Sunday, February 1, 2026

Ngày Tết Xưa Và Nay

 
Tết đến Xuân về lại gợi biết bao nỗi nhớ nhung về những tập tục truyền thống của những cái Tết nơi quê nhà, từ những cái Tết rất xưa cho đến cận 1975, từ làng quê cho đến thành thị. Trong hoàn cảnh ly hương, ăn Tết không trọn vẹn, hãy cùng nhau làm sống lại những truyền thống của những ngày Tết, ngày Xuân thơ mộng, như ý của thuở nào, đồng thời giải bày với nhau những bâng khuâng, vương vấn:

Thu đã qua và Đông, cũng sang
Lá bay chôn hết nắng tơ vàng,
Heo may khiến lạnh lỏng ly xứ,
Ôi biết xuân nào vui cố hương. Ái Trinh

Ta ngẩn ngơ, bắt chước Yên Lan nữ sĩ mà khẻ hỏi:

Quê tôi chốn cũ hẳn lên hoa
Cảnh có như người nhớ chốn xa
Ngõ trước vườn sau đành vắng vẻ
Nhà xưa lối cũ hẳn phôi pha.

Dù gì đi nữa, nơi xứ người làm sao có thể mừng Xuân, vui Tết được khi thiếu tất cả, thiếu cái hồn Việt Nam, thiếu tình non nước, thiếu hương vị quê hương, thiếu cả những người thân yêu:

Xuân lại về đây, Xuân đến đây
Mênh mang thương nhớ vóc mai gầy...

Trong cái phôi pha mờ nhạt đỏ, người Việt tha hương phải cam chịu những mất mát không gì đến bù lại được. Đành rằng ở đây, nếu bạn muốn cũng có áo gấm, mai đào, bánh chưng, giò lụa, pháo đỏ, rượu nồng. Nhưng chỉ là để thay thế tạm bợ, giả yờ như là thật. Chính điều đó làm chúng ta hâm hực và ngậm ngùi nhớ lại những mùa xuân xưa ngạt ngào hương vị và đậm đà ý nghĩa ngày Tết Nguyên Đán nơi quê nhà.

Có những mùa Xuân thật xa xưa và có những mùa Xuân không xa lắm trước năm 1975 còn như luẩn quẩn phảng phất đâu đây trong tâm trí chúng ta:

Xuân đã nở trên cành mai chớm nụ
Tết đã về theo tiếng pháo nhà bên
Gió giao mùa nhè nhẹ động chân rèm
Tình non nước lắng trong hồn vũ trụ. Lê Sử

Và nếu nói về một mùa Xuân xưa thật xưa thì phải nhắc đến bài thơ Tết Xưa:

Tết về nhớ bánh chưng xanh
Nhớ tràng pháo chuột, nhớ tranh lợn gà
Nhớ cành đào thắm đầy hoa
Nhớ giây phút đợi giao thừa trang nghiêm

Nhớ ngũ vị, nhờ che lam
Nhớ cây nêu, nhớ khánh vang, tiếng sành
Nhớ tam cúc Tết, nhớ mình
Nhớ cân mứt lạc, nhớ khoanh giò bì. Bàng Bá Lân

Và nhất là những cái Tết ở làng quê, nơi đầy ắp những phong tục cổ truyền dân tộc. Nói như thế không phải là khi xưa thành thi không ăn Tết, "Tết chẳng riêng ai khắp mọi nhà..." nhưng ở thành thị sống xa hoa sung sướng theo lối tây phương, dần dần cũng mất đi ít nhiều những tập tục dân gian ngày Tết, khác với thôn quê vẫn còn bảo tồn những gì tiêu biểu của ngày Tết tự ngàn xưa.

Người dân quê hồi xa xưa đó chuẩn bị ăn Tết thật chu đáo từ cả tháng trước ngày lập Xuân. Các phiên chợ tháng chạp bao giờ cũng động vui nhất, hàng mật, hàng đường, lá dong, hàng mã đủ màu ngồi từ ngoài cổng vào đến các gian hàng bán chậu kiểng, hoa tươi, tranh tứ quý, câu đối treo phất phơ đu đưa theo gió, bên các ô mứt ngũ sắc thật vui mắt. Vịt, gà, heo, thực phẩm tăng cương ê hề khỏi nói, ai nấy đều sắm sửa để vui chơi trong ba ngày Tết.

Chẳng phong lưu cũng ba ngày Tết
Kiết cú như ai cũng rượu chèTú Xương

Tan phiên chợ về là sửa soạn bàn thờ gia tiên, lư hương đỉnh đồng hạ xuống đánh cho sáng choang, năm mới cái gì cũng phải mới, bụi bậm năm cũ gột rửa cho sạch. Rồi chưng bày cho khéo mâm ngũ quả đồng thời không quên chung rượu cúc "vô tửu bất thành lễ".

Ngoài hàng hiên, kim quất hay mai đào được gia chủ tỉa thật khéo để nở rộ đúng ngày ăn Tết. Cái gì cũng bảo để ăn Tết, làm như quanh năm nghỉ ăn không bằng:

Nếp cái, nếp ngỗng để dành gói bánh chưng ăn Tết
Hành củ tím, dừa bánh tẻ để nén ăn Tết
Heo vô cho béo để Tết đánh bụng
Xấp tơ tằm vàng óng để dành may đồ Tết cho trẻ.

Người dân quê Việt Nam là như vậy, họ ăn Tết với tất cả tâm hồn. Tết như là một cái mốc thời gian để làm mới lại cuộc sống, một sự xúc cảm tuyệt vời hòa điệu với đất trời từ chân tơ kẻ tóc.

Mấy ngày giáp Tết, đầu thôn ngoài ngõ gọi nhau ơi ới. Họ giúp nhau gói bánh chưng, bánh tét, họ rủ nhau giết heo mổ gà, làm giò, mọc. Họ như ăn Tết với nhau, tạm gát bỏ những giận hờn thù vặt, xích lại bên nhau ăn Tết đã. Người nào việc nấy, người có chức phận ra đình, chùa làng đốc thúc quét vội, sơn cột, tô lại hoành phi câu đối, cắm cờ ngũ hành, dựng nêu ăn Tết. Kẻ có công nợ lo đi đòi vào ngày cuối năm. Trần Tế Xương, Nguyễn Công Trứ, những hàn sĩ của chúng ta từng không may gặp cảnh công nợ réo tít mù, ngày 30 Tết đã phải ra câu đối rằng:

Chiều ba mươi, công nợ hỏi tít mù,
co cẳng đạp thằng bần ra cửa
Sáng mồng một, rượu chè say túy lúy,
giờ tay bồng ông phúc vào nhàNguyễn Công Trứ

Hoặc nói một cách nửa thanh nửa tục như nữ sĩ Hồ Xuân Hưong thì có hai câu đối Tết sau đây:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn,
nich chặt lai kẻo ma vương đưa quỷ tới
Sáng mồng một lỏng then tạo hóa,
mở toang ra cho thiếu nữ rước Xuân vào.

Chiều ba mươi Tết, nhà nhà sửa soạn đón ông bà, bàn thờ nghị ngút trầm hương, đèn nến sáng choang. Đêm 30, trẻ em con nhà nghèo họp nhau đi chúc Tết, "súc sắc súc sẻ" để được tiến lì xì. Giờ phút thiêng liêng nhất là giao thừa, pháo nổ ran, chuộng chùa và nhà thơ đổ dồn nghênh tân tổng cựu.

Người ta chọn hướng xuất hành đi lễ nửa đêm, lễ Phật, lễ Thổ công, Thổ thần, đi hái lộc đầu năm, đi xông đất, chúc lành cho nhau. Đất trời, cây cỏ, hoa lá vạn vật và lòng người bừng dậy một sức sống mới, sáng ngời thông cảm trước thềm năm mới. Đây cũng là dịp để nghỉ ngơi, tu bổ lại cuộc sống và nghĩ đến tổ tiên, ông bà cha mẹ, họ hàng, bạn bè thân bằng quyến thuộc :

Mồng một ăn Tết ở nhà hoặc Mồng một thì ở nhà cha
Mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà thầy.

Hay:

Mồng một thì Tết mẹ cha
Mồng hai Tết chú, mồng ba Tết thầy.

Đối diện với một mùa xuân mới tinh, người ta còn có tục kiêng đủ thứ: kiêng không quét nhà những ngày đầu năm, kiêng cáu gắt và ăn nói lăng nhăng, kiêng để bụng đói, kiêng làm vỡ chén bát v.v... Những tập tục dễ thương ấy có khi hơi lẩn thẩn nhưng đã làm cho những kẻ xa nhà nhiều khi có hơi dị đoan cũng vẫn tuân theo.

Cũng một mùa Xuân xưa, nhưng không xưa lắm và làm chúng ta nhớ nhiều hơn nửa là mùa Xuân của những năm trước 1975. Phần nào những mùa Xuân ấy gần gũi chúng ta hơn, nhất là chúng ta đã hoà mình vào đó bao năm. Mùa Xuân miền Nam tươi đẹp ấy trải rộng trước ngày mất nước từ thành phố Sài Gòn lộng lẫy lan tới các tiền đồn hẻo lánh. Lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay trong tiếng nhạc Xuân rộn ràng "ngày Xuân nâng chén ta chúc nơi nơi..." .

Các chợ Xuân tưng bừng khắp nơi: chợ Tân Định, Bình Tây, Cầu Ông Lãnh, Bà Chiểu và nhất là chợ Bến Thành mở rộng cả bốn mặt, các ô hàng tuần tự mọc lên bao vây cả bốn cửa Đông, Tây, Nam, Bắc. Xe từ đầu đường Phan chu Trinh và Lê thánh Tôn bị chặn không cho đổ vào phía trong chợ và công trưởng Quách thi Trang. Bánh mứt, trái cây, áo quần bày bán ê hề cho thấy rõ một xã hội có ăn có mặc, không phải nghèo đói cùng cực như ở miền Bắc, dù chiến tranh vẫn đang rình rập và vẫn nghe vắng vẳng tiếng súng đạn trong đêm ở xa xa "chào Xuân đến súng xa vang rền...". Những gia đình nghèo cũng có dịp đi mua sắm quần áo cho con cái tí chút, vừa có chút gì gọi là Tết nhất, vừa có dịp la cà ngắm thiên hạ ăn Tết. Hàng hóa bày bán la liệt bên vỉa hè, những quày bán kem đánh răng Hynos, Perlon, mứt, rượu ngọt, khô nai, khô cá thiều đều có các người đẹp mặc áo dài đồng màu trình diện và rao hàng khá hấp dẫn. Ôi thôi chợ Tết, đông vui và nóng nực chen chân đi không nổi mà ai ai cũng thích đi xem. Nhiều lúc tưởng là "đi xem lựng" thì đúng hơn. Hàng bán nước giải khát rau má, nước mía được chiếu cố khá đông, ly nước mía vừa ép ngọt lim thơm mùi quất vắt làm cho tỉnh người, khoan khoái đi viếng tiếp khu chợ hoa đường Nguyên Huệ. Khu chợ này đẹp nhất là về đêm khi thành phố đã lên đèn. Đủ mọi thứ hoa lung linh muôn màu từ Đà Lạt và khắp các tỉnh đưa về: Thủy tiên, Thuợc dược, Hải đường, Lan, Mai, Trúc, Đào, quất nở vừa độ đương xuân. Cũng nơi này không hẹn mà gặp bao nhiêu tài tử giai nhân dập dìu nên duyên giai ngẫu.

Ở Chợ Bà Chiểu và Cầu Ông Lãnh trái cây, dưa hấu bày bản cả rừng đỏ ối. Riêng báo Xuân, lịch và thiệp Tết thì tập trung ở đường Lê Lợi, tới đó tha hồ chọn cho vừa ý. Việc làm báo Xuân là một tục lệ đẹp cống hiến món ăn tinh thần cho ngày Xuân thêm ý nghĩa đậm đà.

Không khí Tết tràn ngập thành phố một phần nhờ các cây mùa xuân được tổ chức khắp nơi: cây mùa Xuân cho trẻ mồ côi, cho quân y viện Cộng Hòa, các trường học và cả cây mùa Xuân chiến sĩ. Trong mỗi gia đình, các cha mẹ cũng ít nhiều lo làm bánh mứt để ăn và đi sêu Tết, bánh chưng có nhà làm lấy, có nhà đi mua. Nếu có chỗ nấu bánh thi thường là các bà mẹ thich gói bánh ăn Tết. Đêm đông lạnh cả nhà quây quần quanh nồi bánh chưng tán dóc hoặc kể chuyện kỷ niệm từ năm nào, ấm cúng và thú vị nào bằng! Những kỷ niệm quanh bếp lửa như vậy có bao giờ phai nhòa trong lòng nguời.

Đã bao khách giang hồ, bôn ba suốt năm, rày đây mai đó vì chí hướng, vì sự nghiệp, vì công việc làm ăn mà đến lúc chợt nhớ đến ngày giờ cuối năm cũng vội tất tả đáp chuyến tàu chót về sum họp với gia đình bên nồi bánh chưng. Những vui buồn ấm lạnh nương theo khói bếp tỏa ra thấm vào lòng người trong cái giờ phút thiêng liêng dứt năm cũ sang năm mới.

Ngoài sân buổi sớm có nắng hanh vàng đọng trên những mẹt củ cải, cà rốt, bí phơi khô để làm mứt hay dưa món, dưa hành, kim chi v.v... Ý Xuân chan hoà trong nắng reo vui, ong bướm dập dồn, muôn hoa nở rộ. Tỉnh Xuân len lén đến nhẹ nhàng "Xuân vừa về trên bãi cỏ non..." như một Nguyễn Bính dịu dàng tâm sự bên tai:

Đã thấy Xuân về với gió đông
Với trên màu má gái chưa chồng
Bên hiện hàng xóm cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong.

Mùa Xuân ấy còn đến thật sớm nơi nhà trường. Thầy trò mỗi lớp lo làm báo Xuân dán tường, tờ báo nào cũng vẽ một cành mai to tướng bên phong pháo đỏ hồng. Từ 23 tháng chạp là Tết ở trường học rộn rã vì làm văn nghệ mừng Xuân và ăn Tất niên.

Một tục lê nữa không bao giờ quên của nhà trường cuối năm là đốc thúc học sinh viết thư ủy lạo các chiến sĩ ngoài tiền tuyến, thật là ý nhị với hoàn cảnh đất nước trong thời chiến tranh.

Những người chiến sĩ, lúc mà mọi người đang vui cảnh đoàn tụ gia đình trong ba ngày Tết, thì vẫn phải dầm mưa dãi nắng nơi rừng sâu núi thẩm, không thể nào về dù biết "mẹ chờ, em trông để quây quần bên bếp lửa hồng". Trong nỗi cô đơn xa nhà, xa gia đình, phải "đón giao thừa một phiên gác đêm..." nơi tiền đồn hẻo lánh, họ vẫn thường thầm mơ ước:

Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh
Mơ rằng đây mái nhà tranh
Mà ước chiếc bánh ngày Xuân
Cùng hương khói vương niềm thuơng...

và nhiều khi cũng không ngăn được nỗi sầu, thầm trách:

Chốn biên thùy này Xuân tới chi?
Nếu Xuân về tang thương khắp lối
Thương này khó cho vơi,
Thì đừng đến Xuân ơi! Nguyễn Văn Đông

Những kỷ niệm êm đềm của những ngày Tết theo thời gian không còn nữa. Những năm sau ngày quân Bắc công chiếm đóng miền Nam, người dân nghèo thì không ăn Tết, hết cả cúng bái. Chùa chiền, Lăng Ông Bà Chiểu cũng thưa vắng bớt người đến lễ đầu năm và xin xâm cho năm mới. Những người còn có thể sửa soạn mâm cơm cúng ông bà thì phải hết sức chật vật, thắt lưng buộc bụng. Nhạc Xuân, theo việt cộng là ủy mị, phản động nên bị cấm triệt để, thay thế vào đó toàn là một loại bài hát đằng đằng sát khí, đỏ ôi là đỏ, nghe mà chói tai, lợm giọng nhất là vào dịp Xuân về tình tư. Lúc ấy bà con miền Nam mới thấy thiếu "ly rượu mừng", thiếu tiếng hát Thái Thanh là thiếu tất cả một mùa Xuân. Ngày Tết mất hết cả ý nghĩa, phong tục vui và lần vào quên lãng.

Nơi xứ người, mỗi lần Tết đến lại gợi lên biết bao kỷ niệm thân yêu nay đã mất, chỉ còn những luyến nhớ, tiếc thương của một thời vàng son, nhung gấm. Không ai còn nao nức mừng Xuân, đón Tết trong nỗi ngang trái, bẽ bàng:

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi Xuân đến gợi thêm sầu
Với tôi tất cả đều vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đauChế Lan Viên

Vì bận bịu làm ăn, nhiều khi không dám lấy ngày nghỉ, chúng ta không còn có chút thì giờ nghĩ đến việc mua cái bánh chưng, cân mứt bí sêu Tết cho nhau theo tập tục Việt Nam. Trời Âu Mỹ tiết đông rét buốt, có đâu mà nghĩ đến chuyện diện chiếc áo dài truyền thống có mà co ro, run lập cập chết. Có nơi cũng tổ chức Tết văn nghệ mừng Xuân, nhạc hội rình rang nhưng vẫn thấy trống vắng trong lòng, vẫn mong muốn kéo ngược dòng thời gian để sống lại những giây phút tuy mộc mạc nhưng tình tự nơi quê hương ngày nào.

Cũng mứt bánh, cũng rượu nồng, hương khói
Cũng tiệc tùng nhạc hội kém chi đâu
Nhưng lòng ta day dứt nỗi niềm đau
Vì đã mất những gì sao kiếm được

Thời gian hởi có nghe xin dừng bước
Đưa ta về tìm mộng ước xa xưa
Dù quê hương nắng sớm lẫn chiều mưa
Ta vẫn thấy nặng tình dưa với muối. NdP

Khí hậu lạnh lẻo và cây cối trợ trụi như bộ xương khô, những cây mai đào trước nhà vẫn chưa đơm bông trổ nụ, thì làm sao đem lại được cái cảm giác "Ngày thắm tươi bên đời Xuân mới...". Còn đâu cảnh quây quần đầm ấm của đại gia đình vào cái giờ phút giao thừa thiêng liêng, bên bàn thờ gia tiên trầm hương nghi ngút và trong tiếng pháo nổ vang.

Không gian đã cách biệt, thời gian cũng vôi vã, ngày Tết đến không đúng vào thời điểm đối với những người ly xứ. Chúng ta ăn Tết tạm vào một cuối tuần nào đó, có khi thờ ơ cả việc đưa đón Táo quân và ông bà. Quơ quơ quào quào dựng bàn thờ và dọn một mâm cỗ Tết, rồi vội vàng thu dẹp nhà cửa để sớm mai trẻ con còn đi học và người lớn phải đi làm.

Tết đến thật ư, Tết gì đây?
Xuân đâu chẳng thấy, tuyết rơi đầy
Mai đào trước ngõ chưa đơm nụ
Pháo đỏ bên thềm vắng xác bayNdP

Cảnh trong vườn trước nhà tuyết rơi đầy và mai đào chưa nở vào dịp gần ngày Tết ở những nước thuộc vùng Bắc bán cầu.

Thôi thì đối đế ta cùng nhau ăn Tết trong tâm hồn, thương nhớ nhưng không yếu mềm, đó cũng là một bản chất của người Việt. Chúng ta cảm nhận những thiệt thòi, thờ ơ của hiện tại và cố giữ lấy ngày Tết biểu hiện cho côi nguồn của dân tộc.

Tạm dừng chân trên quãng đường mưa gió,
Rủ phong sương vui đón lấy ngày Xuân
Đừng bi quan hờ hững với Đông quan,
Hãy vui sống nhìn tương lai vui sống
Nước non còn, sông núi sẽ vinh quang
Ngày Xuân mới, giang sơn ta đổi mớiÁi Lan

Và cũng cầu chúc và hy vọng sẽ có một mùa Xuân chiến thắng mà người Việt khắp năm châu quy tụ về ẩn Tết giữa lòng đất Mẹ:

Khứ tuế, Xuân quy, sầu cửu biệt,
Kim niên, Xuân đáo, khánh tương phùng. Tản Đà

hoặc là:

Chúc cho non sông được thái bình
Những ngày Tết đến hết điêu linh
Gia đình đoàn tụ, vui sum hợp
Hải ngoại hồi hương trọn nghĩa tìnhNdP

Nguyễn Duy Phước (NdP)


Saturday, January 31, 2026

You won't believe who's REALLY running the world" w David Icke




NGƯỜI ĐẸP U-MINH

Chúng tôi trình diện lần 2 vào ngày 4/5/75 được phân loại sao đó mà đa số được đưa vào khám lớn Rạch Giá?. Tháng 9 /75 sau vài đợt VC bí mật đưa một số rời khám giữa đêm khuya để đến đâu không ai biết?. Đợt gần nhứt gồm toàn các sĩ quan quân đội từ Đại Úy trở lên, trong số đó có BS Chơn, DS Tám, đã ra khỏi khám mà cũng không thể đoán đã đi đâu? Sau cùng tới phiên 82 anh em chúng tôi đa số là dân Hành Chánh và Cảnh sát cấp bực cao nhứt là Đại Úy được đưa vào Trại Kinh Làng thứ 7 nằm trong Rừng U-Minh Thượng.

Trại của chúng tôi tuy nằm cách bìa rừng không xa mấy nhưng khi lội bộ vô sát bên trại mà vẫn không nhận ra 4 dãy nhà, lợp bằng vỏ tràm, nằm ẩn khuất dưới bóng những cây tràm, cây sậy, được ngụy trang kín đáo khó mà nhìn thấy từ xa vài chục mét. Khi chúng tôi vạch những cây sậy cao rậm rạp, theo chân bộ đội đi vào, khi còn vài mét nữa mới thấy các căn trại cứ tưởng là các chuồng nuôi gà hay gia súc.

Hôm sau, chúng tôi được lịnh dọn sạch chung quanh trại, đốn, chặt hết các cây to được bảo vệ từ nhiều năm trước. Chúng tôi phải mất cả tuần mới phá trống một diện tích từ trung tâm trại ra xa, mỗi bề chừng 100 mét.

Công việc thứ 2 là chúng tôi thiết lập một dãy cầu tiêu , nằm dọc 1 hàng, dài 10 cầu lộ thiên. Vì tháng 9 vẫn còn trong mùa mưa, chỉ mới bắt đầu chuyển sang mùa khô. Cho nên quanh trại vẫn còn ẩm ướt. Chúng tôi được chỉ dẫn đào một mương dài 10 thước, ngang 1.5 thước, sâu 1 thước. Đất đào lên đắp thành bốn vách cao, mỗi phía cách miệng mương 0.3 thước, Khi đào xong mương thì bờ vách 4 phía cũng cao hơn mặt đất chừng 1 mét. Chúng tôi vào rừng đốn tràm cắt ngắn lót đầy trên miệng hầm. Khi lót tràm trên miệng hầm, chừa 10 lỗ hình chữ nhựt 0.2x0.3 tấc – Chúng tôi lại lắp đất chừng 2 tấc phủ lên trên lớp tràm, chỉ chừa lại 10 lỗ trống.

Ở mỗi lỗ trống được gắn một hộc gỗ, có tấm ván hình chữ nhựt, nằm khít dưới đáy, che kín lỗ hộc- Tấm ván chữ nhựt được đóng 2 cây đinh treo thăng bằng vào 2 cạnh hộc gỗ – Bình thường tấm ván chữ nhựt ở tư thế thăng bằng nằm ngang che kín lỗ hộc. Khi có vật nặng (phân người) rơi xuống tấm ván chữ nhựt làm cho tấm ván mất thăng bằng, nó sẽ nghiêng về phía nặng hơn khiến lượng phân tự động rơi xuống hầm cầu. Sau đó tấm ván chữ nhựt trở lại vị trí thăng bằng với tư thế nằm ngang che kín lỗ cầu. Coi như nắp đậy của lỗ cầu để tránh ruồi nhặng bu vào nếu không có tấm ván đó.

Nghe đồn thiết kế nầy cũng do một tù VNCH bị giam cầm trong lúc còn chiến tranh đã giúp VC thiết lập kiểu cầu lộ thiên, phân tự động rơi nầy. 10 cầu lộ thiên ấy hoàn toàn trống rỗng chung quanh và bên trên không có che mưa, che nắng gì cả.

Chỉ trong vòng 1 tháng mà khu trại của chúng tôi hoàn toàn biến đổi. Chung quanh khóang đảng, không u tối, mịt mùng như xưa. Chúng tôi vào rừng lựa những cây tràm to, cắt đứt phần vỏ tràm bên ngoài thân cây theo hình chữ nhựt, ngang chừng 3, 4 tấc, dài hơn 1 thước, sau đó dùng mã tấu nạy tấm vỏ tràm nằm trong khuôn hình vừa đã cắt, rồi tách nó ra khỏi thân cây. Mỗi người vác 7,8 tấm vỏ tràm ấy để lợp lại mái trại đã loang lỗ, mục nát vì bỏ trống lâu ngày. Trại bây giờ tương đối khang trang, không bệ rạc như lúc chúng tôi mới đến.

Trại nầy đã là trại số (người tù gọi nhau bằng số) giam giữ tù binh VNCH bị VC bắt trong lúc còn chiến tranh. Sau 30 tháng tư số tù binh cũ nghe nói đa số được thả và chỉ còn lại một ít VC đã dời đi nơi khác.

Sau khi trại được sửa sang tươm tất một chút thì một bữa nọ tên chỉ huy đội công an giữ an ninh trại là một trung úy tên là Sử Văn Ngan ( Ba Ngan gốc gác Chắc Băng, Vĩnh Thuận, Hồng Vân) báo cho Đại Diện Trại (Sáu Giao): “Ngày mai được nghỉ lao động một ngày, dọn dẹp chổ ăn ở sạch sẽ, ăn mặc đàng hoàng để tiếp đón Thanh Tra Y Tế đến thăm trại.”

Nhà bếp chuẩn bị cơm trưa lúc 12 giờ phải sẵn sàng để chúng tôi ăn uống cho thanh tra quan sát tận mắt!

10 giờ sáng, Ba Ngan và đội công an non chục đứa, ăn mặc chỉnh tề, súng ống đầy đủ đứng dọc con đường vào trại- Mười Đởm là Thủ Trưởng trại tù (mặc thường phục- sau nầy nghe nói lúc đó hắn ta là Đại Tá và 5 năm sau thăng cấp thiếu tướng rồi bị cho ra rìa vì là VC Nam Kỳ, đã chết khá lâu nghe Sáu Giao kể lại) – Mười Đởm hướng dẫn duy nhứt chỉ một PHỤ NỮ đóng vai thanh tra Y Tế vào xem xét trại!

Chị ta đeo túi dết, nhỏ thôi, bên ngoài túi dết có in dấu Hồng Thập Tự- Mười Đởm đi đầu, kế là Chị Thanh Tra, Ba Ngan, ... cách 3. 4 bước là Sáu Giao Đại Diện cải tạo rồi mới đến bầy công an.

Chị Thanh Tra lật cuốn sổ cầm tay ghi, ghi gì đó mỗi khi Mười Đởm giới thiệu từng phần việc của trại. Chị ta nghe xong, tỏ ý muốn được xem chỗ nấu ăn, chị ta xem củi, lửa, soong chảo, lu chứa nước múc từ mương lên lóng cặn để nấu cơm. Chị ta hỏi nước cho cải tạo uống ở đâu? Ba Ngan ấm ớ nói cải tạo tự túc! Chị ta hỏi tự túc là sao? Ba Ngan nói là tự kiếm chỗ có nước sạch mà uống!

Chị ta quay qua Mười Đởm nói là phải báo cáo xin cung cấp lu, thùng chứa nước uống có khử trùng theo chỉ thị của trung ương để tránh sốt rét. Mười Đởm nói sẽ thi hành ngay!

Chị Thanh tra lại bất ngờ đòi cho xem cầu vệ sinh của trại? Mười Đởm, Ba Ngan ngần ngừ ... rồi cũng dẫn chị ta đi thẳng ra cầu tiêu lộ thiên tập thể. Nghe kể lại khi phái đoàn tới trước cầu tiêu thì thấy có 3, 4 mạng đang "công tác", ngồi chò hỏ, đưa nguyên 3, 4 khẩu đại bác với tư thế trực xạ hướng về phía phái đoàn. 3, 4 tên nầy tỉnh bơ tiếp tục công tác... vì chưa hết đạn! Nghe nói chị thanh tra thấy rõ nguyên con giữa ban ngày, chị ta lấy tay che mặt, dòm đi hướng khác ra lịnh: “Khẩn trương dọn trống hiện trường!”- Ba Ngan bước lên cầu đuổi 3, 4 anh trên đó xách quần đi xuống, nhanh lên!.

Các anh ấy đi rồi Chị ta mới quay lại bịt mũi, bước lên xem hệ thống cầu tiêu lộ thiên xã nghĩa- Chị nói với Ba Ngan như thế nầy là “KHÔNG CÓ VĂN HÓA CHÚT NÀO CẢ”- Nếu trung ương tận mắt thấy đối tượng nầy, sẽ bị kiểm thảo đó! Chị ta tới gần Mười Đởm ra lịnh phải cho dừng vách cách biệt mỗi cầu tiêu riêng rẽ, phải lợp mái che bên trên cầu.

Màn kế tiếp dự định thanh tra sẽ đi vòng ngoài 4 dãy trại để xem chúng tôi ăn uống ra sao. Nhưng có lẽ vì đã gặp cảnh ngồi chò hỏ khó coi, thiếu văn hóa mà chị ta không còn hứng thú để ghé ngang qua chứng kiến cảnh chúng tôi ăn 1 phần cơm hạn chế và 1 vá canh rau đắng "toàn quốc" buổi trưa hôm đó. Nhưng vì dự trù có thanh tra quan sát nên chúng tôi mỗi đứa được uống 1/2 ly nước ấm có pha chút đường mía. Lần đầu tiên được nếm chất ngọt kể từ hồi nằm ấp từ khám lớn- Tuy chỉ ngọt lơ lớ thôi nhưng ai cũng cảm thấy ngon hơn ly đá chanh đường trước 75 nhiều!

Cho mãi đến cuối năm 1976 khi chúng tôi rời trại trong. Mười Đởm lịnh cho đốt bỏ trại trong, xóa hết dấu tích, chúng tôi nhập chung với trại ngoài. Cho tới lúc rời trại, vấn đề nước uống và cầu tiêu vẫn “VŨ NHƯ CẨN!”.

Trước khi chúng tôi rời trại trong, chúng tôi được gặp lại chị thanh tra năm trước thêm 1 lần nữa. Lần nầy chúng tôi cùng được báo trước, ngày mai được nghỉ 1 ngày để được Y Tế Tỉnh đến chích thuốc ngừa dịch cúm cho các trại viên.

Sáng sớm hôm sau, chừng 9 giờ, có một vỏ vọt chở một chị và một thùng inox hình thù như thùng đựng sữa tươi mà người tỵ nạn chúng ta đã thấy ở các nước ngoài sau khi định cư tỵ nạn.

*Thùng thuốc trong cải tạo giống y hệt thùng sữa nầy-lhx

Chúng tôi xếp hàng tập trung trước chòi thợ mộc (nơi thực hiện các bộ phận cột, kèo, đòn tay... để cung cấp cho các cơ quan khác trong Tỉnh, xây cất thêm các cơ sở, văn phòng)- Chị Y Tế Tỉnh chính là Chị Thanh Tra năm trước.

Lần nầy thấy chị ta khác hẳn; áo bà ba màu thiên thanh, quần tây màu ngà ủi thẳng cón, tóc uốn lưng chừng, má môi hơi hồng, mang guốc cao gót vừa phải (không phải cái chân đế nhọn hoắc như phe ta).

Trước khi tiêm thuốc- Chị ta sửa soạn 3 ống chích, mỗi ống cỡ 10 phân khối- Bên cạnh có một lò nấu bằng alcol nhỏ, đang nấu các mũi kim phòng hờ. Cứ 3 người chúng tôi chích hết 1 ống- Chích xong 1 người thì chị lau mũi kim bằng alcol để sát trùng.

Trước khi chích chị ta cho biết thuốc ngừa cảm cúm nầy được Nước Anh Em Hữu Nghị Liên Xô gởi tặng chỉ để bảo vệ sức khỏe cho cải tạo viên mà không được chích cho cán bộ hay dân chúng. Các anh phải thành khẩn cám ơn Chánh Phủ và Nhân Dân Liên Xô, từ xa đã hướng về các anh, cầu chúc các anh lao động khỏe mạnh để sớm trở lại với gia đình!

Chị ta lụi kim rất chuyên nghiệp, đưa mũi kim vào dưới da không ai có cảm giác đau đớn gì cả. Chị dặn không được tắm rửa hay làm ướt chổ chích cho tới ngày mai.

Tới đây tôi xin mở ngoặc kể lại lại một chi tiết bên lề khiến anh em chúng tôi còn “nhức nhối” mãi cho sự việc bất thần đã xảy ra hôm đó mà người trong và ngoài cuộc, chắc suốt đời không thể nào quên!!!

Sáng đó, con lộ trước cổng chòi Mộc còn ướt đất sét, chân, cẳng dù không guốc, dép mà bước lên mặt đất lúc đó cũng khó nhấc bàn chân lên, sau mỗi bước. Chị ta từ dưới xuồng máy bước lên đường, 2 bộ đội khiêng thùng thuốc còn đọng các hột mồ hôi do ướp lạnh, để giữ cho thuốc khỏi bị hư nếu ở nhiệt độ cao. Chị đi ngang qua hàng dọc của chúng tôi và vì chúng tôi chiếm hết 1/2 mặt lộ, còn lại ½ chưa đầy 50 phân. Chị ta hơi né tránh để khỏi va chạm chúng tôi nên chi ta bước sát mé lộ và bị trợt chân, chiếc guốc cao gót của chị tuột khỏi bàn chân, rớt tỏm xuống mương, chìm nhanh luôn!

Thấy thế, chưa kịp định tâm ...Một anh chàng phóng ngay xuống mương, không ngờ nó sâu cả thước. Anh ta phải cúi xuống, nước lên gần tới cổ mới mò thấy chiếc guốc, cầm lên đem đến đặt ngay ngắn dưới chân chị ta. Lúc đó chị đã ngồi vào chiếc ghế ngay bên bàn chích.

Anh, người mò chiếc guốc, trở lại vị trí cũ của mình, tự nhiên 2 anh trước và sau thò tay ra bắt tay anh ta. Bắt tay xong 2 anh lại vỗ tay... cả hàng rần rộ vỗ tay theo vang dội!!! Bộ đội phải quát tháo “Trật tự, trật tự” để chấm dứt vỗ tay.

Chị Y Tế đứng lên định bắt đầu chích người đứng đầu hàng ... Không ai ngờ, chị ta làm ngơ với người số 1 mà bước thêm vài bước chỉ tay vào ân nhân của chị, đang ướt toàn thân như chuột mắc mưa. Chị ta ra hiệu cho anh bước tới, là người đầu tiên được chị mời chích ưu tiên! Chị ta cầm kim chích với nét hớn hở mỉm cười rất nhẹ và không nói gì thêm. Anh nầy chích xong lui về phía sau, tách ra khỏi hàng để chờ tất cả chích xong bộ đội sẽ điểm danh, dẫn về trại.

Khi chỉ còn vài người sau cùng; có một anh chàng hiền khô của trại. Anh đến đứng trước chị y tế hỏi chị ta: “ Chị chích đít cho tôi được không? Vì tôi sợ thấy kim chích! Chị ta nhỏ nhẹ giải thích đủ để một mình anh ta nghe thôi; thuốc nầy TIÊM nơi tay, không TIÊM chỗ khác. Anh hiền khô nói: “Tôi muốn "chích" chứ không muốn tiêm.” – Chị ta mỉm cười và nói thêm CHÍCH nghe không có văn hóa bằng chữ TIÊM của chúng tôi! Anh ta đành vén tay, nhắm mắt, chích xong – Anh nói OK! Chị ta hỏi OK là sao? - OK là vì đã được cô mỉm cười! -Tôi mắc cười vì anh không biết chữ TIÊM có trfnh độ văn hóa cao hơn chữ chích của các anh! Chứ không phải như anh tưởng....!!!

Sau buổi cơm chiều, câu chuyện anh chàng nhảy xuống mương mò guốc được bàn luận khắp 4 dãy trại. Đầu tiên là các anh cùng nghề, cùng cấp bậc với anh mò guốc giỡn mặt: “Sao mầy nhanh đột xuất vậy?- Thường ngày mầy là đứa chậm chân nhứt thiên hạ, cái gì mầy cũng đi sau, làm sau. Sao hôm nay mầy là đứa số 1 khiến cho nhiều anh em mất cơ hội ngàn năm một thuở? Mầy có nghĩ tới 2 hậu quả có thể xảy ra không?:

1/- Mầy lon lá 1 chùm mà làm như vậy vạ lây cho tất cả tụi mình- Nếu mầy là lính trơn hay thường dân vô số tội thì không sao!?

2/- Chuyện nầy mà tới tai vợ mầy thì tao e mầy sẽ trở thành cải tạo viên mồ côi không chừng?

Một tuần sau anh mò guốc xin ra khỏi toán nhà bếp- Anh ta xin vào toán lao động nặng – Nhiều lần thấy anh lén lau nước mắt. Nghe đồn vợ anh đã cúp mấy lần thăm nuôi- Các bạn của anh nhờ các Bà về năn nỉ vợ anh nên bỏ qua chuyện vô tình, phản xạ tự nhiên ấy– Qua mấy lần mất thăm nuôi, rồi sau đó vợ anh đã quay trở lại lặn lội đường xa thăm chồng nhưng chị ấy đã tách ra, thuê xuồng đi một mình mà không đi chung với các chị khác như trước....

Chuyện khá dài nên tôi xin đi vào kết luận với những chi tiết tưởng như mơ mà có thật:

Chị Y Tế Thanh tra đó cho tới khi tôi được thả ra, chúng tôi không hề gặp lại và tôi có dọ hỏi nhà tôi là thổ địa trong Nhà Thương Rạch Giá. “Em có biết cô nào tên NĂM HẠNH là Y Tá hay Thanh Tra Y Tế làm việc trong bịnh viện hay trong Ty Y Tế không?” - Nhà tôi cho biết không hề nghe ai có tên là 5 HẠNH làm việc trong nhà thương hay Ty Y Tế cả!!!

Chị 5 HẠNH – Lần đầu chị ta xuất hiện đã làm anh em chúng tôi- Có thể nói tất cả 82 mạng già trẻ, độc thân hay con đùm, cháu đề gì cũng là “NẠN NHÂN NHAN SẮC CỦA CÔ 5 HẠNH”- Cô đẹp “NGOẠI HẠNG”!

(*Xin nói nhỏ cô đẹp trội hơn các Bà Hoa Hậu thời 50, 55 nhiều, nhiều lắm!!!).

Lần đầu là Thanh Tra Y Tế cô ta mặc ÁO BÀ BA TRẮNG – Eo thon, lồi lõm chỗ nào đúng vào chỗ nấy- không dư không thiếu chút nào – Cả 82 đứa chúng tôi đều cho điểm Maximum không bớt ¼ điểm nào cả.

Chúng tôi ao ước được cô đi ngang qua để một lần được hít thở chút hương vị của cô rồi phải kéo dài kiếp cải tạo thêm vài tháng cũng không sao! Nét đẹp của cô thanh tao, nhẹ nhàng hơn tất cả người mẫu mặc áo Bà Ba, kể cả so với các hình vẽ các cô Bà Ba đăng trên Báo Sài Gòn Mới của Bà Bút Trà vào dịp Xuân các năm xa xưa!

Có lẽ anh mò guốc bị cô ta hốt hồn ngay lần gặp đầu tiên. Cho nên lần gặp 2 khiến cho mắt anh ta dán chặt vào cô ta, không rời một giây nên anh ta mới có phản ứng NHANH ĐỘT XUẤT, nhanh hơn cả Hỏa Tiễn của Hoa Kỳ thời đó!

Tin thêm, từ một bộ đội tý hon “BỘ ĐỘI 6” sau khi tham gia 1/4 cái bánh trung thu hiếm hoi năm 1977 cho biết:

Lần vào trại thứ 2, cô 5 Hạnh không đi ngay mà lưu lại với Mười Đởm độ 1 tuần- 2 giờ sáng đêm nọ Bà Vợ của Mười Đởm từ Thứ 11 Tăng Bằng, cách đó hơn 30 km đường sông, đã đi vỏ lãi hỏa tốc với 2 người đàn bà khác- Đột kích vào sào huyệt Mười Đởm, hành hung cô 5 Hạnh tận tình- Mười Đởm phải gọi bộ đội an ninh trại đến giải cứu, đưa Cô Năm Hạnh ra An Biên, về lại Tỉnh ngay trong đêm.

Và từ đó không ai gặp lại Cô 5 Hạnh thêm 1 lần nào nữa cả- Nhưng nét đẹp vô biên giữa cảnh tượng U-Minh xơ xác, muỗi mồng, quạnh hiu, quanh năm suốt tháng. Đêm về Bìm Bịp kêu vang, não nùng... Chốn hoang vu, đọa đày ấy vẫn còn lưu lại trong tâm tư bi hùng mà như một giấc Nam Kha! Đến nay đã 7, 8 bó cả rồi chúng tôi vẫn khó tin Mỹ Nhân năm ấy với biệt danh “NGƯỜI ĐẸP U-MINH 5 HẠNH”! Có phải là hậu duệ huyền thoại của những nàng hầu, từ Kinh Thành xuôi Nam một thời loạn lạc đã dừng chân tại đất địa U-Minh, Phú Quốc trước khi Nguyễn Ánh thu hẹp tùy tùng sang Xiêm lánh nạn?

LHXung- 4/2006

*CHÚ THÍCH: Sau khi định cư ở Hải Ngoại, tôi đọc thêm sách nói về Nga và Trung Cộng đã chích thuốc TẨY NÃO cho tù cải tao. Chị Y Tế chích thuốc lúc đó cho biết sẽ chích 3 lần mới có hiệu lực ngừa cúm vình viễn. Nhưng họ chỉ chích cho chúng tôi 1 lần đó rồi ngưng luôn- Thuốc đó họ chỉ chích cho tù cải tao mà không chích cho công an, bộ đội hay dân chúng./-LHXung


Chiếc Hồ Trên Đá

Ảnh minh họa từ Lê Tường-Vi; Molokini Crater.

***

Một chiếc hồ con nằm lặng yên trên đá,
Mà trong mắt trẻ thơ là cả vũ trụ xanh...

Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.

Tiếc thay, suốt bốn năm liền California oằn mình trong hạn hán, ảnh hưởng đủ đường đến đời sống cư dân. Không ai biết bao giờ tuyết và mưa mới trở lại như xưa để thảm cỏ trước nhà có cơ hội hồi sinh, để màu xanh công viên thôi lụi tàn.

Tôi vẫn nhớ hôm tiểu bang ban bố tình trạng khẩn cấp vì thiếu nước, nhà tôi nhận được một cú điện thoại kêu gọi tiết kiệm. Chồng tôi vui vẻ trả lời:

- Thưa cô, nhờ tiết kiệm nước mà sức khỏe vợ chồng tôi tốt lên nhiều lắm!

Giọng cô nhân viên ngạc nhiên:
- Dạ... ông vui lòng giải thích rõ hơn?

Nhà tôi thản nhiên đáp:
- Vì ngày nào vợ chồng tôi cũng tới phòng tập thể dục, tập xong thì tắm luôn ở đó!

Còn Thành, em chồng tôi, tếu táo khoe danh hiệu "vô địch tiết kiệm nước bang Cali":

- Chị Hai biết không, hồi trước một ngày em đánh răng ba lần. Giờ thì... ba ngày mới đánh một lần! Vậy đủ tiết kiệm chưa?

Điều khiến tôi buồn nhất không phải hóa đơn tiền nước, mà là mất trắng bốn mùa hoa Tần Ô. Ở San Diego, loài hoa ấy mọc khắp nơi: chỗ đất hoang, bên lề xa lộ, dọc những sườn đồi nắng cháy. Ngay sau nhà tôi, nơi lưng chừng đồi, cứ đầu tháng Hai là những bụi Tần Ô nhú xanh non; sang tháng Ba hoa nở vàng rực kéo dài suốt gần ba tháng. Màu hoa dân dã và đầy sức sống ấy từng làm lòng tôi rộn ràng; tôi rủ không biết bao nhiêu bạn bè cùng đến ngắm. Mất mùa hoa là mất đi những buổi rong chơi với các cháu, mất cả những khung hình tuổi thơ tôi treo trong nhà, giữ làm kỷ niệm trong album. Cứ nghĩ đến đó, tôi lại buồn đến tê tái lòng.

Vốn say mê chụp ảnh, tôi xem mỗi mùa hoa đến như món quà riêng của đất trời dành cho bà cháu tôi. Từ khi các cháu còn bé xíu, chúng đã trở thành "người mẫu" trong những buổi dạo đồng hoa. Mỗi lần đi ngắm hoa là một ngày đầy ắp tiếng cười, tay nắm tay, váy áo tung bay giữa trời hoa vàng, mây trắng. Mất mùa hoa nghĩa là mất luôn những buổi rong chơi và cả những khung hình rực rỡ nơi tuổi thơ đang cười tươi giữa nắng sớm lung linh. Những tấm ảnh ấy như một thứ quý giá nho nhỏ lưu giữ kỷ niệm, khiến tôi càng tiếc nuối khi mùa hoa vụt qua.

Ngoài hoa Tần Ô, San Diego còn nhiều cảnh đẹp làm say đắm lòng người. Công viên Balboa là một ốc đảo xanh giữa phố thị, với thảm cỏ mượt mà, hồ nước phẳng lặng. Rồi còn bao nhiêu viện bảo tàng, vườn Nhật, vườn xương rồng hòa quyện cùng kiến trúc Tây Ban Nha cổ kính. Mỗi bước chân dạo quanh như lạc vào một thế giới khác, vừa thư thái vừa gợi hoài niệm. Thành phố cũng nổi tiếng với những bãi biển, mỗi nơi một vẻ: La Jolla Cove với biển xanh như ngọc, vách đá ôm lấy sóng bạc; Mission Beach rộn ràng tiếng cười với xe đạp nối đuôi nhau chạy dọc bờ cát trắng; Sunset Cliffs, chỉ cần ngồi yên trên mõm đá, đôi chân thong thả đong đưa, mắt ngắm nhìn mặt trời lặn là lòng dịu hẳn lại.

Từ suốt mấy năm nay, một nơi cách nhà tôi chừng chục dặm đường đã trở thành chốn tôi hầu như tuần nào cũng ghé một hai lần: bán đảo Coronado. Muốn sang bên đó, tôi phải lái xe qua một cây cầu dài vắt ngang vịnh San Diego như dải lụa bê tông uốn cong mềm mại trên mặt nước. Đến giữa cầu, chiếc xe như được nâng lên để ngắm toàn cảnh thành phố với những tòa cao ốc lấp lánh và dòng nước êm đềm xanh trong mênh mang; đủ loại thuyền lướt qua, thuyền buồm, ca nô, du thuyền và thỉnh thoảng vài chiếc tàu hải quân hùng dũng diễn hành trước bao con mắt ngắm nhìn. Gió biển nhè nhẹ thổi lên làm mát cả thân người lẫn tâm hồn.

Qua khỏi chân cầu, tôi phải lựa chọn: rẽ vào công viên Tidelands với bãi cỏ xanh mướt, hàng cọ thẳng tắp và con đường xi măng sạch bóng để dạo bộ, hòa mình cùng trẻ con và các cặp đôi tận hưởng nắng vàng, gió mát, hoặc cứ thế chạy thẳng ra Coronado Beach.

Mấy lần đầu tôi đến rồi đi, biển Coronado không để lại ấn tượng đặc biệt nào; thậm chí còn khiến tôi khó chịu vì từ bờ xuống mé nước phải băng qua một bãi cát khô, nhiều đoạn dài cả trăm thước. Mãi sau một chuyến sang Hawaii, vợ chồng tôi mới khám phá ra thú vui đi chân trần trên cát, và từ đó nhìn Coronado bằng đôi mắt khác, như nhận ra một món quà bất ngờ vốn đã có từ lâu.

Coronado, một bãi cát dài quay ra Thái Bình Dương, bị căn cứ hải quân chặn hai đầu nên chỉ còn khoảng hai dặm dài cho người ta vui chơi; cát trắng mịn pha ánh kim trải như dải lụa, biển xanh ôm lấy đường chân trời, xa xa mái ngói đỏ của khách sạn Del Coronado nổi bật như lâu đài cổ tích. Đứng trước tòa nhà ấy, tôi nghĩ nơi này đã chứng kiến bao dấu chân người đời, từ thuở ông cha tôi còn đội khăn đóng đến hôm nay, một người đàn bà Việt xa xứ mới chịu đặt chân trần xuống cát để cảm nhận hết vẻ quyến rũ.

Mỗi buổi chiều, ánh hoàng hôn nhuộm đỏ cả bầu trời lẫn mặt biển; lớp cát khô ngày trước từng làm tôi ái ngại, giờ như đang xoa bóp dưới gan bàn chân. Càng đến gần mé nước, cát càng mềm mại, mát rượi, len vào từng kẽ chân và cả vào tâm hồn. Mỗi lần đặt chân lên cát, tôi thấy như được rửa sạch những lo toan nhỏ nhặt; mỗi hạt cát khắc một ký ức dịu êm vào lòng và gợi tôi nhớ về tuổi thơ, những chiều dắt trâu ra đồng, chân lội bùn mát lạnh in dấu trên mặt đất.

Từng bước trên cát Coronado như đưa tôi trở về, không hẳn vì cảnh vật giống nhau, mà vì cái gần gũi lặng thầm giữa thiên nhiên và lòng người. Mỗi chiều là một bức tranh mới: đôi tình nhân ôm nhau, em bé nhảy sóng, người chụp ảnh bên hàng dừa; khi mặt trời khuất, ánh đèn flash chớp lên như cố lưu giữ thêm vài khoảnh khắc cuối ngày.

Bãi biển Coronado thoai thoải hiền hòa; từ trẻ nhỏ đến người già, người biết bơi hay không, ai cũng có thể nô đùa với sóng hoặc nằm dài trên cát phơi nắng. Sau khi quen đi chân trần, tôi vẫn thấy quanh mình có những người "quê mùa" như tôi ngày trước, khó chịu chỉ vì vài hạt cát chui vào giày; nhưng rồi chính những hạt cát ấy lại đem về cho tôi nhiều niềm vui và kỷ niệm.

Những sắc vàng của hoa Tần Ô mà tôi từng bấm máy lưu giữ cho mấy đứa cháu nội nay đã nhường chỗ cho biển xanh, cát trắng và tiếng reo vui rộn ràng của hai đứa trẻ lớn lên bên tôi. Không đứa nào sợ nắng như bà, cũng chẳng ngại gió; ra đến biển, chúng như tan vào sóng: chạy không biết mỏi, miệng cứ thế hét vang, nhảy ùm xuống nước, rồi ngồi bệt nhặt vỏ sò, đuổi theo chim hải âu, tìm ông nội, thậm chí đòi chạy đua cùng ông.

Coronado gợi tôi nhớ những bãi biển quê nhà: Vũng Tàu với con đường cát trắng thoai thoải, Nha Trang với hàng dừa nghiêng bóng, Đà Nẵng chiều xuống rì rào tiếng sóng. Ở mỗi nơi màu nước, loại gió khác nhau, nhưng đều có điểm chung: gió mằn mặn thấm vào da thịt, tiếng sóng như nhịp tim biển cả, và hạt cát dưới chân lấp lánh như vụn vàng mặt trời. Giữa Coronado, tôi vừa thấy mình đứng ở một miền đất mới, vừa chạm lại những mùa hè đã xa.

Linzy, vốn quen xưng mình là "chị Hai", đứa cháu nội đầu lòng, sinh ra đúng vào năm tôi tròn sáu mươi. Sự vào đời của cháu ngày ấy là một nỗi lo lớn không chỉ riêng vợ chồng tôi mà cả bên sui gia cũng phập phồng theo dõi từng ngày. Linzy chỉ nằm trong bụng mẹ sáu tháng mười ba ngày; hình hài đỏ hỏn, bé xíu, nặng vỏn vẹn một ký năm gram. Cháu được đặt vào lồng kính như cái bụng mẹ bằng thủy tinh để giành giật từng hơi thở với sự sống. Suốt hai tháng trời cả nhà chỉ còn biết âm thầm cầu nguyện, mong sao chút sinh khí mong manh kia đủ vững vàng để bám trụ với cuộc đời. Mãi đến ngày được phép đón cháu về, ai nấy mới thở phào nhẹ nhõm như vừa vượt qua một trận bão lớn. Vậy mà giờ đây cháu đã tung tăng trên bãi biển, vừa cười vừa thách đố:

- Ông nội bắt con đi!

Còn tôi tha hồ bấm máy, lưu lại từng khoảnh khắc để mai này, khi các cháu lớn lên, chúng biết rằng đã từng có ông bà nội bên cạnh. Cái túi vải tôi luôn đeo trên vai mỗi lần ra biển chẳng có gì nhiều: áo quần khô, khăn tắm, nước uống, bánh mì, bánh ngọt, không dư thừa nhưng đủ cho một buổi dạo biển ấm áp. Mỗi lần nhìn cháu chạy nhảy, lòng tôi như tan chảy; tôi biết mình may mắn khi còn được chứng kiến và giữ lại những khoảnh khắc ấy.

Một hôm thấy tôi cầm vài chiếc lông chim hải âu đen trắng, Lya, cái tên bố mẹ đặt với ý nghĩa Love, You, Always, tròn xoe mắt hỏi:

- Bà nội nhặt mấy cái lông chim này làm chi vậy?

Tôi mỉm cười:
- Để khi cần vẽ mấy nét nhỏ thiệt nhỏ lên mấy bức tranh bà đang tô trên tường nhà.

Lya thích thú cầm lấy, rồi lượm thêm những mảnh sò bé tí, dúi vào tay tôi bảo cất vô túi. Có lần tôi nhặt được một chai rượu nhỏ, ngắt vài bông hoa dại bỏ vào, đưa cho cháu gọi là "bình bông du mục"; Lya ôm bình hoa cười khúc khích như nhận một món quà kỳ diệu.

Còn Linzy thì thích đắp cát lên người, múc nước đổ vào hố cát, vẽ số vẽ chữ bằng tay, những con số và chữ cái tôi mới dạy ở nhà. Một buổi chiều, khi đang đi dọc theo dãy đá, Linzy reo lên:

- Nội ơi, con thấy một cái baby lake!

Tôi nhìn theo ngón tay cháu: một vũng nước nhỏ trong veo nằm gọn trên phiến đá, khuất sau bụi cỏ. Trong mắt cháu đó là cả một cái hồ bí mật. Ba bà cháu rửa tay, rửa sò, hai đứa cháu nhúng cả đôi bàn chân bé xíu vào; Linzy mắt sáng rỡ:

- Linzy là người đầu tiên tìm ra cái hồ baby bí mật này! Từ nay con khỏi cần đứng chờ rửa chân ở vòi nước nữa nghen nội!

Lya phụng phịu:
- Chị Ba cũng thấy giống như chị Hai mà!

Tôi xoa dịu:
- Vậy cái "baby lake" này là của cả hai: chị Hai lẫn chị Ba.

Nhìn hai chị em hồn nhiên cười khúc khích, dẫm chân xuống vũng nước nhỏ trong đá, lòng tôi chợt nhớ tới một câu hát cũ khiến lòng se thắt: Bây giờ trong cái nón sắt của anh để lại trên bờ lau sậy này, chỉ có một con ễnh ương mượn vũng nước mưa đọng trong đó làm hồ. Trong cái nón sắt của anh bây giờ vẫn có đủ trời, vẫn mây hiền hòa trôi và bốn mùa vẫn về. Xuân muôn thuở dịu dàng, Đông rét lạnh, Thu khi xám buồn, khi rực vàng nắng quái, Hạ cháy lửa nung trời... Chiếc hồ nhỏ trong chiếc nón sắt bỏ quên giữa bờ lau sậy có thể là dấu tích cuối cùng của một người lính không trở về; còn cái hồ nhỏ hôm nay trên bãi đá Coronado là mảnh trời tuổi thơ lấp lánh, nơi sự sống tiếp tục nảy mầm qua tiếng cười của trẻ con, hai đứa cháu tôi.

Tôi không biết người chiến sĩ đã để lại chiếc nón ấy giờ ở đâu, có thể chỉ còn là một cái tên khắc trên bia đá. Nhưng tôi biết chính sự hy sinh lặng thầm của họ đã vun bồi cho buổi chiều bình yên này, với đứa cháu ôm "bình bông du mục" cười khúc khích, như thể cả thế giới chỉ còn lại niềm vui. Lòng tôi bỗng nghẹn lại trước hình ảnh quá khứ và hiện tại gặp nhau trong một khoảnh khắc mỏng manh, nhưng đầy ắp ơn nghĩa và tình người.

Chiếc hồ trong chiếc nón sắt và chiếc hồ trên bãi đá, hai hình ảnh, hai giai đoạn lặng lẽ nối nhau qua những thế hệ. Và tôi, người từng đi qua khói lửa, giờ bên cháu mình, thấy lòng ấm lại. Trong ánh hoàng hôn nhạt màu, tôi thầm cảm tạ Ơn Trên và gọi tên những người vô danh đã để lại cho đời những vũng nước nhỏ để cháu con mai sau có nơi in dấu bàn chân đầu đời. Bãi biển Coronado, trong khoảnh khắc ấy, hiện lên như một phép ẩn dụ cho những điều quý giá âm thầm ẩn mình giữa đời sống, chờ một bàn tay nâng niu để bừng sáng.

Sapy Nguyễn Văn Hưởng

Chú thích của TG: Viết theo lời kể của bà nội để riêng tặng vợ tôi và hai đứa cháu nội.



Blog Archive