Friday, May 1, 2026

CON NHỎ …

… hàng xóm khoảng bằng tuổi tôi nhưng chỉ đứng đến lỗ tai tôi. Nó ở trong con hẻm kế nhà tôi. Nhà nó di cư từ Nam Định với nhiều anh chị, ông bà nội và nó cũng là út như tôi.

Nhưng cái khác là nó được gắn danh hiệu “bà chằn” vì nó chằn thật, nhất là khi nó cầm cây roi của ba nó hăm he lúc nó ngồi canh bánh đậu xanh phơi khô trên khoảng đất trống trước nhà nó. Tôi thì khờ khạo nên được lầm lẫn là hiền. Nhà nó làm bánh đậu xanh giao cho vài tiệm bánh ở Sài Gòn và nghe đâu gia truyền từ mấy đời “tám hoánh” nào ở “ngoải”. Tôi chỉ biết là bánh đậu xanh nhà nó… ngon gấp mấy lần bánh đậu xanh mẹ tôi bán và hơn bánh mẹ tôi làm dịp tết … một chút xíu, vì bánh nhà nó khi bỏ vào miệng “tự nhiên” tan ra, cái ngọt lịm nhưng dịu lan ra khắp nơi rồi từ từ xuống họng.

Tôi được thử bánh nhà nó vì nhờ cái duyên và cái khờ “được” lầm là hiền khi tôi đi ra chợ xép mua đồ cho mẹ. Vì biết “tiếng chằn” của nó tôi thường né và lẳng lặng đi qua khi nó ngồi trước cửa canh bánh. Nhưng lần này tôi lại nhìn chăm chú khi nó chơi ô quan với mấy đứa khác một cách lạ hơn chị bảy tôi chơi. Đã vậy đứa nào cũng mặc đồ bộ giống nhau như may từ một xấp vải ra. Thấy tôi đứng nhìn nó liền hỏi “Mày nhìn cái dzì?!” và đó là lần đầu tiên tôi nghe nó nói với giọng bắc đặc sệt. Tôi cũng nhìn nó kỷ hơn và thấy nó cũng hiền với mái tóc “bom bê”. Tôi lúng túng giải thích vì thấy khác chị tôi chơi. Như một “mệnh lệnh” nó kêu tôi ngồi coi khác chỗ nào và “ngoan ngoãn” tôi ngồi trên bục thềm nó chỉ. Tôi nhìn trộm nó nhiều hơn là trò chơi để coi nó chằn thiệt như những đứa khác nói. Khi mẹ nó kêu vào nó liền hỏi nhỏ tôi có muốn ăn bánh đậu xanh không và không chờ tôi ấp úng nó mang cho tôi cái bánh nhỏ như ngón tay.

Thật là tin đồn thất thiệt nó dữ như chằn, trái lại nó hiền khô với giọng ngọt như mía lùi, đã vậy chưa bao giờ tôi ăn được bánh đậu xanh ngon kỳ lạ như vậy. Từ đó tôi hăng hái đi chợ xép cho mẹ để coi nó chơi ô quan, đánh đũa và ăn bánh. Nó “tâm sự” với tôi nó ghét mấy thằng “mất dzậy” ăn cắp bánh nên nó “cho đòn vọt” thẳng tay. Tôi vừa thích cách nó nói chuyện vừa thích những chữ nó dùng mà chưa bao giờ tôi nghe.

Sau ngày bể dâu năm 1975 nhà nó không còn làm bánh nữa vì bị ghép là tư bản. Anh chị nó thì đi tứ tán khắp nơi kiếm sống cho gia đình. Nhưng tôi với nó càng thân thiết hơn. Lâu lâu khi có đường ba nó làm bánh thì nó để dành cho tôi vài cái, những lúc làm tôi hạnh phúc vì tôi thường thèm đủ thứ, nhầt là đồ ngọt. Có thể vì nó, tôi cũng như những người khác, đều trong khó khăn thê lương nên càng thông cảm cho nhau nhiều hơn trước.

Trước ngày tôi đi về miền tây, mà tôi không biết là để vượt biên, tôi ghé nó nói cho nó biết và hứa hẹn tôi sẽ mang về cho nó nhiều thứ ngon vì ở đó đồ ăn “cả hầm”. Lúc đó tôi đã gần 13 tuổi nhưng vẫn còn “khờ” nên không để ý nó có vẻ gì buồn. Nó đã cao lên được hơn xưa nhiều, không còn tóc “bom bê” nữa và đồ bộ nó cũng không còn “hoa lá cành” như xưa. Ngày đó tôi chưa thích và hiểu bài “Tuổi 13” của Ngô Thụy Miên.

Louis Mishima

Biến cố 30/4/1975

Theo một người quen tới nhà một người lạ. Trong bàn nhậu, toàn người không quen biết nên mình chỉ ngồi im lặng uống bia và lắng nghe là chính. Câu chuyện chủ yếu quanh quanh đề tài vượt biên, bỡ ngỡ khi mới đặt chân tới Mỹ… Một chú lớn tuổi ngồi đối diện, kể về cuộc đời của chú với một giọng đều đều, buồn buồn, cứ ngỡ như chú đang kể riêng cho chú mà thôi…

Theo lời chú kể thì sau biến cố 30/4/1975, cũng như bao sĩ quan VNCH khác, chú phải đi "học tập cải tạo". Khác với mọi người cùng trại, chú không được ai thăm nuôi cả. Chú rất lo lắng, không phải vì không được tiếp tế thực phẩm, mà bởi vì không biết cuộc sống của vợ con ra sao. Phải khoảng hơn một năm sau, vợ chú mới tới trại thăm chú, ngoài thực phẩm tiếp tế ra thì vợ chú chìa cho chú một đơn...ly hôn. Chú thật sự bị shock, nếu mà không có người quản giáo đứng bên cạnh thì có lẽ chú đã chồm lên bạt tai, siết cổ người vợ rồi. Còn người vợ thì chỉ biết khóc và nói "Anh hãy tha lỗi cho em..."

Trước khi ra về, người vợ có nói nhỏ với chú: "Anh nghe kỹ lời em nói nè, khi anh ra trại thì đừng về nhà cũ, đừng đi kiếm em, hãy tới nhà theo địa chỉ…"

Nhìn theo bóng vợ khuất dần sau cổng trại, chú thấy trời đất tối sầm lại, một sự tuyệt vọng và thù hận đang sôi sục trong con người. "Tôi thù bả, loại đàn bà lòng chim, dạ cá, tham vàng phụ nghĩa... Nhưng dần dần tôi cũng nguôi ngoai khi nghĩ rằng Nước mình còn không giữ được thì mất vợ đâu có ăn nhằm gì..."

Một thời gian sau, chú được trả tự do. Mọi người trong trại ai cũng ngạc nhiên, ngay bản thân chú cũng vậy. Không hiểu sao mình lại được "đặc cách" như vậy? Chú lờ mờ đoán ra chắc là có sự can thiệp của vợ, hay nói chính xác hơn là sự can thiệp của chồng mới của vợ?

Chú đến theo địa chỉ vợ dặn thì thấy có thằng con trai của chú đang ở đó chờ sẵn, hai cha con lui hui đùm bọc lẫn nhau. Chú hoàn toàn không được gặp lại vợ, chỉ thằng con chạy qua, chạy lại như "giao liên" giữa hai người. Rồi một bữa, thằng con đưa cho chú vàng và nói má dặn ba hãy liên lạc với người này... Té ra đó là đường dây vượt biên. 

"Lúc đó tôi càng hận bả, vì nghĩ rằng bả muốn tống khứ mình đi cho khuất mắt, để bà yên lòng sum vầy với chồng mới... Thôi, Nước mất, vợ mất, còn gì để níu kéo tôi lại xứ sở này nữa..." 

Chuyến đi may mắn trót lọt, không có nhiều biến cố gì lớn, sau một thời gian ở trại bên Philippines, cả hai cha con chú được đưa qua Mỹ... Thằng con bằng cách nào đó báo về cho má nó biết là vượt biên thành công...

Chú kể những ngày đầu ở Mỹ rất khó khăn vì bị culture shock nhưng dần dần rồi cũng quen, thằng con trai học hành đến nơi đến chốn, đi làm ổn định, lập gia đình, còn chú sống vậy một mình với nỗi khắc khoải lẫn thù hận khi nghĩ về người vợ cũ...

Rồi một hôm, qua những người quen, chú nhận được tin vợ chú đã tự tử không lâu sau khi nhận được tin 2 cha con đã qua Mỹ an toàn...

Cả bàn lặng đi khi chú đưa hai bàn tay nhăn nheo lên để che mặt và khóc...

Im lặng hồi lâu, sau đó mình rụt rè hỏi "Vậy sau khi biết cô mất thì chú còn có hận cô nữa không?"

Chú đáp dứt khoát "Hận chứ, hận vì bả làm tôi hận lầm bả, tôi hận bả 3 lần..."

Cả bàn ngồi lặng lẽ, buồn xo, nghe được cả tiếng cờ bay phần phật trong gió tháng Tư...



 Hương vị Bánh Mì Sài Gòn trước 1975 

                                                                           
Coi Youtube tren làm tui nhớ lại :

Khi còn " cu nhị " nhà tui ở đường Trương Minh Giảng đối diện xéo xéo bên tay mặt là nhà thờ Vườn Xoài, ba tui cất 1 cái chòi lá cho bác Năm tui hớt tóc và nhờ bác Năm bán giùm 1 bao bánh mì không, tui được Má cho 1 ổ và 5 cắc, tui qua quán kế bên mua 5 cắc bì nhét vô bánh mì, bà chủ cho đồ chua, chan nước mắn vô, tui ăn trước khi đi bộ học lớp Tư ở trường Đức Chánh gần ngả 4 Trương Minh Giảng / Yên Đỗ

Rồi học nội trú ở trường Công giáo Lái thiêu cứ sáng sớm là có xe bánh mì ở chợ Lái thiêu vô giao bánh mì không rất nóng giòn, bự cho trường, bánh mì có là do " bột mì ' của Mỹ cho

Tui và 3 thằng nửa được Ma Sơ tin tuởng nên cho 4 thằng ra khiêng bánh mì không vô trường, 4 thằng khiêng xong là được Sơ cho mỗi thằng 1 ổ

Khì đi ăn sáng là mỗi thằng nội trú được 1 / 4 ổ ngoài phần ăn sáng

Trước khi vô học tui đem 1 ổ bánh mì tới chổ bán đồ ăn sáng trong sân trường mua 1 đồng chả giò chiên, bà đó cho đồ chua chan nước mắm vô.

Vô lớp từ nội trú tới ngoại trú được Sơ cho 1 / 4 ổ.

Là tui dư nửa ổ, tui cho thằng ngoại trú nào có vườn, nó cho lại tui trái Dâu Miền Dưới còn non và Muối Hầm

Khi nào Ba tui không đón tui về nhà, tui ở lại trường thì ngày Chúa Nhựt có ông Tàu vô ngay trường bán phá lấu với bánh mì không, tui mua 5 cắc phá lấu, 5 cắc bánh mì, ăn với tương đen và tương ớt.

Hết tớp Nhứt tuị học Hè về Pháp văn thêm để thi vô trường lớn thì cô Hai " xà bông " cứ tối là cổ với mấy thằng tui ngồi chòm hỏm ăn mấy ổ bánh mì ( tối là nguội rồi ) chấm với xì dầu dầm ớt, ngon lành

Lớn lên, nhà tui ở Nancy, Q.5 Sài Gòn, cứ tối là tui tới ngay ngả 3 đường Nguyễn Biểu / Cao Đạt có ông Tàu bán hủ tíu bò kho 3 đồng 1 tô và bánh mì không 5 cắc 1 khúc, tui luôn mua thêm bánh mì không chấm vô nước bò kho ăn thêm.

Trưởng thành thì thằng bạn KQ Công Lâm Sĩ chơi với tui dắt tui ăn sáng ở quán bánh mì Hà Nội khi tui ngủ đêm ở nhà nó đường Nguyễn Thiện Thuật tới 30 đồng / 1 phần, mắc mà ngon lắm.

Còn bình thường là tui mua bánh mì thịt Tư Xường kế xe bán bò kho của ông Tàu , 10 đồng / 1 ổ , bự và ngon lắm

Sau 1975, tui đạp xích lô hay tới bến xe miền Đông ở Hàng Xanh, có nhiều chổ bán bánh mì trét bơ ở lề đường, tui mua mấy ổ về để dành ăn với xì dầu.

Rồi tới trại tỵ nạn Palawan, trại Bataan, sau khi nhậu là tui mua 1 ổ bánh mì thịt " con cóc " trong trại bán mới ngủ ngon được.

Nay tui ở Montreal, trong tủ lạnh nhà tui luôn có bánh mì không, hết là mua liền để ăn với ...lung tung ...

Nhưng tui " phái " nhứt là ăn bánh mì nóng giòn với thịt kho rịu

Đã Đíu ...kk..

Viết tại Montreal, ngày 30 tháng 4 năm 2026
Thadée Thái Quang Đáng
Bến Quê

"Whatever our souls are made of, his and mine are the same" — Emily Brontë.

Năm mươi tuổi, Việt góa vợ được ba năm. Sài Gòn, Paris, rồi Toronto, đời anh là những chuyến bay dài và căn hộ lạnh. Mùa khô này, anh quyết định về nước một chuyến. Không phải để tìm lại tuổi trẻ, mà để trả một món nợ với chính mình: thắp nén nhang cho ba má, rồi ghé Chợ Lách, Bến Tre, thăm thằng Khải — bạn cùng bàn năm lớp 9, thằng đã đẩy anh xuống ghe vượt biên lúc 15 tuổi.

Xe đò thả anh xuống ngã ba Cây Dương lúc xế trưa. Nắng miền Tây rọi thẳng, mùi mắm, mùi sình với mùi lục bình hòa vào nhau, quen đến nhói lòng. Tư Khải chạy chiếc honda 78 cà tàng ra đón, vẫn ốm nhom, răng khểnh, cười toe:

“Mày còn khỏe hả mày? Tao tưởng mày thành Tây rồi quên tiếng Việt chớ...”

Nhà Tư Khải nằm khuất sau vườn dừa xanh um. Vẫn nhà lá, nay đã lót gạch tàu, trước hiên có giàn bông giấy đỏ rực. Vừa dựng xe, Việt đã nghe tiếng chổi quét sân xào xạc.

“Út ơi, có khách nè!” Khải kêu lớn.

Từ sau hè, một người phụ nữ bước ra, chân đất, quần vải ú đen, áo bà ba màu hường phấn đã phai màu. Tóc cô bới gọn sau gáy, vài sợi tóc con rơi xuống thái dương ướt mồ hôi, trông duyên dáng kỳ lạ. Cô đang cầm cây chổi chà, ngẩng lên, sững người. Việt cũng sững người.

Anh nhớ mang máng: ngày anh đi, nhà Khải có con bé em út khoảng 5 tuổi, hay lẽo đẽo theo anh xin kẹo. Giờ đứng trước mặt anh là người phụ nữ đã 40, mắt đen láy, long lanh, đuôi mắt đã có ít nếp chân chim mờ, nhưng nụ cười vẫn nguyên cái vẻ hiền khô, cái đẹp mộc mạc của đất phù sa, cái kiểu chân chất mà bên xứ người anh tìm hoài không thấy, không son phấn, không vội vã, nó tự nhiên và thật thà như nắng miền Nam lóe lên trong mỗi ánh nhìn.

“Út Lành phải không ?” Việt lắp bắp.

“Dạ. Anh. Em nè. Anh Tư hay nhắc anh” cô cười mím chi, cúi đầu. Hai má ửng hồng, không rõ vì thẹn, hay vì nắng.

Bữa cơm chiều dọn dưới hàng hiên. Canh chua cá lóc bông so đũa, tép rang dừa, bông lục bình chấm mắm ớt. Lành không ngồi chung, cô chỉ lăng xăng bưng nước, thêm cơm. Mỗi lần cô đi ngang, mùi tóc, mùi chanh lại thoảng qua làm Việt lạc tay, gắp nhầm ngay chén nước mắm.

Tối, Khải lôi chai rượu đế ra hai đứa lai rai. “Hồi mày đi, con Út khóc ba ngày. Nó nói anh Việt hứa về dẫn nó đi Sài Gòn coi sở thú.”

Lành đang rửa chén dưới sàn nước, nói vọng lên: “Anh Tư nhắc chuyện con nít hoài à...” Giọng cô lẫn trong tiếng ếch nhái gọi nhau vang vọng, tiếng dế kêu rả rích, nghe thật yên bình.

Đêm đó Việt trằn trọc. Giàn bông giấy ngoài cửa sổ in bóng trăng xuống vách. Anh 50, góa vợ, tóc đã muối tiêu. Còn Út 40, chưa chồng, vì lo cha già bệnh nằm một chỗ hơn mười năm, rồi lo má, rồi lo cháu. Chợ Lách nhỏ, trai làng chê cô “già”, "hết đát", cô cũng không màng.

Sáng hôm sau, Khải đi giao cây giống. Chỉ còn Việt với Lành. Cô dẫn anh ra sau vườn, chỉ cây mận hồng đào: “Hồi anh đi nó mới bằng cổ tay em. Giờ nó nuôi cả nhà.”

Việt không nhìn cây. Anh nhìn bàn tay cô, nhỏ nhắn, trắng muốt, ngón tay không thon, có vài vết sẹo cắt cỏ, móng cắt cụt để tự nhiên. Mà sao anh thấy đẹp hơn mấy bàn tay bôi kem dưỡng da, sơn móng đủ màu mà anh từng nắm.

“Anh… ở chơi bao lâu?”

Cô hỏi anh, mắt không dám nhìn thẳng.

“Hai tuần. Rồi anh về lại.”
“Dạ.”
Cô chỉ “dạ” một tiếng, rồi tiếp tục hái mận, như giấu tiếng thở dài.

Ở bên Lành, Việt cảm thấy một niềm hạnh phúc rạo rực khó tả, nó đến kỳ lắm, không ồn ào. Nó như con nước ròng nước lớn, cứ dâng lên mỗi lần thấy cô cười, mỗi lần ngắm cô đang lặng im ngồi lựa đậu. Ở Toronto, Việt quen các phụ nữ tự lập, sắc sảo, yêu nhanh bỏ nhanh. Còn Lành thì chậm. Chậm như ghe xuồng thả trôi mùa nước nổi. Mà càng chậm lại càng làm người ta không dứt ra được.

Bữa thứ năm, trời mưa. Lành đội áo mưa đã rách đi chợ về, ướt như chuột lột. Việt bật dậy lấy khăn. Lúc đưa khăn, tay anh chạm tay cô. Tay cô lạnh ngắt, mà ngực anh nóng ran.

“Cảm ơn anh.” Cô lí nhí.

Việt buột miệng: “Lành… sao em không lấy chồng?”

Chị sững lại, rồi cười buồn: “Duyên em nó lỡ. Mà … em ở vậy quen rồi. Ở quê con gái 40 là hết duyên. Em đâu dám mơ.”

Câu nói đó như cứa vào lòng Việt. Đêm đó anh gọi cho con gái bên Canada. “Ba thương một người.” Con gái im lặng hồi lâu, rồi nói: "If she makes you happy, then Mom would want that."

Ngày cuối, Khải bày tiệc chia tay. Rượu vào, Việt nắm tay bạn, lắc lắc: “Tao hỏi thiệt mày… nếu tao muốn rước Út Lành qua bển, mày cho không?”

Khải phun ngụm rượu: “Mày khùng hả? Nó 40, mày 50, còn cưới xin gì mậy? Mà… nếu nó chịu, tao gả liền. Em tao cực quá rồi.”

Lành đang dọn dẹp trong bếp, nghe hết. Chén trên tay rơi xuống, vỡ tan.

Khuya, Việt ra sàn nước. Lành đang ngồi bó gối, ngó mông lung ra vườn.
“Anh xin lỗi. Anh làm em buồn.”

Chị lắc đầu. “Em không buồn. Em chỉ sợ… anh thương hại em. Em già, quê mùa, qua bển em biết làm gì? Người ta sẽ nói anh...”

Việt ngồi xuống kế bên, “Anh 50 tuổi, anh biết anh cần gì mà. Anh chỉ cần một người sáng dậy biết nấu nồi canh chua, chiều rảnh ngồi lặt rau, không cần nói gì nhiều cũng hiểu nhau. Anh đi nửa vòng trái đất giờ mới biết. Em không quê mùa. Em chính là quê nhà của anh.”

Trăng thượng tuần treo trên ngọn dừa. Vài con đom đóm lập lòe trên ngọn bần. Lành không nói. Chỉ có giọt nước mắt lăn xuống, rơi vào khoảng tối giữa hai người.

Sáng ra bến xe. Chỉ có Khải. Lúc xe chạy, Việt nhìn xuống, ruộng vườn xanh mướt vùn vụt lùi lại phái sau. Điện thoại rung. Tin nhắn từ số lạ:

“Anh Việt, anh đi khỏe nha."

Việt bật cười, mắt cay cay. Anh 50, góa vợ, cứ ngỡ tim mình đã chết khô. Ai ngờ chỉ một ánh nhìn gập lại trong một căn nhà lá đơn sơ ở quê nhà, một dáng áo bà ba đã bạc màu, lại làm tim anh như sống lại lần nữa.

Có những nửa kia của mình, phải gần hết nửa đời người mới gặp. Mà gặp rồi, thì chỉ cần nhìn người ta cười mỗi ngày tới hết phần đời còn lại.

Chỉ vậy thôi.

Sưu tầm.



Phạt mà vui

Tờ biên bản xử phạt vi phạm giao thông cùng hình ảnh chiếc xe của tôi lọt thỏm trong ống kính camera an ninh vẫn đang nằm ngay ngắn trên bàn làm việc. Mức phạt tiền không nhỏ, kèm theo hình thức tước bằng lái hai tháng. Về mặt pháp luật, tôi là một người vi phạm. Nhưng mỗi lần nhìn vào tờ biên lai ấy, thay vì cảm giác bực dọc hay xót của, lồng ngực tôi lại dâng lên một sự nhẹ nhõm đến kỳ lạ.

Có những cái "sai" khiến ta ân hận cả đời, nhưng cũng có những lần làm sai, lại giúp trái tim ta được cứu rỗi.

Chuyện xảy ra vào hai tuần trước, trong một đêm mưa rả rích khi tôi đang lái xe từ tỉnh lân cận về nhà sau chuyến công tác dài ngày. Đồng hồ trên xe chỉ gần 11 giờ đêm. Quốc lộ vắng ngắt, ánh đèn pha chỉ đủ xé toạc màn sương mù mờ ảo phía trước. Bỗng nhiên, từ xa, tôi thấy hai bóng người nhỏ thó đang đứng bên vệ đường, điên cuồng vẫy tay gọi những chiếc xe vụt qua trong vô vọng.

Bản năng phòng vệ của một người lái xe đêm ban đầu khiến tôi định nhấn ga đi thẳng. Nhưng dáng vẻ co ro, ướt sũng của hai thanh niên trong bộ quần áo lao động mỏng manh khiến một thế lực vô hình nào đó buộc chân tôi đạp phanh.

Cửa kính hạ xuống, gió lạnh tạt vào. Hai cậu thanh niên, một người trạc 21 tuổi, một người chừng 18 tuổi, mặt mũi tái mét, lập cập nói: "Chú ơi... chú cho cháu đi nhờ một đoạn về hướng Nam được không ạ? Cháu xin chú..."

Tôi ngập ngừng, ánh mắt vẫn đầy sự dò xét. Đúng lúc đó, điện thoại của cậu anh trai rung lên. Cậu vội vàng bấm nhận cuộc gọi video. Từ đầu dây bên kia, tiếng khóc nghẹn ngào của một người phụ nữ lớn tuổi vang lên, xen lẫn tiếng bíp bíp lạnh lẽo của máy đo nhịp tim. Qua màn hình nứt nẻ của chiếc điện thoại cũ, tôi thấy một người phụ nữ đang nằm thoi thóp trên giường bệnh, sắc mặt xám xịt, hơi thở chỉ còn là những cái ngáp rời rạc.

"Hai anh em đến đâu rồi? Về nhanh lên... Mẹ không đợi được nữa đâu con ơi..." tiếng người dì gào lên trong điện thoại.

Chiếc điện thoại rơi khỏi bàn tay đang run bần bật của cậu anh. Cậu em 18 tuổi ngồi sụp xuống vệ đường, ôm mặt khóc nấc lên giữa màn mưa.

Mọi rào cản cảnh giác trong tôi vỡ vụn. "Lên xe ngay!" - tôi quát lớn.

Khi hai anh em đã yên vị trên băng ghế sau, tôi mới biết quãng đường về nhà các cậu còn hơn 140km nữa. Gia cảnh quá nghèo, hai anh em đi làm phụ hồ ở tỉnh xa. Nhận được tin mẹ nguy kịch, vét sạch túi hai anh em cũng chỉ còn chưa tới ba trăm ngàn, không một chiếc taxi nào chịu chở với số tiền ít ỏi ấy giữa đêm hôm khuya khoắt. Quá tuyệt vọng, chúng đành cuốc bộ ra quốc lộ, hy vọng có một chuyến xe nhân đạo nào đó chịu dừng lại.

Suốt hơn 100km đầu tiên, không gian trong xe là một sự im lặng đến nghẹt thở, chỉ có tiếng nấc nghẹn ngào bị kìm nén của cậu em út. Qua gương chiếu hậu, tôi thấy cậu bé 18 tuổi ấy liên tục đưa tay lên cắn chặt vào mu bàn tay đến bật máu, mắt đỏ ngàu, nước mắt giàn giụa hướng về phía vô định. Cậu anh trai 21 tuổi thì nắm chặt lấy tay em, đôi mắt mở to hoảng loạn, miệng lẩm bẩm không ngừng như một kẻ mộng du: "Mẹ ơi đợi con... Mẹ ơi cố lên... Xin mẹ đợi con..."

Sự lo lắng, sốt ruột và nỗi đau đớn tột cùng của hai đứa trẻ sắp mất mẹ như những mũi kim đâm thẳng vào trái tim tôi. Chúng còn quá trẻ để phải đối mặt với sự chia ly nghiệt ngã này. Mỗi km trôi qua là một cuộc chiến khốc liệt với tử thần, nơi thứ vũ khí duy nhất chúng tôi có là bánh xe đang lăn.

Cao trào là khi xe chúng tôi chỉ còn cách nhà các cậu chưa tới 20km. Điện thoại lại reo. Lần này, không còn tiếng nói nào nữa, chỉ có tiếng khóc ré lên của những người thân trong căn nhà nhỏ cấp bốn.

"Chú ơi... mẹ cháu lạnh dần rồi..." Cậu em trai gục đầu vào lưng ghế trước, buông một câu tuyệt vọng đến xé lòng.

Khoảnh khắc đó, lý trí của tôi hoàn toàn đầu hàng trước mệnh lệnh của trái tim. Tôi liếc nhìn biển báo hạn chế tốc độ 60km/h khu vực đông dân cư vừa lướt qua. Tôi biết, đoạn đường này luôn có hệ thống camera phạt nguội. Nhưng hình ảnh người mẹ đang trút những hơi thở cuối cùng để chờ được nhìn thấy hai núm ruột của mình đã che mờ tất cả.

Tôi nghiến răng, đạp mạnh chân ga. Đồng hồ tốc độ vọt lên 80... rồi 90... 100km/h.

Chiếc xe lao đi như một mũi tên trong đêm. Có một tia sáng lóe lên từ cột đèn giao thông phía trên cao – ánh chớp của camera tốc độ. Tôi biết mình đã bị ghi hình. Nhưng tôi không quan tâm nữa. Chuyến xe này không chở khách, chuyến xe này đang chở niềm hy vọng cuối cùng của đạo hiếu, đang chạy đua để giành giật lại từng giây phút quý giá nhất của một kiếp người.

Chiếc xe phanh cháy lốp trước sân một căn nhà xập xệ nơi cuối ngõ hẻm. Hai anh em tung cửa lao ra như những mũi tên, ngã dúi dụi trên mặt sân sình bùn rồi bò lê lết vào nhà. Từ trong xe, tôi nghe thấy tiếng gào khóc xé ruột xé gan: "Mẹ ơi!!! Con về rồi!!! Mẹ nhìn con đi mẹ ơi!!!"

Tôi ngồi lặng trong xe, vô lăng ướt đẫm mồ hôi. Tôi đã khóc. Giọt nước mắt của sự đồng cảm, xót xa, nhưng cũng xen lẫn một niềm an ủi vì mình đã đưa chúng về kịp lúc.

Vài ngày sau, tôi nhận được một cuộc gọi từ số máy lạ. Là cậu anh trai. Cậu nức nở báo tin mẹ đã mất trong đêm hôm đó, nhưng bà đã kịp mở mắt nhìn hai anh em lần cuối, khóe mắt chảy một giọt nước trước khi trút hơi thở cuối cùng. Bà đi thanh thản vì không còn mang nỗi uất hận không được nhìn thấy các con. Cuối cuộc gọi, cậu nói trong tiếng nấc: "Cháu đội ơn chú... cả đời này, anh em cháu không bao giờ quên ơn chú..."

Nhìn lại tờ biên lai phạt nguội trước mặt, tôi mỉm cười nhẹ nhàng gập nó lại và cất vào ngăn kéo. Số tiền nộp phạt là cái giá tôi phải trả cho luật giao thông, nhưng nó quá rẻ cho một đặc ân được làm người.

Cuộc sống này đôi khi đầy rẫy những lo toan và rào cản, nhưng vượt lên trên tất cả, tình người vẫn là thứ ánh sáng rực rỡ nhất. Lòng tốt không phải lúc nào cũng được tính toán bằng sự đúng sai của lý trí, mà đôi khi, nó được quyết định bởi một nhịp đập thổn thức của trái tim khi đứng trước nỗi đau của đồng loại…

CÂU CHUYỆN HẬU SỰ Ở NHẬT

Suốt chặng đường 500 cây số từ sân bay Kansai (Osaka), qua bao danh lam thắng cảnh để về đến sân bay Narita (Tokyo), tôi đếm đỏ mắt cũng chỉ thấy đúng năm cái nghĩa trang. Đó là điểm khác biệt với Việt Nam, nếu đi đoạn tương ứng từ Nha Trang đến Đà Nẵng chẳng hạn thì đếm sao hết “thành phố người âm”. Trả lời thắc mắc của tôi, anh hướng dẫn viên bảo:

- Đất đai ở Nhật đắt đỏ nên người ta không địa táng trực tiếp nữa. Bao hình thức tiết kiệm đất như mộ chung dòng họ, mộ xanh (táng vào gốc cây), thậm chí rải tro. Những mộ lâu đời không còn được người thân chăm nom sẽ được quy tập để thu hồi đất. Đó là lý do anh thấy rất ít nghĩa trang.

Điều lạ lùng là nghĩa trang Nhật không nằm heo hút trên đồi hay ngoài cánh đồng như ở quê Việt Nam mình, mà lại chễm chệ ngay giữa khu dân cư đông đúc, nhà cửa san sát. Tôi khôi hài hỏi:

- Hoá ra ở Nhật, người ta không sợ "ma" bằng sợ... thiếu đất ư?

- Những ngôi mộ từ quá khứ vẫn kiên cường bám trụ ngay trung tâm Tokyo vì người thân chưa chịu di dời. Thế là người sống cứ việc xây nhà, mở văn phòng sát vách người hiền đã khuất, âm dương cách nhau đúng một bức tường mà vẫn hòa thuận như thường. Nể chưa?

***
Tôi tò mò hỏi thêm về quy trình "nhập hộ khẩu" cõi vĩnh hằng ở Nhật. Anh hướng dẫn viên trầm tư kể rằng:

- Chuyện hậu sự theo phong tục xưa của Nhật cũng quy củ, trang trọng chẳng kém Việt Nam đâu. Nhưng ngày nay, xã hội công nghiệp hoá, nhất là khi "tấc đất là tấc kim cương", gần 100% người Nhật chọn hỏa táng. Tuy nhiên, họ không đốt thành tro bụi trắng xóa ngay mà vẫn giữ lại xương để an táng theo nhiều kiểu rất "kinh tế":

Rồi anh lan man kể những hình thức an táng rất lạ và đủ chuyện hậu sự lạ lùng ở Nhật:

Mộ "Chung cư" Dòng tộc: Cốt người mới hoả táng cứ việc cho vào tiểu rồi xếp thêm vào mộ chung của họ hàng, vừa ấm cúng lại vừa tiết kiệm diện tích. Có cả “chung cư” nhiều tầng cho người chết, một toà nhà như thế có thể chứa hàng chục nghìn, hàng trăm nghìn bộ tro cốt, trong đó mỗi gia tộc mua hẳn hay thuê một “căn hộ”. Khi người thân đến thăm, chỉ quẹt thẻ trả một khoản phí thì phần tro cốt người thân sẽ được rô-bốt đưa ra để “gặp mặt”. Rất là hiện đại nhé!

Táng Xanh (Jumokuso) là hình thức chôn tro cốt dưới gốc cây trong khuôn viên gia đình, vừa mát mẻ lại vừa thân thiện với môi trường, mà lại tiết kiệm đất.

Có cả hình thức táng “tự do bay bổng” là rải tro xuống sông hoặc rừng cây quê hương để linh hồn được ngao du sơn thủy, cát bụi trở về với cát bụi.

***
Câu chuyện tang thời công nghệ ở Nhật mới thật là độc đáo: Nhanh - Gọn - Lạnh!

Đám tang người Nhật giờ đây không còn cảnh "trống dong cờ mở" hay rình rang hàng xóm láng giềng mang vòng hoa và lễ vật xếp hàng viếng như ở Việt Nam. Chỉ có người thân trực hệ và những ai thực sự thân thiết mới có mặt. Thậm chí, thời đại 4.0 đã khai sinh ra "đám tang công nghệ"! Cụ thể là:

Tiễn đưa qua màn hình: Người quen chỉ cần một cú click chuột để gửi lời chào biệt ly.

Mộ ảo: Thắp nhang online, cúng giỗ qua mạng, vừa không khói bụi lại chẳng lo kẹt xe.

Các lễ tiết như thất tuần, 100 ngày hay giỗ đầu, giỗ hàng năm giờ chỉ còn là miền ký ức nhạt nhòa ở nông thôn do số ít các cụ già cố giữ. Giới trẻ bận rộn đến mức nhiều gia đình chọn cách "giản tiện hóa" chỉ thắp hương hoặc bỏ hẳn cho nhẹ nợ. Đến tết Nguyên Đán còn bỏ được thì cúng giỗ càng dễ bỏ, vì âm lịch cũng gần như bỏ hẳn rồi. Tổ chức sinh nhật vui vẻ để bù sau này không được giỗ chạp nữa cũng hay đấy chứ.

***
Nỗi buồn "Chết cô đơn" (Kodokushi) là đặc sản của thế giới văn minh, ở đất nước dân số siêu già như Nhật điều này rất trầm trọng. Đây mới là phần khiến ai nghe cũng phải thở dài ngao ngán về xã hội văn minh hiện đại.

Anh hướng dẫn viên đưa ra một con số giật mình: Năm 2024 có tới 76.000 ca người già Nhật qua đời mà không có người thân bên cạnh, buộc chính quyền cùng các chùa phải đứng ra lo hậu sự.

Đáng buồn hơn, số lượng người chết đơn độc mà chính quyền có tìm thấy người thân nhưng họ cũng chẳng buồn về lo liệu còn cao gấp nhiều lần con số đó.

Có lẽ, trong thế giới hiện đại đầy rẫy kết nối mạng, con người ta lại cô đơn hơn bao giờ hết.

Ở đất nước dân số siêu già này, người ta phải tự lo trước hậu sự cho mình bằng cách nộp khoản uỷ thác thân xác mình cho một ngôi chùa. Khi hồn quý chủ “bay về trời” thì nhà chùa thực hiện dịch vụ uỷ thác với thân xác thân chủ. Tro cốt được đưa vào táng chung nếu người thân không có đề xuất khác. Đương nhiên sẽ không có mộ riêng.

Ngoài ra, những ngôi mộ vô thừa nhận nằm rải rác khắp nơi, nhất là các vùng thôn quê, sau một thời gian thông báo không có người nhận sẽ được chính quyền hoặc nhà chùa gom lại, đưa về khu vực tro cốt chung.

***

Hiểu thêm về hậu sự của người Nhật với đủ nét hiện đại nhưng lạnh lẽo và buồn, cả cách người Nhật gom mộ dòng tộc lại một chỗ, tôi trộm nghĩ biết đâu xã hội hiện đại, sẽ đến lúc Việt Nam cũng học tập. Quỹ đất thì có hạn mà nhu cầu "nhập hộ khẩu" cõi âm thì cứ tăng đều mà.

Tâm tư buồn:

Tôi chỉ ghi lại cuộc nói chuyện ngắn với một người Việt Nam sống ở Nhật Bản về điều mình thấy, nên chắc chắn thông tin không đầy đủ, không chính xác, chỉ là gợi mở để chúng ta suy ngẫm về khía cạnh này ở đất nước, quê hương mình. Mong bạn thông cảm.

Ngẫm về 50 hay 100 năm nữa, chẳng biết chúng ta sẽ đi đâu, về đâu giữa vòng xoáy công nghệ và sự cô đơn của con người dường như ngày càng lớn?!

Bạn nghĩ sao về điều này?
Truong Thanh Son

Có thể gọi là phản quốc?

Khoa học gia Harvard từng bị kết án đang xây dựng lại phòng thí nghiệm giao diện não-máy tính tại Trung Quốc.

*Charles Lieber dẫn dắt phòng thí nghiệm i-BRAIN của Trung Quốc với nguồn lực tối tân và tài trợ từ nhà nước.

*Phòng thí nghiệm đang tuyển dụng nhà nghiên cứu để thực hiện các nghiên cứu trên khỉ làm mô hình cho giao diện não-máy tính ở người. Vụ này cho thấy giới hạn của các biện pháp bảo vệ công nghệ có ứng dụng quân sự của Mỹ, theo các nhà phân tích

Thâm Quyến, ngày 30 tháng 4 (Reuters). Một khoa học gia người Mỹ từng bị kết án vì nói dối với chính quyền Mỹ về khoản tiền nhận từ Trung Quốc trong thời gian làm việc tại Đại học Harvard đã xây dựng lại phòng thí nghiệm nghiên cứu của mình tại Thâm Quyến, nhằm theo đuổi công nghệ mà chính phủ Trung Quốc coi là ưu tiên quốc gia: nhúng thiết bị điện tử vào não người.

Charles Lieber, 67 tuổi, là một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới về giao diện não-máy tính (brain-computer interfaces). Công nghệ này đã cho thấy tiềm năng trong việc điều trị các bệnh như ALS (xơ cứng teo cơ bên) và khôi phục khả năng vận động cho bệnh nhân bị liệt.

Tuy nhiên, nó cũng có tiềm năng ứng dụng quân sự: Các khoa học gia thuộc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã nghiên cứu giao diện não như một cách để tạo ra “siêu chiến binh” bằng cách tăng cường sự linh hoạt tinh thần và khả năng nhận thức tình huống, theo Bộ Quốc phòng Mỹ.

Lieber bị bồi thẩm đoàn kết tội và bị kết án vào tháng 12/2021 vì đưa ra những tuyên bố sai sự thật với các nhà điều tra liên bang về mối quan hệ của ông với một chương trình chiêu mộ "Ngàn Nhân tài nước ngoài" của Trung Quốc, cũng như các tội danh liên quan đến thuế từ khoản tiền ông nhận từ một trường đại học Trung Quốc.

Ông chỉ phải ngồi tù 2 ngày, sau đó chịu 6 tháng quản thúc tại gia, bị phạt $50000 đô và phải hoàn trả $33600 đô cho Sở Thuế vụ Mỹ (IRS). Trong vụ án, luật sư bào chữa cho biết ông đang mắc bệnh lymphoma không thể chữa khỏi (lúc đó đang thuyên giảm) và đang đấu tranh để sống sót.

Ba năm sau khi bị tuyên án, Reuters phát hiện Charles Lieber hiện đang lãnh đạo phòng thí nghiệm i-BRAIN (Institute for Brain Research, Advanced Interfaces and Neurotechnologies) do nhà nước Trung Quốc tài trợ.

Ông có quyền tiếp cận thiết bị chế tạo nano chuyên dụng và cơ sở hạ tầng nghiên cứu trên linh trưởng (khỉ) mà trước đây ông không có tại Harvard.

Phòng thí nghiệm này thuộc Viện Nghiên cứu và Chuyển giao Y khoa Thâm Quyến (Shenzhen Medical Academy of Research and Translation - SMART).“Tôi đến đây vào ngày 28 tháng 4 năm 2025 chỉ với một giấc mơ và không có gì nhiều, có lẽ chỉ vài túi quần áo,” Lieber phát biểu tại một hội nghị của chính quyền Thâm Quyến vào tháng 12.

“Cá nhân tôi, mục tiêu của tôi là biến Thâm Quyến thành một trung tâm hàng đầu thế giới.”Lieber, qua trợ lý của mình, đã từ chối yêu cầu phỏng vấn của Reuters với lý do “các cam kết hiện tại”. Ông ta cũng không trả lời các câu hỏi bằng văn bản từ Reuters.

SMART năm ngoái đã bổ nhiệm Lieber làm nhà nghiên cứu (investigator), theo một bài đăng trên website của i-BRAIN ngày 1/5/2025. Tin này đã được một số phương tiện truyền thông đưa tin.

Cùng ngày đó, i-BRAIN thông báo Lieber còn được bổ nhiệm làm Giám đốc sáng lập của viện, thông báo này lúc đó không được báo chí chú ý. Đây là bài viết toàn diện nhất về hoạt động của Lieber kể từ khi ông chuyển đến Trung Quốc.

Reuters lần đầu tiên đưa tin rằng phòng thí nghiệm của ông có quyền tiếp cận cơ sở nghiên cứu trên linh trưởng riêng biệt và thiết bị sản xuất chip; rằng nó nằm trong một hệ sinh thái rộng lớn gồm các tổ chức được nhà nước hậu thuẫn với hàng tỷ đô tài trợ; và rằng viện này đang thu hút nhân tài khoa học hàng đầu từ Mỹ trở về.

Năm 2011, Lieber từng được xếp hạng là hóa học gia hàng đầu thế giới trong thập niên trước đó theo bảng xếp hạng của Thomson Reuters (công ty mẹ của Reuters). Thomson Reuters sau này đã bán bộ phận thực hiện bảng xếp hạng này và từ chối bình luận.

Một số nhà phân tích cho rằng việc Lieber có thể tái thiết lập phòng thí nghiệm sau khi bị kết án hình sự vì che giấu mối quan hệ với Trung Quốc cho thấy các biện pháp bảo vệ công nghệ có tiềm năng quân sự của Mỹ chưa theo kịp nỗ lực thu hút công nghệ của chính phủ Trung Quốc. Lo ngại này càng lớn hơn do chiến lược “quân dân dung hợp” (military-civil fusion) của Bắc Kinh, theo đó các nguồn lực và nghiên cứu dân sự có thể được chia sẻ với quân đội.

“Trung Quốc đã vũ khí hóa chính sự cởi mở và nỗ lực đổi mới của chúng ta để chống lại chúng ta,” ông Glenn Gerstell, Cố vấn cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) và cựu Tổng cố vấn của Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA) từ 2015-2020, nhận định. 

“Họ đã đảo ngược điều đó và lợi dụng nó để chống lại chúng ta.

”Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc cùng Bộ Quốc phòng nước này không phản hồi về việc phát triển giao diện não-máy tính. SMART và i-BRAIN cũng không trả lời các câu hỏi về hướng nghiên cứu và việc chiêu mộ Lieber.

Nghiên cứu trên linh trưởng

Vị trí mới của Lieber dường như mang lại cho ông nguồn lực dồi dào hơn so với ở Mỹ.

Tại Thâm Quyến, vào tháng 2 vừa qua, i-BRAIN đã lắp đặt hệ thống quang khắc tia cực tím sâu (deep ultraviolet lithography) do tập đoàn ASML (Hà Lan) sản xuất, theo website của phòng thí nghiệm. Máy móc của ASML chuyên dùng để in các mạch điện cực nhỏ cần thiết cho chip tiên tiến.

Tại Harvard, Lieber chỉ sử dụng thiết bị quang khắc chia sẻ tại Trung tâm Hệ thống nanoscale của trường, nơi phục vụ hơn 1600 người dùng mỗi năm.

Mẫu máy mà i-BRAIN sử dụng hai thế hệ so với các máy bị hạn chế xuất cảng, nhưng vẫn có giá khoảng $2 triệu đô, theo chuyên gia Jeff Koch của công ty nghiên cứu bán dẫn SemiAnalysis.

ASML cho biết họ sẽ không bình luận công khai về khách hàng.Trên cùng khuôn viên, Lieber còn có quyền tiếp cận cơ sở Brain Science Infrastructure (BSI) Shenzhen, một phòng thí nghiệm có 2000 chuồng khỉ và không gian chuyên biệt dành cho công việc của i-BRAIN.

Nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này coi thí nghiệm trên linh trưởng là bước bắt buộc trước khi thử nghiệm trên người đối với giao diện não-máy tính xâm lấn. Cơ sở BSI thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và được chính quyền Thâm Quyến tài trợ.

i-BRAIN đang tuyển dụng cả nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế để thực hiện các nghiên cứu điện sinh lý trên khỉ rhesus làm mô hình cho giao diện não-máy tính ở người, theo một bài đăng trên website vào tháng 9/2025.

Không có dấu hiệu cho thấy Lieber từng thực hiện nghiên cứu trên linh trưởng khi còn ở Harvard. Đại học danh tiếng này đã đóng cửa Trung tâm Nghiên cứu Linh trưởng New England vào năm 2015 do áp lực về phúc lợi động vật và vấn đề tài chính.

Jung Min Lee, nhà nghiên cứu từng cùng Lieber viết bài về công nghệ nano tại Harvard, đã theo ông sang i-BRAIN với vị trí giáo sư nghiên cứu liên kết (research associate professor). Lee là chuyên gia về việc ghép điện tử linh hoạt vào mô não.

Harvard không phản hồi các câu hỏi của Reuters về Lieber và Lee.
John Donoghue, giáo sư tại Đại học Brown và là nhà thần kinh học tiên phong phát triển hệ thống giao diện não-máy tính nổi tiếng mang tên BrainGate, cho biết nghiên cứu trên linh trưởng là “hoàn toàn thiết yếu” để chuyển giao công nghệ giao diện thần kinh sang ứng dụng trên người, nhưng tại Mỹ lại gặp phải nhiều rào cản về quy định và nguồn tài trợ.

“Với quá nhiều rắc rối liên quan đến nghiên cứu trên linh trưởng không phải người ở đây, việc có ai đó cung cấp cho bạn toàn bộ sự hỗ trợ, tiếp cận công nghệ, một trung tâm tập trung cùng với một sáng kiến quốc gia, những thứ đó cực kỳ hấp dẫn,” ông nói với Reuters.

Ngân sách năm 2026 của SMART, được tài trợ hoàn toàn bởi chính quyền thành phố Thâm Quyến, đã tăng gần 18% lên khoảng $153 triệu đô. Các tài liệu ngân sách của viện không nêu rõ tỷ lệ phần trăm dành cho i-BRAIN.

SMART được thành lập năm 2023 dưới thời viện trưởng sáng lập Nieng Yan, một nhà sinh học cấu trúc. Việc bà trở về Trung Quốc năm 2022 sau 5 năm làm việc tại Đại học Princeton đã được truyền thông trong nước ca ngợi như sự trở về của một “nữ thần khoa học”. Nieng Yan và Đại học Princeton đều không phản hồi các câu hỏi của Reuters về vai trò của bà tại Thâm Quyến cũng như việc chiêu mộ Charles Lieber.

Bên cạnh SMART là Phòng thí nghiệm Vịnh Thâm Quyến (Shenzhen Bay Laboratory), một thực thể pháp lý riêng biệt nhưng hoạt động song song chặt chẽ. Phòng thí nghiệm này được thành lập năm 2019 với ngân sách 5 năm khoảng $2 tỷ đô từ chính quyền Thâm Quyến. Cả hai viện đều đặt tại Thành phố Khoa học Quang Minh, một trung tâm khoa học quốc gia với công viên và kênh rạch được chăm sóc kỹ lưỡng. Hai tổ chức này chia sẻ ban lãnh đạo và văn phòng, đồng thời sẽ cùng chiếm giữ một khu đất riêng rộng 750000 mét vuông đang được xây dựng với chi phí dự kiến $1.25 tỷ đô. Phòng thí nghiệm Vịnh Thâm Quyến không phản hồi yêu cầu bình luận.

Các bảng chỉ dẫn dẫn khách đến khuôn viên của SMART được khắc khẩu hiệu: “Cùng Đảng sáng tạo” (“Innovate with the Party”). Một phóng viên của Reuters đã bị từ chối cho vào văn phòng của i-BRAIN khi cố gắng giao một bức thư cho Lieber.

Lieber là một trong ít nhất sáu nhà khoa học chuyển từ các tổ chức Mỹ sang làm việc tại SMART, dù tất cả họ đều là các nhà nghiên cứu sinh ra tại Trung Quốc và trở về nước.

Trung Quốc đã chính thức đưa công nghệ giao diện não-máy tính vào danh sách ưu tiên phát triển quốc gia trong Kế hoạch 5 năm mới được công bố vào tháng 3/2026. Ông Trịnh Thiện Kiệt (Zheng Shanjie), Chủ nhiệm Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc, phát biểu vào tháng 10 rằng sự phát triển của giao diện não-máy tính và các công nghệ liên quan “sẽ tương đương với việc tạo ra một lĩnh vực công nghệ cao mới của Trung Quốc trong 10 năm tới”.

Cơ quan Dự án Nghiên cứu Tiên tiến Quốc phòng Mỹ (DARPA) cũng đang đầu tư vào giao diện não-máy tính phục vụ cho việc điều khiển drone và phòng thủ mạng, theo mô tả chương trình của cơ quan này. Các dự án nghiên cứu do Lieber dẫn dắt tại Harvard đã nhận hơn $8 triệu đô tài trợ từ Bộ Quốc phòng Mỹ kể từ năm 2009, theo hồ sơ tòa án. Ngũ Giác Đài không phản hồi các câu hỏi về ứng dụng quân sự của công nghệ này cũng như vai trò hiện tại của Lieber tại Thâm Quyến.

CẠNH TRANH GIẢI NOBEL

Vụ kết án Charles Lieber năm 2021 là một trong số ít thành công của chương trình China Initiative do Bộ Tư pháp Mỹ khởi xướng dưới thời chính quyền Trump đầu tiên nhằm chống lại gián điệp kinh tế và đánh cắp tài sản trí tuệ từ Trung Quốc. Chương trình này sau đó bị chấm dứt dưới thời Tổng thống Joe Biden do hàng loạt thất bại và chỉ trích về phân biệt chủng tộc.

Trong khi vẫn đang trong thời gian quản thúc, Lieber đã được tòa án cho phép ít nhất ba chuyến đi Trung Quốc vào năm 2024, trong đó có một chuyến được Thẩm phán Tòa án Quận Mỹ Denise Casper phê chuẩn với lý do “xây dựng mạng lưới việc làm”, theo hồ sơ tòa án. Thẩm phán Casper không phản hồi yêu cầu bình luận.

Đội ngũ bào chữa của Lieber cho biết trong bản ghi nhớ trước khi tuyên án năm 2023 rằng khoa học gia này đang mắc bệnh lymphoma và phần lớn thời gian bị giới hạn trong nhà, chỉ ra ngoài để khám bệnh, đi dạo ngắn và thỉnh thoảng thăm một trang trại địa phương. Trong sự nghiệp 30 năm tại Harvard, ông dành hơn 80 giờ mỗi tuần trong phòng thí nghiệm. Khi không làm việc, Lieber dành thời gian “huấn luyện vật wrestling và trồng bí ngô khổng lồ trong sân sau nhà”, theo lời bào chữa.

Lieber thừa nhận mình đã “trẻ và ngu ngốc” khi dính líu đến chương trình Thousand Talents (Ngàn Nhân Tài) của Trung Quốc, sáng kiến do nhà nước hậu thuẫn nhằm chiêu mộ chuyên gia nước ngoài, theo luật sư của ông trình bày trước tòa năm 2021. Khi bị bắt năm 2020, Lieber đã nói với đặc vụ FBI rằng ông “muốn giành giải Nobel” và được công nhận cho những đóng góp của mình, theo lời công tố viên. FBI từ chối bình luận và Bộ Tư pháp Mỹ không phản hồi các câu hỏi. Vụ của Lieber thể hiện sự thất bại rộng lớn hơn của chính sách Mỹ, theo một số nhà phân tích.

“Nếu coi ông ấy như một vector chuyển giao công nghệ đi ngược lại lợi ích của Mỹ, chúng ta đã phát hiện ra, trừng phạt ông ta, nhưng điều đó không hề ngăn chặn được xu hướng lớn hơn,” bà Emily de La Bruyère, đồng sáng lập công ty tư vấn chuyên về Trung Quốc Horizon Advisory và nghiên cứu viên cao cấp tại Quỹ Bảo vệ Dân chủ (Foundation for Defense of Democracies), một viện nghiên cứu có quan điểm cứng rắn về chính sách đối ngoại, nhận định.

Ông Gerstell, cựu quan chức Mỹ, mô tả Lieber là “Exhibit A" cho thấy các công cụ pháp lý của Mỹ còn bất lực.

“Đây là một người đã bị kết án đúng tội mà chúng ta muốn kết án ông ta trong bối cảnh này, vậy mà ngay khi vừa hết quản thúc tại gia, ông ta đã sang Trung Quốc,” ông nói.

Bài của David Kirton tại Thâm Quyến. David Crawshaw hiệu đính









Blog Archive