Sunday, April 2, 2017

Từ Jane Fonda Tới Thích Nhất Hạnh, Những Kẻ Phản Bội Không Sám Hối.

Sơn Tùng

Jane Fonda sẽ được Tổng thống Obama “vinh danh” khiến giới cựu quân nhân Mỹ lại có dịp bày tỏ sự phẫn nộ của họ đối với kẻ bị họ lên án là “phản quốc” (traitor).


Gần đây, có tin Jane Fonda sẽ được Tổng thống Obama “vinh danh” khiến giới cựu quân nhân Mỹ lại có dịp bày tỏ sự phẫn nộ của họ đối với kẻ bị họ lên án là “phản quốc” (traitor).

Sự phẫn nộ này đã kéo dài hơn 40 năm qua, từ khi cuộc Chiến tranh Việt Nam ở vào giao đoạn ác liệt nhất.

Khi ấy, Jane Fonda, một cô đào điện ảnh chuyên đóng những vai nhục thể ở Hollywood đã trở thành minh tinh trong phong trào được mệnh danh là “phản chiến”, chống việc Mỹ can thiệp vào cuộc chiến tại Việt Nam , nhưng thực sự là tiếp tay cho Cộng sản Hà-nội đánh chiếm miền Nam VN.

Cùng với chồng lúc ấy là Tom Hayden, Jane Fonda không chỉ khuấy động, làm mưa làm gió trên “mặt trận hậu phương” tại Mỹ, cô ta còn tới đất địch, sang tận Hà-nội để công khai ủng hộ đối phương, chống lại tổ quốc, đâm vào cạnh sườn những người lính Mỹ đang chiến đấu tại Việt Nam.

Fonda không chỉ kêu gọi hoà bình, hay phất cờ “giải phóng”, hay rước ảnh “Uncle Hô” trên đường phố Washington D.C. Ngày 21.11.1970, cô ta tới Trường Đại Học Michigan để nói với 2,000 sinh viên tại đây như sau: “Nếu các bạn hiểu chủ nghĩa cộng sản là gì, các bạn sẽ hy vọng, các bạn sẽ quỳ gối cầu nguyện để một ngày nào đó chúng ta sẽ trở thành con người cộng sản” (If you understood what communism was, you would hope, you would pray on your knees that we would some day become communist). Sau đó, tại Trường Đại Học Duke ở North Carolina , cô ta lặp lại những điều đã nói ở Michgan, và thêm:“Tôi, một người theo chủ nghĩa xã hội, nghĩ rằng chúng ta nên cố gắng tiến tới một xã hội xã-hội chủ-nghĩa, trên đường tiến tới chủ nghĩa cộng sản.”

Với đầu óc như vậy, dù đang là một triệu phú nhờ đóng phim nhục thể và kinh doanh tại California, Fonda đã sang Hà-nội vào tháng 7 năm 1972 để công khai đứng vào hàng ngũ với các đồng chí tại Việt Nam. Trong dịp này Fonda đã chụp một tấm ảnh “lịch sử”, “hồ hởi” cười toe toét bên cạnh các binh lính CS Bắc Việt và khẩu cao xạ phòng không hướng lên trời sẵn sàng bắn hạ phi cơ Mỹ. Với tấm hình này, Fonda đã trở thành “hoàng hậu” của phong trào phản chiến tại Mỹ, và cũng bị giới quân nhân Mỹ gọi là kẻ phản quốc, là “Hanoi Jane”. Nhưng chưa hết, cũng trong chuyến sang Bắc Việt nói trên, Fonda đã ghi âm những bài phát thanh để CS Hà-nội dùng làm vũ khí tuyên truyền nhắm vào quân nhân Mỹ, trong đó có những đoạn như sau:

"Tôi muốn công khai buộc tội Nixon là một tên Hitler loại mới với những tội ác đang bị phanh phui. Tôi muốn công khai tố cáo rằng trong khi gây ra cuộc chiến tranh xâm lược tại Việt Nam , hắn đã phản bội tất cả mọi điều nhân dân Mỹ yêu chuộng. Thảm kịch là của Hoa Kỳ chứ không phải của nhân dân Việt Nam , vì nhân dân Việt Nam sẽ sớm thu hồi độc lập và tự do…”

Và: “Với những quân nhân Mỹ đang phục vụ trên các hàng không mẫu hạm tại vùng Vịnh Bắc Việt, những người gắn bom vào các phi cơ nên biết rằng những vũ khí ấy là bất hợp pháp. Và việc sử dụng những quả bom ấy hay dung túng việc dùng những quả bom ấy, là phạm tội ác chiến tranh.”

Và: “Tôi hiểu vì sao người Việt Nam chiến đấu chống lại cuộc xâm lấn của người da trắng kỳ thị. Tôi biết những điều đế quốc Hoa Kỳ đã làm trên đất nước chúng tôi cho nên tôi biết cái gì đang nằm trong kho để đưa tới bất cứ quốc gia nào trong thế giới thứ ba có thể mang sự bất hạnh là rơi vào tay một nước như Hoa kỳ và trở thành một thuộc địa…”

Vì những hành động phản quốc trắng trợn như trên mà Jane Fonda đã bị một số tù binh Mỹ đang bị giam tại Bắc Việt lúc ấy từ chối gặp mặt dù bị VC đánh đập dã man, trong đó có Trung tá John McCain. Theo Ông McCain, chỉ có chừng 8 tù binh Mỹ bằng lòng gặp Fonda và những người trong phái đoàn phản chiến của cô ta như Ramsey Clark, Tom Hayden giúp VC dùng để lừa bịp dư luận quốc tế.

Sau khi Chiến tranh Việt Nam chấm dứt, với hàng triệu “thuyền nhân” chạy trốn hoà bình và những trại tù cải tạo trên khắp nước Việt Nam, một số khuôn mặt “phản chiến” trước kia đã tỉnh ngộ, nhưng Jane Fonda thì không.


Đôi lần Fonda có lên tiếng “cáo lỗi” nhưng chỉ là những lời “chung chung” mà giới cựu quân nhân Mỹ cho rằng “chưa đủ”. Năm 1988, nhân một cuộc phỏng vấn của Barbara Walter trong Chương trình 20/20, Fonda đã chỉ “cáo lỗi” (apologize) với những người đã bị tổn thương vì những hành động “không suy nghĩ” (thoughtless) và “bất cẩn” (careless) của cô ta lúc tuổi trẻ. Năm 1999, Jane Fonda được tạp chí Ladies Homes Journal “bình bầu” là một trong “100 Phụ nữ của Thế kỷ” (100 Women of the Century), và trước làn sóng phản đối của công luận, đặc biệt là giới cựu quân nhân, “Hanoi Jane” cũng chỉ lặp lại lời “cáo lỗi” trống rỗng như trên về tấm ảnh “lịch sử” mà cô ta nói là“một việc kinh khủng nhất tôi đã có thể làm” (It was the most horrible thing I could possibly have done), và không nhắc gì đến những hành động phản quốc khác, như những bài tuyên truyền cho cộng sản, những cuộc tiếp xúc với tù binh Mỹ để CSBV dùng lừa bịp thế giới…

Năm 2005, Jane Fonda xuất bản cuốn hồi ký “My Life So Far” và đi vòng nước Mỹ để ra mắt, quảng cáo, ký tên, bán sách. Tại Kansas City, một cựu chiến binh tên Michael Smith đã xếp hàng chờ trong 90 phút để phun nước thuốc lá nhai trong miệng vào mặt “Hanoi Jane”.

Nếu một ngày đẹp trời nào đó, Jane Fonda được TT Obama “vinh danh”, người ta sẽ lại được chứng kiến cựu chiến binh Mỹ hỏi tội bà ta (nay 73 tuổi) nặng nề hơn.

So với những hành động của Jane Fonda trong thời Chiến tranh Việt Nam, Thiền sư Nhất Hạnh cũng có những điểm tương đồng để đáng được gọi là một kẻ phản bội không sám hối dù có những cái khác nhau: Fonda nhỏ hơn Nhất Hạnh 11 tuổi và lập nghiệp bằng nghề đóng phim nhục cảm ở Hollywood, còn Nhất Hạnh thì chọn cửa Phật làm con đường tiến thân.

Nhờ khoác áo cà-sa và sống ở miền Nam Việt Nam, Sư Thích Nhất Hạnh được miễn dịch ở nhà tu học, trong lúc những thanh niên đồng trang lứa hàng hàng lớp lớp tòng quân lên đường bảo vệ non song, chống lại cuộc xâm lăng từ miền Bắc, có người đã nằm xuống, có người đã trở thành thương phế binh.

Sau khi tốt nghiệp Đại Học Văn Khoa Sài-Gòn, Nhất Hạnh được học bổng sang Mỹ du học. Năm 1964, ông trở về Việt Nam, dạy tại Đại Học Vạn Hạnh một thời gian rồi lại xuất ngoại năm 1966 trong lúc Chiến tranh Việt Nam leo thang ác liệt. Là một người có học và trưởng thành tại miền Nam VN, Nhà sư Nhất Hạnh phải biết nguồn gốc của cuộc chiến tranh ấy và thực trạng đất nước cùng những khổ đau và khát vọng của dân tộc Việt Nam.

Thế nhưng, không biết do những móc nối từ trong nước hay tiêm nhiễm tư tưởng phản chiến tại các trường đại học bên Mỹ, Ông Nhất Hạnh bắt đầu viết sách, viết báo, rao giảng những luận điệu không khác gì Jane Fonda. Cũng đổ tội Mỹ xâm lược Việt Nam và phạm nhiều tội ác, cũng vu cáo chế độ VNCH hiếu chiến, và khen “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” yêu nước và yêu hoà bình. Nhờ chiếc áo cà-sa, nhờ nói và viết tiếng Anh trôi chảy, Ông Nhất Hạnh đã đâm những nhát dao hiểm độc vào quân dân miền Nam Việt Nam, vào chế độ đã ưu đãi, đã nâng đỡ ông để có ngày hôm nay.

Không chỉ diễn thuyết, viết báo, viết sách tại Mỹ để chống Mỹ và chống VNCH, ngày 2.6.1966, Ông Nhất Hạnh còn ra trước Quốc Hội Hoa Kỳ điều trần, nói rằng Mỹ và chế độ VNCH tay sai của Mỹ là nguyên nhân gây ra chiến tranh và những thảm họa tại Việt Nam, và rằng Mỹ đừng can thiệp vào VN nữa thì đất nước xa xôi ấy sẽ có hòa bình.

Khi “hoà bình” đã có tại Việt Nam với chiến xa Liên-Sô tiến vào Dinh Độc Lập ở Sài-Gòn, với hàng triệu người bỏ nước ra đi tị nạn, hàng trăm ngàn người khác bị đày ải trong các trại cải tạo, tôn giáo bị đàn áp, trong đó có Phật giáo, thì Thiền sư Nhất Hạnh không một lời phản đối, lập ra Làng Hồng, rồi đổi ra Làng Mai, ở Pháp và vẫn tiếp tục rao giảng hoà bình theo kiểu cộng sản, và kết tội “đế quốc Mỹ”.

Ngày 11.9.2001, khủng bố Hồi giáo tấn công nước Mỹ, chỉ hai tuần sau, Ông Nhất Hạnh được các nhóm thiên tả ở Mỹ đưa sang New York để rao giảng hoà bình. Tại một nơi chỉ cách “ground zero” vài khu phố, nơi thân xác gần 3,000 người vô tội bị chôn vùi cùng với tất cả những gì của hai toà nhà chọc trời Trung tâm Mậu Dịch Thế Giới sụp đổ còn âm ỉ cháy, Ông Thích Nhất Hạnh đã lên tiếng tố cáo tội ác của người Mỹ, trong đó có câu chuyện về vụ được gọi là “phi cơ Mỹ bỏ bom hủy diệt thành phố Bến Tre với 300,000 thường dân” trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968. Bài rao giảng này cũng được thuê đăng với giá quảng cáo 50,000 Mỹ kim trên tờ New York Times.

Bài rao giảng này cùng với câu chuyện bịa đặt trắng trợn đã gặp phản ứng mạnh tại những cộng đồng người Việt ở Mỹ khiến Nhóm Giao Điểm phải in một cuốn sách để bênh vực thầy, cuốn “Bản Chất Các Phản Ứng về Bài Giảng của H.T. Nhất Hạnh”, nhưng chỉ làm nổi rõ vai trò của Ông Nhất Hạnh trong các nhóm khuynh tả ở phương tây.

Trong bài “Vạch Trần âm Mưu Đánh Phá Phật Giáo ở Nam Cali”, Ông Trần Chung Ngọc viết: 

“Khi đó Thầy Nhất Hạnh ở đâu? Thầy ở ngoại quốc vì chính quyền miền Nam không cho Thầy về nước từ 1966. Thầy không thể là nhân chứng trong vụ bỏ bom Bến Tre. Vậy Thầy nghe tin vụ Bến Tre ở đâu, chắc chắn phải ở ngoại quốc. Nếu nguồn tin này sai thì đó có phải là lỗi của Thầy hay không?”

Vào thời điểm 2001 thì “vụ bỏ bom Bến Tre” xảy ra đã trên 30 năm mà chưa đủ để Thầy Nhất Hạnh, một người rất thông thái, lại có thừa phương tiện để kiểm chứng và biết sự thật về tin ấy, trước khi rao giảng và công khai kết tội nước Mỹ trước thế giới?

Nhưng cũng trong tập sách ấy, một người khác, Ông Hoàng Nguyên Nhuận, lại cam kết: “Chuyện phải san bằng Bến Tre thành bình địa để cứu Bến Tre trong Tết Mậu Thân là chuyện có thật.” Vì nó do “một thiếu tá Mỹ” nói ra và do Phóng viên Peter Arnett của AP “độc quyền khui ra”.

Chuyện ném bom san bằng cả một thành phố với 300,000 dân cư mà không ai hay biết, phải nhờ một thiếu tá Mỹ “tiết lộ” để Phóng viên Peter Arnett“độc quyền khui ra” với Nhà sư Nhất Hạnh! Còn Peter Arnett thì ai theo dõi báo chí đều biết là một nhà báo thiên tả nổi tiếng trong thời Chiến tranh Việt Nam chuyên bịa đặt những tin có hại cho quân đội Mỹ, về sau đã cấu kết với một số người khác dựng đứng ra câu chuyện “Thung Lũng Tử Thần” trên CNN, vu cáo Biệt kích Mỹ dùng hơi độc giết tù binh tại Nam Lào. Trước phản ứng mạnh của quân đội Mỹ với những bằng chứng hiển nhiên, CNN đã phải hủy bỏ bộ phim “tài liệu” láo khoét, cáo lỗi với quân đội Mỹ và sa thải các thủ phạm, trong đó có Peter Arnett.

Tới đây có lẽ không cần phải nói về liên hệ giữa Peter Arnett và Nhất Hạnh, cũng như về giá trị những tin tức do hai người này đưa ra. Nhưng Thiền sư Nhất Hạnh thì không bao giờ nói một lời “cáo lỗi” nào về sự phản bội của ông và về những tin tức bịa đặt do ông tung ra.

Trái lại, như để khẳng định lập trường thiên tả của mình, cuối năm 2005 Thiền sư Nhất Hạnh đã dẫn 100 tăng sinh từ Làng Mai về Việt Nam và được nhà nước cộng sản đón tiếp rình rang, với tán vàng che đầu, với hoa thơm rải trên lối đi, và ông đã tới nhiêu nơi để lập trai đàn, cầu siêu giải oan cho những linh hồn chưa siêu thoát trong chiến tranh, đồng thời lập ra Tu viện Bát Nhã ở Lâm Đồng để cho các tăng sinh từ hải ngoại về tu tập. Nay thì dường như Tu viện Bát Nhã đã bị bọn “xã hội đen” đột nhập cướp phá, và các tăng sinh phải bỏ của chạy lấy người.

Tin mới nhất về Thiền sư Nhất Hạnh là ngày 1.3.2011 vừa qua ông đã được ban biên tập của Nhà Xuất Bản Watkins Books ở London chọn vào danh sách “100 nhân vật đương thời còn sống và có ảnh hưởng về tâm linh lớn nhất trên thế giới”, cũng như Jane Fonda đã được chọn là một trong “100 Phụ nữ của Thế kỷ”.

Ngày nào ông Obama “vinh danh” Jane Fonda thì đừng quên Thích Nhất Hạnh vì hai người có những cái giống nhau: gian dối và phản bội.

Sơn Tùng
NHỮNG KẺ TY NẠN VC TRÁ HÌNH

Mời Quí vị và các bạn nghe người bạn trẻ Thùy Dương nói về những kẻ ty nạn CS trá hình. Theo sự nhận xét của Thùy Dương thì chỗ nào có cộng đồng VNTNCS, chỗ đó có Việt cộng trong link dưới đây:


https://www.youtube.com/watch?v=uWj80b6b9Ik
Cảm ơn người trẻ Thùy Dương nói lên những nhận xét chính đáng, trung thực và sự lên tiếng rất trưởng thành về hiện trạng của CĐVNTNVC tại hải ngoại mà nhiều người tuy biết, vẫn làm ngơ.
VÀI DÒNG TÂM CẢM XIN CHIA SẺ VỚI NHỮNG LÒNG CÒN TRĂN TRỞ VỚI QUÊ HƯƠNG
Ngô Minh Hằng
Thưa Quí Vị và các Bạn,
Sau khi nghe người bạn trẻ Thùy Dương nói về những kẻ ty nạn CS trá hình, Nmh thấy rắt chính xác. Đó cũng là những khó khăn và nỗi đau trong lòng của những ai còn nặng tình quê hương dân tộc. Viết những dòng tâm cảm này Nmh rất đau lòng và mong được chia sẻ với những vị có lòng trăn trở với vận mệnh của quê hương.
Theo sự nhận xét của Thùy Dương thì "chỗ nào có cộng đồng VNTNCS, chỗ đó có Việt cộng". Nmh thấy điều đó không sai. Những tên VC này đã ẩn dưới danh nghĩa người quốc gia, ẩn dưới lá cờ vàng để len lỏi, trà trộn vào các hoạt động của đoàn thể, hội đoàn, đoàn nhóm của người Việt ty nạn CS khắp nơi. Lúc đầu, chúng lấy lòng tin bằng cách chửi CS, cung cấp những nhu cầu mà đoàn thể hay cộng đồng cần. Ví dụ, thiếu người, chúng giới thiệu người gia nhập. Thiếu phương tiện như xe chở người đi biểu tình, chúng bỏ tiền mướn cho vài xe bus. Chúng cung cấp nước uống, thức ăn. Vài lần thế là chúng dễ dàng mua được lòng tin. Sau đó, có lòng tin rồi, chúng mới tiến từ từ đến mục tiêu. Mục tiêu của chúng là gì? Là hoả mù, là đâm thọc, là phá hoại, là chia rẽ, tạo nghi ngờ và hôm nay, nếu nhìn lại các cộng đồng VNTNVC của chúng ta, chúng ta phải thành thật nhận là chúng đã thành công trong việc phá hoại sự̣ đoàn kết của các cộng đồng, các đoàn thể của người quốc gia. Đảng VC ở VN nhưng đã cho chân tay của chúng theo sát ta, ám sát sự an lành và tinh thần quốc gia của những người tị nạn VC chân chính. Điều đó vô cùng dã man, nguy hiểm và thâm độc. Ai im lặng thì thôi, ai quan tâm đến quê hương mà vạch tội ác của VC là bị bọn chúng đánh phá, phỉ báng, gây hoả mù, áp lực cho chán nản mà buông để chúng toàn quyền thao túng. Đó là âm mưu hèn hạ nhưng muôn đời của CSVN. Âm mưu này đã được bọn CS thực hiện từ trước 1975 tại miền Nam VN dưới các danh nghĩa "Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam", "Thành Phần Thứ Ba". Kết quả là gì ? Là chúng đã thành công và miền Nam VN mất nốt cho VC tại bàn hội nghị Paris . Nay cũng vậy, chúng đem chiến thuật này áp dụng tại hải ngoại, vào các cộng đồng VNTNVC của chúng ta. Chúng đã ẩn núp dưới danh nghĩa người quốc gia, dưới đoàn thể này, đoàn thể khác, các cơ quan truyền thông, các diễn đàn người Việt và chúng giả vờ chống cộng. Nỗi đau và bất hạnh của người VNTNVC là chúng ta cả nể. Có biết hành tung của chúng hay của những kẻ che giấu dẫn dắt chúng nhưng vì muốn được YÊN THÂN nên chúng ta IM LẶNG, lơ đi. Vì thế, chúng được đồng bọn là bọn VC ty nạn CS trá hình - chữ của Thùy Dương - và một số trở cờ, vong thân, giúp sức, che chở, đưa đường dẫn lối cho chúng an lành phá hoại. Đến nay, cộng thêm với sự lạm dụng luật pháp tự do ngôn luận, tự do phát biểu tư tưởng của các nước dân chủ, chúng đủ mạnh để xuất đầu lộ diện thách thức cộng đồng TNVC chúng ta bằng đủ mọi trò chúng có thể làm như biểu tình chung với CS, đưa ca nô đến hát mua vui, tổ chức những đại hội v..v... Chúng đã an lành vươn dài tay và đã thọc vào, không bóp nát thì thao túng, cầm đầu phần lớn những cộng đồng VNTNVC tại hải ngoại. Chúng không từ cả thủ đoạn thâm độc dã man là lợi dụng, là xúi giục lớp trẻ lên tiếng khinh thường lớp cha anh chú bác, lăng mạ anh hùng, danh nhân trong lịch sử VN ta. Chúng dùng tiếng nói của những người trẻ hơn gây khó khăn trong việc chống cộng sản của chúng ta. Thưa, có đúng thế không ???
Nmh nhận thấy sự nhận xét của người trẻ Thùy Dương về thực trạng cộng đồng VNTNVC tại nước ngoài rất tinh tế, chính xác và sâu sắc. Chính bản thân Nmh cũng trải qua những kinh nghiệm này, không phải một hai tháng mà rất nhiều năm. Dù Nmh chẳng hề động chạm tới cá nhân ai, chỉ dùng thơ kể tội ác VC mà Nmh cũng trở thành một trong những nạn nhân bị "Những Người Quốc Gia Chống Cộng" vùi dập, vu cáo, dựng tội, phỉ báng, lăng mạ, tố khổ và khủng bố tinh thần trên nhiều Diễn Đàn liên tục mười mấy năm . Chúng không chỉ khủng bố một mình Nmh mà con cháu, gia đình của Nmh chúng cũng kéo ra phỉ báng luôn. Chúng không từ cả thủ đoạn bất nhân, tráo trở là lái việc đánh phá Nmh sang chuyện cá nhân, tình ái để hoả mù những người nhẹ dạ. Chúng chỉ mới dừng lại vào giữa năm 2016 vì chúng có những khó khăn vướng mắc riêng và vì nhiều người đã nhận biết chúng là ai sau khi 3 emails luân chuyển trong nội bộ bị lộ ra ngoài.
Riêng Nmh, mục đích duy nhất để Nmh có mặt trên DĐ là để góp tiếng tố cáo những việc làm bất lương của VC và bè lũ với đồng bào để hy vọng trong nước, những người sinh sau 1975 biết rõ bản chất tàn ác tráo trở của VC mà đứng lên, tự cứu bản thân và cứu nước. Và hy vọng ở hải ngoại, tuổi trẻ VN sáng suốt, đừng lầm lẫn để làm một "Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam" hoặc "Thành Phần Thứ Ba" như lớp anh cha trước 1975 đã làm. Còn việc VC và tay sai ném đá giấu tay hay thuê mướn côn đồ bôi xấu cá nhân Nmh, Nmh không coi là quan trọng nên Nmh không hề phản biện. Nmh tin rằng SỰ THẬT không bao giờ che giấu mãi được và những vị thức giả thầm lặng đã trải qua biến cố đau thương tháng Tư năm 1975, có đọc những tin tức kiểu Tăng Sâm cũng dư sáng suốt, công tâm và kinh nghiệm để phân biệt Quốc cộng, thực hư, đen trắng.
Hiện tại, quê hương VN đau thương của chúng ta đang đi vào giai đoạn quyết liệt, dầu sôi lửa bỏng và cực kỳ nguy nan bên bờ địa ngục. Nước Việt Nam CÒN HAY MẤT là do chính dân tộc VN ta, đồng bào VN ta ở tại VN phải can đảm đứng lên đối đầu và quyết định. Người VN ở hải ngoại chỉ có thể hết lòng hỗ trợ bằng tinh thần và nếu có thể, tiền bạc. Nếu người dân VN quốc nội sợ đổ máu, không đồng loạt đứng lên giải thể chế độ VC bất nhân bán nước thì đất nước VN sẽ về Tàu, con cháu sau này sẽ đắm chìm trong nô lệ và TẤT CẢ MỌI NGƯỜI VN TRONG NƯỚC SẼ CHẾT TỪ TỪ. VN sẽ không còn trên bản đồ thế giới và dân tộc VN sẽ tuyệt chủng !!! Đấy là SỰ THẬT. Thật như mặt trời, thật như mặt trăng, thật như nỗi đau hiện tại mà VC đã gieo rắc lên quê hương dân tộc VN ta gần một thế kỳ nay !!! Thời thế không cho đồng bào quốc nội nhiều thời gian nữa đâu. Tự do không ai cho không. Chúng ta phải đổi nó bằng máu.
Đảng CSVN có hơn bốn triệu tên. Dân VN hiện nay là gần 90 triệu người. Vì không có chính nghĩa và tàn ác, CSVN rất sợ dân nổi dậy đồng loạt hỏi tội chúng và chúng biết chắc chúng sẽ thua nên đã dọn sẵn con đường thoát thân và thoát của. Vì thế, ở các nước tư bản, nhất là "đế quốc Mỹ", 'kẻ thù" của chúng, mà chúng mua nhà, đưa con cháu gia đình sang đợi sẵn. Ở nhiều nhà băng ngoại quốc, chúng giấu tiền. Chỉ cần MỘT TRIỆU dân đứng lên đòi quyền sống thì đảng VC sẽ thành tro ! TRƯỚC, phải do chính người dân VN trong nước đứng lên chống lại đảng độc tài VC thì SAU ĐÓ, thế giới thấy ta có chính nghĩa, sẽ giúp chúng ta. Nhà ta cháy, ta phải chữa cháy cho ta trước chớ chúng ta không thể NGỒI YÊN nhìn nhà cháy rồi mong hàng xóm chữa cháy giúp chúng ta !!!!
Nguyện cầu Hồn thiêng Sông Núi dẫn dắt dân tộc VN đồng loạt đứng lên, nêu cao chính nghĩa và gìn giữ non sông VN qua Đại Nạn này.
Cảm ơn những vị đã kiên nhẫn đọc và chia sẻ cảm nghĩ của Nmh.

Trân trọng,
Ngô Minh Hằng
Lacey, my darling!

TT Thành, WA

Tôi được biêt Lacey thân yêu của tôi từ đầu năm 1992 khi vừa mới đạt chân lên đất Mỹ này. Lacey đã nồng hậu tiếp đón tôi khi tôi chân ườt chân ráo bắt đầu lại cuộc đời ở tuổi hơn bốn mươi sau nhiều bị năm tù đày khổ sai trong trại cải tạo.

Nhờ sự giúp đỡ của một người bạn trẻ tốt bụng cùng ở trại tỵ nạn Galang tên Nh., tôi đã sớm được trở lại học đường tiếp tục theo đưổi ước mơ của mình thuở nào. Ngay từ đầu Lacey đã mở cho tôi nhiều cơ hội và dịp may để có dịp hòa nhập vào cộng đồng nơi mình đang ở. Tôi được thân nhân của Nh. cho ở tạm trong gia đình để chuẩn bị cho cuộc sống ra riêng sau này. Những tín hữu của tôi ở địa phận cũng đã tới viếng thăm và ủy lạo với tấm nồng hậu chân tình. Sáu tháng sau tôi ra share phòng với Nh. và người bạn trẻ cũng ở Galang cùng tên để tiếp tục vừa đi học vừa đi làm cỏ cuối tuần với Nh. Hai anh em, cùng đi học cùng trường và cuối tuần cùng đi làm cỏ để kiếm thêm tiền tiêu xài.

Ở trường học tôi được sụ thông cảm và trợ gíúp chân thành của các giáo sư trong chương trình. Đặc biệt là bà Carol, giáo sư vể môn nghệ thuật họa đã dành cho tôi nhiều cảm tình và vẫn kéo dài mối thâm tình này mãi cho đến ngày hôm nay. Điều làm cho chúng tôi đáng nhớ là Noel nào tôi cũng có quà của bà Carol cho cả hai tôi, không thiếu một năm nào. Trong số những nơi tôi đi làm cỏ vào cuối tuần trong nhiều năm có hai ông cụ bà trước kia là cô thầy về hưu đã xem tôi như người thân và liên lạc với tôi cho đến ngày ông bà mất. Trong số khách hàng ở Lacey còn có ông bà Elliot, “Người Mẹ Hoa Kỳ” của tôi, có lòng từ tâm cho tôi về ở chung để phụ chăm sóc việc nhà cho đến ngày ông bà ra đi vĩnh viển.

Khi làm việc trợ huấn ở trường dạy cho trẻ em ngưòi da đỏ tôi cũng được nâng đở và hổ trợ trong việc làm của ông và bà hiệu trưởng cùng các thầy cô đồng ngiệp. Năm hai ngàn khi vợ tội được bảo lảnh sang, thầy cô ở trường tổ chức riêng tiếp đón nồng hậu gây thạt nhiều xúc động cho hai cúng tôi. Cũng trong tinh thần thân ái tương trợ, các tín hữu của tôi cũng đã tổ chức tiệc đón mừng và tặng chúng tôi nhiền vật kỷ niệm và một thẻ tặng gift card ba trăm đồng. Chúng tôi đã dùng cái gift card này ra chợ Fred Myer mua cái TV hiệu Philips mà chúng tôi vẫn còn xài mãi cho đến ngày hôm nay.

Lần tôi bị nằm bệnh viện vì tuyến tiền liệt bị biến chứng, bà Melissa, một tin hữu khác, đã mua những vật dụng y khoa tôi cần. Bà đến thăm và biếu một trăm đồng tiền mặt. Lùi về hơn hơn hai mươi năm về trước, khi tôi mới vừa học xong hai năm thì bà Charlotte cũng người trong họ đạo đã tặng thưởng tôi một món tiền thật là lớn để chúc mừng.

Tôi có bạn cả Việt lẫn Mỹ. Những người bạn ở Lacey của tôi là những người chân thật mà tôi rất quí mến. Lúc tôi còn độc thân ở trong khu chung cư thì ở căn dưới có anh Khánh, cựu sĩ quan trợ y, xem tôi như người em. Hai anh em thường hoà đàm với nhau rất tương đắc không khác nào như Bá Nha và Tử Kỳ. Phải công nhận anh là tay mandolin hạng cừ. Lúc nào có món gì chị Khánh nấu ngon anh đều kêu tôi xuống mang về ăn. Khi tôi đi thi quốc tịch anh đi theo tôi để yểm trợ tinh thần. Chẳng may anh mất ngày chuẩn bị dọn vào căn nhà mới… Có người tôi gọi điện thoại chuyện trò mỗi ngày như anh Tâm. Có ngưòi tôi đến nhà chơi ăn cơm trưa vào cuối tuần như anh chị Thái trước kia và mới đây là anh chị Kiệt hay lâu hơn nữa về trưóc là anh chị Tiết, anh chị Được.

Trong khu xóm tôi ở có anh Th., cưụ sĩ quan Quân Cụ, và là người thợ sửa xe kỷ lưởng, tận tâm lúc nào cũng sẵn sàng gúp tôi khi xe bị bất cứ vấn đề gì. Anh còn giúp tôi sửa chửa lặt vặt trong và ngoài nhà, thật đúng như tinh thần “nhứt cận thân, nhì cận lân”. Khu tôi ở chỉ có hơn mười căn nhà, từ bên ngoài vào là nhà của ông bà cụ Joe và Betty. Ông Joe rất nhân hậu và tốt bụng lúc nào cũng sẵn sàng giúp đở mọi người trong khu xóm. Vào muà hè mấy năm trước khi ông bà còn khỏe, tôi thường ra ngồi nói chuyện với ông trước sân nhà. Lần tôi triển lãm tranh ở trường college có mời ông đi theo dự. Mới năm rồi khi tôi bị đi cấp cứu vì cái tuyến tiền liệt trở chứng thì ông đã cấp tốc chở tôi đi thẳng đến nhà thương khi vợ tôi chưa về kịp.

Bên trái nhà tôi là vợ chồng anh Gerry, một người ít nói, rất hiền lành, từ tốn và sẵn sàng giúp ở khi tôi việc nhờ. Hai vợ chồn có hai đứa con trai, đứa lớn đi làm xa, đứa nhỏ vừa mới lấy vợ và ra ở riêng. Nathan, anh con trai lớn, tóc để dài, khỏe mạnh và tướng đẹp như một dũng sĩ Hy lạp, tính tình rất cởi mở và thân thiện. Lần nào tôi phải di chuyển những vật nặng đều sang nhờ Nathan là anh nhanh nhẩu giúp không một chút phiền hà dù là đang bận. Câu nói đầy chân tình của Nathan làm tôi ghi nhớ mãi là: “Chú đã rất thân thiện với ba tôi nên tôi không nề hà việc gì khi chú cần.” Thật là còn gì quý hơn tình láng diềng đậm đà này phải không thưa các bạn.

Bên phải tôi là nhà của ông Duanne, nhân viên bưu điện đã về hưu. Bà vợ là giáo viên chết vì bịnh cách đây đã nhiều năm. Ông này tính tình khô khan, trông bề có vẽ khó khăn nhưng thực ra ông chỉ là một người sống theo nguyên tắc. Tuy không mấy thân thiện nhưng tôi và ông vẫn chào hỏi nhau mỗi khi thấy mặt. Tôi còn nhớ có lân căn nhà mé ngoài mặt đừơng có cái tủ bán sale, tôi đã thử nhờ ông đem xe truck ra chở dùm. Ông nhận lời ngay Hiện nay ông có bà bạn gái khác và hai người thường đi chơi xa và thường nhờ tôi trông chừng dùm nhà nếu có kẻ lạ bén mảng.

Cách nhà ông Duanne một căn là nhà của anh người Cam bốt làm chung chỗ với vợ tôi. Con anh ta làm cho hảng Boeing và bỏ tiền down ra mua cho vợ chồng và mấy đứa con nhỏ của anh ở. Anh này tính tình vui vẻ, xuề xoà và giao tiếp rất rộng trong cộng đồng người Cam bốt của anh. Mỗi khi có lễ lộc hay tiệc tùng là có tới hơn hai mươi chiếc xe của bạn bè tụ đến, tưng bừng ăn lể lạc. Có lần vì quá chín giớ đêm mà nhậu nhẹt om sòm làm căn nhà người Mỹ đối diện quá đổi bực mình dọa sẽ kêu cảnh sát tới cả đám mới chịu tan hàng! Nói chung thì anh ta rất hề hà, chịu nói đùa, tán gẫu những chuyện bù khú với tôi.

Ra khỏi con đưòng trong khu tôi ở quẹo trái chạy chừng mươi phút thì thì có “con đường mang tên em” Lacey thân yêu của tôi nằm trong “khung trời đại học” của trường Saint Martin University. Tôi luôn rẽ vào con đường quen thuộc xuyên qua khuôn viên của trường vừa ít xe lại có nhiều sinh viên tản bộ - làm tôi nhớ đến hình ảnh thời mình còn đeo ba lô đến trường - để đến thư viện là nơi mà tôi thường ghé qua để đọc sách và lên mạng để tìm tòi. Ở thư viện, tôi làm quen với nhân viên Việt và Mỹ và được họ giúp đở thật nhiều trong việc mở mang thêm kiến thức nhờ máy vi tính.

Sau khi đọc sách, trả lời emails xong, nếu là thứ bảy thì tôi chạy đến chợ thực phẩm Á Đông H.P. để lấy tờ Việt Báo và tờ Người Việt N.N. ở địa phương về đọc cuối tuần, nhứt là các bài viết cùa anh N.X. Nghĩa và trang Viết về Nước Mỹ. Nếu trời tốt, tôi khóa xe đi bộ đến chợ Fred Myer các đó chừng mươi phút để mua bánh mì Pháp và hạt oatmeal cùng các loại rau quả khác. Ở Lacey còn hai chợ của người Á châu nữa cũng được với những đăc sản mà đồng bào ở điạ phương này ưa thích. Đến trưa, có khi tôi lái xe đến nhà anh chị Thái, và mới đây, nhà anh chị Kiệt để ăn trưa, chuyện vản rồi về nhà. (Rất buồn là anh Kiệt bị bạo bịnh qua đời đã hơn một năm.)

Ở kế Lacey còn có chợ Nông Gia thuộc điạ phận của thủ phủ tiểu bang là Olympia, nằm cạnh bến du thuyền đậu. Đây là một thắng cảnh thu hút các du khách từ các tiểu bang khác đến với những sản phẫm tiểu thủ công nghệ, hải nông sản điạ phương và thức ăn của nhiều nước kể cả món mì xào gỏi cuốn Việt Nam. Chợ còn có nhạc sống đủ thể loại vào cuối tuần của mùa hè.

Lacey còn là nơi mà vào tháng sáu mỗi năm, cá salmons tụ tập, chen nhau bơi ngược dòng vào các sông rạch nơi mình đã sinh nở khi xưa trong vùng để đẻ trứng rồi chết rã xác khi làm xong nhiệm vụ truyền giống thiêng liêng.

Lacey hiền hoà và rất là giản dị. Ở nơi em không có những hào nhoáng và dập dồn của một đô thị xô bồ. Đúng theo câu nói “nhỏ như cái lỗ mũi”, em rất hợp với cuộc sống trọng cuộc sống an bình của người trên tuổi sáu mươi. Cho nên “dù cho đi đó đi đây” tôi vẫn nhớ và mong mau trở lại với người em thân yêu Lacey của mình mà trên hai mươi năm rồi tôi và em đã khắn khít với nhau như hình với bóng. Do vậy mà tôi muốn nói với Lacey thân yêu của mình là:

Dung thân ở cuối cuộc đời

Lây xì (Lacey) mở rộng vòng tay đón mình.

Thành Trương

Mua Dùm, Ăn Dùm Và Để Nhớ...




Bạn chị Ngà thăm quê hương mới trở về, kể là “sao bây giờ họ giàu quá trời quá đất, giàu không thể tưởng tượng được. Nghe họ nói chuyện toàn bạc tỷ, xài đô la Mỹ, đeo hột xoàn lóng lánh… Dọc đường về lục tỉnh không còn thấy đồng ruộng ao hồ gì mà toàn là villa…

Chị Ngà cười, nói:

- Mà tôi cá với chị nghe, người nghèo thì vẫn nghèo như thường.

Bà bạn gật đầu nói:

- Ờ, đúng. Vô phía trong chút thì thấy mái lá xập xệ. Có khi một mái lá kẹt ngay chính giữa hai cái nhà lầu năm từng hai bên. Ngoài đường vẫn còn người buôn gánh bán bưng, lội bộ trên con đường có mấy cái siêu thị hay trung tâm buôn bán sang trọng, sang còn hơn nhiều cái Mall bên đây nữa.

Nghe bạn nói làm chị Ngà nhớ về dĩ vãng.

Vào khoảng năm 1966, một buổi sáng tôi đã bước trên con đường trơn trợt bùn, gần cầu Bình Triệu, ngang qua một nhóm chợ chòm hỏm nhà quê, tôi ngó quanh, thấy những gánh rau cải bí bầu xanh um, những nải chuối già chuối sứ chuối cao trên mấy tấm ni lông, nghe có tiếng ai mời: “Cô ơi mua dùm bà đi cô.” Tôi nhìn xuống. Xen giữa những gánh hàng là một cái mẹt và bà lão. Bà đang đưa lên cao, cái gì đó màu nâu nâu. Thấy tôi ngừng lại nhìn, bà cười, móm mém vì thiếu răng, bà tiếp: “Cô ăn dùm bà đi cô, củ chuối nè cô, còn nóng hổi, cô mua dùm bà đi cô, để bà lột cho cô ăn nghe, củ chuối ngọt lắm cô.”


Image result for street market in vietnam
Thiệt tình lúc đó tôi chưa từng biết củ chuối là củ gì, ăn ra sao, và đâu có đói bụng tới mức phải ăn ngoài đường ngoài xá như vậy, nhưng lỡ nhìn ngay ánh mắt của bà rồi, một ánh mắt tha thiết. 

Ánh mắt này tôi thấy lần thứ nhì, hôm trên chiếc xuồng nhỏ xíu do hai chị em bé gái 8 và 12 tuổi, chèo đưa chúng tôi thăm cảnh trí trong hang Trinh Nữ, lúc về ngang qua một chiếc ghe đang núp dưới tảng đá de ra từ một trong hơn ba ngàn hòn, đang chòng chành theo cơn sóng biển của vịnh Hạ Long, mui ghe rách bươm có phơi vài con cá lớn giỏi bằng ba ngón tay chụm lại, và một cụ già ngồi trong ghe nhìn theo, bà bận áo thâm đầu chít khăn mỏ quạ, tôi bắt gặp ánh mắt bà. Bà đã nhìn tôi với ánh mắt buồn, ảm đạm, cô đơn.


Ánh mắt cứ theo tôi suốt bao nhiêu năm, không làm sao quên.

Ánh mắt của bà lão trên con đường đất bùn năm xưa như nói thêm câu nữa “cô làm ơn mua dùm bà đi, bà bán hết những món trên cái mẹt này thì mới có tiền đong lon gạo cho bữa cơm chiều”.

Tôi nhớ đã nhìn cái mẹt nhỏ xiú trước mặt bà lão. Trên ấy có vài nhúm ớt hiểm trái đỏ trái xanh cột thành chùm, vài bó hành lá, vài bó rau húng cây, rau dền, một trái bầu tròn tươi xanh, một trái đu đủ và một mớ củ mà bà đang đưa mời tôi ăn.

Tôi đã mua mà không trả giá và ánh mắt bà vui hẳn lên, vội vàng lột lớp vỏ sần bên ngoài, phiá trong có màu trắng trong trong và hơi thâm thâm. Tôi đón lấy củ chuối từ bàn tay nhăn nheo cằn cổi của bà, đưa lên miệng cắn một miếng, ăn dùm, cho bà vui lòng. 

Lần đầu tiên và cũng là lần duy nhứt tôi biết được cái vị lờ lợ của củ chuối.

Sau gần năm chục năm, nghe nói bây giờ vẫn còn những người gánh gồng bán dạo, tôi nhớ về bà lão bán củ chuối buổi sáng tinh sương ấy. Bà lão và cái mẹt nhỏ xíu với vài món hái trong vườn, chắc chắn là không dám ăn, gom góp lại cẩn thận để đem ra chợ bán, để đổi lấy nhúm gạo nuôi sống gia đình, mỗi ngày.

Khi qua Mỹ, trước cửa mấy chợ Việt Nam hay có những người, thường thường là người lớn tuổi, có những bó rau bó hành, vài loại trái cây, chắc chắn là từ sau vườn hái xuống đem ra bán dạo. Tôi thích mua những bó rau những trái cây ấy, như là mua dùm ăn dùm và để nhớ, để mãi mãi không quên những bà lão, như bà bán củ chuối của ngày xưa tôi đã từng gặp qua và giữ mãi trong lòng.

Bà lão ấy, giống như cái mái lá tả tơi ọp ẹp kẹt giữa hai ngôi nhà năm tầng lầu.

Bây giờ đọc tin trên mạng thấy bên nhà họ bắt đầu cấm bán vĩa hè. Rồi những gánh hàng rong những mẹt rau củ trái cây đi về đâu?

Trương Ngọc Bảo Xuân

Saturday, April 1, 2017

Trận Đánh Saratoga Và Lịch Sử Mỹ




blank
Công viên lịch sử quốc gia.

Trong thập niên 1960s gia đình tôi ở một nơi thôn quê hướng Tây tiểu bang Vermont, nơi có lịch sử khoảng 200 năm. Khoảng 100 thước từ phía Nam nhà tôi có một đài kỷ niệm làm bằng đá granite, nằm kế bên đường đất. Chữ chạm trên đài nói rằng: trong mùa hè năm 1777, một đại binh Mỹ rút lui trốn thoát lực lượng nước Anh đã đi ngang qua chỗ này. Nó làm tôi suy nghĩ là có biến cố nào đưa đến tình hình như thế?

Đến năm 1777 thì chiến tranh Độc Lập Mỹ đã kéo dài hơn hai năm rồi. Dầu cho đã có khá nhiều trận đánh, vẫn không bên nào giành được thắng lợi. Lực lượng Anh biết nếu họ tấn công chia đôi 13 thuộc đia Mỹ, họ có thể giành toàn thắng trong cuộc chiến.

Theo kế hoạch, họ tấn công từ thành phố Montreal (nước Canada) xuống thung lũng Champlain và kết hợp với lực lượng Anh khác tại sông Hudson (hướng Bắc thành phố New York). Cùng lúc đó họ cũng có một đại binh khác tấn công qua thung lũng Mohawk nữa.

Từ Montreal xuống Mỹ phải đi qua hồ Champlain dài hơn 100 dặm, hồ này nằm giữa hai tiểu bang Vermont và New York. Tháng 5 năm 1775 hai ông Ethan Allen và Benedict Arnold (hai người này là tổ tiên của tác giả) đem nhóm du kích gọi là Các Chàng Trai Núi Xanh (Green Mountain Boys) từ Vermont qua hồ Champlain, bất ngờ chiếm lấy pháo đài Ticonderoga. Sau đó, lực lượng Mỹ xây một pháo đài khác bên kia hồ, trên núi Độc Lập. Như thế hai pháo đài này có thể bảo vệ nước Mỹ, chặn đứng những cuộc xâm lăng đi qua hồ Champlain từ phía Bắc.

Mùa xuân năm 1777 một đại binh Anh bắt đầu xuống thung lũng Champlain để thực hiện mục đích chiến lược của họ. Đại binh đó có 7,863 người: 3,724 lính Anh, 3,016 lính Đức, 473 lính pháo binh, 250 người Canada và Mỹ trung tín với nước Anh, và 400 (người) dân tộc da đỏ. (*)

Tại hai pháo đài Ticonde-roga và Độc Lập tổng số lính Mỹ là 2,500 người. Ở gần hai pháo đài đó có một đồi cao 244 thước, rất khó lên được. Một Trung úy Mỹ góp ý là nên bảo vệ đồi đó, nhưng ông tướng chỉ huy lực lượng Mỹ nghĩ rằng không ai kéo súng đại bác lên đó được.

Khi lực lượng Anh xuống hồ Champlain đến gần hai pháo đài Mỹ, ông tướng pháo binh Anh tên Phillips nói rằng “Nơi mà con dê đi được, con người cũng đi được. Nơi con người đi được họ có thể kéo súng đại bác đi nữa.” Ngày hôm sau lực lượng Anh kéo hai đại bác đến đỉnh đồi. Hai pháo đài Mỹ chống lại không được. Khi biết vậy ông tướng chỉ huy Mỹ St. Clair quyết định lực lượng Mỹ phải bỏ hai pháo đài mà rút lui, đêm đó chính là ngày 4 tháng 7 năm 1777.

blank
Tháp Kỷ Niệm tại Saratoga.

Sáng hôm sau lực lượng Anh khám phá hai pháo đài bỏ trống, họ đuổi theo ngay. Lúc đó đại binh Mỹ đã đi theo đường mòn đến tới khu đất của tổ phụ gia đình tôi. Lực lượng Anh đuổi theo gồm có một trung đòan Anh và một trung đòan Đức. Hôm đó nóng nực lắm nên đến 4 giờ chiều họ quyết định ngừng lại nghỉ, dự tính sẽ tấn công vào sáng sớm ngày hôm sau.

Tướng St. Clair để đa số đại binh tiếp tục rút lui, chỉ giữ lại 1,000 lính ở tại làng Hubbardton để chống cự lực lượng Anh đi theo. Chuẩn bị như thế mà họ vẫn bị tấn công bất ngờ vào bình minh sáng ngày 7 tháng 7. Rốt cuộc lực lượng Mỹ bị thất bại trong trận đánh này nhưng họ đã giúp những người đã trốn thoát có cơ hội đánh nhau với lực lượng Anh tại những nơi khác.

Trong khi trận đánh ở Hubbardton đang diễn ra, tướng Burgoyne của Anh đem lực lượng còn lại tiếp tục xuống hướng Nam. Những người lính du kích Mỹ dùng đủ cách để ngăn cản đại binh Anh nên họ tiến rất chậm. Theo kế hoạch của ông Burgoyne, một đại binh Anh khác tại pháo đài Stanwix trong thung lũng Mohaw (New York) sẽ đến ủng hộ, nhưng lực lượng này đã bị thua trong trận đánh ở đó. Vì vậy ông tướng Burgoyne quyết định tiếp tục xuống hướng Nam vì ông ta nghĩ một đại binh Anh khác từ thành phố New York vẫn sẽ lên ủng hộ họ.

Khi tới một nơi hướng đông thị xã Bennington (tiểu bang Vermont) ông tướng Burgoyne quyết định gởi 800 người lính đi lấy ngựa và lương thực ở Bennington. Khi họ gần tới nơi, họ bị phục kích, rất nhiều người lính bị chết, bị thương, hay bị bắt. Như thế đại binh Anh không có lương thực mà lại bị yếu đi một ít nữa.

Sau thảm bại đó ông tướng Burgoyne đem đại binh Anh tiếp tục xuống hướng Nam. Càng đi xa thì càng khó khăn về lương thực. Ông ấy cũng được tin là đại binh Anh ở thành phố New York sẽ không đến giúp đỡ. Như thế họ bị kẹt tại một nơi xa xôi, không có hy vọng được ủng hộ gì cả. Nếu họ quay lại trở lại Montreal thì lại nghĩa là không thực hiện được mục đích

Khi họ tới gần thị xã Saratoga, gặp đại binh Mỹ quá mạnh, họ không tìm cách nào đi qua được. Họ tấn công vài lần nhưng thất bại. Rồi họ rút lui ra xa nhưng không được đi nữa nên từ từ bị bao vây. Không đi đâu được mà càng lâu hoàn cảnh càng khó khăn, lương thực không có nên dần dần họ bị yếu đi. Sau mấy ngày bị bao vây trong khi lực lượng Mỹ pháo kích vô liên tục, ông tướng Burgoyne bắt đầu thương lượng các điều kiện đầu hàng. Đến ngày 17 tháng 10 năm 1777, họ đầu hàng. Đây là cuộc đại thắng của lực lượng Mỹ.

blank
Con tem Hoa Kỳ 1927, kỷ niệm 150 năm trận chiến Saratoga.( Hình ảnh trích từ Wikipedia)

Trong chiến dịch năm 1777 có rất nhiều chi tiết mà tôi không kể đến. Không phải vì những chi tiết đó không hay nhưng vì tôi có mục đích khác khi nhắc đến câu chuyện lịch sử này. Đó là kết qủa chính của thắng lợi của lực lượng Mỹ năm 1777.

Dù nước Mỹ đã tự xưng là độc lập từ ngày 4 tháng 7 năm 1776, cho tới năm 1777, chưa có một nước quan trọng nào xác nhận sự độc lập của Mỹ. Trước trận đánh Saratoga nước Pháp chỉ giúp nước Mỹ một phần nhỏ. Nhưng chỉ ít lâu sau chiến thắng tại Saratoga, nước Pháp bắt đầu thương lượng với nước Mỹ. Kết qủa là Đồng Minh Pháp Mỹ ra đời. Nước Pháp gởi lục quân, hải quân, vũ khí, và lương thực đến vì họ thấy có hy vọng là Mỹ sẽ chiến thắng Anh.

Tại trận đánh quan trọng Yorktown năm 1781 một đại binh Anh bị thất bại khi bị lực lượng đồng minh Pháp Mỹ bao vây và tấn công. Nếu không có sự ủng hộ của nước Pháp trong Chiến Tranh Cách Mạng Mỹ thì nước Mỹ không thể thắng được. Vì chính phủ nước Anh thấy là không thắng được cuối cùng họ ký tên Hoà Ước Ba-Lê ngày 3 tháng 9 năm 1783, và chiến tranh Mỹ - Anh hoàn toàn kết thúc.

Trận đánh Saratoga năm 1777 quả thật rất quan trọng trong lịch sử nước Mỹ.

Tôi ở trên khu đất của tổ phụ, nơi đại binh Mỹ đã đi qua, cho đến gần 15 tuổi. Thủơ nhỏ, thỉnh thoảng tôi lại đi tìm kiếm, mong tìm được vật gì mà các lính Mỹ, Anh, hay Đức đã làm rơi lại trên đường đi. Nhưng tôi không bao giờ tìm được một cái gì hết, có lẽ vì khoảng cách thời gian quá xa. Nhưng hình ảnh của đoàn binh Mỹ vẫn luôn luôn gắn liền với mảnh đất đó và luôn ở trong lòng tôi.

Sáu Steve Brown

(*) Furneaux, Robert (1971), The Battle of Saratoga, Stein and Day/ Publishers/ New York

Hạnh Phúc Đối Diện Tử Sinh


Inline image 1























Hạnh Phúc Đối Diện Tử Sinh
(Plaidoyer pour le Bonheur)

Tác giả Matthieu Ricard 

Matthieu Ricard is a French writer and Buddhist monk who resides at Shechen Tennyi Dargyeling Monastery in Nepal. Matthieu Ricard grew up among the personalities and ideas of French intellectual circles.

Chết tuy xa mà gần. Xa, vì chúng ta nghĩ rằng nó chỉ đến sau nầy mà thôi; gần vì nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào. 

Chết là điều cầm chắc, nhưng lúc nào là điều không ai có thể tiên liệu trước được.

Khi giờ ra đi đã đến rồi thì không một lời lẽ nào có thể thuyết phục bắt nó phải chờ được, không một quyền lực nào đẩy lùi được nó, không có tiền của nào mua chuộc được, cũng như không có một sắc đẹp nào có thể quến được hết.

Như dòng thác chảy ra biển cả,

Như vầng nhật nguyệt khuất dần sau rặng núi hướng Tây,

Ngày cũng như dêm, thời gian và khoảnh khắc đều trốn đi,

Kiếp phù sinh dần dần trôi qua không tiếc nuối.

(Comme le torrent qui court vers la mer,
Comme le soleil et la lune qui glissent vers les monts du couchant,
Comme les jours et les nuits, les heures, les instants qui s’enfuient,
La vie humaine s’écoule inexorablement.)

Padmasambhava. 

Đối với người biết trích lấy tinh chất của cuộc sống thì chết không có nghĩa là sự suy tàn cuối cùng, nhưng là sự kết thúc trong thanh tịnh của một đời sống trọn vẹn: một cái chết êm đềm là kết quả của một cuộc sống tốt đẹp.

Văn hào Victor Hugo đã từng nói: “Sống hạnh phúc thì chết vinh quang” (C’est le bonheur de vivre qui fait la gloire de mourir).

Hãy nhớ đến cái chết để trân quý mỗi giây phút trong cuộc sống hiện tại

Làm sao đương đầu với cái chết mà không quay lưng lại với cuộc sống?

Làm sao nghĩ tới cái chết mà không thất vọng, không sợ hãi cũng như không cắt đứt hết tất cả mọi lạc thú và sung sướng trong đời? 

Etty Hillesum có nói: “Loại bỏ cái chết ra khỏi cuộc đời, chúng ta không thể sống trọn vẹn được, còn chấp nhận cái chết trong lòng cuộc sống, sẽ mở rộng và phong phú hóa cuộc đời của chúng ta hơn.” 

Bởi vậy, cách chúng ta tư duy đến cái chết của bản thân sẽ ảnh hưởng không ít đến phẩm chất của cuộc sống. Có người thì hốt hoảng,nhưng có người thì không màng quan tâm đến nó, và người khác thì ngắm nhìn cái chết như một thực thể không thể tránh khỏi. Thái dộ nầy giúp chúng ta trân quý và tận hưởng giá trị mỗi giây phút đang trôi qua trong cuộc sống.

Cái chết nhắc nhỡ chúng ta phải quan tâm và tránh phung phí thời gian trong những cuộc vui chơi vô ích.

Mọi người đều bình đẳng trước cái chết, nhưng chúng ta khác nhau về thái độ và cách chuẩn bị giây phút lâm chung của chính mình. (Esther)

Tốt hơn hết là chúng ta nên biết cách lợi dụng nỗi lo sợ trước cái chết hơn là có thái độ thờ ơ với nó. 

Chúng ta không sống trong nỗi thù hằn với cái chết, nhưng vẫn phải ý thức về sự mong manh của kiếp nhân sinh. Chúng ta không nên thờ ơ nhưng phải biết trân quý thời gian còn lại trong phù sinh.

Cái chết thường đến bất ngờ mà không cần báo trước: đang có một sức khoẻ tốt, đang thưởng thức một bữa tiệc vui cùng bạn bè trong khung cảnh tuyệt vời, biết đâu có thể đó là lúc chúng ta đang sống những giây phút cuối cùng đời mình.

Chúng ta đành bỏ lại cho người thân, cuộc hàn huyên gián đoạn, dĩa thức ăn lở vỡ và những dự án chưa hoàn tất.

Không có gì để tiếc nuối hết?

Nếu biết lợi dụng tối đa tiềm năng phi thường mà sự sống đã mang đến cho mình, thì tại sao mình phải dày vò tiếc nuối làm chi trước cái chết.

Dù cho thời tiết có ưu đãi hay không đi nữa thì người nông dân nào đã cày, đã gieo mạ, đã chăm sóc và chu toàn vụ mùa rồi thì họ không có lý do gì phải tiếc nuối cả.

Chúng ta chỉ có thể tiếc nuối khi chúng ta chểnh mảng và thiếu sự quan tâm mà thôi.

Người nào biết lợi dụng mỗi khoảnh khắc trong cuộc sống để tự rèn luyện thành một người hoàn thiện hầu đóng góp vào hạnh phúc của tha nhân thì người đó có quyền được chết với tâm thanh tịnh. 

Không còn gì cả

Cái chết cũng không khác hơn gì một ngọn lữa đã tắt liệm, một giọt nước tan thấm vào lòng đất khô cằn. Nếu cuộc phiêu lưu không dừng nơi đây thì chết chỉ là một trạm trong hành trình mà thôi. Như Phật giáo đã nói tâm thức của chúng ta đã từng sống và sẽ còn sống mãi trong vô số kiếp nữa.Vậy khi gần đến phút lâm chung, sẽ không thích hợp nếu chúng ta âu lo là mình sẽ bị đau đớn hay không nhưng cần phải tự vấn là mình đã sẵn sàng chưa trước ngã rẽ quyết định nầy.

Trong tất cả mọi trường hợp, vào những tháng cuối cùng của cuộc đời chúng ta cần phải giữ cho tâm trạng được thanh tịnh hơn là rơi vào trong một trạng thái lo âu. 

Tại sao chúng ta phải dày vò với ý tưởng là phải bỏ lại người thân, bỏ lại tài sản để rồi sống trong sự chán ghét thân xác mình? 

Như Sogyal Rinpoché đã giải thích: “Chết tượng trưng cho sự hủy hoại tối thượng và không tránh khỏi của những gì chúng ta gắn bó nhất: đó là chính chúng ta. Bởi vậy những lời dạy về vô ngã (sans-égo) và bản chất của trí tuệ có thể giúp ích cho chúng ta. Khi đến giờ phút sắp ra đi, chúng ta cần phải giữ cho tâm được thanh tịnh, vị tha và buông xả. Như thế chúng ta tránh được sự dày vò tinh thần và thể xác."  

(“La mort représente l’ultime et inévitable destruction de ce à quoi nous sommes le plus attaché:nous même.On voit donc à quel point les enseignements sur le sans égo et la nature de l’esprit peuvent aider. Il convient donc, à l’approche de la mort, d’adopter une attitude sereine, altruiste, sans attachement. On évite ainsi de faire de la mort une torture mentale autant qu’une épreuve physique”.)

Blog Archive