Saturday, July 18, 2026

Xôi Đậu

Quê tui ở Long An - cái xứ mà trời đất cũng phải lắc đầu chào thua vì tánh khí thất thường của nó: ngày thì cờ vàng phất phới, đêm xuống lại nghe tiếng dép râu quẹt khe khẽ dưới mép cửa, sáng mở mắt là quốc gia, tối nhắm mắt lại thành cộng sản. Người ta gọi đó là vùng xôi đậu, nghe thơm tho vậy chớ kỳ thực là trời bắc một nồi lẩu chính trị to đùng, khuấy lên cái là sôi ùng ục, ai lỡ đứng gần cũng bị văng trúng một miếng - số phận. Ba tui, trong cái nồi lẩu đó, đúng y chang một hột đậu phộng lẻ loi, lọt thỏm giữa đám xôi nóng hổi, chẳng biết bên nào sẽ nuốt trọn mình trước. Ổng không đi lính, chẳng mặn mòi với súng đạn, chỉ là dân cày muốn có miếng ruộng, cái nhà, bữa cơm chiều với gia đình, nằm võng nghe dế gáy tới khuya. Mà cái thời người ta nhìn nhau trước khi nhìn mặt, hỏi nhau trước khi hỏi tên, thì một kẻ chỉ muốn đứng ngoài cuộc vẫn cứ bị đời kéo xoáy vô giữa, như cây chuối đứng giữa đồng trống, phe nào thổi mạnh cũng phải nghiêng theo, dù trong bụng chỉ muốn im re mà sống.

Anh bạn chí cốt của ba tui, thuộc hội thanh niên thời đó, thương bạn quá nên một bữa nọ rủ chèo xuồng ra giữa lòng sông Cái, tâm sự dưới ánh trăng lấp lánh để tránh tai vách mạch rừng của mấy bà hàng xóm hay dòm ngó chuyện thiên hạ. Ảnh định bụng mở một lớp "chánh trị cấp tốc" ngay trên chiếc xuồng bé tẻo teo - giảng đường không mái che, giáo trình viết bằng lòng căm thù, học phí đóng bằng nước mắt thiên hạ. Có điều học trò không chịu thuộc bài. Ảnh thao thao về lòng yêu nước, về "mặt trời chân lý chói qua tim", còn ba tui thì mải nghiên cứu một bộ môn thực dụng hơn nhiều: uống cho hết mấy xị rượu đế mà vẫn còn nhớ mình đương ngồi trên xuồng chớ chưa rớt xuống sông. Trăng lặn, rượu cạn, lý tưởng cách mạng bay đi đằng nào chẳng rõ, chỉ thấy hai ông nội nằm thẳng cẳng thả lềnh bềnh trên sóng như hai khúc củi mục, mãi gần sáng mới lụi hụi chèo về tới bến. Mặt trời chân lý ảnh đem ra soi, tiếc thay trái tim ba tui vẫn cứng ngắc, không chịu "bừng nắng hạ" như người ta vẫn ngâm nga trong thơ. Ảnh chắc thất vọng dữ lắm, nhưng dẫu sao cũng bạn nhậu chung xuồng, ai nỡ để bạn mình bước lên đoạn đầu đài. Trước khi chia tay, ảnh ghé tai bỏ nhỏ một câu khiến ba tui tỉnh rượu còn lẹ hơn tạt nước lạnh vô mặt: "Họ đang chờ bắt mày ở nhà đó!"

Cái họa, hôm đó hào phóng quăng ra chút tình thương, nên ghé qua lúc nhà vắng chủ để giảm thiểu thiệt hại. Bữa đó bà nội đi đám giỗ xa, trong nhà chỉ còn thím Tư với thím Bảy - hai người đàn bà cả đời chỉ biết "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời", chớ có biết chi cái thời cuộc đang ngẩng đầu gào thét ngoài kia. Vậy mà bão cũng mò tới tận cửa. "Họ" xông vào, trói gô hai thím lại như trói hai bó rơm chờ đem phơi nắng, rồi gằn giọng khảo hỏi tung tích "thằng Tồn"- ba tui!

Ngay lúc đó, ba tui đã lặng lẽ lội về theo con đập sau nhà, nín thở núp dưới hàng dừa nước, tai vểnh lên nghe từng tiếng động như nghe nhịp đập của chính số phận mình. Một người con về tới nhà mà không dám cất tiếng gọi má. Đứng ngay sau nhà mà không dám bước vô. Có nỗi đau nào cay hơn vậy không?
- Nói mau! Thằng Tồn đâu?

Thím Tư run như cầy sấy, hồn phách bay đâu mất, miệng chỉ đánh bò cạp chẳng ra hơi. Thím Bảy lanh trí hơn chút, ráng ghìm cái hàm răng đang muốn rụng vì sợ:
- Dạ... dạ ảnh đi Xì Gòn từ trưa trật rồi mấy chú ơi.

- Láo khoét! Tao mới thấy nó hồi chạng vạng, đừng giỡn mặt!

Cái lạnh của họng súng đen ngòm khơi lại cái lạnh của một chuyện cũ chưa nguôi trong lòng cả xóm. Mấy năm trước, ông cố Tám - em ruột ông cố tui - cũng đã gửi xác ngay trong chính căn nhà mình, chỉ vì dám từ chối đóng góp năm trăm đồng cho hoạt động trong vùng. Thời buổi tranh tối tranh sáng đó, năm trăm đồng là cả gia tài đổi bằng mồ hôi nước mắt cả đời cày cuốc, còn mạng người thì rẻ hơn cọng bèo trôi sông. Chạng vạng chiều hôm ấy tiếng ông thất thanh: "Bà con ơi, tiếp cứu giùm tôi!" Xóm nội tui khi đó gần như là họ Lê, toàn dây mơ rễ má với nhau, nghe tiếng kêu là thanh niên trai tráng xách gậy gộc lao ra ngay. Nhưng... đoàng, đoàng, đoàng... ba phát súng nổ chát chúa xé toang màn đêm, lòng can đảm rớt bộp xuống đất, cả đoàn người khựng lại rồi lùi dần. Tiếng kêu cứu nhỏ đi, rồi im bặt. 

Khi xóm giềng dám mò vào, ông Tám đã nằm đó với hăm lăm nhát dao, ba phát đạn, máu nhuộm đỏ cả nền nhà - dù bốn góc nhà ông vẫn dựng sẵn mấy cây mã tấu sáng loáng, dù ông từng có thầy dạy võ đàng hoàng. Đánh tay đôi, chưa chắc ai địch lại ông. Nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ, huống chi quần hồ có súng. Bài học xương máu đó truyền lại cho cả xóm một chân lý cay đắng: có những lúc im lặng không phải vì hèn, mà vì muốn sống.

Thím Bảy, mang theo cái ký ức ấy trong đầu, đành xuống giọng năn nỉ:
- Dạ mấy chú thương tui nhờ, ghét tui chịu. Ảnh lên nhà chị Hai ở Bà Chiểu thiệt mà!

"Họ" không tin, lục tung cả căn nhà, lấy cọc sắt xiên xối xả qua bồ lúa, như thể một con người có thể hóa thành hạt lúa mà chui vào trốn. Lúa đổ, lòng người cũng đổ theo. Không lục ra được ai, tụi nó hậm hực bỏ đi, để lại hai thím vẫn còn bị trói thúc ké, đau điếng. Từ mặt đập, ba tui nhìn hút theo bóng người khuất dần, chờ thêm một chặp cho chắc ăn mới dám bò lên mở trói cho hai thím. Ngay trong đêm đó, thím Tư chèo xuồng đưa ba tui qua sông lánh nạn. Trước khi rời bến, ổng cúi xuống khoát một bụm nước sông rửa mặt cho tỉnh cả hồn lẫn vía, rồi đứng thẳng người, đưa tay chào một vùng quê - cái chào không phải của kẻ hết thương mà bỏ đi, mà của người thương quá đỗi nhưng vẫn phải phải đành lòng dứt áo. Từ cái khoát nước đêm đó, thế hệ sau của ổng đã bén rễ trên đất Sài Gòn, còn mảnh đất Long An thì thôi không còn là mái che nữa, mà hóa thành một cố nhân xa lắc, thỉnh thoảng mới dám nhớ về trong một cơn mơ đứt quãng.

Tưởng vậy là biệt xứ luôn rồi, ai dè có năm ba tui nhớ quê, nhớ mồ mả ông bà, nhớ mùi khói nhang ngày giỗ đến mức chịu hết nổi, đánh liều mò về. Ổng đâu ngờ tin mình về đã chạy nhanh hơn bước chân, thiên la địa võng giăng sẵn tự đời nào. May sao có đứa cháu phía bên kia mật báo, bà nội liền giả đò xách giỏ đi chợ mua thêm mớ rau la-ghim, rồi lặng lẽ ra đón đường chặn lại. Ba tui đi cùng chú Năm, tánh cẩn thận nên cho chú Năm đi trước dò đường, mình lửng thửng theo sau một quãng. Vừa thấy bóng chú Năm, bà nội liền cất cái giọng "banh nhà lồng" đặc sệt miền Tây - thương thì thương thiệt mà nói nhỏ nhẹ hổng có được, phải la cho cả xóm cùng nghe:
- Thôi! Con đi đám giỗ trên dì Ba đi! Đừng có về nữa nghen!

Chú Năm hiểu ý liền, diễn ngay một câu ăn rơ:
- Dạ con mới ở nhà dì Ba về nè má, xong xuôi hết rồi!

Vậy là chú Năm thủng thẳng theo bà nội vô nhà ăn giỗ, còn ba tui thì lặng lẽ quay lưng, "quất ngựa truy phong" biến mất dạng vào màn sương sớm. Chết hụt lần thứ hai. Từ đó ổng cạch mặt, không bao giờ dám bén mảng về quê nữa. Đến tận lúc tóc bạc, ổng vẫn ôm một dấu hỏi to đùng trong lòng: mình tội tình gì mà người ta cứ đòi rượt giết cho bằng được? Nhà tui chẳng dính dáng chi tới chính quyền, ba tui lúc đó cũng không phải là lính, chỉ là gã trai quê chán cảnh ruộng đồng, thích lên Bà Chiểu chơi cho thỏa cái giấc mơ phố thị nho nhỏ. Vậy mà cái câu triết lý lạnh lùng "thà giết lầm hơn bỏ sót" đã suýt gạch tên ổng khỏi cõi đời này, như nó đã từng gạch tên biết bao linh hồn oan uổng khác - những con người chỉ vì một lời đồn, một ánh mắt, một mối dây mơ rễ má vô tình mà phải trả giá bằng cả mạng sống.

Hơn sáu mươi năm đã trôi qua, nhẹ tênh như một cái chớp mắt của lịch sử, mà nặng trịch như cả một đời người. Giờ tui ngồi đây, cách quê nhà nửa vòng trái đất, vẫn giữ trong lòng hình hài đất nước cong cong chữ S, thương như thương một người cũ chẳng còn dịp gặp lại. Vẫn nhớ những đoạn đường thấm máu và nước mắt cha ông, nhớ cái cách người ta sống sót bằng sự lanh lẹ, bằng vận may, bằng câu nói đầy ẩn ý của một bà má già giữa buổi chợ đông. Ngồi ngoảnh lại, tui chợt hiểu ra: duyên phận giữa người với một mảnh đất, hay giữa người với người, đôi khi chỉ có thể tình cờ gặp gỡ chớ chẳng thể nào cầu xin mà có được. Và có những cánh cửa, đóng lại còn nhẹ nhàng, thanh thản hơn nhiều so với việc cứ đứng hoài ngoài đó, chờ người ta thương tình mà hé ra cho mình hai chữ bình yên.

Chuyện nhà tui, đau thì có đau, điên thì có điên, mà ngẫm kỹ lại vẫn thấy tỉnh cả người - tỉnh như cái đêm ba tui vốc nước sông rửa mặt, tỉnh như câu nhắc tuồng của bà nội giữa chợ, tỉnh như một dân tộc đã đi qua bao mùa gió chướng mà vẫn còn ngồi kể chuyện cho nhau nghe bằng một nụ cười, dù trong nụ cười đó có lẫn cả vị mặn của nước mắt. 

Cảm ơn những người đã nằm xuống, cảm ơn ba tui nửa đêm mò mẫm lội đập về nhà, nín thở trốn dưới hàng dừa nước, cảm ơn mái chèo của thím Tư, cảm ơn sự nhanh trí, phối hợp nhịp nhàng của bà nội và chú Năm để giành lại một hơi thở cho thế hệ sau. Nhờ những bước chân run rẩy ngày ấy, hôm nay tui mới có chỗ mà ngồi kể lại chuyện xưa.

Mà nói thiệt, đọc tới đây rồi, bà con có thấy trong lòng mình cũng nhúc nhích chút đỉnh không? Hay là mỗi nhà, mỗi xứ, cũng từng cất giấu một cuộc chạy trốn lịch sử ly kỳ y chang vậy, chỉ chờ có dịp mở miệng ra kể?

Hong Khuu





No comments:

Blog Archive