Wednesday, July 1, 2026

AI ĐÃ GIẾT NGÀI?

CỘNG SẢN CHỨ KHÔNG PHẢI NHẬT BẢN!!!

Tôi không theo đạo Công giáo. Tôi không cầu nguyện bằng kinh sách của họ, không quỳ trước tượng Đức Mẹ, không hiểu hết những nghi thức trang nghiêm trong các thánh đường. Nhưng có những con người, dù thuộc về một truyền thống tâm linh khác với tôi, vẫn khiến tôi phải dừng lại, cúi đầu, và thấy lòng mình rưng rưng từ sâu thẳm bên trong.

Linh mục Trương Bửu Diệp là một người như vậy.
Ngài sinh năm 1897 ở một họ đạo nghèo tại An Giang. Mẹ ngài qua đời khi ngài mới 7 tuổi. Có những đứa trẻ học được bài học về sự vô thường rất sớm, trước khi chúng kịp hiểu hết ý nghĩa của hai chữ đó. 

Rồi ngài theo cha sang Campuchia, sống trong một gia đình làm nghề thợ mộc, học hành, tu tập, và năm 1924 trở thành linh mục.

Từ năm 1930, ngài về làm cha sở họ đạo Tắc Sậy, một vùng đất nghèo ở Bạc Liêu. Ngài ở đó suốt mười sáu năm, dài hơn bất kỳ quãng thời gian nào khác trong cuộc đời ngắn ngủi của ngài. Ngài tận tụy chăm sóc giáo dân, thường xuyên thăm hỏi, động viên và giúp đỡ những người nghèo khổ, bệnh tật, không phân biệt ai theo đạo, ai không theo đạo.

Điều khiến tôi kính ngưỡng không phải là chức danh linh mục của ngài. Mà là cách ngài đã sống, và cách ngài đã chọn chết.

Năm 1945, 1946, đất nước rơi vào loạn lạc. Người ta khuyên ngài nên lánh đi. Ngài từ chối: “Tôi sống giữa đoàn chiên. Và nếu có chết cũng chết giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết.”

Một người Pháp từng đề nghị cấp súng để ngài tự vũ trang bảo vệ nhà thờ. Ngài đáp: “Không. Linh mục thì cần gì súng ống. Linh mục chăm sóc bầy chiên và sống với bầy chiên theo chân Chúa, chứ không theo phe phái chính trị nào.” Tôi cứ nghĩ về câu nói này. Một người có cơ hội tự vệ, lại từ chối, để giữ một điều ngài tin còn quan trọng hơn mạng sống của chính mình.

Ngày 12 tháng 3 năm 1946, ngài cùng khoảng 70 giáo dân bị bắt giữ. Ngài tự nguyện hiến mình để đổi lấy sự an toàn cho những người bị bắt cùng.

Một nhân chứng, người sau này mang theo nỗi hổ thẹn suốt đời vì từng có liên quan đến vụ việc, kể lại rằng ngài bị chém hai nhát vào đầu, nhát đầu lạng sớt sau ót vì người chém run tay, nhát thứ hai mới khiến đầu lìa khỏi thân.

Khi tìm thấy thi thể ngài dưới một cái ao, người ta thấy hai tay ngài vẫn chắp lại, gương mặt bình thản.

Tôi không phải người Công giáo. Nhưng đọc đến đoạn này, tôi nghĩ đến tất cả những bậc thầy, ở mọi truyền thống, từng chọn ở lại nơi nguy hiểm vì những người mình thương yêu, thay vì chọn con đường an toàn cho riêng mình.

Gần 80 năm đã qua từ ngày ngài mất. Điều tôi thấy lạ nhất, là lòng kính ngưỡng dành cho ngài không những không phai nhạt, mà còn vượt qua chính đường biên đã từng khiến ngài phải trả giá bằng mạng sống. Rất nhiều người đến viếng mộ ngài tại Tắc Sậy không phải là người Công giáo. Họ là Phật tử, người theo đạo Cao Đài, hoặc không theo tôn giáo nào, nhưng đều mang một lòng thành kính rất thật. Người ta đến đó không phải chỉ để cầu xin, mà để được ở gần với một điều rất hiếm: một con người đã sống và chết đúng như những gì mình tin.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, Giáo hoàng Phanxicô đã chính thức cho phép ban hành sắc lệnh nhìn nhận sự tử đạo của ngài, sau 13 năm điều tra. Và chỉ còn vài ngày nữa, ngày 2 tháng 7 năm 2026, một lễ tuyên phong Chân phước sẽ được cử hành ngay tại Tắc Sậy, nơi ngài đã sống và đã ngã xuống. Đây là lần đầu tiên trong gần 500 năm Công giáo có mặt tại Việt Nam, một nghi thức như vậy được tổ chức trên chính đất nước này, với dự kiến hơn 70.000 người đổ về tham dự.

Tôi viết những dòng này không phải để mời ai theo một tôn giáo nào. Tôi viết vì tôi tin có những con người, bất kể thuộc về truyền thống tâm linh nào, đã sống một cuộc đời đủ trọn vẹn để chạm đến phần thiêng liêng nhất trong mỗi chúng ta, phần vẫn còn biết rung động trước một người sẵn sàng đặt mạng sống mình xuống cho người khác mà không hề toan tính.

Linh mục Trương Bửu Diệp đã chọn ở lại, khi mọi lý lẽ đều bảo ngài nên rời đi.

Có lẽ đó là lý do, gần một thế kỷ sau, người ta vẫn còn tìm đến nơi ngài đã ngã xuống. Không phải để hỏi xin một phép lạ. Mà để được đứng gần, dù chỉ một chút, với một người đã sống đúng như những gì mình tin cho đến giây phút cuối cùng.

Nguồn:  Nguyễn Cảnh Thi

No comments:

Blog Archive