu, làm con gái các bà nhưng hàng ngày tôi nghe than thôi cũng đủ … ớn. Cái đau, cái khổ của mấy bà già cứ như Ma Vương trong chuyện Đường Tăng Thỉnh Kinh, chúng hiện ra dưới muôn hình vạn trạng, không trường hợp nào giống trường hợp nào, không hoàn cảnh nào giống hoàn cảnh nào. Mà hoàn cảnh nào cũng là “dead end”, cũng cần … trời xuống mà coi cả. Tôi là một người “độc thân” vui tính, lại là nhà báo nên được các bà bạn tin cậy để nghe chuyện tâm sự một đời người. Mà tôi có cần nói gì nhiều cho cam. Lúc nào cũng phải đóng vai thật “cool” để mà an ủi … nạn nhân. Hết mang chữ Nghiệp của nhà Phật ra thì lại cầu xin Đức Chúa quan phòng vì … đâu còn bao nhiêu tháng ngày trên đời mà buồn lo cho mệt rứa.

Các ông cầm bút viết về nhau thật là dễ ợt. Ngay cả chuyện “thằng lớn về hưu” nhưng “thằng nhỏ chưa về hưu” cứ thích về thăm “mẹ hiền” ở Việt Nam khiến vợ than trời cũng được viết ra với tên tuổi kê khai đàng hoàng một cách vô cùng hãnh diện. Chuyện “chống Cộng” thiêng liêng cũng được đem ra làm trò đùa để lánh nạn. Một ông nhà báo về Việt Nam trở qua, bị “con nhỏ trời ơi” nhét một “cái gì” màu đỏ vào trong vali. Bà vợ mở ra, chưa kịp lên tiếng thắc mắc thì ông chồng đã la ơi ới: Em thấy không, mấy thằng Việt Cộng nó biết anh chống cộng nên chúng nó hại anh, anh đi qua hải quan, nó bèn nhét “cái đó” vào trong vali để gia đình mình xào xáo. Em phải tin anh”. Bà vợ già tuy không phải là người ngây ngô nhưng bà đã “giả vờ” tin ông nhiều lần trong đời, tin thêm một lần nữa có sao đâu. Nhưng bà chờ khi có họp bạn thì nhắc mấy ông bạn chồng về âm mưu hại người chống Cộng: mấy ông đi về Việt Nam coi chừng bị Việt Cộng “nhét của trời ơi” vào vali như ông chồng tui thì lại tan cửa, nát nhà. Bà bạn dễ thương bản lãnh thâm hậu này qua đời đã gần 10 năm nay. Lâu lâu, tôi vẫn nhận được một bài thơ ông chồng khóc thương người quá cố.

Như đã viết ở trên, đàn ông khi trẻ lo “chuyện lớn” ít phải lo “chuyện nhỏ” nên về già đỡ cực. Thường thì các bà lo nhà cửa, con cái, lo từ trẻ đến già lo tiếp có sao đâu. Các ông nhà binh viết hồi ký kể về chiến công “oánh trận” hiển hách, càng già thì càng nhớ thêm ngày tháng cũ, kể hoài không hết. Một thời hoa niên hào hùng làm sao quên. Trận này, trận kia. Chiến trận tiền tuyến cũng nhớ mà chiến trận “hậu phương” các ông lại còn nhớ nhiều hơn. Em Tuyết Nha Trang, em Lan Mỹ Tho… Mấy bà già bạn tôi, mấy vị phu nhân đáng kính, đáng trọng thì lại không nhớ gì nhiều về chiến trận của chồng. Một thời hoa niên hào hùng như thế mà khi già các bà thường quên đi tuốt luốt mà chỉ nhớ những điều … nhỏ hơn con thỏ. Sau đây là một vài “chuyện nhỏ” mà tôi đã “được” nghe hàng ngày nay xin kể lại, các “chiến binh oai hùng” bớt giận nếu thấy “hình bóng” mình ẩn hiện trong đó.

Ổng chưa chết nhưng ổng không thèm nói nữa:
Có lần tôi được hỏi: có khi nào một người chưa chết nhưng một ngày không nói một tiếng không? Đến giờ ăn, vợ gọi “giờ ăn đến rồi, giờ ăn đến rồi” thì di đời từ ghế salon vào bàn ăn, dở ngon gì cũng chỉ ăn dăm ba miếng, rồi bỏ đủa xuống, đi vào nơi muốn đi, không khen ông Trump cũng không chê ông Biden. Chỉ im lặng. Ngày xưa còn nghe news, còn bình luận chính trị trong và ngoài nước cho vợ nghe để mở mang kiến thức nay thì không thèm nghe news (vì chúng nó láo cả) cũng không thèm bình luận (vì chúng nó bao che cho nhau, đâu cũng vào đấy).

Nói tóm lại, chỉ là một sự im lặng khôn nguôi. Trừ những ngày chàng chơi mạt chược. Máu “chiến binh” rực lửa lại trở về, cải nhau vung trời dù ăn thua chỉ có vài đô la. Bà vợ sợ chồng hăng quá, cải nhau to như thế này thì heart attack như chơi. Bà bổng đâm ra hào phóng, đặt một cái hộp gỗ lên bàn trong đó có những $20.00 và tuyên bố đó là quà của nhà cái, ai thua cứ tùy tiện xài, no charge, no dispute. Nhưng mặt trận miền Tây không phải vì thế mà … yên tỉnh được. Nếu thời thế tan hàng trước hơn dự định thì chủ nhà mừng quá trời vì các cụ về sớm, trời còn sáng, đỡ lo hơn là khi các cụ hào hứng kéo dài đến khi tối mịt, biết ai về được đến nhà, ai không? Bà già than: như vậy là không muốn nói chuyện với vợ chứ xoa mạt chược thì lại hào hứng, không chỉ nói mà còn cải nhau vung tí mẹt khi chỉ thua vài ba đồng đó thôi? Nhà báo nữ lại phải một phen xoa dịu bà bạn già: không phải như vậy đâu, bà ơi. Nhưng lấy bà 60 năm rồi, chưa nói thì bà đã đi guốt trong bụng ổng rồi, tôi như ổng tôi cũng không cần nói thêm điều gì nữa cho mệt.

Không đi loanh quoanh cho đời đỡ mệt:
Một bà bạn than về cái tật chỉ thích “đường xưa lối cũ” dù từ ngày về hưu đã dọn ra khỏi “vùng trời bình yên” gần 20 dặm. Không chịu đổi bác sĩ, đổi nơi lấy thuốc vì… anh quen rồi. Điều đó không sao cả khi “thằng bé còn tự mình âm thầm đi vào ngõ nhỏ”được (*). Chỉ đến khi cậu “ngẩn ngơ như chim xa đàn” vì không còn lái được xe thì mới là có chuyện. Người đẹp thì updated hơn đã chọn một ông bác sĩ gần nhà, đi 5 phút là đến nơi, lấy thuốc thì có CVS ngay đầu đường. Chàng đi bác sĩ phải băng qua 5 thành phố, ngày hôm sau lấy thuốc lại phải băng qua lần nữa. Đó là chưa kể khi nắng gió trở trời, cậu không được khỏe, tái khám tới lui. Câu trả lời là ba chữ Q: quên, quen, qua. Khi chưa bị bệnh thì anh quên đổi. Khi đã bị bệnh rồi thì anh quen bác sĩ này. Cằn nhằn thêm thì bệnh gì rồi cũng qua, anh có bệnh mãi đâu mà mẹ mày nói nhiều thế.

Nhưng dù khi còn « nái » được xe hay khi hết « nái » được xe chồng bà này cũng chỉ thích ‘đường xưa lối cũ”. Đi đường mình biết cho nó chắc mặc kệ hoa tiêu ngồi bên cạnh càu nhàu (sao anh cứ đi đường ngoàn ngèo làm gì khi chỉ cần đi thẳng đường lớn là tới rồi). Bà bạn than phiền như vậy. Than đến nổi bị chồng mắng thì không cải được. Tôi lái máy bay, trời cao đất rộng mà còn biết đường về nhà với bà, bây giờ chỉ có mấy con đường tới lui, tôi thích đi đường nào là tôi có lý do của tôi. Tựu chung, không muốn thay đổi gì cả. Mình thì đi đâu loanh quoanh cho đời mõi mệt. Nhưng vợ thì cứ phải loanh quoanh lo cho chồng phát mệt vì nơi lấy thuốc, nơi bác sĩ đều ở xa.

Ăn không bao nhiêu nhưng cái gì cũng chê:
Các bà bạn già của tôi thường than phiền chuyện này. Hầu hết đều là các mệnh phụ phu nhân di tản nhưng ít khi có thì giờ để buồn vì thời còn trẻ bà nào cũng phải lo cơm áo gạo tiền cho một bầy con trẻ. Bây giờ, khi chỉ còn « một gánh nặng » là ông chồng già mà coi bộ mấy bà lo cũng không xong. « Ổng ăn uống khó lắm. Cá kho mà không đúng kiểu Huế là ổng chê tanh. Bún thang thì phải nhà làm, nước phải thanh, phải có cà cuống nếu không thì đó là bún than hàng tổng. Giả cầy phải nhiều riềng, phải có mẻ gạo chứ không thì là … giả mèo. Dưa chua muối phải vàng ươm mà phải dòn. Cũng cùng một món canh bóng, khi thì khen khi thì chê là canh bóng đá… Nhưng ăn thì chỉ được lưng bát cơm, lưng bát bún. Hình như khi già, cái bao tử teo tóp lại thì cái miệng lại nở lớn hơn, chữ nghĩa phê bình đúng là ngàn năm văn… vật, nghe mà không chết mới lạ.

Tôi thường được các bà bạn ghé qua trên đường đi chợ để tiếp tế món ăn : Khi thì 2 cái bánh khúc, khi thì một bát xôi vò, khi thì một bát canh bún, một tí thịt kho. Món nào tôi cũng thấy ngon hay tôi thấy ngon vì được ăn mà không phải vào bếp ? Do đó, nhà báo nữ lại có dịp an ủi bạn: bà nấu ăn ngon quá trời. Khi bị ông ấy chê thì chỉ có thể là do 2 nguyên nhân: Trên 80 cơ thể có nhiều nơi bị hỏng mà không thông báo. Trường hợp ăn cơm vợ nấu mà không khen ngon thì có thể là lưỡi đã bị hỏng nếu cái đầu chưa hỏng. Thứ hai, người đau yếu, không khỏe thường ganh tị với người khỏe hơn. Cớ gì mà mình không còn lái được xe, không được con cái yêu nhiều như mụ ấy... Mặc cảm vô thức biến thành ngôn ngữ không chính xác, tấn công ngay vào “ưu điểm” công dung ngôn hạnh để bảo đãm là đối phương sẽ tức cành hông.

Lời bàn của Lão Bà Bà không biết có đúng không nhưng mà hợp lổ tai nên sau đó, cả hai vui vẻ rủ nhau đi chợ Trade Joe’s mua lan chưng bàn thờ vì tuần này lan bán rẻ hơn thường lệ.

Sao mà chậm quá trời, làm gì cũng rề rề !
Mười bà già thì chín bà rưởi than điều này, Cái gì cũng chậm, tiếng Nam Kỳ gọi là rề rề. Nhờ làm chuyện gì thì một tháng cũng chưa xong. Nhanh cả đời rồi, già chậm chậm cũng đâu có bị trừ lương, ông nói vậy. Mấy bà thì: nói là phải làm liền vì không làm liền, sợ sẽ quên. Cái mâu thuẩn nằm ở chỗ đó. Bà bạn tôi than, trước đây còn phụ vợ trồng cây, dọn dẹp vườn. Bây giờ thì ông chồng chị, ba năm nay không bước ra ngoài cái patio vì … sợ nắng. Không giải thích, không trả lời khi “bị” đề nghị: Sao không phơi nắng một chút cho khỏe người. Sao không cố đi bộ một chút cho nó tiêu cơm. Sao không ăn vài miếng táo cho cho nhuận trường… Bà già ví von : ổng sợ nắng còn hơn là gái chân dài !

Cái tình ‘rề rề’ này trong nhà thì cười trừ được nhưng ngoài đời thì sinh ra nhiều rắc rối, khó lường. Tiểu bang California dạo này rất khó với chuyện người già lái xe vì thống kê cuối năm cho thấy các bô lão Á Đông gây ra nhiều tai nạn, nhiều vi phạm giao thông. Không còn tự động cấp bằng lái xe sau khi hết hạn mà phải thi viết, phải thử thị giác. Cái vụ thi viết trên computer này khiến cho nhiều bô lão rớt đài dài dài. Nghe kể có ông sĩ quan cao cấp thi viết rớt đủ 6 lần không dám kể với ai, kể cả vợ cho đến khi bị mất bằng, vợ mới hay. Có ông hạm trưởng lười đi khám mắt, cứ tưởng xe chạy trên đường mình chạy theo thì OK chừng ra DMV thử thị giác bị thu bằng liền tù tì. Đó là chuyện chính phủ lấy bằng. Có nhiều bô lão bị con lấy bằng vì lái xe bị nhiều tickets quá: không ngừng ở bảng Stop, quẹo trái không ra dấu, đi ban đêm quên mở đèn… Vi phạm lưu thông ở Hoa Kỳ ngày nay phải trả tiền phạt rất lớn vì các thành phố thiếu ngân quỹ, thu được đồng nào hay đồng nấy. Đó là chưa kể khi bị tai nạn, ticket thì tiền bảo hiểm lại tăng. Do đó, mấy ông bà mà còn lái được xe, bà còn đi chợ nấu ăn, còn chỡ nhau đi bác sĩ được đều là hàng hiếm, quí kể gì.

*Sao mấy ông ở dơ quá trời!
Đây là vấn đề tế nhị, rất dễ đụng chạm nhưng lại là vấn đề gây nhiều ưu tư nhất cho các bà. Bà vợ nào cũng than trời về điều này. Mà óc sáng tạo của các bà vợ Việt Nam thì tuyệt hảo: mỗi bà bạn tôi “điêu” với vấn nạn khủng khiếp này một cách khác nhau. Từ cách “xử lý” chăn màn đến áo quần, phòng vệ sinh. Đọc đến đây thì chắc bạn đọc hiểu vì sao người viết vẫn còn độc thân chứ gì? Nghe xong chuyện của các bà bạn tôi thì làm sao tôi còn có thể “yêu” ai được nữa?

Nhưng những chuyện kể trên chỉ là tâm sự của các bà bạn tôi, những bà trên dưới 80, công dung ngôn hạnh có thừa, cháu ngoại, cháu nội đầy đàn nhưng vẫn ngày ngày chu toàn được bổn phận vợ ngoan, mẹ hiền, đầu gối có đau, lưng có mõi nhưng chưa chống gậy, chưa ngồi xe lăn. Các bà không hề được sáng uống cà phê bàn chuyện ông Trump chiều chơi mạt chược đâu đấy nhé. Có bà chiều chồng đến độ, ngày nào cũng lái xe đi khắp phố Bolsa mua thức ăn cho chồng. Trong đầu bà có sẳn một thư mục: bánh mì ở đâu ngon, bành xèo ở đâu ngon, bún bò, phở bò, phở gà ở đâu ngon! Sáng ông chồng chỉ cần phán sau khi uống cà phê thèm ăn gì… là y như rằng bà vợ sẽ lái xe đi mang về cho buổi trưa. Ông 87 thì bà cũng đã 84 nhưng yêu nhau đến thế thì thôi. Khi tôi ngỏ lòng khâm phục thì bà bảo: Cả đời như thế rồi, làm sao bây giờ….

Nhưng thương nhất là khi các bà bạn của tôi lo cho chồng vào những ngày cuối đời. Khóc đó rồi cười đó. Than phiền đó rồi thương yêu đó. Bà bạn ở Atlanta có ngày nấu luôn ba món súp mà ông ấy không thèm ăn món nào cả, chỉ nằm li bì. Nửa đêm vừa đi ngủ thì 2 giờ sáng bị đánh thức vì ông than đói, muốn ăn cái gì. Lại phải ngồi dậy lo cho chồng. Vậy mà vẫn được vợ khen: thương lắm vì ông không bao giờ đòi hỏi điều gì chỉ cắn răng chịu đựng những cơn đau. Phải mấy năm khóc cười như vậy cho đến khi ông qua đời. Cái gánh nặng cất đi được thì lại than buồn đến nỗi khiến bà đi như không chạm đất. Hay gọi điện thoại cho tôi để khóc. Tôi bảo: ông ấy sống thì than mệt quá vì không được nghỉ ngơi, bây giờ ông ấy đi rồi thì lại than buồn. Đàn bà lắm chuyện thật. Tối nay ông ấy về kéo chân bà bây giờ.

Cách đây hai tuần, bà khoe làm thức ăn suốt một tuần lễ chuẩn bị cho giỗ đầu của ông ấy. Tôi gọi điện thọai thăm vì không sang được. Tiếng người cười nói vang vọng trong điện thoại. Bà hạnh phúc vì có nhiều người quí ông ấy, rủ nhau đến thăm. Nhưng đến chiều, khi khách và các con, cháu về hết lại buồn rầu. Tôi an ủi: bà là vợ lính mà cả hai ở bên nhau đến già, có đám cưới, đám ma, đám giỗ. Còn nhớ bản nhạc bi thảm của Phạm Duy mà không ai dám hát không? Bài Tưởng Như Còn Người Yêu, thơ của Lê Thị Ý.

Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Ngày mai đi nhận xác anh
Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ
….

Em không tìm được xác chàng
Anh thêm lon giữa hai hàng nến trong?
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Say đi mà tưởng như còn người yêu

Sau đó, tôi nhắc thêm vài bài nhạc “thê thảm” của thời chiến về những cuộc tình chia ly để an ủi bạn, ít ra chúng tôi cũng đã được yêu, đã được sống bình yên, chết già bên nhau ở nơi này. Dù ở đây chúng ta không có hoa dừa, hoa cau thơm ngát như ở quê nhà:

Hãy giử cho em một tình yêu nhỏ
Hãy giử cho em một nhúm cỏ khô
Nếu có một lần hoa dừa, hoa cau lại trổ
Giữ cho em tình yêu trăm năm.
Thơ Thụy Châu

Như thế các bạn đã hiểu vì sao tôi yêu các bà bạn già của tôi đến thế. Ngày xưa bà Tú Xương “Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông” mà đi vào văn học sử, ngày nay các bà bạn tôi già hơn bà Tú mà vẫn lặn lội thân cò lái xe, nấu ăn, giặt giủ, rửa bát hầu chồng con mà cũng chỉ dám than cho tôi nghe vì lúc nào cũng phải giữ thể diện cho chồng, cho con. Câu nói thường nhật là: cả đời như vậy rồi, đổi với thay gì nữa.

Nhưng khi tôi nghe các bà bạn than phiền về các ông anh, tôi thấy … gần với các anh hơn. Người chồng không nói một tiếng suốt ngày đó là một ông chồng gương mẫu nhất trên đời. Là một sĩ quan cao cấp nhưng anh không vợ nọ, con kia, không bợ đỡ cấp trên, chỉ gần gủi cấp dưới. Anh xem tôi như một người em, tôi thường nghe bạn bè kể lại việc anh khen những bài viết của tôi. Lúc nào gặp tôi, anh cũng ân cần thăm hỏi. 

Có một lần tôi ngồi gần anh trong một Đại Hội KQ, ánh mắt của anh khi nhìn lên sân khấu đang chiếu về những đoàn khu trục của VNCH trở về sau một phi vụ khiến tôi hiểu được vì sao anh rất kiệm lời khi sống đời lưu vong, như anh không còn gì để nói với đời trước niềm đau gánh chịu khi nước mất. Nói gì được nữa khi một ông “tàu bay” biết rằng mình sẽ không còn có cơ hội tung mây lùng bóng địch, không gian bao la đâu còn là của ta?

Tôi cũng thông cảm luôn chuyện ông anh chỉ thích “đường xưa lối cũ”, không muốn thay đổi gì, ngay cả những điều nhỏ nhặt trong đời sống. Tôi thích đi đường nào là tôi có lý do của tôi. Bởi vì tôi cũng đã có nhiều lần lẩm cẩm như thế. Trước đây từ nơi tôi ở đến tòa soạn nếu đi xa lộ thì chừng 10 phút vì chỉ có ba exit nhưng nếu đi đường trong thì có khi mất cả nửa tiếng đồng hồ. Nhưng mà thích biết bao khi được lái xe qua những con đường vắng xe, nhìn hoa nở, lá xanh như ngọc dọc đường đi. Bây giờ tôi đã không còn ở đó nữa nhưng tôi vẫn có thể hình dung mỗi ngã tư đường của con đường quen thuộc đó: nơi này có ngôi nhà đầy hoa hồng hay ngôi nhà kia có hàng rào hoa huỳnh anh vàng rực, cái công viên có lần mang con trẻ đến chơi. Khi nhìn thấy “cảnh cũ” thì lại nhớ nhiều “người xưa” đã không còn. Mỗi lần có dịp về qua khu nhà cũ là lại muốn lái xe đi lại “đường xưa lối cũ”. Cái lý do này làm sao giải thích với ai để tránh bị gán cho cái tội “già lẩm cẩm”.

Tôi là người … trẻ nhất trong nhóm bạn già. Vì nghiệp báo, tôi quen với các ông anh trước khi được quen với các bà chị mặc dù sau khi chúng tôi thân nhau rồi thì chúng tôi cho các ông đi ra chỗ khác chơi. Các bà bạn tôi đều là những trang “quốc sắc thiên hương”, những “cây” công dung ngôn hạnh của một thời nhưng thời gian là “liều thuốc độc” của đàn bà, chúng tôi thường phải nhìn nhau qua những lăng kính cũ để quên đi cái “sộc sệnh” của tuổi già, vẻ chân mày được một bên thì quên bén bên kia vì vội quá, má hồng môi son bên đậm, bên nhạt vì mắt đã không còn tinh tường. Có sao đâu vì bạn bè, con cái ai cũng biết chuyện ngày xưa, mẹ đẹp nhất, bà đẹp nhất cơ mà!

Cách đây vài tháng, chị Tuệ thình lình bảo tôi khi hai đứa đang ăn phở gà là vài năm nữa tụi này “đi” hết rồi, T. sẽ buồn lắm đấy. Câu nói này ám ảnh tôi từ khi nghe được. Ừ, khi tôi mất hết “mấy bà bạn già” này rồi, tôi sẽ “ở” với ai? Trong phòng làm việc của tôi, có một kệ sách dành riêng cho hình ảnh của những bà bạn đã bỏ tôi mà đi. “Dân số” trên kệ vẫn còn ít hơn dân số ở ngoài đời mặc dù 2 tuần trước đây đã có thêm khung hình của một bà bạn đặc biệt vì bà là người Mỹ da trắng gốc Anh thay vì người Mỹ da vàng gốc Việt như tôi. 

Bà Katherine là bà sui gia của tôi. Từ 20 năm nay, chúng tôi đã là bạn của nhau, for better and for worse mặc dù con của chúng tôi mới cần tuyên thệ sống bên nhau trọn đời chứ không phải chúng tôi. Tôi và bà Katherine họp nhau hết sức, có cùng quan điểm chính trị, xả hội và nhất là khi phải cùng nhau chịu đựng những chuyện bực mình khi hai đương sự “con”… cứng đầu, vô lý. 

Hai năm nay, bà đã phải xa ngôi nhà có nhiều bóng cây ở Long Island vào viện dưỡng lão vì không thể tự lo cho mình được nữa. Những ngày tháng cuối cùng bà lại phải chống chọi lại bệnh ung thư phổi. Bà bảo tôi trong lần gặp cuối: Đời sống tôi hết vui rồi. Nhưng tôi rất hạnh phúc khi có bà là bạn suốt 20 năm qua. Tôi cám ơn vì bà không chỉ nhận con gái tôi là con mà bà còn nhận luôn tôi như một người thân trong gia đình không thể thiếu nhau. Nụ cười hóm hỉnh khi chúng tôi chia sẻ với nhau một điều “bí mật” nào đó làm sao tôi có thể quên được. Cũng không bao giờ quên được những lần chúng tôi đi ăn trưa, ăn tối với nhau ở Manhattan. Trước khi về hưu, bà Katherine là Giám đốc Trung Tâm Y Tế Cộng đồng tại thành phố Long Island. Bà hưởng thọ 87 tuổi khi qua đời nên cũng không phải là chết trẻ. Bà chỉ ra đi sớm với riêng tôi thôi. Từ nay khi về New York tôi có ai cùng đi dạo, cùng ăn trưa khi bà Katherine đã không còn?

Khi tôi đặt hình bà Katherine bên cạnh hai người bạn khác của tôi trên kệ sách, tôi đùa với các bà ấy rằng: Từ lúc đưa các bà về … nhà tôi là tôi biết đã xa các bà nghìn trùng (Nhạc TCS, Từ lúc đưa em về là biết xa nghìn trùng). Cái “nghìn trùng” khi còn trẻ là Cali, New York, Washington, Montreal, Saigon. Cái “nghìn trùng” của tuổi già là vĩnh viễn không còn trông thấy nhau. Tôi yêu các bà bạn già của tôi biết bao!

Dù không nói, dù lặng im,
Dù rằng một thoáng cũng thừa xót xa (thơ Nguyễn Bình 1941)

Hoàng Dược Thảo

(*) Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ /Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo/ Ngày nó sống kiếp lang thang/ Ngẩn ngơ như chim xa đàn/Nghĩ mình tủi thân muôn vàn.(Lời bài hát Nó của ns Anh Bằng.






Vượt Biên Qua Tàu, Rồi Qua Mỹ

Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn

Sau khi ba tôi và người bạn thân của ông bị bắt đi tù “cải tạo”, mẹ con tôi bị đẩy đi vùng kinh tế mới. Dì Bảy là con nuôi của Ngoại, là vợ của người bạn thân với Ba, cũng cùng chung số phận với Mẹ con tôi. Hai gia đình chúng tôi sống nương tựa với nhau trong vùng kinh tế mới. Dượng Bảy, chết trong tù, chẳng bao lâu Dì không còn hy vọng gì nữa, không gượng dậy nổi, đành đoạn bỏ đứa con gái duy nhất tên Thúy Yên để theo Dượng về bên kia thế giới. Mẹ cưu mang Thúy Yên từ đó.

Ôi biết bao cảnh gia đình tan tác từ ngày ấy, cái ngày cả Miền Nam bị đày ải, kẻ đi tù, kẻ mất hết đất đai, tài sản, kẻ vượt biên, vượt biển. Chết trong rừng, chết ngoài biển cả, kể sao cho xiết.

Mùa xuân năm 1978, Ba được thả về, Mẹ mừng lắm. Từ ngày “Giải Phóng” đến nay chưa bao giờ thấy Mẹ vui như thế. Mẹ làm buổi tiệc nho nhỏ để Ba có dịp chào bà con trong xóm. Mẹ mời hàng xóm thân thiết, có cả hai cô giáo dạy đám trẻ em trong làng và chú công an khu vực đến dự. Bữa tiệc đơn sơ chỉ có vài món thịt rừng nhưng ai cũng vui vẻ. Về nhà được ăn uống đầy đủ, Ba khỏe mạnh hẳn ra.

Tôi và Ba làm việc ngoài rẫy còn Mẹ và em coi mấy vườn rau chung quanh nhà. Trong trại tù, Ba trong đội cải thiện đời sống tù, nói nôm na là trồng rau xanh, nên cũng có chút ít kinh nghiệm. Ngoài việc làm rẫy, tôi và Ba làm bẫy săn thú rừng, đời sống chúng tôi khá hơn nhiều. Ban đêm Ba dạy tôi học thêm Toán và Anh văn, hai cô giáo Ngọc và Lan vẫn còn dạy tôi nhưng bớt giờ lại vì còn phải dạy các em Tiểu Học.

Ba được dân Xóm Lá rất kính nể vì là người học thức nhất, mỗi khi cần làm đơn từ gì, hàng xóm lại tìm Ba. Hàng tháng Ba vẫn phải lội bộ ra thị trấn Long Thành để trình diện công an huyện. Lúc khá giả hơn, Ba bán bò và mua được chiếc xe đạp cũ, từ đó Ba thường chở nông phẩm, rau củ ra thị trấn bán và mua các vật dụng khác để Mẹ mở một cửa hàng tạp hóa nho nhỏ. Những ngày mùa khô, Ba bàn với Mẹ ra thị trấn làm công, bất cứ việc gì, từ phụ thợ hồ, vá bánh xe, sửa chữa máy móc. Mục đích kiếm chút tiền và cũng để móc nối với những đường dây vượt biên.

Phong trào vượt biên lên rất cao vào thời điểm đó, cả những đường dây kháng chiến giả tạo do công an thành lập. Cuối năm 1978, có tin đồn chiến tranh Việt – Trung sắp xảy ra. Một hôm Ba từ thị trấn về rất sớm, kéo Mẹ và tôi ra làm ngoài rẫy, tôi biết Ba có chuyện quan trọng cần bàn bạc. Ba vẫn coi tôi như người lớn, luôn cho tôi tham dự vào những quyết định trong gia đình, có lẽ từ ngày Ba vắng nhà tôi thật sự gánh vác tất cả công việc đáng nhẽ thuộc về Ba.

Khi đã ra giữa rẫy, nhìn quanh quẩn không có ai, chúng tôi vẫn cắm cúi làm như đang nhổ cỏ dại, Ba cho biết đã liên lạc được với chú Út của Ba từ ngoài Bắc vô. Ba dặn tôi gọi người bà con này là Ông Trẻ. Ông đã ở lại ngoài Bắc khi ông nội tôi di cư vào Nam năm 1954. Vì ông là cán bộ nên đi lại tương đối dễ dàng, Ông cho biết tình hình ngoài Bắc rất lộn xộn, họ đang đuổi người Việt gốc Hoa về Trung Quốc.

Vào thời điểm đó tổng số người Hoa ở VN vào khoảng 1 triệu rưỡi, 85% ở miền Nam. Người Hoa ở ngoài Bắc, công an đã có danh sách sẵn những gia đình đáng nghi ngờ, nửa đêm đến đánh thức cả nhà dậy và tống lên xe bít bùng đưa thẳng ra ga xe lửa hay tàu buồm để đẩy ra biên giới rồi tống xuất về Trung Quốc, không cho mang bất cứ thứ gì. Hầu hết những người Hoa ở Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh gần biên giới như Đồng Đăng, Lào Cay, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn đều bị đuổi qua biên giới trước khi chiến tranh Việt Trung xảy ra đầu năm 1979.

Cũng có một số lớn là tự nguyện hồi hương vì không thể chịu được sự đàn áp của chính quyền. Lợi dụng cơ hội này, gia đình Ông và gia đình chúng tôi có thể trà trộn vào đám người Hoa đó để vượt biên qua Tàu rồi từ đó tìm đường qua Hồng Kông. Trong giai đoạn này, ở miền Nam công an tổ chức vượt biên bán chính thức cho người Hoa, tuy vậy tốn kém và nguy hiểm hơn nhiều.

Ông Trẻ cần một số tiền mua lý lịch giả để cho có vẻ “Tàu” một chút. Ba đã kiếm được một người bạn tù, hiện đang ở Chợ Lớn tên ông là Liêu Chí Vinh. Gia đình ông Vinh khá giả nhưng kín đáo và khiêm nhường nên không bị đánh tư sản, ông vẫn còn cất giấu được một số vàng bạc và chịu đi cùng với chúng tôi. Ông có hai người con, người con nhỏ cũng xấp xỉ tuổi tôi.

Sáng Chủ Nhật Mẹ gọi tôi dậy sớm để chuẩn bị ra đi. Ba chở em ra thị trấn như những lần Ba đi làm công trước đây, tôi và Mẹ đi làm rẫy như thường lệ, rồi lần theo đường tắt ra ngoài lộ. Con đường này tôi rất quen thuộc. Hai Mẹ con ra bến xe đi Sài Gòn mà không gặp người quen nào. Ba đón chúng tôi ở ga xe lửa Sài Gòn, bên cạnh có Ông Trẻ và gia đình Ông Liêu Chí Vinh.

Nhìn Ông Bà Vinh, tôi có thể nhận ngay ra gia đình người Hoa. Chúng tôi lên tàu lửa như những người từ ngoài Bắc, thân nhân của cán bộ vào “tham quan” miền Nam trở về, họ mang đủ thứ đồ đạc lỉnh kỉnh gom góp được ở miền Nam. Tàu đông người đến nỗi khó mà kiếm được chỗ ngồi. Sau mấy ngày đêm mệt mỏi, ngủ gà ngủ gật, chúng tôi cũng đến được ga Hàng Cỏ, Hà Nội. Người đông ơi là đông, Ông Trẻ dặn chúng tôi nghỉ ngơi trong sân ga, ăn uống cho no, có thể ngay tối nay sẽ phải vượt biên giới. Ông phải ra ngoài liên lạc với nhóm tổ chức để lấy giấy tờ, ngoài giấy tờ của chính phủ Việt Nam, còn cần phải có giấy tờ của tòa Đại Sứ Trung Quốc để qua cửa biên giới.

-oOo-

Chúng tôi hồi hộp và rất lo lắng không biết Ông có trở lại không? Mọi người đều thấy bơ vơ lạc lõng. Chiều gần tối, Ông trở lại dẫn chúng tôi đi bộ đến một chiếc xe bít bùng đậu bên đường. Ông nói chuyện với hai người công an đứng gác rồi hối chúng tôi lên xe. Trong xe đã có sẵn một số người, chắc cũng chuẩn bị vượt biên như chúng tôi, tất cả đều yên lặng, hồi hộp. Ông giới thiệu chúng tôi với hai người con của Ông, trao giấy tờ lý lịch mới, hộ chiếu cho Ba tôi và Ông Vinh dặn phải học cho thuộc để nếu ai hỏi phải trả lời cho đúng, Ông cũng đưa cho Ông Vinh và Ba tôi một nắm giấy bạc Trung Quốc.

Chúng tôi chia nhau mỗi người giữ một ít, kể cả mấy người con Ông Trẻ và Ông Vinh. Ông Trẻ gởi gắm hai cậu quý tử của Ông cho Ba tôi. Công việc của Ông đến đây coi như xong, còn lại nhờ Ba tôi và Ông Trời. Ông thu lại những hộ khẩu và giấy tờ tùy thân cũ và chúc chúng tôi lên đường bình an rồi vội vàng quay đi, giấu những giọt lệ chia ly. Ông ở lại với cơn sốt chiến tranh đang lan tràn trên miền Bắc.

Có lẽ đây là một tổ chức quy mô của công an đưa người vượt biên bằng đường bộ, như ở trong Nam đưa người vượt biển. Chúng tôi ngồi trong xe im lặng và chờ đợi, lòng đầy hoang mang hồi hộp, không biết bước kế tiếp sẽ như thế nào. Thúy Yên sợ lắm, em ôm chặt lấy tôi. Trong bóng tối, tôi nghe rõ từng hơi thở và nhịp đập của trái tim em. Cuối cùng, một toán công an chia nhau lên xe và chạy đi đâu một quãng xa, dừng lại trước một căn nhà lớn, dồn lên hai gia đình nữa. Lúc xe sắp chạy, một toán công an khác đến, họ bàn bạc với nhau một lúc lâu, một anh công an nói cho chúng tôi hay xe không thể ra biên giới được, tất cả sẽ phải đi bằng xe lửa.

Họ chở chúng tôi trở lại ga xe lửa và thả mọi người xuống đó. Hai gia đình mới lên cũng là người Việt gốc Hoa từ Miền Nam ra. Chúng tôi bàn với nhau và quyết định kết hợp thành một đám sống chết có nhau. Cả đám lên cùng một toa xe, ai cũng lôi thôi lếch thếch, hốt hoảng, dáo dác như một đàn gà con mất mẹ. Cả ga xe lửa hỗn loạn người la, kẻ khóc, tiếng gọi mẹ, gọi con thất lạc, đúng là cảnh đang chạy loạn. Họ là những người Hoa đã ở trên đất Việt lâu đời, chỉ là không hội nhập được 100%, bây giờ bị đuổi về quê hương xa lạ bên kia biên giới đầy bất trắc, mong manh, không hiểu vì sao. Họ chỉ là quân cờ trên bàn cờ chính trị của hai nước “anh em” đầy thù hận sắp sửa choảng nhau. Còn gia đình chúng tôi, đi tìm đường sống trong cái chết, nhờ sự hỗn loạn đó mà cảm thấy yên thân hơn, sẽ không sợ bị ai hạch hỏi lý lịch.

Đoàn tàu đi ngược về phía Bắc, Thúy Yên dựa vào tôi ngủ gà ngủ gật suốt đêm. Khi ánh sáng ban mai tràn ngập lòng tàu, tôi nhìn ra phía ngoài, rừng núi mênh mông, lính tráng đang đào hầm hố chuẩn bị chiến tranh, xe quân đội chở súng ống đạn dược xếp hàng dài trên con lộ chạy song song với đường rày xe lửa. Tàu dừng lại tại thị trấn Lào Cai, đây là thị trấn cực Bắc của Việt Nam còn cách biên giới khoảng 2 km, bên kia biên giới là thành phố Hà Khẩu, có đường xe lửa chạy thẳng đến Côn Minh Trung Quốc.

Trong sân ga bộ đội đầy nghẹt, những khuôn mặt còn trẻ măng chắc chỉ lớn hơn tôi vài tuổi. Chúng tôi theo đoàn người đi bộ về phía cửa khẩu xa xa, tôi và Ba thay nhau cõng em trên lưng. Gần cổng biên giới, người càng đông hơn, phía bên Trung Quốc họ kiểm soát giấy tờ, ưu tiên cho những người có chiếu khán của tòa Đại Sứ cho nên nhịp độ rất chậm. Cảnh chen lấn nhau hỗn loạn, khoảng gần trưa, công an biên phòng Việt Nam dùng vũ lực đẩy tất cả mọi người về phía trước, thế là bên phía Trung Quốc phải mở nút chặn cho dân chúng ào qua cửa khẩu. Có tiếng súng nổ ở cả hai bên, nhưng may mắn chỉ là những tiếng súng bắn lên trời để thị oai.

Sau khi khai lý lịch và trình giấy tờ của tòa Đại Sứ Trung Quốc, chúng tôi được chở về một nông trường ở Hải Yên, Đài Sơn tỉnh Quảng Đông. Ở đó họ cung cấp nhà ở tập thể có đủ bếp núc, nồi niêu, chăn màn, quần áo. Kể ra cũng tốt hơn vùng kinh tế mới bên Việt Nam rất nhiều. Ngày ngày ra ngoài đồng trồng trọt, cũng đủ ăn. Vào khoảng đầu tháng Hai, Cán bộ nông trường bắt đi một số thanh niên biết nói tiếng Hoa để làm thông dịch viên cho quân đội Trung Quốc. Sau trận chiến Việt Trung (17 / 2 /79 – 18/3/79) một số được trả về, số còn lại chẳng biết ra sao. Ở nông trường cũng dễ thở, cán bộ dễ dãi. Họ coi tất cả những người vượt biên như kẻ tạm trú, không phải là công dân Trung Quốc. 

Cuối năm 79, chúng tôi xin được di chuyển tới hải cảng Bắc Hải, từ đó mọi người gom tiền bạc mua thuyền đánh cá đi Hồng Kông. Người Trung Quốc chắc cũng không muốn gánh cái của nợ Hoa kiều thêm phiền phức cho nên giúp đỡ chúng tôi tận tình để mọi người ra đi bình yên. Thế là sau một năm trời ra đi từ Xóm Lá, chúng tôi đã đến được trại tị nạn Hồng Kông bình an. Chính quyền Hồng Kông cũng nhân đạo, họ săn sóc và nuôi nấng dân tị nạn đầy đủ, không phân biệt xuất xứ từ đâu. Có lần cả Ông Thống Đốc cũng vào thăm trại và an ủi mọi người, hứa sẽ giúp đỡ hết khả năng của Ông, ngoài ra sẽ liên lạc chặt chẽ với Cao Ủy Tị Nạn để sắp xếp việc cứu xét định cư sớm. Tất cả mọi người đều hoan hô lòng nhân từ bác ái của Ông. Chính quyền cũng cho các Cha và các Sơ Công giáo vào trại lo việc xã hội. Hai Chú con Ông Trẻ sáp nhập vào gia đình tôi để đi định cư với nhau cho dễ dàng.

Khoảng giữa thập niên 80, gia đình ông Vinh và chúng tôi được chấp nhận cho định cư ở Hoa Kỳ, vì cả hai chủ gia đình đều là cựu tù cải tạo. Cô Năm em ba tôi, bảo lãnh tất cả về Houston.

Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn









MẸ, MẸ Tôi

Nguyễn Trung Tây

"Ơi hời vận nước nổi trôi!
Tang đơn con gánh, tang đôi mẹ gồng" (NTT).

Có cả ngàn điều tôi muốn nói về mẹ, mẹ tôi.

Năm 1989 tôi nhận được tin giống như từ trời rơi xuống. Nguyên ngày hôm đó tôi sướng lâng lâng bay bổng, bởi cứ tưởng rằng đã bị mồ côi cả đời, thế mà giờ này cầm được tờ điện tín báo tin mẹ tới trại tỵ nạn Thái Lan. Tôi ngồi trong lớp điện trường San Jose State University, bài toán con chip mạch điện rối tung, thông thường dư thừa khả năng nhức nhối nổ tung mảng đầu; nhưng ngày hôm đó hồn ơi sao vẫn cứ xôn xao rạo rực. Sướng quá, tan lớp tôi hăm hở đi đánh điện tín về Việt Nam báo tin… Mừng quá, tôi phóng xe Z260 húc một cái rầm vào chiếc xe hơi bên tay trái ngay tại ngã tư đường Reed và số 4 của downtown San Jose. Cái đầu xe thể thao họ nhà Z sáu máy nát bấy như tương! Nhưng cũng chả sao, tôi ngồi trên xe tow mà mặt mày vẫn cứ tươi roi rói như con trai mới lấy được vợ. Ông tài xế xe tow gốc Ý ngó tôi đăm đăm, dám ông ấy nghĩ thằng Mít này khùng bạo, xe đụng nát bấy như cái bánh bèo Pizza gặp nước mưa mà mặt mày cứ hớn hở như thế kia; nhưng tôi nhanh miệng nói liền,
— Mẹ tôi mới tới trại tỵ nạn Thái Lan.

Có mấy chữ ngắn ngủi đơn giản, vậy mà thiên hạ từ cổ chí kim ai ai cũng hiểu.

Năm 1990 mẹ tới Mỹ. Tôi mặc bộ quần áo đẹp nhất ra phi trường San Francisco đón mẹ, ơi ngày hội lớn!

Bởi mẹ là tâm điểm là lực từ trường nam châm, căn nhà vắng hoe từ bao nhiêu năm nay bỗng dưng trở thành chợ phiên họp hằng giờ, từ sáng tới chiều cho tới nửa đêm. Tháng Sáu nước Mỹ không phải là ngày Lễ Tạ Ơn hay mùa Noel lễ nghỉ, nhưng anh chị em chúng tôi từ nhiều phương trời vẫn nhanh nhanh tấp nập bay về San Jose quây quần xum họp để tạ ơn, để ăn mừng, bởi vì có mẹ.

Tương tự như những con sông hạn hán khô ran nứt nẻ từ khi vắng những hạt mưa từ mẫu, anh chị em tôi hớn hở nhanh nhanh mở ra nhận vào trong lòng những hạt nước mới đổ đầy, ngập tràn lênh láng hai bên bờ. Nước thượng nguồn dâng lên xoay xoay tròn hớn hở tung tăng đổ về hạ nguồn. Những nhánh sông con vươn mình cuồn cuộn kéo tới, chúng tôi gặp lại nhau trên khuôn mặt mẹ tươi vui, nơi vầng khăn nhung vấn đầu, và đôi môi ăn trầu đỏ thắm.

Tưởng là vĩnh viễn trường tồn. Nhưng không. Được hơn hai tuần. Đời sống cơm áo Bắc Mỹ dư thừa sức hút, đẩy về lại những vùng đất riêng tư cá nhân. Hội chợ phiên tan, mẹ ở lại địa danh Thung lũng Hoa Vàng San Jose với hai đứa cháu và tôi. Thấy mẹ buồn quạnh hiu với căn nhà trống vắng bóng dáng con cái, tôi đi thuê phim chưởng Hồng Kông để mẹ coi. Phim đầu tiên Thần Điêu Đại Hiệp có cô Long vẻ đẹp mê hồn. Mẹ thích ngay, ngồi coi liên tục. Rồi Anh Hùng Xạ Điêu với Ôn Mỹ Linh, mẹ khen lí lắc thông minh. Nối tiếp là Máu Nhuộm Bãi Thượng Hải mẹ bảo súng bắn đoàng đoàng, người chết như rạ, cứ như thế chả mấy chốc mà thiên hạ hết cả người. Một khoảng thời gian dài mẹ tươi lên… Cứ thế, hết phim xã hội lại tới phim kiếm hiệp. Hay, dở, ngắn, dài, tôi thuê tuốt luốt, mang lên vai bê về nhà để mẹ coi.

Thời gian buông nhịp lúc lắc đong đưa, mẹ quen dần với đời sống vùng thung lũng. Mẹ thôi, không loay hoay trong bốn bức tường, nhưng bước ra ngoài cửa, rồi đi hẳn ra đường. Gặp Mễ gặp Mỹ mẹ chào, “Hêllô”. Mẹ còn kể,
— Sáng nay mẹ gặp ông manager ở đầu ngõ. Ông ấy chào, “How are you”?

Tôi miệng cười tí ti,
— Rồi mẹ nói gì với ông ấy?

Mẹ giọng tỉnh bơ,
— Thì mẹ cũng nói, “Fine, thank you”.

Tiếng Anh giọng Mỹ mẹ học nhanh không ngờ.
Có lúc tôi thấy mẹ hay đi bộ, mắt cúi nhìn hai bên vệ đường như đang tìm kiếm. 

Tôi thắc mắc hỏi, mẹ nói,
— Đi nhặt lon chứ còn làm gì…

Hóa ra cộng đồng Việt Nam kêu gọi nhặt lon bán được năm xu một cái cho hội từ thiện. Mẹ đi ngoài đường vừa nhặt lon cho phúc lợi xã hội, vừa cầu nguyện cho con cháu hạnh phúc, vừa tập thể dục cho khỏe người. Mà mẹ khỏe thật. Mùa đông tháng Một đóng băng trên mặt đường, tuyết phủ trắng xóa rặng núi Hamilton vùng thung lũng, mẹ đầu vấn khăn nhung, chít khăn mỏ quạ, đội nón lá, khoác áo dầy cộm tỉnh bơ đi bộ băng băng ngoài đường. Tôi lo lắng,
— Chớ bộ mẹ không thấy lạnh hay sao?

Mẹ chép miệng,
— Thì cũng rét cỡ như cái rét ở làng mình, cái năm Thành Thái cá tôm sông Cái chết nổi lềnh bềnh vậy thôi.

Mùa xuân về, mẹ nhìn cây cối hồi sinh hai bên đường, miệng khen,
— Nhìn cứ như ngoài Bắc, lộc non bám chi chít trên cành.

Mùa thu gió lạnh tô vàng rực rỡ hàng cây bên khung cửa, tôi lên phố Việt, mua trầu cau biếu mẹ. Mẹ ngồi ăn trầu, trời tháng Mười Một lạnh, tai tái buồn mà mặt mẹ ấm, hồng hồng vui, tựa như trời hè tháng Sáu.

Nhưng cũng có lần, ngày hôm đó thứ Sáu cuối tuần mùa đông, tôi đã dọn ra hơn một năm. Từ cư xá đại học tôi ghé về nhà cũ. Mở cửa ra, tôi thấy căn phòng khách lạnh ngắt, tối om, nhưng mẹ đang ngồi yên lặng lơ lửng một mình, đằng sau là lưng mẹ không dựa vào ghế sa lông, trước mặt là màn ảnh tin tức đài CNN hình ảnh chớp sáng trở thành ngọn đèn mờ tỏ duy nhất soi sáng căn phòng. Tôi tưởng mẹ say mê ngồi coi tin tức nên quên không bật sưởi bật đèn, nhưng hóa ra không phải. Mẹ ngồi đó im lìm. Tôi bước vô nhà mà mẹ không hay. Mẹ ngồi cô độc, đầu vấn khăn nhung, áo len mặc dầy tô thêm đậm nét bơ vơ quá.
— Mẹ ơi, nhà không có ai sao mẹ?
— Thì đấy, có ai đâu!

Trời mùa đông buồn thiu mà giọng mẹ nghe sung sũng nước mắt. Tôi ngồi xuống cạnh mẹ, ngồi thật sát thật gần. Mẹ ơi sao buồn! Lặn lộn ngàn dặm vượt biên qua Thái Lan. Giờ này đêm tối Hoa Kỳ cuối tuần rét buốt, mẹ cô đơn ngồi đó một mình. Hàng xóm chung quanh vừa Mỹ vừa Mễ, không ai Việt Nam. Tôi giơ tay ôm ngang bờ vai gầy nhỏ xíu của mẹ. Tôi bồi hồi nghe hồn nặng nề tựa đá ngàn cân. Tôi thì thầm nho nhỏ,
— Sống bên Mỹ, mẹ có buồn không?

Mẹ tự nhiên giọng lại khô ran bình thường,
— Ơ hay, buồn thì buồn, nhưng con cái ở bên đây, không sống bên Mỹ thì còn ở đâu…

Mẹ ngần ngừ kết luận,
— Miễn sao…tụi con anh chị em thương yêu đùm bọc lẫn nhau là mẹ vui…

Thấy mẹ vui, tôi cũng rộn ràng vui theo. Biết mẹ thích coi phim bắn súng đoàng đoàng, tôi bật đài cao bồi viễn tây, hai mẹ con cùng ngồi coi. Ừ, đêm hôm đó, buổi tối cuối tuần lạnh rét căm căm vùng thung lũng, tôi nhận được bao nhiêu ấm áp tỏa ra từ vị ngọt ngào,

Mẹ già như chuối ba hương,
Như xôi nếp một, như đường mía lau.

Mà mẹ lúc nào chẳng ngọt ngào, cho nên bữa hôm đó, năm 82, chỉ còn mấy ngày nữa thôi, tôi bỏ đi vượt biên. Đi ngang qua tiệm phở, mẹ bảo hai mẹ con mình bước vào. Tôi trợn tròn mắt ngạc nhiên, bởi mẹ cả đời ghét thịt bò, nói mùi gây gây. Thế mà giờ này tự nhiên đòi vào tiệm phở. Giời ạ, tôi hai mươi tuổi, nhưng còn ngớ ngẩn như gà tồ, hỏi lại mẹ ơi bước vào tiệm phở để làm gì. Ngồi xuống bàn phở, mẹ nói con ăn phở thì gọi đi. Tôi lặng người, chết trân nhìn vào thực đơn tiệm phở. Tôi từ nhỏ đã thích ăn phở. Được bố dẫn vô tiệm phở là húp xùm xụp, chớp nhoáng, sạch cạn cả một tô. Giờ này mẹ ngồi đó không ăn gì hết, nhưng nhìn tôi hớn hở ăn phở. Mẹ cẩn thận liếc nhìn chung quanh nói nho nhỏ thì thầm ngay bên tai tôi mai này sang tới Mỹ, biết còn có phở hay không mà ăn. Tôi thôi gà tồ, mắt nhìn tô phở bò loang loáng mỡ hăng hăng mùi quế mùi gừng mà biết trong lòng bồi hồi xúc động. Tôi lo sợ chuyến tàu Rạch Sỏi ngày Mười Hai tháng Mười này ghé được vào bến thì...

Mồ côi cha ăn cơm với cá,
Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường.

Nếu đặt chân được tới trại tỵ nạn, tôi sẽ mồ côi mẹ, khi đó lang thang xứ người liếm lá đầu đường… Nghĩ tới đó, tôi dừng lại… thôi, không dám nghĩ tiếp, bởi biết mình dễ xúc động; mà con trai, ai lại khóc như thế, nhất là nơi công cộng… Cho nên làm gì mà tôi không cười tươi roi rói trên chiếc xe tow mặc dầu cục cưng Z260 của tôi bị đụng nát bấy một bên be sườn; dễ hiểu thôi, thì cũng bởi mẹ vừa đặt chân tới Thái Lan, tôi thôi liếm lá đầu đường.

Nhưng tin mẹ tới trại tỵ nạn cũng không ngân vang trọn vẹn. Tin mừng từ Thái Lan tới được mấy tháng, tin dữ từ Việt Nam vùn vụt bay qua, ông ngoại tôi mất trước, bà ngoại tôi theo sau chỉ trong một thời gian ngắn. Cả hai mảnh áo khăn sô đại tang của ông bà ngoại, mẹ sống trong trại tỵ nạn không hay biết để mà khoác vào trả chữ hiếu. Anh chị em tôi quyết định không thông báo cho mẹ biết, đợi mẹ qua Mỹ rồi tính. Thì đó, bây giờ mẹ tới Mỹ rồi, bây giờ tính sao? Ngày vui chưa qua chuyện buồn phải tới. Ngày hôm đó anh chị tôi ngần ngừ báo tin. Mẹ ơi, đại tang, tang bà và rồi tang ông. Lần duy nhất trong đời mẹ như muốn vật ra trên sàn nhà, mẹ sổ tóc rối tung khóc đỏ sưng cả nước mắt. Tại sao không ai báo tin? Tại sao lại dấu mẹ? Tại sao ông bà ngoại chết? Tại sao? Tại sao? Bao nhiêu câu hỏi mẹ khóc lóc tự hỏi. Chung quy mẹ sụt sùi than thở chắc cũng vì con, con bỏ con đi!

Nhìn mẹ vật vã khóc ông bà ngoại, tôi buồn cho đời mẹ và luôn cả đời con. Tôi chỉ chịu một cái đại tang bố mà thôi, nhưng một thời đã rỗng ruột trống hồn. Tôi tháng Năm năm 84, đặt chân xuống phi cảng San Jose. Tháng Năm năm 85 bố tôi nằm xuống ở Sài Gòn. Giây phút xác bố lạnh cóng bắt đầu từ đỉnh mười ngón chân, tôi không có mặt bên giường. Tin dữ từ Việt Nam không bay qua. Cả một thời gian dài anh em tôi không biết mình đã mồ côi bố. Khi tôi quấn được vầng khăn sô trên đầu để tang, mộ bố ở nghĩa trang Bà Quẹo từ lâu thôi mầu nâu đất, nhưng xanh đậm mầu cỏ! Buổi chiều ngày hôm đó, trên vùng trời Bắc Mỹ, mẹ cũng đại tang, nhưng không phải đơn tang, mà là nhân đôi, tang mẹ tang bố. Hỏi sao mẹ không vật vã khóc than, chỉ trong một ngày mà mẹ hóa ra gầy còm xanh lét, sợi tóc dài vấn khăn đã bạc giờ này lại càng thêm bạc trắng,

Ơi hời vận nước nổi trôi!
Tang đơn con gánh, tang đôi mẹ gồng.

Dòng thời gian đẩy tới, có lần mẹ trở mình đau nặng, chỉ trong vòng hai ngày xe cứu thương chớp sáng đèn đỏ hú còi mang vô Cấp Cứu ba lần. Sau mấy ngày vật lộn với thuốc, với nước biển, với kim chích dây nhợ dài lòng thòng, về lại nhà, mẹ ngồi chải tóc vấn khăn nhung miệng nói tỉnh bơ,
— Hôm qua mẹ gặp bác Thế…

Tôi ngạc nhiên thắc mắc, mẹ hôm qua nằm ở trong bệnh viện, có đi đâu mà lại gặp bác Thế… Mà bác Thế là ai? Cô em tái mặt kéo tôi sang một chỗ nói nho nhỏ vào tai,
— Bác Thế bán hàng ở chợ Ông Tạ, anh quên rồi sao. Bác Thế chết mấy năm rồi.

Tôi chết lặng người, miệng tự nhiên ú ớ như người trúng gió độc!
Chết rồi, điềm nào điềm gở!
Cõi nào cõi tang?
Anh em tôi xanh mặt nhìn nhau.
Mỗi đêm mỗi thắp đèn Trời,
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.
Màn đêm buông rơi, tôi thả bộ một mình đi ngoài đường vắng, bố chết rồi, giờ này tôi cầu xin Trời cao tuôn đổ phép lạ.

Người thiên niên kỷ thứ ba dè dặt với danh từ phép lạ. Nếu chưa mang ra phân tích, mổ xẻ, đo đạc, tính toán, người ta e dè trước những hiện tượng siêu nhiên. Tôi cũng chẳng khác chi, thông thường không thấy không tin. Thấy rồi lại đặt vấn đề. Loại suy dần dần từng giả thiết để tìm ra được cốt lõi, một đáp số khoa học. Nhưng với mẹ, tôi bỏ qua khoa học, tôi hướng về Trời cao.

Ngày hôm trước mẹ nói gặp người cõi âm. Ngày hôm sau, tôi nấu cháo gà đặc quánh thơm phưng phức tiêu sọ bưng hai tay mời mẹ.
— Mẹ ăn cháo này, con bảo đảm mẹ tỉnh lại liền.

Mẹ liếc nhìn tôi, miệng mắng yêu, “Con, đến là khéo”.

Mẹ ngồi nhai chậm chạp từng hạt gạo thơm, húp nho nhỏ từng thìa cháo ngọt. Biết mẹ thích chụp hình, tôi dọ dẫm,
— Mẹ ăn cháo gà xong, con chụp mẹ tấm hình thật đẹp phóng thật to treo trong phòng khách.

Mẹ phì cười nghe tôi nịnh. Tôi lấy ra máy hình. Mẹ ăn cháo xong, mặc vào mầu áo hồng tươi. Mẹ còn hỏi,
— Mẹ mặc như vầy được chưa?

Tôi khen mẹ,
— Đẹp rồi mẹ!

Mà mẹ đẹp thật. Buổi trưa ngày hôm đó nắng trời yêu mẹ cho nên đổ sáng rực một khoảng sân vườn sau nhà. Tôi chụp mẹ liên tiếp mấy tấm hình chân dung. Mẹ mặt phấn hồng tươi, bởi Trời cao cúi xuống cầm cọ bôi đậm phấn hồng lên khuôn mặt mẹ đang nhìn tới. Mẹ tôi đó, vẫn đang bước đi những bước tháng ngày hóa ra đèn trời soi đường dẫn lối cho con cháu bước vào tương lai.

Và mẹ tỉnh lại, như không hề đau ốm, chưa bao giờ được chở vô nhà thương cấp cứu hai ngày ba lần.

Mấy tháng sau ngày phép lạ xảy ra, tôi bỏ mẹ đi xa, lần này không phải chỉ mấy thành phố như thời đại học cư xá, nhưng nửa trái đất và nửa bán cầu; mẹ sống ở Bắc Mỹ, tôi đi xuống Úc Châu Nam Bán Cầu.

Đường đi xa ngàn dặm,
Lối về ngõ chưa thông!

Tháng Hai năm 2006 nửa đêm về sáng từ phi đạo Los Angeles, Boeing 747 hãng Cathay Pacific nhẹ nhàng cất cánh ôm tôi trong lòng bay vút lên cao. Phi cơ bay lên hướng bắc dọc theo chiều dài tiểu bang Cali. Trời tháng Hai mùa đông bôi đen mịt mù khung cửa. Tôi nhìn bên tay phải bờ biển Cali đèn xanh đèn đỏ sáng rực. Tôi không nhận ra những thành phố sáng ngời tựa thảm kim cương nằm dọc theo bờ biển, nhưng khi thấy đèn sáng rực cầu Golden Gate xa xa, tôi biết bên tay phải là vùng Bay Area, nơi đó thung lũng hoa vàng có mẹ. Cái biết đơn giản tầm thường khiến cho nước mắt con trai lưng tròng. Tôi nhớ lại cơn bệnh thập tử nhất sinh vừa qua của me, nhớ tới tô cháo gà thơm mùi tiêu nấu biếu mẹ, nhớ lại những tấm hình mầu áo phấn hồng chụp tặng mẹ. Tôi nghĩ tới con số ba; một, rồi hai, và ba, ba năm nữa mới quay về thăm lại quê hương thứ hai, nơi đó mẹ theo định luật tự nhiên đang dần dần chậm dần từng bước chân. Tôi liếc nhìn lại phiá nam vùng vịnh Bắc Cali, nghĩ tới mẹ, lòng xao xuyến… Trong bầu trời đêm đông tối đen dầy cộm những tảng mây đêm, chuyến bay Cathay Pacific từ từ nhấc mình chuyển cánh bay hẳn ra Thái Bình Dương nhắm hướng Melbourne Úc Châu lao tới. Vùng vịnh Bắc Cali đèn vàng sáng rực một góc trời cứ thế mờ dần, mờ dần, rồi tắt lịm nơi đường chân trời đen kịt. Tôi ngồi ở ghế, nước mắt đỏ hoe hoe vì nghĩ về mẹ, mẹ tôi.

Chiều chiều ra đứng ngã sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Thời xưa phương tiện truyền thông hạn chế, nhà giàu mới có chim bồ câu đập cánh bay mệt xỉu đưa tới được phong thư. Nhân vật trong câu ca dao chắc nhà nghèo, hèn chi ruột đau quặn thắt tới nỗi đứng đó ngóng trông bóng mẹ, ngóng mãi, trông mãi, chín mùi luôn cả một buổi chiều. Tôi may mắn hơn, bởi sống thời siêu điện thoại. Ở Melbourne, chiều chiều tôi gọi điện thoại viễn liên về nói chuyện với mẹ ào ào. Giời ạ, bên Úc Châu, thẻ điện thoại gọi về Mỹ rẻ không ngờ. Thẻ Gold giá ghi hai chục đô Úc nhưng lại bán đại hạ giá, tôi mua chỉ trả mười sáu đồng, gọi về Mỹ được hơn cả ngàn phút, no connection fee. Cho nên tuy xa mặt nhưng lại không cách lòng, tôi vẫn như ngày còn ở chung nhà với mẹ, tôi gọi mẹ, mẹ ơi như cơm bữa,
— Mẹ đang làm gì thế? Ngồi đếm tiền hả?
— Tiền ở đâu mà đếm…
— Tưởng mẹ có tiền cho con mượn.
— Ơ hay, tiền ở đâu ra mà cho mượn…
— Con tưởng mẹ có tiền già…
— Thì cũng có tí xíu, nhưng tụi nó chìa tay mượn hết cả rồi.

Mẹ ngồi nhẩm tính, kể rõ từng chi tiết,
— Này nhé, con Hường mượn mẹ 200, thằng Cường hứa tuần tới sẽ trả mẹ 152 đồng vừa mượn tháng trước. Còn thằng Hứa, nó hứa hoài, nhưng có thấy mặt mũi nó đâu. Cả tuần rồi, trốn biệt đâu mất tăm…

Tôi phục mẹ sát đất,
— Giời ạ, con cứ tưởng mẹ mắt “mủi” kèm nhèm, giờ này lẫn lộn giấy 100 ra tờ 1 đồng…

Anh tôi ghé vào nói oang oang,
— Chớ, chớ, đừng có mà lầm. Lẫn gì thì lẫn, tiền bạc thì bà cụ không có lẫn đâu…

Tuần một lần tôi gọi mẹ. Bận lắm nói ngắn, thảnh thơi nói nhiều. Có một lần đau, tôi dấu không cho mẹ biết. Khi mặt trần Miệt Dưới đã yên tĩnh, anh tôi mới báo tin cho mẹ hay. Nhận được tin tức chiến trường lửa đạn, mẹ bắt em gái tôi gọi qua Úc ngay. Qua đường dây điện thoại viễn liên, mẹ nói mà như đại tướng quân khu bốn sao ra lệnh cho trung úy hai hoa mai vàng vùng đầu hỏa tuyến,
— Đau ốm như vậy mà tại sao không về nhà…

Nghe mẹ phán một câu xanh rờn, tôi phá ra cười. Mẹ ơi làm sao mà về…
Một, rồi hai, và ba. Ba năm trôi qua, tôi gọi điện thoại viễn liên thông báo,
— Mẹ ơi, ngày mai con về.

Tháng Mười Hai năm 2008, chuyến bay China Airlines mang tôi từ Úc Châu về lại Mỹ. Sau mười mấy tiếng đồng hồ trên không phận Thái Bình Dương, Boeing 747 China Airlines đưa mũi nhắm cầu Golden Gate lao tới. Từ xa xa, hai nhịp đèn cầu mờ mờ, rồi dần dần sáng rực, trở nên điểm nhắm dẫn tôi về lại căn nhà vùng thung lũng San Jose, nơi đó mẹ đang ngồi chờ.

Cửa mở ra, gió lạnh tháng Mười Hai ùa vào, nhưng bên trong vẫn ấm áp bởi mẹ giơ rộng vòng tay ôm chặt, ngày hội trùng dương thứ hai trong đời tha hương của tôi. Lần trước mẹ tới Mỹ, tôi đón mẹ. Lần này tôi về Mỹ, mẹ đón tôi.

Mẹ đó, gần chín mươi rồi, nhưng vẫn khỏe mạnh, tiếng nói oang oang như chuông, rõ từng nét, đậm từng âm.
— Mẹ chì thật!

Mẹ nhìn tôi ngơ ngác không hiểu. Tôi đổi chữ,
— Mẹ khỏe thật!
— Chuyện! Con đã nhìn thấy chưa?

Tới phiên tôi ngớ ngẩn gà tồ,
— Thấy gì hả mẹ?

Chị tôi chen vào,
— Cậu đã nhìn thấy cái máy tập thể dục của mẹ chưa?

À, thì ra là thế, anh tôi biết mẹ không còn đi bộ ngoài đường nhiều như thời xưa nữa, ông ấy mua biếu mẹ nguyên một cái máy rung. Chỉ việc ngồi hoặc đứng trên đó, máy rung rung lắc lắc như người đi bộ. Mẹ chỉ cái máy phán ngay,
— Mỗi ngày mẹ tập mười lăm phút.

Tôi phá phách đứng trên máy, bật nút điện để máy lắc rung rung. Mẹ miệng nhai trầu bõm bẽm nhìn tôi,
— Đó, con thấy chưa.

Mẹ ơi, con thấy rồi, con thấy mẹ có tuổi, nhưng tạ ơn Trời, mẹ không tiểu đường, không cao máu, không cholesterol. Chắc tại mẹ có gene ông ngoại, chín mươi chín tuổi vẫn còn tinh anh, lưng thẳng tắp; tối hôm đó ông ngoại lên giường nằm ngủ, ngủ luôn một giấc.

Nghe tôi nhắc tới ông ngoại, mẹ chép miệng,
— Thì năm nay mẹ cũng chòm chèm chín mươi rồi...

Tối Giao Thừa, tôi đại diện anh chị em cháu chắt trong nhà,
— Con chúc mẹ khỏe mạnh, sống mãi, tiếp tục làm đèn soi đường dẫn lối cho anh chị em chúng con noi theo.

Tôi lên phố Việt Nam, vớ vẩn làm sao lại nhìn thấy DVD Thần Điêu Đại Hiệp, Anh Hùng Xạ Điêu, và Cô Gái Đồ Long bộ cũ. Tôi bê hết cả ba tập phim về nhà. Về tới nhà, tôi mở ngay cho mẹ coi,
— Mẹ còn nhớ phim Thần Điêu Đại Hiệp không?

Mẹ nhìn lên màn ảnh TV High Definition của Sony, cô Long năm 1990 lại hiện ra, vẫn với tà áo dài trắng toát ngôi cổ mộ.
— Tưởng ai, cô này Cô Long đây mà.
— Con tưởng mẹ quên rồi.

Không, làm sao mà quên được. Mẹ ngồi ngay xuống ghế, mắt dán nhìn lên màn ảnh có Ngôi Cổ Mộ với Cô Long, Dương Hóa, và Lý Mạc Sầu, mẹ nói cả ba người một đời lận đận vì yêu. Năm 1990 mẹ coi Cô Long phim bộ đầu máy VCR. Năm 2009 mẹ vẫn say mê Cô Long đầu máy DVD màn ảnh Plasma HD rõ từng nét. Mẹ vẫn thế vẫn mê phim Hồng Kông. Mẹ ăn trầu đỏ thắm thảnh thơi ngồi coi phim, tôi nằm dài trên ghế nệm say mê coi với mẹ bộ phim thời xa xưa, thế là hạnh phúc lại tràn lan dư thừa.

Mẹ vẫn thế, vẫn là trung tâm, là nam châm mang lại chung một đích điểm tất cả những mảnh đời tha hương của con, cháu, và chắt, của tứ đại đồng đường.
Trời cao đã lấy mất đi bố tôi, nhưng Trời tặng cho tôi một bà mẹ, mẹ vẫn khỏe mạnh, vẫn ngọt ngào, vẫn tinh anh.

Gặp ai, tôi cũng cứ hay nói tưởng như sáo ngữ,
— Mẹ tôi gần chín chục rồi, nhưng tạ ơn Trời, vẫn khỏe mạnh.

Nhưng sâu thẳm trong tim, tôi không sáo ngữ, bởi lời đó vẫn là một câu kinh Tạ Ơn riêng tư ngày Lễ Tạ Ơn tháng Mười Một,
…Tạ ơn cho người mẹ, một đời lặn lộn thân cò nơi quãng vắng, kiếm gạo nuôi chồng và nuôi con...

Tháng Hai năm 2009 tối hôm đó, chín giờ đêm, cảng phi trường San Francisco mở rộng mang tôi về lại Úc. Mẹ bật khóc trên bờ vai tôi. Tôi bồi hồi cũng muốn khóc theo, nhưng lại cầm lòng. Mười hai giờ đêm năm phút sáng sớm, chuyến bay China Airlines nhấc bổng mang tôi về lại Úc Châu.

Về tới văn phòng Melbourne, tôi nhắc điện thoại gọi. Đầu giây bên kia tiếng chuông tiếp tục ngân vang, không ai trả lời. Tôi cúp máy gọi lại, bên kia phương trời Bắc Mỹ tiếng mẹ sang sảng ngân vang,
— Hêllô… Xin lỗi, ai đó?

Tôi phá ra cười, cười thật to,
— Mẹ ơi, con đây…

oOo
Tôi đứng lên, bước ra khỏi văn phòng. Người quản thủ thư viện ngước lên trợn tròn cặp mắt xanh xanh nhìn tôi,
— Sao mặt mày lại hớn hở như thế?

Tôi ăn nói không đầu không đuôi,
— Vừa mới nói chuyện với mẹ, mẹ tôi.

Cô quản thủ thư viện đầu gật gật, miệng cười tủm tỉm,
— I see…

Tôi nhìn khuôn mặt của cô quản thủ thư viện Úc Châu. Tự nhiên tôi nhớ lại khuôn mặt của ông tài xế xe tow Bắc Mỹ năm nào. Lạ lùng ghê, dù chỉ là một vài lời ngắn ngủi nói về mẹ, thế mà thiên hạ bất luận chủng tộc, từ cổ chí kim, ai ai cũng hiểu đại danh từ mẹ.

Thế đấy, từ bao lâu rồi, tôi vẫn có cả ngàn điều muốn viết, viết về mẹ, mẹ tôi, năm nay đã gần chín mươi.





Blog Archive