KỸ NIỆM 50 Năm Của THUYỀN NHÂN VN Tại Úc
* Bản tiếng Việt do cháu Lâm Ngọc Hân tự biên soạn:
"Tuần lễ này có ý nghĩa gì đối với bạn với tư cách là một người Úc gốc Việt thế hệ thứ hai?"
Thưa quý vị và các bạn trẻ,
Là những người Úc gốc Việt thế hệ thứ hai, tất cả chúng ta đều biết những câu chuyện, những đau buồn mà cha mẹ chúng ta đã bỏ lại tất cả: nhà cửa, ngôn ngữ, ước mơ của họ để gói gọn trong một chiếc xách tay đơn giản nhưng chứa đầy hy vọng, để xây dựng điều gì đó tốt đẹp hơn. Không phải cho họ, mà cho chúng ta- những đứa con của họ.
Nhưng cuộc sống không diễn ra theo ý muốn của chúng ta. Cuộc đời tôi chắc chắn cũng đã như vậy.
Ở trường học, tôi là một trong số ít học sinh gốc Á giữa hầu hết những khuôn mặt da trắng. Ban đầu, tôi không nhận ra sự khác biệt, thậm chí tôi còn cho đó là điều tuyệt vời, cơ hội để học hỏi từ các nền văn hóa khác nhau, chia sẻ những câu chuyện qua những hộp cơm trưa và dự án nhóm. Nhưng dần dần theo thời gian, sự xấu hổ len lỏi vào trong tôi như một cơn sóng chậm rãi. Tôi bắt đầu mặc cảm về thức ăn, gia đình, và cả tiếng Việt của mình. Tôi thấy những cuốn chả giò của mẹ héo úa dưới cặp mắt của mọi người ở sân chơi. Tôi nhăn mặt lại khi nghe tiếng Anh ngập ngừng của cha mẹ vang lên trong các trung tâm mua sắm. Cuối cùng, tôi cố gắng che giấu tất cả. Nếu chôn dấu được thật sâu, có lẽ không ai nhận ra sự khác biệt và chính tôi cũng sẽ quên đi điều đó.
Nhưng ở nhà, không thể giả vờ.
Cha mẹ tôi gặp khó khăn với tiếng Anh, nên trông cậy vào tôi. Một người con gái tuổi vị thành niên, vẫn đang cố tìm từ ngữ cho cảm xúc của chính mình, giờ phải dịch các tài liệu thuế, thư từ chính phủ, thậm chí cả các buổi họp phụ huynh. Nhưng, tiếng Việt của tôi cũng không trôi chảy. Tôi nhớ những khoảnh khắc nặng nề giữa chúng tôi khi tôi không tìm được từ ngữ chính xác. Cảm giác nặng nề. Sự xấu hổ khi thất bại trong cả hai ngôn ngữ cùng một lúc.
Tôi không cảm thấy mình là người Úc và cũng không cảm thấy là người Việt. Vậy, TÔI LÀ AI?
Tôi nhớ một ngày, cô giáo tiểu học hỏi tôi có học tiếng Việt vào cuối tuần không. Tôi nói có, dù thật lòng, tôi muốn bỏ học mỗi tuần. Nó thật mệt mỏi. Nhưng cô ấy mỉm cười và nói: “Hãy tiếp tục. Một ngày nào đó, em sẽ dùng nó để làm điều tốt đẹp.”
Cô ấy đúng. Tôi đã làm được những điều tốt đẹp như cô đã khuyên.
Đó là tại sân ga, khi một người tị nạn Việt Nam lớn tuổi hỏi tôi đường đi. Đó là trên xe buýt, khi một người đàn ông đưa tôi đơn xin việc làm nhờ xem lại. Đó là sau quầy thu ngân, khi chuyển sang tiếng Việt, khuôn mặt của khách hàng vui hẳn lên khi nghe tiếng mẹ đẻ.
Và đó là ngay bây giờ, khi tôi đang nói với các bạn, giữa hai thế giới, bằng cả hai ngôn ngữ, và bằng chính ngôn ngữ của tôi.
Tôi đã mất một thời gian dài để hiểu ra điều này: Tôi không phải là “một nửa” của bất kỳ bên nào.
Tôi không “lạc lối” giữa hai nền văn hóa.
Tôi là cây “cầu” giữa hai văn hóa, mang tên "người Úc gốc Việt".
Và đó là điều đáng được vui mừng.
Tuần lễ Tị nạn, đối với tôi, không chỉ là để tôn vinh lòng can đãm của những người vượt đại dương, vượt rừng sâu núi thẩm tìm kiếm sự an toàn mà còn có ý nghĩa về những đứa con được nuôi dưỡng, những người lặng lẽ mang nỗi sợ hãi của cha me và khi khôn lớn có thể dịch được nhiều thứ trừ nổi đau của chính mình.
Chúng ta là thế hệ ở giữa. Chúng ta không chỉ chuyễn dịch ngôn ngữ, mà còn chuyễn dịch những gì đang xảy ra chung quanh c.
Chúng ta lớn lên vừa bằng giấc mơ của cha mẹ chúng ta, vừa bằng giấc mơ của chính mình, không biết là mình nên đeo đuổi giấc mơ nào.
Hiện nay chúng ta đang ở đây, chúng ta đang có những đóng góp không phải bị bắt buộc mà vì xã hội này cho chúng ta cơ hội được đến đây và phải nói thêm tôi sẽ không có mặt ở đây nếu không có cuộc hành trình tìm tự do của cha mẹ tôi.
Tôi biết ơn và mang ơn cha mẹ những người đã có những mơ ước mãnh liệt và làm việc không ngừng nghỉ. Những người xây dựng tương lai cho con cháu mà không cần có đặc quyền để tôi có được đặc quyền đó là quyền mơ ước.
Tôi tin rằng những ai dám mơ ước và có mơ ước đều xứng đáng có một vị trí ở đây và
Chúng ta không dừng lại ở đây vì GIẤC MƠ KHÔNG CÓ BIÊN GIỚI.
Cám ơn quý vị và các bạn.
English version
"What does the Refugee Week mean to you, as a second generation Vietnamese Australian?"
***
As second-generation Vietnamese Australians, we all know the story, how our parents left everything behind: their homes, their language, their dreams, packed tightly into a suitcase of hope, to build something better. Not for themselves, but for us. For their children.
But life doesn’t unfold in straight lines. Mine certainly didn’t.
At school, I was one of the only Asian kids in a sea of white faces. At first, I didn’t notice the difference. I thought it was beautiful, even, this chance to learn from different cultures, to share stories over packed lunches and group projects. But over time, the shame crept in like a slow tide. I grew embarrassed of my food, my family, my Vietnamese. I watched my mother’s rice paper rolls wither under stares in the playground. I winced at the sound of my parents’ broken English echoing in shopping centres. Eventually, I tried to hide it all. If I buried it deep enough, maybe no one would see I was different. Maybe I could forget, too.
But at home, there was no pretending.
My parents struggled with English, so they turned to me. A teenage daughter, still trying to find the words for her own feelings, now tasked with translating tax documents, government letters, even parent-teacher interviews. But my Vietnamese wasn’t fluent either. I remember the silence that would hang between us when I didn’t know the right word. The weight of it. The shame of failing in two languages at once.
I didn’t feel Australian. I didn’t feel Vietnamese.
So who was I?
I remember one day, my primary school teacher asked if I was studying Vietnamese on the weekends. I said yes, though truthfully, I wanted to quit every week. It was exhausting. But she smiled and said, “Keep going. One day, you’ll use it for good.”
She was right. I did. But she was wrong about one thing, it wasn’t just one day.
It was on the train platform, when an elderly Vietnamese refugee asked me for directions. It was on the bus, when a man handed me his resume and asked for help finding work. It was behind the cashier’s counter, when customers switched to Vietnamese, their faces lighting up at the sound of their mother tongue spoken back to them.
And it is here, now, as I speak to you, between two worlds, in both languages, and in my own.
It took me a long time to understand this: I am not “half”of either.
I am not lost between two cultures.
I am the bridge.
I am Vietnamese Australian.
And that is something worth celebrating.
Refugee Week, for me, is not only about honouring the courage of those who crossed oceans and borders in search of safety. It’s also about the children they raised, the ones who carried their parents’ fears in silence, who grew up translating everything but their own pain, who grew up speaking two languages and still struggled to be heard.
We are the in-between generations. We translate not just words, but worlds.
We grew up holding our parents’ dreams in one hand and our own in the other, never sure which to chase.
But we are here. And we give back, not because we have to, but because our communities made us who we are. I would not be here today without my family.
I owe everything to a pair of immigrants who dreamed wildly and worked tirelessly. Who built a future without privilege so that I could have the privilege to dream.
And I believe that anyone who dares to dream deserves a place here too.
Because dreams don’t have borders.
And they don’t end here.
-- Ngoc Han Lam -----
No comments:
Post a Comment