Monday, January 29, 2024

Thấy Gì Tuần Này

Góp nhặt qua fb Trần Ái Thị

Vào cái trang fb Lê Đỗ Quỳnh Hương có chồng là Nguyễn Quang Thông mới bị bắt cùng lúc với Nguyễn Công Khế mới thấy hai điều thật nguy hiểm cho cái chuẩn mực đạo đức ngày nay :

1- Với cô chủ Hương khi chồng cô ta bị bắt vô tù lẽ ra cô ấy phải biết xấu hổ im lặng, thậm chí nên khoá fb đi, không ngờ cô ta vẫn tiếp tục rao giảng đạo đức. Điều đáng sợ là cô ta luôn kêu gào yêu thương tất cả, an nhiên mà sống, không có một chút mảy may liêm sĩ. Cô ta vẫn cho rằng chuyện chồng cô ta bị bắt chỉ vì nghiệp số tới đó phải chịu. Vậy thử hỏi nếu chồng cô ta không tham nhũng thì có bị bắt vô tù không?

2- Trong một bài viết cô Hương đăng tải chuyện chồng cô ta đi tù thì cả mấy trăm còm của các bạn trẻ đa số là môn đồ của cô, toàn những lời còm có cánh nào là xiết chặt tay nhau vượt qua hoạn nạn nào là ôm cô thật chặt … 

Trời đất ! Chồng bà ấy tham nhũng tức y đang móc túi tiền của người dân mình mà bọn trẻ chia sẻ như thể chồng cô Hương bị tai nạn hay bị một căn bệnh nan y nào đó. Điều đáng sợ là nhóm bạn trẻ đó đã bị cô ta dẫn dắt nhồi sọ đến mức không còn biết đâu là tội phạm đáng khinh, đâu là chỗ đặt tình yêu thương trân trọng. Một sự nhầm lẫn đến mức ngớ ngẩn ngờ nghệch. Quả là công đầu độc nhồi sọ của cô Hương không nhỏ vậy !


“CHÚNG GHÉT THÌ SAO?”

Có người nói chửi VC và tay sai trăm năm nữa cũng không làm VC chết thì chửi làm gì cho.... "chúng" ghét!

He he.... Chữ "chúng" đây chắc không nhằm vào VC. Vì chửi VC thì đương nhiên bị VC ghét rồi.

Vậy chữ "chúng" đây nhắm vào những người "không phải VC", nhưng chắc cũng không phải người quốc gia. Vì nếu là người quốc gia chân chính thì đương nhiên không ghét những người chửi VC.

Cho nên "chúng" đây là cái đám không đỏ không vàng, mà hườm hườm; hoặc lúc vàng lúc đỏ, tuỳ vào hoàn cảnh, trong máng có nhiều cám hay ít cám.

Úi trời ơi! Cái bọn sớm đầu tối đánh, gió chiều nào ngả theo chiều đó, chỗ nào có ăn, có lợi cho bản thân thì chúi mõm vào bất kể sạch dơ, liêm sỉ, danh dự... thì "được" chúng ghét là một... vinh dự đó.

Nhớ có câu chuyện Khổng Tử luận về người thiện, như thế này:

Có người hỏi Khổng Tử:
Một người được cả làng thương có phải là người thiện không?

Khổng Tử đáp: Chưa chắc!

Vậy một người bị cả làng ghét có phải là người thiện không?

Khổng Tử đáp: Cũng chưa chắc!

Vậy thế nào mới là người thiện?

Khổng Tử đáp:
Người thiện là người bị tất cả những người bất thiện trong làng ghét và được tất cả những người thiện trong làng thương.

He he... cho nên, nếu mình được "chúng" thương thì hoá ra mình cũng thuộc loại chỗ nào có ăn thì nhào vô, bất kể liêm sỉ à?

Ngo Du Trung




Sunday, January 28, 2024

ĐỌC “ĂN MÀ KHÔNG CHƠI” CỦA ĐỖ DUY NGỌC

Nhà văn Đỗ Duy Ngọc ra đời tại Quảng Bình, di cư năm 1954, học hành tại Đà Nẵng, trưởng thành tại Sài Gòn. Tôi ra đời tại Hà Nội, di cư năm 1954, sống tại Sài Gòn. Chúng tôi có những điểm chung trừ sanh quán. Vậy mà sao ông lại có những hồi ức về ăn uống thời trẻ giống tôi. Chẳng hạn như ông tàu bán đậu phụng rang húng lìu. 

“Đó là một ông người Hoa khoảng năm sáu chục tuổi, người hom hem, mặc bộ đồ “xá xẩu” đen, có khi màu xám cũ kỹ. Áo có hai vạt như như áo cánh, tay lửng, nút áo bằng vải, cài ở giữa, ông mặc cái “quần tiều” dài quá đầu gối một chút, ống rộng. Ông đội cái nón rộng vành đan bằng tre, đỉnh nón nhọn, nhìn như các hiệp khách giang hồ trong phim kiếm hiệp Hồng Kông. Ông mang trước ngực một thùng thiếc vuông, có lẽ là thùng bánh biscuit Lu, một loại bánh tây nổi tiếng thời ấy. Trong thùng đựng đậu phụng rang. Khi có khách ông lấy ra một gói giấy cuốn nhọn đầu bé tí, bỏ vào khoảng hai chục hạt đậu rang. Ít thế nên lúc nào ăn cũng còn thèm…Đậu rang của ông thơm húng líu, mùi từa tựa như ngũ vị hương… Đậu phụng rang húng lìu của ông này ngon lắm, thơm, bùi, béo giòn ăn mãi không ngán. Nó có một mùi thơm rất đặc biệt. Nó cũng là món ăn vặt của tuổi thơ tui”. 

Nếu ông Đỗ Duy Ngọc rộng lượng mang ông già tầu này từ Đà Nẵng ra Hà Nội, đặt vào tháp Hòa Phong bên hồ Hoàn Kiếm Hà Nội thì đúng là ông tầu bán phát xa húng lìu thời thơ ấu của tôi. Trên đường tới trường Dũng Lạc, hầu như ngày nào tôi cũng phải ghé tới tháp Hòa Phong nộp tiền cho ông già có bộ răng lúc nào cũng nhe ra như cười. Sao cái bốc tay của ông đểu tới như vậy. Thọc sâu vào hộp lạc rang một cách mạnh bạo nhưng móc ra chỉ chục hột cho vào cái tổ sâu kèn bằng giấy.

Những ngày Hà Nội đó, chuyện ăn uống của chúng tôi quanh bờ hồ hay trước cửa trường Dũng Lạc ngày đó vẫn bám lấy ký ức của tôi. Món bánh mì của mấy đứa trẻ ôm bao bố chứa những chiếc bánh mì nho nhỏ bán dạo quanh hồ, phía trước cửa báo Cải Tạo, ngon hết biết. Chú nhỏ rọc bánh theo chiều dọc, nhét vào miếng ba-tê mỏng dính, rắc muối tiêu, vậy là xong. Chỉ có vậy sao ngon ơi là ngon. 

Bánh mì giò chả của anh chàng Lý bán trước cửa trường còn ngon ác ôn hơn. Nhưng dễ chi gặm được ổ bánh mì của chàng Lý được chúng tôi gọi thân mật là Lý Toét dù mắt anh không toét! Phải chi ra số tiền gấp bội bánh mì bờ hồ. Ông Đỗ Duy Ngọc cũng nhắc tới “thần tượng” của chúng tôi ngày đó. Nhưng ông chỉ biết ông Lý Toét khi ông đã di cư vào Sài Gòn, trở thành cụ Lý Toét. Từ Hà Nội vào Sài Gòn, bánh mì Lý Toét vẫn là bánh mì Hà Nội. 

“Bánh mì cụ Lý ngon mà giá bình dân. Chả đủ loại: chả lụa, chả chiên, giò thủ, chả mỡ. Chả nóng hổi, phảng phất mùi hương của thì là. Chả của cụ Lý không cắt lát như những xe bánh mì khác mà cụ cắt từng miếng lớn, lộn xộn để lung tung trên mẹt lót lá chuối xanh rờn. Từ lúc dừng xe dựa vào hàng rào, cụ cắt không ngơi tay, khách hỏi chuyện, cụ lại nhón miếng chả đưa khách ăn chơi. Xé ổ bánh mì, hồi trước bánh mì nướng củi, vỏ bánh vàng, ruột bánh trắng phau chứ không như bánh mì bây giờ, cụ nhét đại mấy miếng chả vào, bốc một nắm hành tây, rắc chút muối tiêu, xì dầu hay nước mắm theo yêu cầu của khách, thế là xong một ổ bánh, không ba-tê, chẳng dưa chua, hành ngò chi cả. Khách chen nhau, lần lượt. Cầm ổ bánh mì nóng, chả tràn trề, cắn một miếng, ngon nhức xương”.

Di cư vào Sài Gòn năm 16 tuổi, thế hệ của tôi dễ hòa nhập vào Sài Gòn. Nếu tuổi thơ của tôi là Hà Nội thì tuổi thanh niên là Sài Gòn. Cả hai nơi đều là những tháng ngày hạnh phúc mà chuyện ăn uống góp một phần lớn vào hạnh phúc đó. Cụ Lý Toét là cái gạch nối giữa hai thành phố, nhưng phá lấu, nước mía thì đặc sệt Sài Gòn. Hơn hai chục năm sống ở Sài Gòn, đi học rồi đi làm, cu ky một mình rồi bồ bịch, thú “ăn mà không chơi” vẫn dính lấy những người Hà Nội chuyển sang Sài Gòn thời đó. Ông Đỗ Duy Ngọc “ăn mà không chơi”. Chữ “chơi” của ông được giải thích như sau: “Đặt tên sách “Ăn Mà Không Chơi” vì tôi chỉ rành ăn mà không biết gì các món chơi bời của Sài Gòn”.

Khi mới tới nhà ông Luân Hoán nhận cuốn sách, đọc cái tựa, tôi lại nghĩ khác. Người ta thường nói “ăn chơi ngon hơn ăn thiệt” để diễn tả cái “chơi” ăn đứt cái “thiệt”.

Những ngày những năm Sài Gòn, ăn chơi không thể nào bỏ qua món phá lấu, bò khô, nước mía tại góc đường Lê Lợi – Pasteur. Thỉnh thoảng, nhớ Sài Gòn, tôi vẫn vào YouTube coi các clip quay cảnh phố phường Sài Gòn. Khi ống kính quay tới cái ngã tư “ăn chơi” này, tôi không thể nén tiếng thở dài. Tòa nhà có hai chữ “Viễn Đông” nghễu nghện nay đã không còn dấu vết. Đó là thiên đàng ăn chơi, hiểu theo nghĩa ăn chơi ăn thiệt, của chúng tôi ngày đó. Chúng tôi đây nhất định không thể thiếu ông sành ăn Đỗ Duy Ngọc.

Tôi phải thú nhận chết mê chết mệt với món bò khô, còn gọi là gỏi khô bò. Từ những ngày Dũng Lạc. Hồi đó ít có ngày tôi không mải mê với tiếng kéo lách cách rao hàng của ông bán bò khô trước cửa trường. Chỉ là những lát đu đủ, chút rau thơm, khô bò, thêm xì dầu, giấm, tỏi, ít tương ớt mà sao ngon lạ ngon lùng. Nhìn hai tay ông điệu nghệ hai chai, một trắng chứa giấm tỏi, một nâu sậm xì dầu, rắc đều xuống đĩa gỏi, đã thấy ngon. Cái ngon đó tôi bắt gặp lại tại Sài Gòn.

Ông Đỗ Duy Ngọc cũng rứa. Cho tới nay tôi đã từng nếm thử gỏi khô bò tại nhiều tiệm ở Montreal này mà chưa bắt được cái vị của bò khô Pasteur. Ông Đỗ nhem thèm: 

“Chủ chiếc xe bò khô là một ông Bắc kỳ tuổi trung niên, chuyên mặc bộ đồ đen, đôi khi hiếm hoi cũng mặc chiếc áo nâu. Chiếc xe đẩy của ông chứa trọn bộ đồ nghề. Ở giữa là những chiếc đĩa nhôm, một bên đựng bò khô, bên kia chứa đu đủ bào. Phần còn lại để mấy chai nước tương, ớt, giấm. Khô bò của ông ngon vô phương. Vừa bùi lại vừa giòn, ngòn ngọt, cay cay. Miếng bò khô thơm phức, dày, hơi đen cháy cạnh chứ không đỏ như khô bò của người Hoa. Khô của ông được chế biến từ lá lách bò, thịt ở má bò vì má bò có gân nên vừa mềm vừa dai, nhai sướng miệng lắm. Hồi đó xe gỏi của ông nổi tiếng Sài Gòn không chỉ khô bò ngon đặc biệt mà nước chan giấm ớt, nước tương cũng ngon hết biết. Ăn một đĩa chưa đã thèm, ăn thêm đĩa nữa lại muốn ăn thêm. Miệng đã thấy cay, má đã hơi bừng bừng, mồ hôi rịn trên mắt, đã gì đâu”.

Xe nước mía Viễn Đông kế bên là thứ nước làm dịu đi cái cay cay xoắn xuýt miệng lưỡi. Ly nước mía vừa ép ra, tươi mát, ngọt thanh, bọt trắng bám quanh thành ly, uống tới đâu ruột gan nở ra tới đó.

Linh hồn của khu ăn chơi này là những mẹt phá lấu. 

“Trên khay để đầy phá lấu nhiều màu, toàn những màu sẫm là lòng heo, dồi trường, tim, lưỡi, lá sách, bao tử, gan, ruột non, phèo, phổi. Nói chung là toàn bộ đồ lòng của con heo lại thêm lòng gà đầy đủ gan, tim, ruột lòng thòng xoắn xoắn. Miếng phá lấu được cắt nhỏ lủm một miếng chưa đầy miệng, cắm một cây tăm. Trên khay còn có tương đen, tương đỏ. Khách lái xe xuôi đường Pasteur, thắng xe ghé lại, thích gì ăn nấy, cây tăm khi đã bỏ miếng phá lấu vào miệng thì chú Ba Tàu lại ghim một cây tăm khác vào cổ tay của ông, có sợi cao su buộc ngang. Khách ăn xong chú Ba căn cứ vào số tăm trên tay mà tính tiền. 

Miếng phá lấu ở đấy bây giờ nhớ lại thấy ngon lạ lùng. Miếng lá sách có gai như miếng khăn lông nhai sần sật, miếng ruột non, ruột già beo béo, miếng gan bùi bùi, miếng lưỡi, miếng phèo hơi dai càng nhai càng ngọt mùi… 

Gần nửa thế kỷ rồi, nhắc lại món phá lấu ở địa chỉ ấy bỗng dưng trên đầu lưỡi phảng phất cái mùi ngũ vị hương, cái mùi húng lìu, nước tương hòa lẫn vị béo, dai, bùi của phá lấu năm xưa. Nhắc để gậm nhấm kỷ niệm của một thời chở cô bạn gái ghé vào đây, hoặc đi với mấy thằng bạn, chấm chấm, nhai nhai sao đời nghèo mà vui thế”. 

Bao nhiêu năm ở Sài Gòn là bấy nhiêu năm tôi la cà nơi chốn “thiên đàng” này. Từ những ngày học sinh dắt chiếc xe đạp, tới những ngày trưởng thành đi làm, lên đời xe máy rồi xe vespa. Từ những lao xao bạn bè tới những hân hoan người tình, những ngày tháng chẳng bao giờ quên được.

Ông Đỗ Duy Ngọc chơi ác. Vết nhớ chưa liền da đã bị ông vực dậy làm thêm phần ray rứt. Thành phố đó đã chở chuyên những tháng ngày ngọt lịm của thế hệ tôi, thư sinh rồi râu tóc vào đời. Trách ông nhưng cũng ơn ông đã cho tôi một lần sống lại quá khứ ngọt ngào của lớp tuổi đẹp nhất trong đời.

Trong 350 trang sách gồm 85 bài viết, tác giả đã bàn tới nhiều món ăn chơi cũng như ăn thiệt. Thiệt là một tay hảo ăn. Tôi vốn khoái nước mắm và các thứ mắm, từ mắm tôm mắm tép tới mắm ruốc mắm rươi nên không thể không đu đưa về những bài ông viết về nước mắm và mắm. Có tới bốn bài lận. Nước mắm là thứ được chế biến từ cá và muối. Đó là thứ nước mắm truyền thống. Ngày nay người ta giết chết nước mắm khi thứ nước mắm bán trên thị trường phần lớn là nước mắm công nghiệp pha bằng hóa chất. Ông gọi đó là thứ nước mắm giả của những kẻ thiếu lương tâm. Tôi cũng đã nhiều lần viết về chuyện giả thật của nước mắm, điều mà ngay các bà nội trợ nhiều bà vẫn không phân biệt được. Ông Đỗ coi bộ phẫn nộ hơn tôi. 

“Trước 1975, ở miền Nam, luật pháp khá rõ ràng, kỷ cương còn được tôn trọng. kẻ phạm pháp sẽ bị trừng trị đích đáng, do đó việc làm giả nước mắm khó hoạt động và không phổ biến. Giờ đây, chính những kẻ cầm cân nảy mực, thi hành luật pháp lại tiếp tay mở đường cho nước mắm giả với cái tên mỹ miều là “nước mắm công nghiệp” và họ tìm mọi cách để những thứ giả này xuất hiện trên bàn ăn của những gia đình người Việt. Loại này không thể gọi là nước mắm bởi nó không làm ra từ cá và muối mà từ những hương liệu và hóa chất. Gọi tên cho đúng thì đó là “nước chấm công nghiệp”. Một chai gọi là nước mắm đó cõng trên nó 17 lọai hóa chất, thế thì sao gọi là nước mắm được”.

Tôi mê phở, chuyện thường. Dân Hà Nội mà không mê phở mới là chuyện đáng nói. Nhưng dân Quảng Bình, sống tại Đà Nẵng và Sài Gòn như ông Đỗ Duy Ngọc mê phở như mê người tình mới là chuyện lạ. Ông viết về Phở Hoàng, Phở Minh, Phở “Cậu Hai Sài Gòn”, Phở Kỳ Đồng, Phở Lý Quốc Sư, Phở gà Hà Nội, Phở Cao Thắng nhưng tâm ông dành trọn cho Phở Dậu. Chà! Phở Dậu! Tôi với ông ý hợp tâm đầu dữ.

Nhà văn Đỗ Duy Ngọc đã trên năm chục năm liên tục say đắm phở Dậu, trừ ít năm qua Pháp. Tôi cũng là fan cứng chỉ ít lâu sau khi phở Dậu ra lò vào năm 1958 cho tới khi tôi đi Canada vào năm 1985. Bà Dậu là người tiên phong mở quán nhưng sau đó nhường tiệm lại cho bà Uy. Tiệm ngày đó xộc xệch, bàn ghế vá ráp, không tên tuổi chi. Gọi phở Dậu là thực khách truyền miệng nhau thôi. Còn tiệm không bảng hiệu chi cả. Gọi là tiệm cũng là khiên cưỡng. Nó như một quán nhỏ thân tình, thực khách hầu như đều biết nhau. Bà Uy thì biết từng sở thích của khách. Ông Đỗ nhớ lại: 

“Hồi đó chỉ là một quán phở nhỏ lợp tôn, trên có chừa một khoảng trống lớn, nắng dọi vào làm thành một vệt ánh sáng mà mấy cha nhiếp ảnh rất mê. Luồng sáng dọi xuống trên người hai bà cụ với làn khói xanh từ bếp củi bay lên rất là nhiếp ảnh. Người bán là hai bà cụ già, nên tôi gọi là phở bà cụ. Ngày trước dân văn nghệ thường ăn sáng tại đây. Tui thường gặp họa sĩ Đinh Cường, Trịnh Cung, Đỗ Quang Em, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn”.

Phở Dậu ngày cũ là phở nhà, nơi ai cũng biết nhau. Sau 1975, muốn biết tin tức bạn bè, ai dzọt được, ai đi tù chưa về, ai vượt biên bị tóm, cứ tới phở Dậu khắc biết. Trong một bài viết về phở Dậu, tôi đã ghi: 

“Sau 1975, phở Dậu là ngã ba hẹn hò của giới ăn phở Dậu trước đó, khi thành phố chưa đổi tên. Ngày đó, bạn bè chúng tôi tan tác sau cơn bão dữ, ai còn, ai đi thoát, ai chưa “cải tạo” về, cứ tới phở Dậu là biết hết. Gọi là “ngã ba hẹn hò” cho thêm phần tình cảm chứ thật ra chúng tôi chẳng ai hẹn ai. Cứ thuận chân tới. Tới sẽ gặp. Gặp rồi đấu láo chửi thề. Thường chúng tôi mắng mỏ nhau sao chậm lụt thế. Trông thấy cái mặt nào còn trình diện là thêm một ngao ngán. Chuyện đi đứng có lẽ là chuyện rổn rảng nhất. Tôi có giấy bảo lãnh đi Canada. Bà Uy mà ai cũng mặc nhiên tưởng bà tên Dậu, cũng cùng một trường hợp. Bà và tôi có thêm thân tình của người đồng hội đồng thuyền. Bà ôm riết tiệm chẳng có thời giờ. Tôi rảnh chân chạy chỗ này chỗ kia nên có một số tin tức. Mỗi lần tôi tới, bà ngước mắt hỏi. Chúng tôi lại to nhỏ. Có lần bà xếp tôi ngồi vào góc chiếc bàn trong bếp, bên cạnh những hành ngò, nằm bẹp giữa những thùng bánh phở, những chậu xương còn máu me đỏ lòm. Chẳng phải để bàn chuyện bí mật quốc gia chi mà chỉ vì tiệm hết chỗ”.

Viết tới đây tôi thấy mình vô duyên hết cỡ. Tôi đã lợi dụng cuốn “Ăn Mà Không Chơi” của nhà văn Đỗ Duy Ngọc để mang chuyện ăn uống của tôi hồi nhỏ ra chèn ép cuốn sách. Sách không chỉ bàn tới phát xa húng lìu, bánh mì Lý Toét, bò khô, phá lấu và nước mía Viễn Đông, nước mắm và mắm, hay phở Dậu. 

Trong 85 bài viết, tác giả đã dành nhiều trang cho các món khác. Món cá chuồn, các món xứ Quảng, bún suông, mì Cao Vân, món Huế, cháo huyết, cháo lòng, rươi, con bù tọt, xe mì, khoai lang khô ngào đường, bún cá ngừ, cá kình, cá đối cồi, cá ồ, cá hố kho dưa cải, cá he, hủ tiếu sa tế nai, lòng heo xào nghệ, bún bò Huế, canh mít non, bún ốc, hủ tiếu Thanh Xuân, bánh canh, chả cá, mắt cá ngừ đại dương hầm thuốc bắc, thịt vịt, món xà bần, bún vịt, canh cá giếc nấu rau răm, hột vịt lộn, cá chép cá trắm kho. Đủ thập bát ban đớp hít.

Nhà văn Đỗ Duy Ngọc hiện sống tại Sài Gòn, đánh bạn với hai ông Tiến Chỉnh và Đỗ Trung Quân. Ông Tiến Chỉnh trước đây là tay guitar bass trong ban nhạc trẻ nổi tiếng Spotlight hát hò cùng với các ông Đức Huy, Billy Shane. Sau chán cây đàn ông gia nhập không quân lái máy bay chiến đấu Skyraider bắn đì đoàng. Ông này cũng là đệ tử ruột của phở Dậu, luôn rủ tôi về tới Dậu ăn cho thỏa chí tang bồng. Ông Đỗ Trung Quân, chắc cũng có máu Bắc kỳ vì ông là dân Ngã Ba Ông Tạ, lại chống phở Dậu mà phò mì Quảng. Xin mách với ông là trong cuốn sách này ông Đỗ Duy Ngọc có tới hai bài viết về mì Quảng. Thấy chưa, ông Đỗ chơi với bạn rất chí tình, cỡ nào ông cũng chiều được!

Đọc xong cuốn “Ăn Mà Không Chơi” tôi khoái ông Đỗ Duy Ngọc hơn. Chúc ông răng cứng lưỡi mềm để tiếp tục nếm các món ngon vật lạ, độc giả của ông, trong đó có tôi, sẽ lại được ăn hàm thụ. Ăn giả mà ngon như ăn thiệt!

Song Thao
01/2024



NHẠC SĨ TRẦN QUẢNG NAM - TÁC GIẢ BÀI HÁT MƯỜI NĂM TÌNH CŨ


Vài hàng về nhạc sĩ Trần Quảng Nam.
Nhạc sĩ Trần Quảng Nam sinh năm 1955 tại Tam Kỳ, Quảng Nam, quê gốc tại Hải Dương. Hiện tại, ông đang sinh sống ở Hoa Kỳ. Từ khi học trung học ông đã học nhạc lý với thầy Phạm Nghệ. Năm 14 tuổi, ông đã tự sáng tác đến năm 1975 sáng tác khoảng 20 ca khúc. Ông được biết đến nhiều qua ca khúc Mười Năm Tình Cũ.

Thật tình cờ, đầu những năm 1990, khi quen biết và nên duyên với mẹ của con trai tôi bây giờ, tôi thấy nhà nàng có cái Radio Cassette (hai hộc băng, xuất xứ Taiwan) hát bài Mười Năm Tình Cũ. Tôi vẫn đinh ninh đó là ca khúc của ai đó ở Miền Nam, sáng tác trước 1975. Thời gian trôi đi 33 năm (1990 - 2023),...

Cũng thật tình cờ, cho đến chiều qua (11.10.2023), lang thang trên mạng, vô trang Facebook Lưu Trọng Văn mới biết Mười Năm Tình Cũ được sáng tác vào năm 1985, là ca khúc nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của ông nhạc sĩ Trần Quảng Nam.


"Trước năm 1975, khi đang học đại học, Trần Quảng Nam yêu một cô gái mang hai dòng máu Việt- Pháp, có tên Isabel Hạnh. Đầu năm 1975, ông đi du học ở Mỹ (bằng học bổng), Isabel Hạnh hồi hương về Pháp vào năm 1976. Vào những năm đầu, khi tác giả mới đến Mỹ, Isabel Hạnh có sang thăm. Nhưng vì Trần Quảng Nam còn phải chuyên tâm học hành, lại chưa có công việc ổn định nên không dám hứa hẹn tương lai với người con gái mang hai dòng máu ấy.

Isabel Hạnh trở về Pháp. Hai người không gặp lại nhau nhưng có trao đổi qua điện thoại. Chàng biết rằng nàng đã có người khác.

Vào một ngày của năm 1985, khi xem chồng ảnh cũ, Trần Quảng Nam gặp lại bóng hình người xưa. Ảnh còn đây mà người đã xa mờ. Cảm xúc dâng lên thành lời ca: 

“Mười năm không gặp tưởng tình đã cũ/Mây bay bao năm tưởng mình đã quên/Như mây bay đi một trời thương nhớ/Em ơi bên kia có con mắt buồn…”. 

Trần Quảng Nam viết Mười năm tình cũ chỉ trong khoảng 15 phút"!

Xin nhắc tên danh ca Lệ Thu - người thu âm đầu tiên và cũng là người trình bày thành công nhạc phẩm Mười Năm Tình Cũ : 

"Người có công đưa ca khúc này đến công chúng là ca sĩ Lệ Thu. Chị là người thâu băng đầu tiên sau khi tôi sáng tác ca khúc được một năm. Tôi là người hòa âm và chị Lệ Thu hát. Đến giờ, tôi vẫn thích nhất là thâu băng và hòa âm đó. Còn bây giờ, nhiều người hát ca khúc này, tôi không thể nhớ hết" — (Trần Quảng Nam).

Chiêm Lưu Huy
...

(Saigon, 12.10.2023. Ảnh nhạc sĩ Trần Quảng Nam với Mười Năm Tình Cũ, sưu tầm trên internet)


Khi bài thơ Hoàng Sa vượt vĩ tuyến 17 vô Nam

- Lê Đức Dục

Năm 1974, khi Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa, đất nước vẫn còn chia hai miền Nam /Bắc. Nhiều trận đánh vẫn chỉ là người Việt bắn vào người Việt.

Anh Trương Huy San có một đúc kết rất sâu sắc: "Hoàng Sa - đấy là chiến trường duy nhất trước ngày 30-4-1975 mà ở đó người Việt đã không nổ súng vào người Việt."

(Dĩ nhiên đánh Trung Quốc bảo vệ xứ sở thì khỏi phải lo khi hòn đạn bay ra người trúng đạn rất có thể đó chính là anh em máu mủ của mình.)

Trở lại với bài thơ Hoàng Sa nói trên, khi ấy ở miền Bắc rất ít người biết thông tin này và nếu biết vẫn không hiếm người nghĩ chính Trung Quốc đã giải phóng Hoàng Sa từ tay VNCH giúp cho ta vì Tàu và ta cùng là anh em trong phe XHCN, sau này Tàu sẽ giao lại!

Nhưng giữa ngày tháng Hoàng Sa bị xâm lược đó, một thi sĩ miền Bắc làm bài thơ này, gửi từ Hà Nội qua Pháp và từ Pháp về Nam Việt Nam bày tỏ tấc lòng.

Năm 2005 câu chuyện và bài thơ được kể trên giai phẩm Quảng Đà in ở hải ngoại. Có người nghi tác giả là Việt Phương, có người dẫn lại cơ sở nói tác giả là Hoàng Xuân Huế, người em bà con của cụ Hoàng Xuân Hãn...

Nhưng mình nghĩ trong bối cảnh năm 1974 ấy ở miền Bắc mà viết được như thế này thì biết trái tim thi sĩ dũng cảm ấy đã rỏ máu với Hoàng Sa như thế nào.

***

Hoàng Sa

Xin kể thêm tôi
thành mười chín triệu một người (*)
Trái tim tôi đập về trong nớ
Dòng máu xa nguồn bỗng giận sôi
Hoàng Sa, Hoàng Sa
Cái tên nghe buồn như thuở ban sơ
Từ tuổi ấu thơ, hay tự bao giờ
Ðối với tôi đã là da thịt
Dầu chỉ là một mảng san hô
Lại đau chăng vết buốt tự ngàn xưa
Trang sử cũ còn hằn dấu ngựa
Từ thảo nguyên xa, từ biên ải lửa
Khói tràn về đen thẫm những giấc mơ
Đếm biết bao nhiêu người vợ đợi chờ

Em ơi! Trên từng trang sử nhỏ
Xin kể thêm tôi thành mười chín triệu một người,
Thành viên gạch hồng tươi
Làm bức tường thành ngăn triền sóng dữ
Làm chiếc vò đựng mùa xuân ngọt lự
Giữ không rơi một giọt mật nào
Mỗi giọt ra đi, chính giọt máu đào
Từ cuộc đời cha ông rỏ xuống

Em trai ơi!
Trên đảo mù sương
hôm đó có em tay cầm súng
Từ những hạm tàu rẽ sóng đại dương
Anh thấy pháo em dương nòng sừng sững
Cuộc chiến đấu kết thúc dù bi thảm
Bài ca anh hùng vẫn vọng trời cao
Xin cho thơ tôi góp phát súng chào
Vĩnh biệt tuần dương chìm dần giữa sóng
Ðáy biển âm thầm, ngàn năm lạnh cóng
Vẫn mặn nồng lòng Tổ quốc ta
Xin cho thơ tôi làm thảm sóng ngân nga
Ru giấc ngủ những chàng trai dũng cảm
Tiếng cười ngày nào còn ran trong nắng
Đôi mắt ngày nào đọng mắt người thương
Tôi biết mùa xuân chưa đến bao giờ
Ngực đảo còn đau ngàn bàn chân lạ
Hoàng Sa, xa vời ơi Hoàng Sa!
Tên người ngân buồn như bản thánh ca…
(1974- Khuyết danh)

(*) Giải thích thêm vì có bạn chưa rõ: Dân số miền Nam khi ấy là 19 triệu, miền Bắc 21 triệu.

Sắp tới kỷ niệm 50 năm ngày Quần đảo Hoàng Sa bị mất về tay Trung Quốc xâm lược 19/1/1974-19/1/2024

ảnh1: Sắc lệnh của TT Ngô đình Diệm về việc đặt quần đảo Hoàng Sa dưới sự quản lý của tỉnh Quảng nam, và thành lập xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang ngày 13.7.1961.

ảnh 2: Chỉ ranh giới xã Định Hải (quần đảo Hoàng Sa) sáp nhập vào xã Hòa Long, theo Nghị định 709-BNV/HCĐB/26 ngày 21.10.1969 của Tổng trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa.

LeVanQuy sưu tầm

* "máu bao thế hệ hy sinh và mồ hôi thấm quyện
biển không vô tình, biển mang nặng hồn thiêng"- Bùi Công Minh

CÂU CHUYỆN GIA ĐÌNH

- Allo. Anh Hai hả? Anh đang ở đâu vậy?
- Anh Hai đang ở cơ quan, có gì không cô út?
- Chiều về sớm tranh thủ qua nhà em đón Mẹ về nhà anh chị nhé
- Ủa, còn ba ngày nữa Mẹ mới qua nhà anh mà? Sao đón sớm vậy?
-Em biết, nhưng mai vợ chồng em đi du lịch với cơ quan cả tuần mới về. Anh hai đón mẹ về nhà anh dùm em sớm vài hôm, tháng sau em bù lại cho
- Thôi được rồi, để anh về bàn với bà xã rồi tính sau

Nghe cuộc nói chuyện của cô con gái, bà Tư buông tiếng thở dài não ruột. Bà đứng lên lững thững bước chậm chậm ra sân. Bà Tư cầm cái chổi lên quét quanh sân mà lòng ngổn ngang bao nỗi niềm. Bà Tư nhớ lại...

Chồng chết sớm để lại cho bà Tư hai đứa con còn thơ dại. Lúc đó thằng Hai vừa mới chập chững biết đi những bước đầu tiên, con Út thì đang còn nằm nôi. Biết bao nhiêu khổ cực dồn hết lên đôi vai của bà, một sớm hai sương bà tảo tần lo cho hai đứa con khôn lớn. Buông cái này là bà chụp cái kia, làm và chỉ biết làm, miễn sao có tiền nuôi con là được.

Khi hai con khôn lớn. Con Út muốn se sua với bạn thỏ thẻ với bà "Mẹ ơi con muốn mua áo mới", thằng Hai " mẹ ơi, cho con tiền mua chiếc xe đạp". Bà vui vẻ " Uhm. Để đó mẹ lo". Cứ thế, thằng Hai con Út trưởng thành chỉ biết ăn và học trong vòng tay của Mẹ đến khi ra trường và lập gia đình riêng. Cả hai đứa đều thành danh trong xã hội. Lúc hai đứa con còn nhỏ, tuy nghèo nhưng rộn rã tiếng cười. Bà Tư buông tiếng thở dài, bà tiếc nuối cái thời gian mẹ con đầm ấm đã qua. . .

Tiếng chuông gọi cửa làm bà Tư giật mình. Bà đi vội ra mở cửa, con dâu ào vào, thằng Hai theo sau. Con dâu lên tiếng
- Cô Út có nhà không hả Mẹ?

Bà vừa đóng cửa lại vừa trả lời
- Nó ở trên lầu đó. Cơm nước gì chưa mà bây qua đây

Con dâu không trả lời, đi vội vào trong nhà. Con Út nghe ồn ào dưới nhà liền chạy xuống. Chị dâu liền hỏi
- Cô Út làm gì mà tui gọi cháy máy không chịu nghe
- Em ở trong phòng xếp mấy bộ đồ để mai đi
- Cô đi rồi mẹ sao?

Con Út hơi khó chịu
- Thì em có gọi cho anh Hai nhờ đón Mẹ về bên anh chị vài hôm rồi mà

Con dâu vội nói
- Không được. Mai cuối tuần vợ chồng tui cũng có việc đi tỉnh phát quà từ thiện hai ngày mới về. Cô Út xem tính sao thì tính

Con Út lớn tiếng
- Anh Chị làm gì mà khó khăn vậy. Đi phát quà từ thiện thôi mà có cần phải gấp như vậy không. Chị lúc nào việc nhỏ cũng làm lên cho nghiêm trọng. Chờ em về rồi hãy đi !

Con dâu cũng không vừa
- Vậy sao cô không ở nhà đi để hôm nào đến phiên Mẹ qua tui rồi cô đi du lịch.

Bà Tư sợ mấy đứa con nhìn thấy nên quay mặt đi nơi khác để lau vội giọt nước mắt đang trào ra vì kìm lại không được. Chờ cho cục đắng nghẹn ở cổ trôi xuống. Bà Tư vui vẻ cười ha hả nói
- Chuyện nhỏ mà sao tụi bây ầm ĩ thế. Được rồi để đó Mẹ lo

Thằng Hai chen ngang
- Mẹ lo cách nào?

Bà Tư chậm rải nói
- Lâu quá Mẹ không về quê, sẵn dịp vợ chồng con Út đi du lịch mươi hôm, vợ chồng thằng Hai cũng bận. Luôn tiện này Mẹ cũng muốn về Quê ở chơi với dì Năm bây vài hôm

Bà Tư nói xong, mấy đứa con đều nhất trí cao cách giải quyết của bà. Con Út lên tiếng
- Vậy thì mai anh Hai cho tài xế qua chở Mẹ ra bến xe

Bà Tư lại vui vẻ cười to để cho mấy đứa con yên tâm
- Cứ để đó Mẹ lo. Mai ta nhờ chú Ba xe ôm đầu ngõ chở ta ra bến xe được rồi

Đêm hôm đó bà Tư suy nghĩ nhiều lắm. Tháng này ở nhà con Út thì tháng sau ở nhà thằng Hai. Bà Tư cảm thấy mình làm vướng bận cho con cái, vì mình mà hai anh em cãi nhau về chuyện ăn ở của bà. Làm Mẹ, bà không đành lòng nhìn cảnh như vậy.

*****
Tuần sau
- allo cô Út hả? Cô về chưa
- Còn 2 hôm nữa em mới về. Có gì không anh Hai
- Hôm nay anh nóng ruột quá nên gọi cho dì Năm hỏi thăm Mẹ ,thì dì Năm nói là không có thấy Mẹ về nhà dì Năm.

Thế là cô Út và anh Hai cãi nhau ầm ĩ. Người này đỗ lỗi cho người kia. Cô Út đành phải bỏ cuộc du lịch bay về cùng anh Hai đi tìm Mẹ trong vô vọng.

*********
Năm năm sau.

Tại một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô cách xa thành phố ,có một ngôi mộ lẻ loi ở sau chùa. Trên tấm bia có ghi:

Phần mộ bà Nguyễn Thị Tư
Pháp danh. . .
Mất ngày. . . Tháng. . . Năm
Không rõ nhân thân

Mọi người trong làng kể lại. Cách đây năm năm, có một bà cụ từ đâu đến xin ở trong ngôi chùa nhỏ này. Từ đó ngôi chùa trở nên sạch sẽ nhờ bàn tay chăm chỉ của bà cụ. Sớm tối bà cụ tụng kinh gõ mõ. Bà cụ hiền lành phúc hậu nên được dân làng yêu quý, họ đem đến cho cụ mớ rau, khoai củ và những cây nhà lá vườn. Cứ thế, bà cụ sống nhờ vào lòng yêu thương của dân làng. Mọi người ở đây ai cũng nhìn thấy được cụ bà có một nỗi niềm gì đó mà không tỏ cùng ai. Vì nét mặt cụ luôn toát lên một nỗi buồn cho đến tận lúc bà mãi mãi ra đi.

Mai Liên
4 phúc lớn đời người

Vương Hách


1. Bên cạnh gối có sách
Có thể bạn chưa nhận ra, nhưng trong cuộc sống, rất nhiều phiền muộn chỉ vì đọc sách quá ít, lại suy nghĩ quá nhiều.

Có một câu nói rất hay: "Không việc gì thì ít mơ mộng, rảnh rỗi thì đọc sách nhiều hơn."

Đúng vậy, đọc sách như là một cuộc hành trình trên thế giới, là thanh kiếm để chống chọi với rủi ro; còn là một chuyến "tu luyện cuộc đời" hướng tới hy vọng.

Đọc nhiều sách, đọc sách hay, có thể thấy được thế giới, trời đất và chính bản thân mình.

Khi cách suy nghĩ của bạn khác với người thường, có tầm nhìn rộng lớn hơn, bạn sẽ hiểu "trên đời này không có chuyện gì, chỉ có người tầm thường tự gây phiền muộn cho mình," và có thể đối mặt với mọi điều không như ý trong cuộc sống với niềm tin lớn nhất.

Điều này, chẳng phải là may mắn lớn trong cuộc đời sao?

Mỗi cuốn sách bạn đọc qua sẽ trở thành một phần của tư duy và cơ thể bạn, giúp cuộc đời ngắn ngủi của bạn trở nên sâu sắc và đầy đặn hơn.

Bạn phải tin rằng, sự phong phú về tinh thần quý hơn mọi sự hào nhoáng ngoài kia.

2. Không bệnh tật trên người
Nếu nói đọc sách là đầu tư vào giá trị tri thức, thì theo đuổi sức khỏe là đầu tư vào hành trình cuộc đời.

Không có một cơ thể khỏe mạnh, bạn lấy gì để cùng người yêu đến đầu bạc răng long, che chở cho con cái, đồng hành cùng cha mẹ trong những năm tháng cuối đời, và cạnh tranh trong nửa sau cuộc đời?

Dù bạn tự do đến đâu, đừng quên, bạn luôn có một ông chủ trên đầu. Ông chủ này tên là Sức Khỏe.

Sức Khỏe là một ông chủ giả dối. Bề ngoài ông ta nhân từ và hào phóng, cho dù bạn làm gì cũng chỉ cười và phê bình bằng lời nói, rồi thôi.

Nhưng tất cả chỉ là hình ảnh giả tạo, thực chất ông ta là một người khắc khe và tàn nhẫn, cân nhắc từng li từng tí, ghi nhớ mọi oán hận. Mọi sự thiếu tôn trọng và lơ là đối với ông ta, dù chỉ là một chút xíu, đều sẽ được ghi chép lại vào một bảng hiệu suất, không bỏ sót một điều nào.

Chỉ cần sức khỏe còn đó, dù bạn ngã xuống vực sâu, lún vào bùn lầy, bạn vẫn có thể đứng dậy; nhưng nếu mất đi sức khỏe, dù bạn giàu có đến đâu cũng vô ích.

Dù một người đi xa đến đâu, bay cao đến đâu, sức khỏe mới là thứ đáng đầu tư nhất trong đời.

3. Bạn hữu chân thành
Kết bạn không dễ, kết bạn tốt càng khó. Cổ ngữ có nói: "Thành bại trong cuộc sống phụ thuộc vào những người bạn gặp."

Trong thế giới rộng lớn này, nếu có thể kết bạn với những người có quan điểm giống mình, đó là niềm vui lớn trong cuộc đời; nếu gặp được tri kỷ đồng điệu, thì càng là điều hiếm có.

Bạn bè vì rượu thịt, vì lợi ích; bạn tốt vì đạo đức, vì lý tưởng.

Lá rụng biết thu, hoạn nạn biết người. Kẻ hạ thủ lưu manh, nên tránh xa; người sẵn lòng giúp đỡ trong lúc khó khăn, mới xứng đáng là bạn tâm giao.

Tình bạn của quý nhân nhẹ nhàng như nước, bạn tốt không phải là người luôn dính lấy nhau mỗi ngày, mà là "ít liên lạc, nhưng không bao giờ quên."

Mỗi lần bạn cần, họ cũng không vắng mặt. Biết cách kết bạn tốt, cuộc sống cũng sẽ nhận được lợi ích vô tận.

4. Trái tim có đam mê
Có người nói, chúng ta đều khao khát sống theo ý muốn của bản thân, tìm kiếm con đường mình muốn đi. Nhưng trong cuộc đời, dường như chúng ta đang tìm kiếm nhiều thứ, nhưng cuối cùng chỉ là tìm kiếm niềm đam mê trong lòng.

Đam mê là gì? Có lẽ nhiều người nghĩ, đó là những điều bạn thích và muốn làm. Nhưng nó còn có một đặc tính quan trọng khác, đó là sự sẵn lòng.

Sẵn lòng dành thời gian và công sức cho nó, sẵn lòng chịu đựng thất bại, và cũng sẵn lòng chấp nhận mọi khó khăn và mệt mỏi trên con đường theo đuổi.

Hạnh phúc nhất của một người, có lẽ chính là sống trong niềm đam mê của mình. Theo một nghĩa nào đó, đam mê giống như một ngọn hải đăng trong cuộc đời chúng ta.

Khi bạn lạc lối, mệt mỏi, ít nhất trong lòng vẫn còn một tia hy vọng, dù trong hoàn cảnh khó khăn nhất, trái tim vẫn có một lực đẩy khiến bạn không muốn từ bỏ.

Cuộc sống, thực ra không cần những chuyện lớn lao, kinh thiên động địa. Bởi vì, dù chỉ là một việc nhỏ bạn yêu thích, cũng đủ để vượt qua thời gian dài dằng dặc.

An Hạnh biên dịch

Blog Archive