Wednesday, October 7, 2026

TÌM ĐƯỜNG RA ĐI: SAU KHI RỜI BẢNG ĐEN PHẤN TRẮNG

Phần 7

Thân phận người tị nạn.
Chúng tôi sống như vậy khoảng 3 tuần thì được chuyển lên trại Phanat Nikhom. Đây là một trại tị nạn dành cho cả ba nước Việt - Miên - Lào, nằm ở phía Đông Bắc Bangkok, thuộc tỉnh Chonburi, Thái Lan.

Sáng sớm ngày 10/03/1987, một chiếc xe Coast Bus (loại xe chở du khách đường dài) đến đón chúng tôi. Xe chạy đến Ty Cảnh sát Songkhla để đón thêm mấy cô phụ nữ nữa. Khi lên xe trao đổi, chúng tôi mới biết các cô cũng là người Việt tị nạn như mình. Nhưng số phận các cô thật nghiệt ngã: bị cướp biển bắt cóc ngay trên biển, sau khi hãm hiếp chán chê, chúng ném các cô xuống bờ biển và may mắn được cảnh sát cứu giúp. Thật tội nghiệp cho những cô gái trẻ đẹp mà phải chịu cảnh đọa đày.

Khoảng 10 giờ sáng, xe bắt đầu chuyển bánh về hướng Bắc. Nhìn thành phố Songkhla thật đẹp dưới ánh nắng chan hòa, bình yên của miền Nam Thái Lan. Anh tài xế cho biết từ Songkhla đến Phanat Nikhom dài hơn 1.000km, xe phải chạy khoảng 12 tiếng vì đoạn ngang qua Bangkok thường rất kẹt xe.

Sau gần 3 tuần lễ ở vùng miền Nam Thái Lan, tôi thấy đời sống người dân nơi đây thật yên bình và an nhàn. Nghĩ mà thương quê mình, muốn đi từ làng này qua làng khác cũng khó khăn, người dân phải lo chạy gạo từng ngày. Sau này, khi đã định cư ở Canada – "xứ lạnh tình nồng" – đôi lúc phải mệt mỏi cuốn theo vòng xoáy vật chất quá cao, tôi lại ước mơ được sống như người dân vùng quê Thái Lan yên bình đó. Nhưng cuộc đời đâu phải muốn là được, bởi vậy cụ Nguyễn Du hơn một thế kỷ trước đã than thở:

"Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao."

Xe chạy xuyên đêm. Đến khoảng 3-4 giờ sáng thì ngang qua Bangkok. Vì là ban đêm nên không thấy gì nhiều, nhưng tôi cảm nhận được đây là một thành phố rất lớn. Hệ thống đường cao tốc chạy thẳng vào trung tâm thành phố rất khác với hệ thống cao tốc ở Bắc Mỹ sau này tôi sống (thường nằm ở ngoại vi, xa trung tâm).

Khoảng 10 giờ sáng, xe chúng tôi đến trại tị nạn Phanat Nikhom. Xe đỗ ngay hội trường lớn ở cổng trại. Tất cả chúng tôi ngồi dưới sàn xi măng theo từng nhóm để chờ MOI (sau này mới biết đây là tổ chức thuộc Bộ Nội vụ Thái Lan, lo về an ninh trong trại).

Khi nghe anh chô (Joe) lên lớp và phổ biến luật lệ, bao nhiêu ảo tưởng về sự mơ tưởng về tương lại trong suốt 3 tuần qua của tôi hoàn toàn tan biến. Câu nói làm tôi đau lòng nhất là: "Ai mời các anh đến đây?". Nghe câu đó thốt ra từ miệng một người Thái nói tiếng Việt, cảm giác xót xa vô cùng.

Xin lỗi, tôi quên giới thiệu sơ qua về anh Joe này. Anh là người Thái, lúc đó trạc tuổi tôi (khoảng hai mươi mấy, chưa đến ba mươi), nói tiếng Việt rất tốt. Lúc đầu nghe anh nói có vẻ không tôn trọng người lớn kẻ nhỏ, tôi cũng bực lắm. Nhưng sống ở đó một thời gian, tôi dần hiểu và thầm cảm ơn anh. Trại tị nạn rất đông, không gian chật hẹp, đủ mọi thành phần xã hội, nếu không có "kỷ luật sắt" thì mọi thứ sẽ loạn hết.

Nghe kể lại, Phanat Nikhom trước đây là trại Transit (chuyển tiếp) dành cho những người đã được nước thứ ba chấp nhận, lên đây để học đời sống và chờ chuyến bay. Tuy nhiên, khoảng năm 1986-1987, chính phủ Thái Lan dẹp các trại như Songkhla hay Sikhiw... rồi chuyển hết về đây. Có lúc cao điểm, riêng khu người Việt đã trên 20.000 người. Nếu tính cả người Lào và Campuchia ở các khu kế bên, nghe đâu tổng cộng có lúc lên đến hơn 40.000 người.

Về việc phân chia chỗ ở: vì trại quá đông nên diện tích sinh hoạt rất hạn chế. Mỗi gia đình hoặc nhóm bạn được sắp xếp ở chung trong những căn nhà san sát. Lúc này, cô em gái Đà Lạt chắc thấy tôi "nhát gái" thật rồi nên cô cùng mấy người bạn khác nhập vào nhóm khác, không ở gần tôi nữa.

Gia đình Duẫn (người bạn tôi quen từ khi còn ở Việt Nam) nhập chung với gia đình tôi. Tổng cộng 7 người trong một căn phòng chưa đầy 15 mét vuông, tính ra mỗi người chưa được 1,5 mét vuông. Nhưng thôi, ông bà mình dạy "ăn nhiều chứ ở bao nhiêu". Khổ nhất không phải là chỗ ở chật chội mà là vấn đề nước. Mỗi người chỉ được cấp 15 lít nước mỗi ngày cho cả việc nấu ăn, tắm rửa và giặt giũ. Lúc đầu là một thử thách lớn, nhưng ở lâu quen dần, biết cách "vận động" thì việc xin thêm nước cũng không quá khó khăn. Còn thực phẩm trại phân phát gạo thì không thiếu nhưng thịt và cá và rau cải thì có tính cách tượng trưng, nếu ai không có thân nhân ở nước ngoài cho tiền mua thêm đồ ăn thì sống cũng khó khăn lắm, may mắn tôi được ông Anh ở Đức thường gởi tiền và ba cháu gái tôi dẫn đi từ Mỹ cũng gởi nên tôi sống không quá khó.

Còn một viêc nữa mà tôi rất sợ khi ở trại là cái cầu tiêu, mỗi 8 căn nhà hơn 200 người chỉ có 1 hầm cầu tiêu ngăn ra làm 4 phòng cầu khác nhau liền kề chỉ bước lại gần thôi chưa bước vô đã nghe mùi nồng nặc, nhưng biết sao bây giờ vì mình mang thân phận tị nạn.

Lên trại không bao lâu, cả hai anh em tôi đều bị sốt rét. Chắc do những tuần ở trại nhỏ không quen thời tiết hoặc bị muỗi đốt nhiều. Nhiều hôm giữa trưa nắng 30-40 độC mà tôi nằm run lập cập, đắp bao nhiêu mềnh cũng không đủ. Cuối cùng, tôi phải vào bệnh viện trong trại nằm mấy ngày vô nước biển mới khỏe lại, và phải uống thuốc ròng rã 6 tháng mới dứt hẳn bệnh.

Không muốn "nhàn cư vi bất thiện", tôi xin làm thiện nguyện dạy học cho trường tiểu học trong trại. Dĩ nhiên là dạy không có lương, nhưng bù lại tâm hồn thanh thản. Song song đó, tôi ghi tên học tiếng Anh và học nghề tại trung tâm huấn nghệ. Dù chỉ ở trại một năm rưỡi, nhưng tôi đã học và lấy được 5-6 bằng nghề. Nếu tính luôn "nghề" thầy giáo thì tôi có tới 7 nghề...tức là thất nghiệp (nói vui vậy thôi). Chính nhờ chịu khó làm thiện nguyện, học tiếng Anh và học nghề mà tôi được giới thiệu đi theo diện nhân đạo sớm. Có những người không may mắn phải ở trại 5-7 năm, thậm chí là 10 năm.

Nhìn lại, tôi xin tạ ơn Trời Phật đã dành nhiều may mắn cho chuyến ghe của chúng tôi và cá nhân tôi. Ở trại, tôi chứng kiến nhiều cảnh đời đau thương: có những ghe đi 30-40 người mà chỉ còn vài người sống sót. Có những câu chuyện kể lại tưởng như không có thật. Như cô em gái đi cùng xe từ Songkhla lên kể rằng: cô không biết bơi, bị hải tặc bắt qua ghe hành hạ thể xác xong đẩy xuống biển. Cô bám vào một chiếc nắp thùng xốp, lênh đênh gần 5 ngày đêm trên biển mới được tàu khác cứu. Lúc vào bờ, mặt và lưng cô bị nắng và nước biển ăn lở loét, phải điều trị trong bệnh viện mấy tháng mới hồi phục để lên Phanat Nikhom. Trong khi đó, ghe chúng tôi chỉ đi 3 ngày 3 đêm là đến đất Thái bình an. Thật sự không biết nói bao nhiêu lời cảm ơn cho đủ vì sự may mắn kỳ diệu này.

Đứa cháu đi cùng anh em tôi chỉ ở trại khoảng 3-4 tháng là được đi Mỹ thẳng (không phải qua Philippines học đời sống như người lớn). Tôi và em tôi vừa đi làm thiện nguyện đi học đúng một năm sau được Canada nhận theo diện nhân đạo lúc đó gọi là diện (DC1).nói đến việc được phái đoàn Canada nhận, tôi cũng phải nói cám ơn đến một ân nhân là người bạn người Mỹ mới quen, làm thiên nguyên chung với tôi ở trường tiểu học của trại, Tên cô là Elizabeth chắc nhỏ hơn tôi 1-2 tuổi, cô là người Mỹ ở TP Denver, tiểu bang Colorado sang trại tị nạn làm thiện nguyện, đã nhiệt tình giúp đở tôi để được gặp phái đoàn Canada phỏng vấn và được nhận. Chúng tôi chờ thêm 6 tháng để học đời sống và sắp xếp chuyến bay. Đến ngày 20 tháng 9 năm 1988 tôi mới lên đường đi Canada xứ sở được mênh danh là vùng "Đất lạnh tình nồng"

Tính đến nay, tôi đã định cư ở Canada được 38 năm. Hôm trước, tôi có viết bài "Tạ Ơn Người, Tạ Ơn Đời: Chuyện Những Năm Đầu Nơi Xứ Lạ" để nói lên lòng biết ơn với tất cả những may mắn đã nhận được.

Nhân đây, tôi cũng xin cảm ơn tất cả bạn bè trên Facebook và ngoài đời đã dành thời gian đọc, bình luận và chia sẻ bài viết của tôi. Đó chính là nguồn cảm hứng và động lực để tôi tiếp tục viết trong những ngày an hưởng tuổi già.

Xin hết.
XIN CÁM ƠN TẤT CẢ CÁC BẠN

Chinh Le


No comments:

Blog Archive