Monday, October 5, 2026

TÌM ĐƯỜNG RA ĐI: SAU KHI RỜI BẢNG ĐEN PHẤN TRẮNG

Phần 6

(Bước đầu là dân tị nạn)
Sáng hôm sau khi thức dậy, tôi mở mắt ra thấy cay xé, cảm giác như có ai đổ cả đống cát vào mắt mình. Đây là triệu chứng do cả ba-bốn đêm liền tôi không ngủ. Không chỉ riêng tôi, mà gần như cả nhóm lái tàu chúng tôi đều bị như vậy. Triệu chứng thứ hai là khi đứng dậy bước đi, tôi có cảm giác mặt đất cứ nghiêng nghiêng như muốn ngã, sau này mới biết đó là triệu chứng "say sóng đất". Người ta nói phải mất ba bốn hôm mới hết cảm giác đó.

Khoảng 8-9 giờ sáng, có xe của Cao ủy Liên Hiệp Quốc đến thăm chúng tôi. Nhân viên Cao ủy là một phụ nữ người Indonesia khoảng 40 tuổi, bà giao tiếp với chúng tôi bằng tiếng Anh. Trong ghe, chúng tôi may mắn có anh Lợi – một sĩ quan VNCH, nói tiếng Anh rất lưu loát. Dĩ nhiên cũng có nhiều người biết tiếng Anh nhưng không giỏi bằng anh, nên anh Lợi trở thành thông dịch viên chính thức.

Chúng tôi bắt đầu làm hồ sơ với Cao ủy: khai sơ yếu lý lịch cá nhân, nghề nghiệp, tuổi tác, có thân nhân ở nước ngoài không, có ai đi cùng không, và lý do tại sao phải ra đi... Sau đó, bà nói cần 5-6 thanh niên khỏe mạnh đi theo để giúp một số việc nặng nhọc. Việc gì chứ việc tay chân thì với chúng tôi quá dễ dàng. Anh em chúng tôi – nhóm lái tàu hôm nào – dĩ nhiên có cả anh Lợi đi cùng để thông dịch.

Đi theo bà ra xe, đó là một chiếc minivan Toyota mới tinh, rất đẹp. Tôi bước lên xe mà lòng e ngại vì sợ làm dơ xe của người ta. Cả nhóm chúng tôi lúc đó chỉ còn duy nhất một bộ đồ trên người, lấm lem dầu nhớt và nồng nặc "mùi ghe" rất khó chịu như tôi đã kể ở phần trước. Chắc hẳn bà nhân viên Cao ủy cũng phải khổ sở lắm với cái mùi ấy. Cái mùi đặc trưng biển và mùi ói mữa này, phải mất hơn hai tuần tắm gội bằng xà bông Lux của Thái Lan mới hết.

Chạy khoảng 10 phút thì đến nơi. Bà cho xe vào một khuôn viên ngôi chùa rất rộng lớn. Sau khi trao đổi với một nhà sư Thái Lan đứng tuổi, bà trở lại nói chuyện với anh Lợi. Và anh dẫn chúng tôi ra phía sau chùa để đào một cái hố, làm nhà vệ sinh tạm thời cho cả nhóm dùng trong lúc chờ chuyển lên trại tị nạn chính thức. Nhà chùa cho mấy tấm thiếc cũ để che xung quanh làm nhà cầu. Gần giếng nước bên kia, chúng tôi che một nhà tắm tạm để các chị em phụ nữ có nơi tắm rửa, thay đồ. Còn cánh đàn ông chúng tôi thì đơn giản hơn, chỉ cần kéo nước từ giếng lên, xách lại khoảng sân xi măng gần đó rồi dội ào ào là xong.

Hôm sau, cả ghe chúng tôi được đưa về ở tạm trong căn nhà sàn gỗ phía sau ngôi chùa. Ngôi nhà khá rộng nhưng vì nhóm có đến 46 người nên ở chen chúc nhau, nhưng lại rất vui. Có lẽ vui nhất là ban đêm, khi mọi người giăng mùng sát bên nhau để ngủ. Vì số lượng mùng có hạn, nên cứ 4 người mới được 1 cái. Gia đình tôi chỉ có 3 người nên cô em gái gốc Đà Lạt (người quen cũ của tôi) đã nhập chung vào gia đình tôi để đủ 4 người một mùng. Dù ăn chung, ngủ chung sát sàn sạt như vậy suốt gần ba tuần, nhưng giữa chúng tôi không hề xảy ra chuyện gì quá giới hạn. Vì thế mà mấy đứa bạn cứ chê tôi là "thằng nhát gái", và biệt danh đó gắn liền với tôi từ đó.

Mấy hôm sau nữa, có phái đoàn Cao ủy Liên Hiệp Quốc khác đến thăm đông hơn, khoảng 4-5 người. Trong đoàn có mấy cô người Nhật rất đẹp và dễ thương cũng trạc tuổi tôi. Nhưng với thân phận người "Di tản buồn" cũng chẳng giám "ước mơ chi xa" nhưng tánh tôi thấy gái đẹp thì thích nhìn rồi có ảo tưởng vậy thôi...

Họ mang theo bánh kẹo để cho mấy em nhỏ, còn quần áo cho mỗi người một túi. Trong đó gồm một áo dài tay và quần dài kiểu thể thao rất đẹp. Tôi may mắn được một chiếc áo ngắn tay mà cả ghe ai cũng khen đẹp; tôi đã mặc nó suốt thời gian ở trại cho đến ngày rời trại ra đi. Ngoài ra còn có hai quần ngắn, mấy áo thun, và một chiếc khăn tắm... nói chung là khá đầy đủ.

Nghĩ lại, tôi thấy chiếc ghe của chúng tôi thật là may mắn, nay phải nói vạn lời cảm ơn Cao ủy tị nạn Liên hiệp quốc và Chính phủ Thái Lan lúc bấy giờ.

Sau này khi đã quen thuộc địa hình, chúng tôi lén trốn ra phía sau ngôi chùa, nơi có một con rạch nhỏ để tắm cho mát. Không biết ông nào trong nhóm rủ nhau bơi qua bên kia bờ kinh chơi, không ngờ lại phát hiện dưới bùn có rất nhiều ốc len. Thế là cả đám cùng nhau bắt ốc đem về ăn. Khổ nỗi lúc đó chúng tôi không có thùng hay bất cứ vật gì để đựng. Lúc này, một ông bạn tôi nảy ra sáng kiến độc đáo: Cởi quần đùi ra khi đang ở dưới nước, buộc túm lại để làm thành một cái túi đựng ốc. Nếu ở Mỹ hay Canada chắc chúng tôi phải đi đăng ký bản quyền cho sáng kiến độc đáo này rồi! Nhờ vậy mà chúng tôi thu hoạch được hai "túi ốc quần " đầy.

Vừa bơi về gần đến bờ thì thấy hai anh lính Thủy quân Lục chiến đứng trên bờ la hét quá trời. Khi biết chúng tôi chỉ đi bắt ốc về cải thiện bữa ăn, nhất là khi thấy hai cái (quần ốc) của chúng tôi các anh cũng mỉn cười dịu giọng lại nhưng nghiêm cấm từ nay về sau không được ra con rạch đó nữa vì vấn đề an ninh. Tôi cũng quên chưa kể với các bạn là kể từ khi đến Thái Lan, nhóm chúng tôi đi đâu cũng có hai, ba anh lính Thủy quân Lục chiến theo bảo vệ.

Mỗi tuần, xe của Cao ủy chở thực phẩm đến hai hoặc ba lần. Rau cải tươi rất ít, cá thịt cũng chỉ mang tính tượng trưng, không đủ chia đều. Tuy nhiên, gạo thì rất nhiều, thế là chị Ba (Chị anh Duẫn) mỗi sáng đều nấu một nồi cháo trắng thật lớn, ai muốn ăn cứ tự nhiên đến múc. Thật là một ý kiến hay, chúng tôi thầm cảm ơn chị Ba (vì quen gọi theo anh Duẫn nên tôi cũng không biết tên thật của chị là gì).

Giờ đây đã qua tuổi lục tuần, nếu ai hỏi tôi khoảng thời gian nào vui vẻ và hạnh phúc nhất trong đời, tôi sẽ không ngần ngại trả lời: Đó là 3 tuần lễ đầu tiên khi mới đặt chân đến Thái Lan (khoảng cuối tháng 2, đầu tháng 3 năm 1987). Tại sao ư? Vì khi đó ước mơ của mình đã đạt được, tương lai đang mở ra với những mộng đẹp, dù đôi khi đó chỉ là ảo mộng. Tuy nhiên ước mơ ấy không được trọn vẹn vì không có Cô Út đi cùng.

Sau này, khi tâm sự cùng bạn bè, có một chị bạn đã đọc cho tôi nghe hai câu thơ của nhà thơ Hồ Dzếnh để an ủi tôi.

 "Tình chỉ đẹp khi còn dang dở,
 Đời mất vui khi đã vẹn câu thề"

Nhưng ngẫm lại, nếu nói như thế thì cũng ích kỷ quá, tội nghiệp cho người phụ nữ, nhất là người phụ nữ Việt Nam. Nếu Cô Út có tình cờ đọc được những dòng này, tôi xin gửi một lời "tạ lỗi", dù lỗi lầm ấy chẳng hoàn toàn thuộc về tôi.

Còn tiếp phần 7.

Chinh Le

No comments:

Blog Archive