CHIẾU CÀ MAU – MỘT MIẾNG KÝ ỨC QUÊ NHÀ
“Hò ơi… Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm,
Công tui cực lắm mưa nắng dãi dầu,
Chiếu này tui chẳng bán đâu,
Tìm cô không gặp, tui gối đầu mỗi đêm.”
Cái đoạn hò này chắc không lạ lẫm gì đối với những người mê cải lương. Hồi nhỏ, hễ mỗi lần mở cái ra-dô lên là tui lại nghe ông Út Trà Ôn ca. Mấy ông lão trong xóm tui có cái bàn tròn kê trước nhà, sáng nào cũng mở bài này rồi ngồi uống trà. Trà đắng mà giọng ông Út thì ngọt, nghe tới đâu thấm tới đó. Hồi đó tui chưa hiểu hết cái tình trong câu hát, chỉ thấy sao mà cái chiếu cũng được người ta nhớ thương dữ vậy.
Sau này lớn lên mới hiểu, cái chiếu đâu chỉ là cái để nằm. Nó nằm trong đời sống của người miền quê từ hồi còn nhỏ cho tới lúc về già. Trong bài Tình Anh Bán Chiếu, soạn giả Viễn Châu nhắc tới “chiếu Cà Mau”, làm tui càng để ý hơn tới thứ đồ vật vốn quen thuộc đến mức hồi nhỏ chẳng bao giờ nghĩ nó có gì đặc biệt.
Ở gần nhà tui có hai cô dệt chiếu, dệt khéo lắm. Chiếu dày, chắc tay, nằm xuống nghe mát rượi. Hồi nhỏ tui có đi coi người ta dệt chiếu mà cũng chẳng biết kêu cho đúng là dệt hay đan. Chỉ nhớ là những cọng lát được đưa qua đưa lại, bàn tay người thợ cứ thoăn thoắt, một hồi lâu thì thành một tấm chiếu. Nhỏ xíu nên lúc đó tui chỉ thấy lạ mắt chớ đâu biết để làm ra một tấm chiếu phải cực công tới chừng nào.
Hồi đó người lớn mua chiếu về còn hay đem ngâm nước rồi mới xài. Tui cũng hay lẫn lộn giữa cái đệm và cái chiếu. Sau này mới biết đệm thường đan bằng cỏ bàng, còn chiếu thì làm bằng cọng lát. Những thứ đó hồi nhỏ thấy ngày nào cũng có nên chẳng ai nghĩ tới chuyện một ngày nó sẽ dần ít đi.
Ở miền Tây mình có nhiều làng nghề làm chiếu nổi tiếng. Nào là chiếu Định Yên ở Đồng Tháp, chiếu Tà Niên ở Kiên Giang, chiếu Cà Hom ở Trà Vinh, chiếu Long Cang ở Long An, chiếu Long Định ở Tiền Giang… và ở Cà Mau có làng chiếu Tân Thành, Tân Duyệt, Tân Lộc….
Tui ở Bạc Liêu nên Cà Mau cũng coi như xứ láng giềng, bởi vậy nghe nhắc tới chiếu Cà Mau thấy gần gũi lắm. Nói về làng chiếu Tân Thành đã có từ lâu đời, nghề làm chiếu được truyền qua nhiều thế hệ. Muốn làm ra một tấm chiếu đẹp đâu phải chỉ có ngồi xuống rồi đan vài đường là xong. Người làm phải chọn vùng có lát, rồi thu hoạch, chẻ lát, phơi lát, chuốt lát, lựa những cọng đạt yêu cầu, nhuộm màu rồi lại đem phơi. Xong xuôi mới tới công đoạn dệt chiếu. Người thợ phải chắc tay thì mặt chiếu mới đều, mới đẹp, dùng lâu mới ít bị bung.
Nghĩ vậy mới thấy câu “Công tui cực lắm mưa nắng dãi dầu” trong câu hò ngày xưa nghe không phải nói chơi. Đằng sau một tấm chiếu tưởng chừng đơn sơ là biết bao nhiêu công sức của người làm nghề. Cây lát ngoài đồng qua bàn tay người thợ mới trở thành thứ gắn bó với đời sống của bao nhiêu gia đình.
Nhà ngoại tui hồi đó không biết sao mà ít khi mua chiếu có sẵn. Ngoại thường đi đặt người ta làm. Còn A Côn, ông nội tui, có một cái chiếu nhỏ, vừa vặn để trải lên bộ-divăng. Cái chiếu đó đẹp lắm, mà hình như Tết mới đem ra trải. Tui nhớ nhất là mỗi dịp Tết hay đám giỗ, mấy nhà ở quê thường đem chiếu ra trải. Mấy bà lão ngồi trên đó ăn trầu, vừa nhai trầu vừa nói chuyện. Nhìn cảnh đó thấy sao mà xưa cũ, mà yên bình.
Hồi đó đi đâu cũng thấy chiếu. Em bé mới lọt lòng đã nằm trên chiếu. Đi coi hát cũng đem theo cái chiếu, coi mỏi mệt quá thì trải ra nằm ngủ một giấc. Đi đâu xa một chút cũng có cái chiếu đi theo. Ngủ thì đương nhiên phải có chiếu. Cái chiếu cứ vậy mà theo con người từ lúc còn sống cho tới lúc mất đi.
Hồi nhỏ tụi tui hay giỡn, lấy cái chiếu đắp lên người rồi nằm cười với nhau. Có lần bị ngoại la, tui hỏi sao lại la. Ngoại nói người chết mới đắp chiếu. Lúc đó nghe thì sợ, nhưng lớn lên nghĩ lại mới thấy câu nói của ngoại cũng là một cách mà người xưa dạy con cháu biết quý trọng những thứ tưởng như bình thường.
Bởi vậy mới có cái cách nói rất mộc mạc: sống thì nằm trên chiếu, đến khi chết thì cũng được đưa tiễn với chiếc chiếu. Chiếc chiếu chứng kiến đủ chuyện trong một đời người, từ tiếng khóc của đứa trẻ mới sinh, những bữa cơm gia đình, những đêm nằm nghe mưa, những buổi trưa nóng nực ở quê cho tới những lúc người ta nằm xuống lần cuối.
Nhưng bây giờ cái chiếu không còn phổ biến như hồi trước nữa. Người ta có nệm, có chiếu tre, chiếu mây, chiếu nhựa và đủ thứ tiện nghi khác. Những tấm chiếu lát vì vậy cũng dần ít xuất hiện trong mỗi căn nhà. Những đứa nhỏ bây giờ có lẽ cũng khó mà hiểu được cảm giác nằm trên một tấm chiếu lát giữa trưa hè, nghe tiếng quạt quay lạch cạch và nghe người lớn nói chuyện ở bên cạnh.
Nghề làm chiếu cũng vì vậy mà đứng trước nhiều đổi thay. Có những công đoạn ngày trước phải làm bằng tay thì nay đã có máy móc hỗ trợ. Nhưng dù làm bằng cách nào, để giữ được một nghề đã gắn với đất, với cây lát và với đời sống của người miền Tây qua bao nhiêu năm tháng, chắc cũng không phải chuyện dễ dàng.
Tui nghĩ cái đáng quý của chiếc chiếu không chỉ nằm ở chỗ nó được làm bằng cọng lát hay được dệt ra sao. Cái đáng quý hơn là những kỷ niệm mà nó giữ lại. Một tấm chiếu có thể không đắt tiền, nhưng trên đó có thể là cả một buổi trưa tuổi thơ, một cái Tết ở quê, một bữa giỗ, một câu chuyện của ngoại, hay hình ảnh mấy bà lão ngồi ăn trầu bên nhau.
Có lẽ vì vậy mà bây giờ, mỗi khi nghe lại câu “Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm”, tui không chỉ nghĩ tới một làng nghề hay một sản phẩm của quê hương. Tui nhớ tới những tấm chiếu từng nằm trong căn nhà của ngoại, nhớ cái chiếu nhỏ của A Côn, nhớ những buổi Tết ở quê và nhớ một thời mà chiếc chiếu gần như có mặt trong mọi nếp sinh hoạt của người miền Tây.
Mai này có thể trong nhà không còn nhiều người dùng chiếu lát nữa, nhưng tui nghĩ những tấm chiếu ấy vẫn còn một chỗ riêng trong ký ức của những người từng lớn lên cùng nó. Bởi có những thứ khi còn ở bên mình thì thấy bình thường lắm, tới lúc nó dần vắng đi mới nhận ra mình đã thương nó từ hồi nào không hay.
Và với tui, chiếc chiếu Cà Mau không chỉ là một món đồ để nằm. Nó là một miếng ký ức quê nhà, được dệt bằng cọng lát, bằng mồ hôi của người làm nghề, và bằng những câu chuyện bình dị của một thời đã qua.
Duong Tan Loi
No comments:
Post a Comment