Thursday, July 2, 2026

Phiếm

Dạo gần đây mình lên Rednote (mạng xã hội của người Trung Quốc), trên này họ bắt đầu chia sẻ về cơ sở hạ tầng của Mỹ và nền kinh tế phát triển của Mỹ. Ở Trung Quốc đang phát triển thần tốc và với những gì báo chí nói xấu về nước Mỹ thì người Trung Quốc trẻ đang có những suy nghĩ rằng nước Mỹ lạc hậu và kém phát triển về mặt cơ sở hạ tầng giao thông, công trình công cộng. 

Nhưng sau khi xem các giải đá World Cup và xem các Vlogger chia sẻ về nước Mỹ, cư dân mạng Trung Quốc cảm thấy nhận thức của họ đang bị sai về nền kinh tế Mỹ và cơ sở vật chất ở Mỹ.

Họ nhận ra là nền thể thao Mỹ phát triển quá mạnh và có quá nhiều sân vận động đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế cho các sự kiện thể thao và chất lượng, họ khen là kinh tế phải mạnh đến mức nào mới có thể lấp kín được các sân vận động hàng trăm ngàn chỗ ngồi. Họ cũng khen rằng không khí World Cup cởi mở và người Mỹ rất thân thiện, không hề cảm thấy nguy hiểm như báo chí nói. Họ cũng nhận ra là dù nước Mỹ không có tàu cao tốc nhưng nhịp sống và việc đi lại chẳng làm chậm kinh tế của Mỹ. 

Một số bình luận còn nhận định là sức mua của Mỹ đang vượt xa Trung Quốc và các khía cạnh tệ nạn chỉ là một phần nhỏ của Mỹ. Còn có những bình luận khen tinh tế hơn nói rằng nền thể thao của Mỹ quá phát triển đến mức cảm thấy Trung Quốc vẫn còn ở quá xa.

Mình chia sẻ những gì mình quan sát trên mạng xã hội, có thể chưa phản ánh hết sự thật, nhưng mình muốn nói với độc giả rằng những gì báo chí nói (ở bất kỳ đâu, bất kỳ quốc gia nào) đang điều hướng bạn và nói dối bạn. 

Dạo này mình chẳng còn tập trung vào xem báo nữa, dù mình rất quan tâm chủ đề kinh tế chính trị, thay vì thế mình quan tâm vào góc nhìn của mỗi người thông qua những bình luận, những bài chia sẻ, những cuộc nói chuyện ngoài đời.

FB Tran Trung Hieu


"Vatican có tin vào phép lạ không?"

Nhân dịp sự kiện lớn Cha Trương Bửu Diệp được phong Chân phước, mình bàn đôi chút về chủ đề: "Vatican có tin vào phép lạ không?"

QUY ĐỊNH CỦA VATICAN VỀ CHÂN PHƯỚC VÀ HIỂN THÁNH

Vatican có một quy trình pháp lý và thần học rất chặt chẽ, có thể kéo dài hàng chục, thậm chí hàng trăm năm. Tiến trình này do Bộ Phong Thánh (Dicastery for the Causes of Saints) phụ trách.

Bốn giai đoạn trong tiến trình phong thánh:

Tôi tớ Chúa (Servant of God)
Đấng Đáng kính (Venerable)
Chân phước (Blessed)
Hiển thánh (Saint)

ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHONG CHÂN PHƯỚC

Để phong Chân Phước thì cần có một trong hai điều kiện:

Tử đạo: Nếu một người được xác nhận đã chết vì sự thù ghét đức tin (odium fidei) hoặc vì trung thành với đức tin, không cần có phép lạ để được phong Chân phước.

Nếu không tử đạo, thông thường phải có ít nhất một phép lạ được cho là nhờ lời chuyển cầu của người đó. Và phép lạ phải được Vatican điều tra và công nhận.

TRƯỜNG HỢP CỦA CHÂN PHƯỚC PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP

Điều đặc biệt trong trường hợp của Cha Trương Bửu Diệp là có sự khác biệt giữa "những phép lạ được người dân truyền tụng" và "phép lạ được Vatican chính thức công nhận".

Từ sau khi cha Diệp qua đời năm 1946 đến nay, Nhà thờ Tắc Sậy và các tổ chức liên quan đã ghi nhận rất nhiều lời chứng của các tín hữu. Họ kể rằng sau khi cầu nguyện qua lời chuyển cầu của cha Diệp, họ đã:

* Khỏi bệnh hiểm nghèo.
* Thoát khỏi tai nạn.
* Có con sau nhiều năm hiếm muộn.
* Vượt qua khó khăn tài chính hoặc pháp lý.
* Tìm được việc làm hoặc đoàn tụ gia đình.

Nhiều video và sách về "Ơn Cha Diệp" cũng ghi lại các câu chuyện này. Tuy nhiên, lý do là cha Diệp được phong Chân phước theo diện tử đạo, chứ không phải là do phép lạ. Hiện tại Vatican chưa chính thức công nhận các phép lạ mà các nhân chứng công nhận, cần thêm thời gian kiểm chứng.

Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (1897-1946) là một linh mục Công giáo thuộc Giáo phận Cần Thơ, được rất nhiều người Việt Nam kính mến vì tinh thần hy sinh bảo vệ giáo dân.

Theo các tài liệu của Giáo hội, vào ngày 12 tháng 3 năm 1946, trong bối cảnh chiến sự và xung đột tại miền Tây Nam Bộ, cha Diệp đã tình nguyện ở lại với giáo dân thay vì bỏ chạy. Khi lực lượng vũ trang bắt giữ một số giáo dân và đe dọa giết họ, cha xin được chết thay để họ được tha. Sau đó, cha bị sát hại. Chính sự hy sinh vì đức tin và vì đoàn chiên là nền tảng để Giáo hội xem xét ngài như một vị tử đạo.

Sau khi qua đời, mộ cha tại Nhà thờ Tắc Sậy (huyện Giá Rai, tỉnh Cà Mau; trước đây thuộc tỉnh Bạc Liêu) trở thành một trong những điểm hành hương Công giáo lớn nhất Việt Nam. Mỗi năm có hàng triệu người đến viếng, không chỉ người Công giáo mà còn nhiều người thuộc các tôn giáo khác hoặc không theo tôn giáo nào. Nhiều người tin rằng họ đã nhận được sự nâng đỡ hoặc những ơn lành sau khi cầu nguyện qua lời chuyển cầu của cha Diệp.

PHÉP LẠ TRONG TIẾN TRÌNH PHONG THÁNH LÀ GÌ? AI ĐÃ ĐƯỢC PHONG THÁNH GẦN ĐÂY?

Thông thường, phép lạ được hiểu là một biến cố:

* Không thể giải thích bằng kiến thức khoa học hiện có.
* Xảy ra sau khi người cầu nguyện chỉ xin sự chuyển cầu của vị đang được xét phong thánh.
* Có bằng chứng y khoa và nhân chứng đầy đủ.
* Phép lạ phải trải qua quá trình điều tra rất chặt chẽ của các bác sĩ, thần học gia và Bộ Phong Thánh của Vatican.
* Cuối cùng, Đức Giáo hoàng sẽ quyết định có tuyên phong Hiển thánh hay không.

Ví dụ phổ biến nhất là:

* Người mắc bệnh nan y được chữa khỏi hoàn toàn.
* Sự hồi phục xảy ra đột ngột.
* Không có phương pháp điều trị nào giải thích được.
* Người bệnh không tái phát trong nhiều năm.

Một vị nổi tiếng được phong Hiển Thánh gần đây:

Mẹ Têrêsa Calcutta được phong Chân phước năm 2003 và Hiển thánh năm 2016 (13 năm sau). Để được tuyên phong Hiển thánh, Mẹ Têrêsa Calcutta (Thánh Têrêsa thành Calcutta) đã có hai phép lạ được Vatican chính thức công nhận.

Phép lạ thứ nhất (để được phong Chân phước năm 2003):
Người được cho là nhận phép lạ là Monica Besra, một phụ nữ nghèo ở bang Tây Bengal, Ấn Độ. Monica mắc một khối u lớn ở vùng bụng, kèm theo nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

Ngày 5 tháng 9 năm 1998, đúng một năm sau khi Mẹ Têrêsa qua đời, các nữ tu của Dòng Thừa sai Bác ái đặt một ảnh nhỏ và một huy chương có hình Mẹ Têrêsa lên bụng bà, rồi cùng cầu nguyện xin Mẹ chuyển cầu. Monica kể rằng trong đêm đó bà thấy một luồng ánh sáng phát ra từ bức ảnh, và sáng hôm sau khối u biến mất.

Vatican điều tra như thế nào?
* Hồ sơ được xem xét trong nhiều năm.
* Thu thập toàn bộ bệnh án.
* Lấy lời khai của các bác sĩ.
* Hội đồng y khoa của Vatican đánh giá.
* Hội đồng thần học xem xét việc cầu nguyện có thực sự hướng đến Mẹ Têrêsa hay không.

Đến tháng 12 năm 2002, Vatican kết luận rằng sau khi xem xét toàn bộ hồ sơ và ý kiến chuyên môn, sự hồi phục không thể giải thích đầy đủ bằng y học, nên công nhận đây là phép lạ theo tiêu chuẩn của Giáo hội.

Phép lạ thứ hai (để được phong Hiển thánh năm 2016)
Người được cho là nhận phép lạ là Marcilio Haddad Andrino, một kỹ sư người Brazil. Ông mắc nhiều áp-xe não (brain abscesses), tình trạng rất nguy hiểm. Ông được chỉ định phẫu thuật khẩn cấp.

Trước ca mổ, vợ ông cùng cộng đoàn giáo xứ cầu nguyện xin Mẹ Têrêsa chuyển cầu.

Theo hồ sơ, ngay trước khi ca mổ diễn ra:

* Các triệu chứng biến mất.
* Kết quả kiểm tra cho thấy các tổn thương đã hết.
* Ông hồi phục hoàn toàn và sau này vẫn có cuộc sống bình thường.

Sau nhiều năm điều tra, tháng 12 năm 2015, Đức Giáo hoàng Phanxicô phê chuẩn đây là phép lạ thứ hai. Nhờ đó, ngày 4 tháng 9 năm 2016, Mẹ Têrêsa được tuyên phong Hiển thánh với tước hiệu Thánh Têrêsa thành Calcutta.

TÓM LẠI

Qua quy trình phong Chân phước và Hiển thánh, có thể thấy Vatican không phủ nhận phép lạ, nhưng cũng không chấp nhận một cách cảm tính. Mỗi trường hợp đều phải trải qua quá trình kiểm chứng rất nghiêm ngặt trước khi được công nhận.

Khoa học, thần học và các ngành nghiên cứu khác đều đang tiếp tục tìm lời giải cho những điều con người chưa hiểu hết.

Nếu bạn yêu thích thần học, lịch sử tôn giáo hay huyền học, đừng ngần ngại học hỏi với một tinh thần cởi mở, tôn trọng chứng cứ và không ngừng tìm kiếm tri thức.

Hình là mình chụp nhà thờ St. Andrew's Church, nằm tại 73 Simcoe Street, Toronto. 

Được thành lập năm 1830, là một trong những giáo đoàn Trưởng Lão lâu đời nhất ở Canada. Công trình được công nhận là di sản theo Ontario Heritage Act nhờ giá trị kiến trúc và lịch sử. 

Dòng chữ trên bảng điện tử: "Out of the Cold - Take-Away Breakfast" - là chương trình phục vụ bữa sáng và hỗ trợ người vô gia cư, một hoạt động cộng đồng mà St. Andrew's đã duy trì nhiều năm

Jenny Dang

BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO MARCO RUBIO RA QUÂN "QUÉT" CÁC ĐƯỜNG DÂY DU LỊCH SINH CON

Chào bạn! Chính quyền Hoa Kỳ đang thực hiện những động thái quyết liệt nhằm siết chặt các quy định nhập cảnh. Bộ Ngoại giao vừa triệt phá một mạng lưới du lịch sinh con tinh vi tại Tây Phi, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc bảo vệ tính toàn vẹn của quốc tịch Mỹ.

Dưới đây là các chi tiết chính của vụ việc:

1 - CHIẾN DỊCH QUÉT PHÁ MẠNG LƯỚI BẤT HỢP PHÁP

* Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã chính thức đóng cửa một mạng lưới du lịch sinh con quy mô lớn tại khu vực Tây Phi.
* Hơn 100 thị thực (visa) đã bị thu hồi ngay lập tức đối với những cá nhân sử dụng visa du khách nhằm mục đích nhập cảnh để sinh con, từ đó cố gắng đảm bảo quyền công dân Mỹ cho con cái của họ.

2 - THÔNG ĐIỆP CỨNG RẮN TỪ BỘ TRƯỞNG MARCO RUBIO

* Bộ trưởng Ngoại giao Marco Rubio đã đưa ra tuyên bố đanh thép: "Không một người nước ngoài nào được phép sử dụng thị thực du khách với mục đích du lịch sinh con".

* Dưới sự chỉ đạo của Tổng thống Trump, Bộ Ngoại giao khẳng định quyết tâm bảo vệ tính toàn vẹn của hệ thống nhập cư và giá trị của quốc tịch Mỹ trước các hình thức lợi dụng chính sách.

GÓC NHÌN VỀ CHÍNH SÁCH NHẬP CƯ

Hành động này cho thấy xu hướng quản lý nghiêm ngặt hơn đối với các đối tượng lợi dụng lỗ hổng visa để đạt được mục đích nhập cư không đúng quy định. Đối với cộng đồng, việc hiểu rõ các quy định và tôn trọng tính hợp pháp của thị thực là vô cùng quan trọng để tránh những rủi ro pháp lý không đáng có khi nhập cảnh vào Hoa Kỳ.

Bạn có nhận định thế nào về việc chính phủ siết chặt các hoạt động liên quan đến "du lịch sinh con" để bảo vệ tính toàn vẹn của quốc tịch Mỹ?



Singapore tịch thu biệt thự 55 triệu SGD trong vụ nghi buôn lậu chip Nvidia

Lâm Yến•Thứ Năm, 02/07/2026

Ngày 1/7, Chính phủ Singapore đã tịch thu một căn biệt thự trị giá khoảng 55 triệu đô la Singapore (SGD) và truy tố những người liên quan với cáo buộc rửa tiền. Theo giới chức, vụ án có liên quan đến một đường dây bị nghi ngờ buôn lậu chip của Nvidia qua biên giới.

Căn nhà Singapore bị cảnh sát tịch thu. (Nguồn: Google Map)

Trong một tuyên bố, cảnh sát Singapore cho biết 2 nghi phạm Lim Jenny và Woon Guo Jie Aaron, bị cho là có liên quan đến hoạt động buôn lậu, đang phải đối mặt với các cáo buộc rửa tiền.

Vụ việc liên quan đến cuộc điều tra mà Singapore đã triển khai trước đó. Với sự phối hợp của Mỹ và Malaysia, cảnh sát Singapore cáo buộc Woon Guo Jie Aaron cùng 2 nghi phạm khác là Li Ming và Wei Zhaolun có hành vi gian lận trong quá trình mua sắm máy chủ.

Cả 4 người gồm Lim Jenny, Woon Guo Jie Aaron, Li Ming và Wei Zhaolun đều có liên quan đến một số công ty cũng bị truy tố trong vụ buôn lậu chip. Trong đó, Li Ming là công dân Trung Quốc, 3 người còn lại đều là công dân Singapore.

Kết quả điều tra cho thấy các cá nhân hoặc tổ chức liên quan đã khai báo gian dối khi mua máy chủ từ các tập đoàn công nghệ Mỹ Dell, Super Micro Computer (Supermicro) và nhà sản xuất điện tử Đài Loan ASUS, nhằm che giấu danh tính của người sử dụng cuối cùng.

Cảnh sát Singapore cáo buộc Lim Jenny, Woon Guo Jie Aaron và Wei Zhaolun đã “cấu kết thực hiện hành vi gian lận” để mua máy chủ từ 3 nhà cung cấp nói trên.

Wei Zhaolun còn bị truy tố về tội rửa tiền sau khi cảnh sát phát hiện tài khoản ngân hàng cá nhân của ông ta có khoảng 5,8 triệu SGD, trong đó một phần được cho là có nguồn gốc từ hoạt động phạm tội. Wei cũng bị cáo buộc sử dụng số tiền bất hợp pháp này để mua căn biệt thự hiện đã bị cơ quan chức năng tịch thu.

Cảnh sát đã ban hành lệnh cấm chuyển nhượng đối với căn biệt thự trị giá khoảng 55 triệu SGD. Ngoài việc phong tỏa tài sản, lệnh này còn cấm mọi hoạt động mua bán hoặc chuyển nhượng bất động sản.

Cảnh sát nhấn mạnh trong tuyên bố: “Cảnh sát áp dụng chính sách không khoan nhượng đối với các hành vi vi phạm pháp luật như vậy và sẽ kiên quyết trấn áp mọi cá nhân hoặc doanh nghiệp vi phạm pháp luật, nhằm bảo vệ vị thế của Singapore là một trung tâm tài chính và thương mại toàn cầu đáng tin cậy, được xây dựng trên nền tảng pháp quyền”.

Bốn bị cáo phải đối mặt với nhiều tội danh. Nếu bị kết tội trong vụ buôn lậu chip, họ có thể phải chịu mức án tối đa 20 năm tù và phạt tới 500.000 SGD.

Năm 2025, giới chức Singapore cho biết một số máy chủ chứa các chất bán dẫn thuộc diện kiểm soát xuất khẩu của Mỹ đã được vận chuyển từ Singapore sang Malaysia. Các thiết bị này có thể sử dụng chip trí tuệ nhân tạo của Nvidia. Mỹ hiện cấm xuất khẩu các loại chip AI tiên tiến này sang Trung Quốc.

Từ năm 2022, Mỹ đã cấm xuất khẩu các dòng chip cao cấp của Nvidia với lý do lo ngại chúng có thể bị chính quyền Trung Quốc sử dụng cho mục đích quân sự.

Theo Lâm Yến/ Epoch Times

nguồn trithucvn2.net. 

Tại sao mình chọn rời xa nước Úc – Một quyết định mâu thuẫn nhưng chân thật

Câu hỏi mình nhận được nhiều nhất từ ngày trở về là: "Tại sao lại chọn trở về khi Úc là giấc mơ của biết bao người?"

Thú thật, trong suốt 3 năm ở Úc, mình cũng đã tự hỏi bản thân câu ấy hàng trăm lần. Và hôm nay, mình muốn chia sẻ một chút trải lòng, không phải để so sánh hay phủ nhận, mà chỉ để gọi tên những cảm xúc mà có lẽ, chỉ người trong cuộc mới thấu hiểu.

Nếu nói về Úc, mình vẫn dành cho đất nước này sự ngưỡng mộ tuyệt đối. Một hệ thống an sinh nhân văn, nơi giá trị sức lao động được tôn trọng và sự tự do cá nhân được đặt lên hàng đầu. Đó là môi trường mà bất cứ ai cũng mong được trải nghiệm ít nhất một lần trong đời.

Nhưng, cuộc sống đôi khi không chỉ là những con số trong tài khoản ngân hàng hay những tiện ích xã hội hiện hữu. Đâu đó sâu thẳm, mình nhận ra một "chiếc trần vô hình" – một rào cản dày đặc ngăn cách mình với sự tự do mà mình hằng khao khát.

Đó là rào cản ngôn ngữ khiến mình đôi khi bất lực, không thể diễn đạt trọn vẹn những suy nghĩ sâu kín nhất. Đó là sự lạc lõng khi đứng giữa một concert, mọi người nhún nhảy theo giai điệu, còn mình như một khúc gỗ vô tri vì không "cảm" được thứ họ cảm. Đó là khi ngồi cùng đồng nghiệp sau giờ làm, người ta bàn về những bộ phim, những trò chơi, những ký ức tuổi thơ mà mình hoàn toàn xa lạ. Đó là những ngày ốm đau cũng không dám nghỉ, vì ở nơi đất khách, chỉ cần dừng lại một nhịp là mọi thứ dường như sẽ trượt khỏi tầm tay. Và đó là cảm giác khi nhìn thấy một cơ hội, một công việc trong mơ, nhưng cánh cửa đó dường như chưa bao giờ mở ra cho mình, dù mình đã nỗ lực gõ cửa hàng nghìn lần.

Mâu thuẫn thay, ở một đất nước tự do nơi người ta được phép sống là chính mình mà không sợ phán xét, mình lại thấy mình không thực sự có được "sự tự do lựa chọn" lối sống cho riêng mình. Mọi thứ dường như luôn đòi hỏi mình phải nỗ lực gấp đôi, gấp ba chỉ để giữ được sự cân bằng, khiến cho những lựa chọn về sở thích, về đam mê đôi khi trở thành những thứ xa xỉ.

Mình nhận ra, Úc cho mình những điều kiện sống tuyệt vời – những giá trị hữu hình có thể đong đếm. Nhưng đổi lại, mình phải đánh đổi những giá trị vô hình bên trong mà mình luôn theo đuổi để cảm thấy được là chính mình.

Trở về không phải vì Úc không tốt, mà vì mình nhận ra mình thuộc về nơi tâm hồn được gọi tên trọn vẹn bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, nơi những sợi dây kết nối văn hóa đủ sâu để mình cảm thấy thực sự thuộc về.

Viết những dòng này, mình muốn nhắn nhủ với những ai đang đứng trước những quyết định lớn của đời mình: Mọi lựa chọn đều có giá trị riêng. Đừng cảm thấy tội lỗi nếu một ngày bạn nhận ra mảnh đất mình đang đứng không phải là nơi dành cho mình. Mỗi hành trình đều là một bài học. Và quan trọng nhất, chúng ta đều xứng đáng được hạnh phúc – dù là ở bất cứ đâu.

Nguyen Vu Quynh Tram

Lan man: khi một địa phương bị mất tên

Có lần tôi đi ăn sáng ở một quán cơm tấm vỉa hè trong một con hẻm nhỏ tại Quận 1. Quán nhỏ, bàn thấp, xe gắn máy thỉnh thoảng ra vào hẻm, nói chung là một buổi sáng tiêu biểu của một thành phố vẫn ồn ào như hồi nào.

Tôi nhìn ra con đường trước mặt và buột miệng nói:
“Đây là đường Yên Đỗ ngày xưa.”

Chị bán cơm tấm nhìn tôi, hơi giật mình. Chị nói:
“Lâu lắm rồi mới có người nhắc đến cái tên đó. Anh chắc là ở nước ngoài?”

Tôi gật đầu.

Sau vài câu chuyện, tôi mới biết chị từng là giáo viên của trường Trung học Gia Long nổi tiếng trước năm 1975. Bỗng nhiên, giữa một buổi sáng bình thường, giữa dĩa cơm tấm và tiếng xe ngoài đường, có những cái tên cũ hiện về: Yên Đỗ, Gia Long, Sài Gòn.

Những cái tên đó như những cánh cửa nhỏ mở ra một địa danh đã lui vào trí nhớ.

Tôi nhớ hoài cái nhìn giật mình của chị. Cái giật mình đó cho thấy một sự thật: có những tên tưởng đã mất, nhưng thật ra vẫn còn nằm đâu đó trong lòng người. Chỉ cần ai đó gọi lên, chúng trở lại. Chúng trở lại cùng với tuổi trẻ, trường xưa, đường cũ, bạn bè cũ, và một đời sống đã bị lịch sử đẩy sang bên kia bờ.

Tên của một địa phương là như vậy. Nó là chiếc chìa khóa mở vào ky' ức. Nếu bạn từng xa quê và nghe lại tên làng cũ, tên đường cũ, tên trường cũ, tự nhiên bạn thấy lòng mình chùng xuống. Có khi trong một tiếng gọi ngắn ngủi có khi chứa cả một đời người. Có khi một cái tên tuy chẳng có gì sang trọng, như Sài Gòn hay Kiên Giang chẳng hạn, nhưng nó là cả một trời ky' ức. Có mùi vị và âm thành của buổi sáng cũ. Có bóng cây bên đường. Có tà áo mấy cô nữ sinh. Có tiếng trống trường. Có một người thầy, một người bạn, một người thân đã khuất. Có khi có cả một thời thanh xuân mà người ta tưởng đã quên.

Nói như vậy để thấy rằng địa danh nó mang nhiều hơn một tên gọi. Nói ví von, nó là nơi mà ky' ức trú ngụ trong ngôn ngữ. Người ta sống trong một thành phố, nhưng người ta cũng sống trong tên của thành phố đó. Người ta đi trên một con đường, nhưng trong tâm tưởng, con đường đó mang theo những lớp đời đã đi qua. Tên gọi nối người hôm nay với người hôm qua. Nối hiện tại với những gì đã khuất.

Đổi tên một địa danh là một cách sắp xếp lại ky' ức: từ nay nơi này phải được nhớ bằng một cái tên khác, một lịch sử khác, một trật tự khác. Bản đồ được in lại. Sách giáo khoa dùng tên mới. Người trẻ lớn lên với tên mới.

Nhưng trong lòng người cũ, có một sự đứt đoạn.
Những người từng sống với tên cũ bỗng thành những chứng nhân. Họ nhớ một cái tên mà người trẻ chưa từng nghe, như tôi nhớ đến Yên Đỗ mà anh tài xế Grab nghe như xa lạ.

Họ nói “ngày xưa chỗ này gọi là…” và câu nói đó tự nó đã mang một nỗi buồn. Nỗi buồn của người còn giữ chìa khóa, nhưng căn nhà cũ đã đổi bảng số. Nỗi buồn của người còn nhớ đường về, nhưng tên đường trên bản đồ đã khác.

Tôi nghĩ đến chị giáo viên Gia Long bán cơm tấm buổi sáng hôm đó. Với một người đi ngang, chị chỉ là người bán hàng. Nhưng khi nghe hai chữ Yên Đỗ, trong chị chắc có một miền ky' ức sống dậy. Có thể là sân trường Gia Long. Có thể là đồng nghiệp cũ. Có thể là học trò cũ. Có thể là những buổi sáng mặc áo dài đi dạy.
Cái tên Yên Đỗ hôm đó là một dịp như vậy.

Tôi nói ra một tên đường cũ. Chị ấy nghe được một tín hiệu từ quá khứ. Giữa hai người xa lạ bỗng có một sợi dây nối liền: sợi dây của một Sài Gòn cũ. Tôi ở xa về. Chị ở lại. Nhưng cả hai đều nhận ra rằng cái tên ấy từng có thật, từng thuộc về thành phố này, từng nằm trên miệng nói của bao nhiêu người.

Có lẽ sự mất mát lớn nhứt khi địa danh bị đổi tên là con người bị buộc phải sống trong hai lớp bản đồ. Một bản đồ hiện tại, dùng cho giấy tờ và đời sống hằng ngày. Một bản đồ khác nằm trong trí nhớ. Trên bản đồ thứ hai đó, những tên cũ vẫn còn nguyên: Tự Do, Công Lý, Hồng Thập Tự, Cộng Hoà, Yên Đỗ, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, v.v. Trường cũ vẫn mang tên cũ. Đường cũ vẫn mang tên cũ. Thành phố cũ vẫn hiện ra với giọng nói và những con người của nó.

Người đi xa thường giữ bản đồ thứ hai rất ky. Họ giữ tên cũ như giữ một mảnh căn cước. Vì nơi chốn đối với người xa quê thường bắt đầu bằng tên gọi. Nói “Sài Gòn” khác với nói một cái tên hành chánh “Thành phố Hồ Chí Minh”. Nói “Gia Long” khác với nói tên mới của một ngôi trường. Nói “Yên Đỗ” khác với nói tên hiện nay của con đường. Mỗi tên gọi mang theo một tinh thần riêng.

Tất nhiên, lịch sử luôn biến động. Đâu có ai tắm trên một dòng sông hai lần. Người xưa nói vậy. Tên đất, tên đường, tên trường có thể thay đổi theo thời gian. Nhưng cách thay đổi cho thấy thái độ của một xã hội đối với quá khứ. Một cái tên được cộng đồng chọn lựa qua suy nghĩ và thảo luận là một chuyện. Một cái tên bị gỡ xuống vì quyền lực muốn xóa một thời kì lịch sử là chuyện khác vì đó là một hình thức cắt ky' ức.

Mà ky' ức bị cắt thì lịch sử bị rời rạc.
Một dân tộc cần ky' ức để biết mình là ai. Ky' ức giúp người ta hiểu tại sao một con đường có tên đó, tại sao một ngôi trường được gọi như vậy, tại sao một dòng sông hay một khu chợ được nhắc đến bằng giọng thân thương. Khi những tên gọi cũ biến mất khỏi đời sống, người trẻ mất dần cơ hội hỏi về quá khứ. Họ đi qua một con đường mỗi ngày mà ít biết dưới lớp tên hiện tại còn có một lớp tên khác, và dưới lớp tên đó còn có một lớp đời sống khác.

Tôi rời quán cơm tấm hôm đó với một cảm giác lạ. Dĩa cơm đã ăn xong, đường phố vẫn ồn ào, thành phố vẫn tiếp tục trôi theo nhịp sống của nó. Nhưng trong tôi còn vang lại câu nói của chị:
“Lâu lắm rồi mới có người nhắc đến cái tên đó.”

Nghe như một lời than nhẹ. Cũng có thể như một lời mừng. Mừng vì cái tên đó vẫn còn người nhớ. Mừng vì giữa một thành phố đã đổi nhiều bảng hiệu, vẫn còn những người nhận ra nhau bằng một tên đường cũ.

Hôm nay (2/7/2026) ky niệm 50 năm ngày "Sài Gòn" thành "Thành phố Hồ Chí Minh" khiến tôi nhớ tới những lời nhạc trong ca khúc bất hủ "Sài Gòn niềm nhớ không tên" (mà ở Việt Nam ít ai nghe qua) của Nguyễn Đình Toàn. Ca khúc này nói lên rằng đổi tên một địa phương không chỉ là thay một danh xưng, mà là can thiệp vào ky' ức, bản sắc và 'cảm giác thuộc về' (sense of belonging) của cộng đồng.

Nguyen Tuan

"The Invisible Coup: How American Elites and Foreign Powers Use Immigration as a Weapon"

Với việc tuyên bố : Trẻ em sinh ở Mỹ là dân Mỹ của T́ối cao pháp viện đã làm cho quyển sách The Invisible Coup: How American Elites and Foreign Powers Use Immigration as a Weapon của Peter Schweizer/ Cuộc đảo chính ngầm: Giới tinh hoa Mỹ và các cường quốc nước ngoài sử dụng nhập cư như một vũ khí thành quyển sách bán chạy nhất của New York Times hiện nay. 

Quyển sách vạch trần nạn di cư ồ ạt như một mối đe dọa an ninh quốc gia. Với hơn 1 triệu công dân Mỹ đang sống ở Trung Cộng. Số cử tri này sẽ ảnh hưởng rất mạnh đến chính sách của Mỹ trong tương lai. Những nghiên cứu gần đây về số công dân Mỹ ở Trung Cộng chỉ vài chục ngàn người đều trật lật. Trung cộng đã lợi dụng kẻ hở của hiến pháp Mỹ trong 30 năm qua, không phải chỉ 1-2 năm như những nghiên cứu vừa đưa ra.

Số người cha hay mẹ là công dân Mỹ, đang sống ở Trung cộng trong 30 năm qua vẫn tiếp tục sinh đẻ và những trẻ con mới sinh sau sẽ là công dân Mỹ từ lúc mới sinh và họ cũng sẽ có cháu là công dân Mỹ, mặc dù cha mẹ họ không biết một tiếng Mỹ và họ cũng không sống trên đất Mỹ.

Chưa ai nói với bạn, trẻ em có quốc tịch Mỹ phải được chính phủ Mỹ cấp tiền tài trợ hàng tháng cho đến 18 tuổi. không cần biết đứa trẻ đang sống ở đâu.

Quyền sách này đang làm rúng động giới chánh trị Mỹ, cộng hoà cũng như dân chủ.

Chủ tịch Hạ viện Mike Johnson sáng hôm nay cũng vửa cho biết. Mỗi năm có 260.000 trẻ sơ sinh được tự động nhập quốc tịch mặc dù cha mẹ chúng là người nhập cư bất hợp pháp.

Nhìn lại kế hoạch chiếm Mỹ của Trung cộng không lâu lắm, mới chỉ có 30 năm. 30 năm nữa cũng không xa bao nhiêu.

Chỉ nhìn những người Hồi giáo vừa được Obama cho nhập cư vào năm 2010.

Chỉ 16 năm sau, Họ đang nắm quốc hội, quan toà, thị trưởng đang phá muốn banh nước Mỹ, thì sẽ thấy với kế hoạch 60 năm của Trung Cộng ghê gớm thế nào.

FB Le Hoang


The Invisible Coup: How American Elites and Foreign Powers Use Immigration as a Weapon – The New York Times Bestseller Exposing Mass Migration as a National Security Threat

Ngày Ba Mãn Kiếp 



Sau 94 năm làm người dương thế với bao hệ lụy đắng cay muộn phiền của Sinh Lão Bệnh, ba tôi giờ đây đã đến cửa Tử theo quy luật kiếp người để lại lòng tôi một nỗi mất mát lớn lao, thương tiếc không biết đến bao giờ.

Cách nay tám ngày, vào một buổi chiều, ba tôi bị nghẹt đàm khó thở, người nhà gọi xe cấp cứu đưa vào bệnh viện. Tại đây các bác sĩ chẩn bệnh, cho thử máu, chụp hình phổi, siêu âm tim. Kết quả là phổi ông có nước, huyết áp xuống thật thấp, thận đã ngưng hoạt động, tim chỉ còn thoi thóp với nhịp đập rất yếu. Họ nói với số tuổi của ông, họ không thể cứu chữa gì được, chỉ cho thở dưỡng khí và chích morphine cầm chừng cho ông đỡ đau đớn vật vã trong lúc chờ giờ ra đi. Họ đoán rằng có thể ông sẽ không qua khỏi đêm nay, hoặc đêm mai, bảo người nhà chúng tôi hãy vào gặp ông lần cuối.

Chúng tôi gồm dâu rể con cháu hối hả đổ ào vào nhà thương mong được nhìn mặt ông trong giây phút lâm chung nhưng đêm đó số ông chưa tới, ông cứ nằm thiêm thiếp, mắt nhắm nghiền, hơi thở nặng nhọc đứt quảng. Và qua ngày sau vẫn tình trạng như vậy tiếp diễn, kéo dài sự sống mong manh cho tới ngày thứ tám thì hơi thở yếu dần dần rồi bỗng như ngọn đèn đứt bóng vụt tắt phụp, chấm dứt một kiếp người. Trong tám ngày đó, trước cửa phòng ông có dán hình hai con bướm với tín hiệu cho biết đây là phòng của một bệnh nhân đang hấp hối. Mỗi ngày vào thăm ba, nhìn dòng chữ "End- OF- Life" tôi nghe lòng quặn thắt biết rằng mình sắp vĩnh viễn mất đi người cha thương yêu nhứt trên đời.

End- Of- Life Sign

Chị em chúng tôi thay phiên nhau túc trực bên giường ông ngày đêm, quý từng giờ từng phút còn được thấy, được cầm tay, vuốt ngực, lau mặt cho ông và thầm thì nói với ông vài lời sau cuối dù không biết ông có cảm nhận được gì hay không. Vợ chồng em gái tôi và hai đứa con gái lứa tuổi mười tám đôi mươi của nó, vốn là Phật tử thuần thành đã quy y Tam Bảo liên tục hộ niệm cho ông không ngừng để khi ông tắt hơi, hồn lìa khỏi xác thì sẽ được vãng sanh về nơi cực lạc. Và buổi chiều khi ông trút hơi thở sau cùng, em tôi và hai cháu vẫn nán lại tụng niệm suốt tám tiếng đồng hồ trước khi báo cho y tá để họ đem thi hài đi.

Má tôi qua đời ba năm trước bỏ lại mình ba tôi lẻ loi cô độc, sớm chiều buồn bã ngẩn ngơ mặc dù có con cháu bên cạnh thương yêu chìu chuộng hết lòng. Nỗi buồn mất mát người bạn đời cộng thêm tuổi già chồng chất, ông càng ngày càng suy yếu sinh ra đủ thứ bệnh tật. Mắt mù một bên, bên còn lại chỉ còn thấy mờ mờ, tai điếc nặng, chân cẳng cứng đơ, khó khăn lắm mới đi được vài bước trong nhà. Ông đã bị suy thận từ lâu phải gắn urinary catheter và mang túi nước tiểu kè kè bên mình, lại thêm bệnh Parkinson và Dementia. Nhiều khi ông không nhớ là má đã chết, hỏi em tôi đã cho má ăn chưa, sao không mời má xuống ăn chung với mình họặc có khi ông không biết mình đang ở đâu, bảo dẫn ông về nhà. Hoặc có khi ông nói sảng với một bà khuất mặt khuất mày nào đó rằng "Bà ơi, bà làm ơn dẫn tui đi đi, mắt tui không thấy đường, chân cẳng tui đi không được, bà làm ơn làm phước dẫn tui về đi bà" nghe mà đứt ruột.

Vì tôi không đủ sức khỏe chăm nom đỡ đần ông, em gái tôi lãnh nhiệm vụ săn sóc ông 24/24 rất là vất vả, nhứt là ban đêm, ông cứ như đứa con nít lát lát kêu réo em vòi vĩnh này nọ khiến em thường bị mất ngủ bơ phờ. Để bù lại, tôi lãnh phần nấu ăn cho gia đình em và những món riêng cho ba. Còn thằng em tôi thì có bổn phận đưa rước ba tôi mỗi khi cần đi bác sĩ hoặc vào nhà thương hay đi một dịch vụ nào đó. Lâu ngày dài tháng, nhiều khi mệt mỏi đuối sức vì cũng đã có tuổi, chị em chúng tôi vẫn phải rán hết sức mình chớ không đành lòng gởi ba vào viện dưỡng lão vì biết chắc rằng ba không thể nào xa rời con cháu, mái ấm gia đình, sống ở một nơi lạ hoắc không có người thân. Bởi ba má tôi từ trước tới nay đã quen nương tựa chung sống với gia đình vợ chồng em gái, lúc nào cũng có con cháu bên cạnh. Mà được vậy cũng nhờ ông em rể tốt bụng hiếu thảo, sẵn lòng cưu mang phụng dưỡng ba má vợ như chính song thân mình. Ngày má tôi qua đời, ông em rể khóc còn nhiều hơn chúng tôi. Bởi do cái sự gắn bó thâm tình này mà chúng tôi đã đồng lòng chung vai gánh mẹ và bây giờ lại tới gánh cha... Ba má tôi thật có phước có được người con rể hiền lành hiếu thuận hiếm có trên đời.


Mỗi lần qua thăm ba, tôi thường ngồi bên giường ông gợi chuyện xưa coi ông còn nhớ gì không. Gặp lúc ông tỉnh táo thì chuyện gì cũng nhớ, mà nhớ rành mạch mới hay. Ba nói mỗi khi nghe bản nhạc "Đèn khuya" của nhạc sĩ Lam Phương, hình ảnh người mẹ già còng lưng bên ngọn đèn khuya leo lét dưới mái tranh nghèo làm ba rất nhớ và thương bà nội. 

Hồi đó nhà nghèo con đông mà ông nội thì mang bệnh hút, làm bao nhiêu hút bấy nhiêu, không màng tới chuyện đói no của gia đình nên anh em ba phải sớm bỏ học. Bảy, tám tuổi đầu đã đi bán cà rem, đi làm tạp nhạp giúp bà nội nuôi gia đình. Riêng ba, nhờ có chí phấn đấu, vẫn cố gắng bám vào con chữ những mong sau này có một cuộc sống tươi sáng tốt đẹp hơn. Trong lớp mỗi khi thầy giáo cho làm thủ công, những thằng con nhà giàu làm biếng đều mướn ba làm, ba cũng kiếm được vài đồng cho một bữa cơm nhà nghèo. Ngoài ra, sau giờ học ba chạy vội về phụ làm lặt vặt trong lò bún, chủ cho được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu cũng đắp đổi qua ngày.

Nhà nghèo tới nỗi mỗi đứa chỉ có hai cái quần, vá tới không còn biết cái quần nguyên thủy ra sao. Có lần ba xin bà nội mua quần mới để đi học, bà nội nói không có tiền, thôi để tết coi ông nội có đem tiền về thì bà nội sẽ mua cho ba. Nhưng khi bà nội mua được cái quần thì ba lại nói ba không cần đâu, để nhường cho em của ba cho nó mừng.

Có một ngày làm được khá tiền, ba về đưa bà nội một nửa, một nửa ba dấu lên định để khi nào bế tắc lắm thì có mà cho bà nội tiêu xài. Nhưng nhìn điệu bộ của ba, bà nội biết chắc thằng này gian dối, chắc có dấu tiền nên bà nội đánh ba mấy roi. Về sau bà nội hiểu được dụng ý của ba, bà nội ôm ba nói trong nước mắt "Con là một thằng con tốt biết lo cho gia đình mà má đã hiểu lầm con, má xin lỗi, con đừng giận má nhe con". Bà nội khóc, ba khóc, tôi ngồi nghe ba kể cũng khóc theo, thương xót cho ba tuổi thơ đã sớm tủi cực nhọc nhằn không có một ngày sung sướng vô tư.

Rồi ba nghẹn ngào nói tiếp "Nghèo đi đôi với khổ, khổ lắm con ơi! Nhớ lại cái thời hàn vi đó ba thật là buồn, lúc nào cũng thấy tủi thân, lúc nào cũng bị mặc cảm. Bởi vậy sau này làm ăn khá giả, ba bù đắp cho bà nội thật nhiều bỏ những khi đói nghèo thiếu thốn. Và khi tụi con ra đời ba nguyện không để tụi con khổ sở thua thiệt như ba ngày xưa nữa. Cũng may trời thương cho ba làm được, ba rất mừng, rất cảm ơn trời Phật".

Quả thật ba tôi là một người chồng người cha có trách nhiệm, biết thương quý gia đình, luôn chu toàn bổn phận, đã cho chị em chúng tôi một cuộc sống sung túc đầy đủ từ cái ăn cái mặc đến việc học hành. Từ nhỏ cho tới lớn, chúng tôi không hề biết đói là gì, cũng không hề có cảm giác tủi thân hay mặc cảm thua sút ai bao giờ. Tình thương của ba cho chúng tôi như núi cao sông dài biển rộng, công ơn trời biển đó chúng tôi biết lấy chi đền đáp, phụng dưỡng ba những ngày sau cuối là lẽ đương nhiên phải làm.

Nhưng giờ đây phần số ba đã tận, nợ đời ba đã trả xong, cái duyên nợ cha con với chúng tôi ở kiếp này đã chấm dứt. Đã đến lúc ba phải trở về chầu Phật tổ, không thể nào ở lại bên chúng tôi nữa rồi. Đau xót lắm nhưng chúng tôi đành gạt nước mắt để ba không nắm níu vướng bận, yên lòng thanh thản ra đi.

Ba ơi, chúng con cầu chúc ba thượng lộ bình an, yên gíấc ngàn thu bên kia thế giới. Nguyện cầu cho hương hồn ba siêu sinh tịnh độ nơi xứ Phật A Di Đà. Nếu như có kiếp luân hồi, chúng con cầu xin cho ba được đầu thai vào một gia đình khá giả để ba được sống sung sướng vui vẻ hơn, tuổi thơ của ba sẽ không bi đát như kiếp này. Thương ba suốt đời ba ơi! Xin vĩnh biệt ba của chúng con!

- Người Phương Nam

KIẾP SAU XIN VẪN LÀM CON BA



Wednesday, July 1, 2026

UAV (Unmanned Aerial Vehicles)

Wikipedia. Kettering Bug trên bệ phóng. $400/ 1 chiếc. Tầm hoạt động 40 dặm. Động cơ 2 thì, 40 HP do Ford sản xuất.

UAV thời nay được gọi là phương tiện điều khiển không người lái, hay còn được gọi là vũ khí điều khiển từ xa. Thực ra, UAV không phải là loại vũ khí mới mẻ gì, nó đã được chế tạo vào năm 1918 bởi hãng Dayton-Wright Airplane Company tại Hoa Kỳ vào cuối Thế Chiến thứ I, với cái tên là Kettering Bug. Ngày nay, UAV được chế tạo tối tân hơn, và sử dụng rộng rãi, thành công, tỏ ra rất hiệu quả trên chiến trường.

Vũ khí UAV bây giờ không chỉ tàn phá, san bằng những tòa cao ốc thành những đống gạch vụn, nó được chính con người tạo ra để giết con người. Tiếc thay, ngày nay, thế giới vẫn chưa học được cách ngừng làm tổn thương nhau và vẫn chạy đua vũ trang để tiêu diệt lẫn nhau.

Chúng ta không cổ võ chiến tranh, nhưng phải biết tự vệ khi có kẻ thù mạnh hơn xâm chiếm đất nước mình. Vì vậy, vũ khí là điều ắt có và phải có. Ngoài các loại vũ khí quy ước như đạn pháo, bom, hỏa tiễn liên lục địa, máy bay, xe thiết giáp, thứ vũ khí mà các nước đang sử dụng phổ biến nhất hiện nay là máy bay không người lái, gọi tắt là UAV (Unmanned Aerial Vehicles).

Cuộc chiến tranh Russia (Nga) xâm lăng Ukraine, lấy thịt đè người, từ tháng 2 năm 2022 vẫn đang tiếp diễn và chưa có hy vọng gì kết thúc sớm. Cuộc chiến tranh kế tiếp của Mỹ và đồng minh Do Thái chống thần quyền Iran, cũng vào tháng 2, quyết không cho nước này sở hữu vũ khí hạt nhân, đang nóng lên từng ngày, lúc thì ào ạt, vũ bão, lúc ngưng lại để hòa đàm. Để rồi lại không đi đến đâu. Thế giới vẫn lo lắng lẫn hồi hộp theo dõi vì nó ảnh hưởng đến cuộc sống của toàn thể nhân loại, cho dù người đó đang ở đâu, trên quả điạ cầu này.

Vì bắt buộc phải tự vệ, chống lại anh láng giềng khổng lồ xấu tính, Ukraine vẫn kiên cường chiến đấu từng bước, được hỗ trợ từ Mỹ và các nước Âu Châu, họ tự tìm tòi, học hỏi và trở thành nước dẫn đầu về cách sử dụng máy bay không người lái và các phương tiện điều khiển từ xa. Các nước Tây Âu, kể cả Mỹ đều phải nghiêng đầu bái phục và phải học hỏi chiến thuật UAV từ Ukraine.

Chàng David-Ukraine nhỏ con đã dạy tên khổng lồ Goliath-Russia bài học thiệt hại nằng nề về nhân mạng, khí tài, và tiêu hao tiền bạc đáng kể, phải đi cầu viện thêm lính bắc Hàn và tuyễn mộ lính đánh thuê từ Châu Phi. Đây là con số mới nhất về số lính tử trận giữa Russia và Ukraine dựa theo ước tính của khối NATO:

Russia: 230,000 - 430,000 binh sĩ tử trận, chưa kể bị thương.

Ukraine: 100,000 - 140,000 binh sĩ tử trận, chưa kể bị thương.

Và cuộc chiến Mỹ/Do thái - Iran.

US: 13 - 15 binh sĩ tử trận.

Israel: 24 - 35 binh sĩ tử trận.

Iran: 3,100 – 3,468 tử trận, chưa kể các tướng và thủ lĩnh cao ấp bị tiêu diệt do chiến đấu cơ oanh tạc vào nơi đang hội họp.

Ngoài máy bay không người lái UAV, còn có loại tàu thủy không người lái USV (Unmanned Surface Vehicle), và xe tự hành UGV (Unmanned Ground vehicle). Trong bài này, chúng tôi sẽ nói đến UAV đánh chặn (interceptors), vì loại này được dùng phổ biến nhất trong cuộc chiến chống khủng bố ở Trung Đông và nó đã biến chiến tranh ngày nay thành một cuộc chiến không giống bất cứ cuộc chiến nào trong quá khứ, khiến một cường quốc như Russia phải khốn đốn vì tiêu hao nhân mạng quá nhiều, biến một cuộc chiến không cân sức thành một cuộc so tài bên 8 lạng người nửa cân.

Máy bay không người lái đánh chặn: RoadRunner - M. Cao 5 ft.

Để đánh chặn một máy bay, một hỏa tiễn liên lục địa hay bất cứ vũ khí trên không nào khác, trong trường hợp này là một UAV của kẻ thù đang xâm phạm bầu trời chúng ta, loại UAV đánh chặn phải tối tân hơn về mọi mặt và nhất là phải bay nhanh hơn, chính xác hơn, dễ sử dụng hơn, và quan trọng nhất là rẻ tiền.

Trước đây, Hoa Kỳ, đã sử dụng hỏa tiễn Patriot và một số vũ khí đánh chặn khác để bảo vệ tính mạng quân lính và các căn cứ Mỹ ở mọi nơi trên thế giới. Tuy chúng ta thành công, nhưng hậu quả là tốn kém quá nhiều. Nếu chiến tranh kéo dài, chúng ta sẽ không đủ tiền đánh nhau theo kiểu con nhà giàu. Iran có thừa kiên nhẫn, Hoa Kỳ thì không.

Trong cuộc chiến hiện nay với Iran, họ phóng những loại UAV tự sát Sahed rẻ tiền, sản xuất hàng loạt dễ dàng, giá thành khoảng $30,000 một chiếc; chúng ta đánh chặn thành công bằng loại Interceptor UAV như Coyote của Raytheon hay các loại khác, giá đắt hơn gấp nhiều lần, có thể lên tới $900.000 một chiếc. Kinh nghiệm từ Đệ II Thế Chiến của phe Đồng Minh chống phe Trục gồm 3 nước Đức-Ý-Nhật. Nhờ vũ khí của Hoa Kỳ vừa rẻ vừa sản xuất hàng loạt, tuy không tối tân hơn, vẫn thắng được cuộc chiến, bài học vẫn còn sờ sờ ra đó.

Nhận ra điểm yếu của mình, Hoa Kỳ vừa đưa ra một loại UAV đánh chặn rất tối tân, hiệu quả, có thể sản xuất hàng loạt vừa túi tiền, có thể xài máy in 3-D printers, in ra hằng trăm chiếc một ngày, đó là Interceptor-UAV RoadRunner-M, cao 5 feet, loại tự động đánh chặn không cần người điều khiển từ xa, do công ty Anduril mới khởi nghiệp, một tên tuổi ít người biết đến, được sáng lập bởi Palmer Luckey, 32 tuổi, cũng là cha đẻ của kính Oculus 360.

Đây là loại UAV, cũng được gọi là AVV (Autonomous Air Vehicle), sử dụng AI tự động điều khiển và ra lệnh, trang bị 2 máy phản lực (twin turbo jets), được thiết kế để truy lùng và tiêu diệt UAV hay bất cứ hỏa tiễn, máy bay nào.

Tính năng đặc biệt của RoadRunner, khác với tất cả UAV, nó cất cánh thẳng đứng như trực thăng (VTOL), bay rất nhanh, nếu không có mục tiêu, nó sẽ trở về lại nhà an toàn như phi thuyền không gian SpaceX của Elon Musk lúc trở về trái đất. Không giống như các interceptor-UAV khác, khi được phóng lên, sẽ một đi không trở lại, sẽ tự hủy và sẽ không được sử dụng lại. Điều này, tiết kiệm được rất nhiều tiền.

Khi được phóng từ một “launcher” di động và cũng là tổng đài liên lạc trực tiếp, nó bay thẳng lên một độ cao nhất định theo chiều thẳng đứng (vertical) rồi chuyển sang chiều xoay ngang (horizontal), bắt đầu uyển chuyển tự thay đổi phương hướng, kiếm mục tiêu, tăng tốc độ lao tới rất nhanh chạm vào vật thể bay đó và phát nổ. Trường hợp mục tiêu đó đã bị tiêu diệt, nó sẽ bay lượn trên không, kiếm mục tiêu khác, nếu không có, nó sẽ tự động bay về lại launcher và đáp xuống an toàn, nạp thêm nhiên liệu, sẵn sàng cho nhiệm vụ kế tiếp.

Cái hay và vượt lên trên các loại UAV khác, RoadRunner được sử dụng lại, không phải tự hủy nếu không gặp mục tiêu. Nó bay với tốc độ âm thanh, được kiểm soát bằng phần mềm Lattice Network, tất cả trong một (All in One), có thể thay đổi trọng lượng của đầu đạn mang theo (Modular Payload), biết phân biệt bạn hay thù, có thể tương tác với con người hay các loại máy bay chiến đấu bạn đi theo. Nó tự động bay, không cần người điều khiển, sẽ tự kiếm mục tiêu và đánh chặn chính xác. RoadRunner đã được thử nghiệm tại chiến trường Ukraine từ năm 2024 và tỏ ra rất hiệu quả, có thể bay cao và xa hơn, khiến Russia thất điên bất đảo.

Những thông số kỹ thuật về loại vũ khí này, cho đến nay, vẫn được giữ kín đề phòng những địch thủ chuyên đi ăn cắp như China. Ai cũng biết, họ đã nhiều lần lén lút xâm nhập vào trang mạng quốc phòng của Hoa Kỳ và các nước khác để phá hủy và ăn cắp thông tin. Hơn nữa, cũng vì lòng tham vô đáy của các công ty công nghệ Mỹ muốn đầu tư vào thị trường khổng lồ 1.4 tỷ dân của China, đã cho không nước này nhiều kỹ thuật tân tiến. Vì vậy chỉ trong hơn 40 năm, từ một nước lạc hậu về kinh tế, kỹ thuật, họ đã vươn lên thành cường quốc về quân sự, chỉ sau Hoa Kỳ và ngày nay còn qua mặt Hoa Kỳ về nhiều lĩnh vực khác.

Hiện nay, ngân sánh quốc phòng Hoa Kỳ vẫn còn lệ thuộc vào 5 công ty quốc phòng khổng lồ như Lockheed Martin, Northrop Grumman, Boeing, Raytheon, General Dynamic, và RTX với tổng số tiền khổng lồ hơn $118 tỷ (billions) một năm, từ tiền đóng thuế của người dân. Các “ông lớn” này móc túi người dân Mỹ một cách tận tình, móc đến những đồng xu cuối cùng; người Mỹ vẫn vui vẻ đi cày để trả bill. Đã đến lúc, chúng ta phải bắt họ dừng lại và chuyển hướng qua những công ty khởi nghiệp trẻ với tầm nhìn mới, nhất là vừa túi tiền của người dân.

Nhìn qua ông bạn vàng “môi hở răng lạnh”, ở phía Bắc của Việt Nam thì biết. Lối suy nghĩ (họ gọi là tư duy) và hệ thống của họ là chế tạo cái gì cũng rẻ, để ai cũng có thể mua được: có những chiếc xe hơi điện mini giá thành chỉ mắc hơn cái Iphone của Mỹ một chút xíu. Thần quyền Iran đang thực hiện chiến lược này bằng những Sahed- UAV rẻ tiền khiến túi tiền của Hoa Kỳ điêu đứng. Nếu nước Mỹ không chịu nhận ra điều này để thay đổi thì cuộc chiến tranh sắp tới giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc về Đài Loan, cán cân sẽ nghiêng về nước nào thì chúng ta đều có thể đoán được: Hoa Kỳ càng đánh, càng kiệt quệ và sẽ “sập tiệm” trước.

Từ sau Thế Chiến thứ II, Hoa Kỳ vẫn tin rằng ai sở hữu vũ khí to lớn và mạnh mẽ hơn sẽ nắm phần thắng, nếp suy nghĩ đó vẫn còn đúng trong một chừng mực nào đó; bây giờ kỹ thuật và đặc biệt là AI, trí thông minh nhân tạo đã xoay chuyển cuộc chơi. Chúng ta hy vọng với những kỹ thuật tân tiến, rẻ tiền hơn, nhưng hiệu quả hơn của những nhà thầu trẻ, Hoa Kỳ sẽ tiết kiệm và dùng số tiền thặng dư đó cho nhu cầu an sinh của người dân trước khi quá trễ.

Ai có thể cầm lòng được khi nhìn ánh mắt ngơ ngác của những đứa trẻ lớn lên không có cha mẹ, những khuôn mặt thất thần, đẫm nước mắt của người mẹ, bàn tay cào bới trên những đổ nát hoang tàn, chỉ mong tìm gặp lại bàn tay lạnh ngắt của đứa con; những dòng người tị nạn lê thê lếch thếch, tay xách nách mang, bỏ lại cả cuộc đời phía sau để đổi lấy sự sống còn.

Chiến tranh là một khuynh hướng khó đảo ngược, nước nào cũng muốn mình là bá chủ thế giới, khi họ có những Hitler, những Putin, những Mao, những Kim, những đảng độc tài, những giáo quyền mưu đồ tư lợi riêng. Chúng ta chế tạo vũ khí để tự vệ và để trả lời, cũng như răn đe những tên đồ tễ khát máu hay những chế độ độc tài hoặc thần quyền coi thường tính mạng người dân, chỉ để đổi lấy tham vọng riêng tư cho bản thân và băng đảng của chúng.

NGUYỄN NGUYỄN VĂN TỚI.. 6/2026
Sau Khi Cởi Bỏ Quân Phục

Tiếng kẻng buổi sáng vang lên giữa trại cải tạo.
Anh Ba đứng lặng nhìn hàng người nối nhau đi lao động. Bộ quân phục ngày nào đã thay bằng bộ quần áo vá chằng vá đụp. Chỉ còn đôi mắt vẫn giữ vẻ bình tĩnh của một người từng chỉ huy.
Một cán bộ đi ngang.
— Anh còn nghĩ mình là sĩ quan nữa không?
Anh Ba mỉm cười rất nhẹ.
— Không. Tôi chỉ còn là một người cha đang mong được về nhà.

Ngày trở về. Đứa con trai đã lớn. Nó ngập ngừng hỏi:
— Ba… người ta nói ba là người thua trận. Có đúng không?
Anh đặt bàn tay chai sần lên vai con.
— Có những trận đánh mình thua. Nhưng một con người chỉ thật sự thua khi đánh mất lương tâm.
Đứa bé im lặng rất lâu.

Những năm sau đó. Gia đình quyết định vượt biển.
Đêm tối. Con thuyền nhỏ rời bến. Người vợ nắm chặt tay chồng.
— Anh có sợ không?
Anh nhìn ra biển.
— Sợ chứ.
— Vậy sao vẫn đi?
— Vì anh muốn các con được lớn lên mà không phải sống bằng nỗi sợ.
Biển dữ. Sóng cao. Có người cầu nguyện. Có người khóc.
Có người chỉ biết ôm con vào lòng.
Ai cũng mang theo một quê hương trong tim.

Nhiều năm sau. Ở một thành phố xa xứ. Ông nội đã tóc bạc. Đứa cháu hỏi bằng tiếng Việt còn lơ lớ.
— Ông ơi… ngày xưa ông có phải anh hùng không?
Ông cười.
— Không.
— Vậy ông là gì?
Ông nhìn bức ảnh cũ treo trên tường. Trong ảnh là một chàng trai mặc quân phục, ánh mắt còn rất trẻ. Ông chậm rãi nói:
— Ông chỉ là một người lính làm bổn phận của thời mình.
Đứa cháu lại hỏi:
— Thế danh dự là gì hả ông?
Ông im lặng rất lâu.
Rồi đáp:
— Danh dự không nằm ở bộ quân phục mình mặc. Danh dự là sau khi cởi bộ quân phục ấy, mình vẫn sống tử tế, vẫn yêu gia đình, vẫn không nuôi hận thù, vẫn dạy con cháu biết yêu quê hương và biết tôn trọng những người có số phận khác mình.

Chiến tranh đã lùi xa. Có người ở lại. Có người nằm xuống. Có người lưu lạc bốn phương. Nhưng ký ức không chỉ để kể về mất mát. Ký ức còn để nhắc rằng, sau mọi biến động của lịch sử, điều còn lại không phải là cấp bậc hay chiến thắng. Điều còn lại là cách con người đối xử với nhau khi tiếng súng đã im, cách họ đứng dậy sau đổ vỡ, xây dựng gia đình, nuôi dạy con cái và gìn giữ phẩm giá của mình. Đó cũng là một định nghĩa khác của danh dự.

Không phải danh dự của chiến trường. Mà là danh dự của những con người vẫn tiếp tục sống, tiếp tục yêu thương, sau ngày đã cởi bỏ quân phục.

Phạm Sơn Liêm

AI ĐÃ GIẾT NGÀI?

CỘNG SẢN CHỨ KHÔNG PHẢI NHẬT BẢN!!!

Tôi không theo đạo Công giáo. Tôi không cầu nguyện bằng kinh sách của họ, không quỳ trước tượng Đức Mẹ, không hiểu hết những nghi thức trang nghiêm trong các thánh đường. Nhưng có những con người, dù thuộc về một truyền thống tâm linh khác với tôi, vẫn khiến tôi phải dừng lại, cúi đầu, và thấy lòng mình rưng rưng từ sâu thẳm bên trong.

Linh mục Trương Bửu Diệp là một người như vậy.
Ngài sinh năm 1897 ở một họ đạo nghèo tại An Giang. Mẹ ngài qua đời khi ngài mới 7 tuổi. Có những đứa trẻ học được bài học về sự vô thường rất sớm, trước khi chúng kịp hiểu hết ý nghĩa của hai chữ đó. 

Rồi ngài theo cha sang Campuchia, sống trong một gia đình làm nghề thợ mộc, học hành, tu tập, và năm 1924 trở thành linh mục.

Từ năm 1930, ngài về làm cha sở họ đạo Tắc Sậy, một vùng đất nghèo ở Bạc Liêu. Ngài ở đó suốt mười sáu năm, dài hơn bất kỳ quãng thời gian nào khác trong cuộc đời ngắn ngủi của ngài. Ngài tận tụy chăm sóc giáo dân, thường xuyên thăm hỏi, động viên và giúp đỡ những người nghèo khổ, bệnh tật, không phân biệt ai theo đạo, ai không theo đạo.

Điều khiến tôi kính ngưỡng không phải là chức danh linh mục của ngài. Mà là cách ngài đã sống, và cách ngài đã chọn chết.

Năm 1945, 1946, đất nước rơi vào loạn lạc. Người ta khuyên ngài nên lánh đi. Ngài từ chối: “Tôi sống giữa đoàn chiên. Và nếu có chết cũng chết giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết.”

Một người Pháp từng đề nghị cấp súng để ngài tự vũ trang bảo vệ nhà thờ. Ngài đáp: “Không. Linh mục thì cần gì súng ống. Linh mục chăm sóc bầy chiên và sống với bầy chiên theo chân Chúa, chứ không theo phe phái chính trị nào.” Tôi cứ nghĩ về câu nói này. Một người có cơ hội tự vệ, lại từ chối, để giữ một điều ngài tin còn quan trọng hơn mạng sống của chính mình.

Ngày 12 tháng 3 năm 1946, ngài cùng khoảng 70 giáo dân bị bắt giữ. Ngài tự nguyện hiến mình để đổi lấy sự an toàn cho những người bị bắt cùng.

Một nhân chứng, người sau này mang theo nỗi hổ thẹn suốt đời vì từng có liên quan đến vụ việc, kể lại rằng ngài bị chém hai nhát vào đầu, nhát đầu lạng sớt sau ót vì người chém run tay, nhát thứ hai mới khiến đầu lìa khỏi thân.

Khi tìm thấy thi thể ngài dưới một cái ao, người ta thấy hai tay ngài vẫn chắp lại, gương mặt bình thản.

Tôi không phải người Công giáo. Nhưng đọc đến đoạn này, tôi nghĩ đến tất cả những bậc thầy, ở mọi truyền thống, từng chọn ở lại nơi nguy hiểm vì những người mình thương yêu, thay vì chọn con đường an toàn cho riêng mình.

Gần 80 năm đã qua từ ngày ngài mất. Điều tôi thấy lạ nhất, là lòng kính ngưỡng dành cho ngài không những không phai nhạt, mà còn vượt qua chính đường biên đã từng khiến ngài phải trả giá bằng mạng sống. Rất nhiều người đến viếng mộ ngài tại Tắc Sậy không phải là người Công giáo. Họ là Phật tử, người theo đạo Cao Đài, hoặc không theo tôn giáo nào, nhưng đều mang một lòng thành kính rất thật. Người ta đến đó không phải chỉ để cầu xin, mà để được ở gần với một điều rất hiếm: một con người đã sống và chết đúng như những gì mình tin.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, Giáo hoàng Phanxicô đã chính thức cho phép ban hành sắc lệnh nhìn nhận sự tử đạo của ngài, sau 13 năm điều tra. Và chỉ còn vài ngày nữa, ngày 2 tháng 7 năm 2026, một lễ tuyên phong Chân phước sẽ được cử hành ngay tại Tắc Sậy, nơi ngài đã sống và đã ngã xuống. Đây là lần đầu tiên trong gần 500 năm Công giáo có mặt tại Việt Nam, một nghi thức như vậy được tổ chức trên chính đất nước này, với dự kiến hơn 70.000 người đổ về tham dự.

Tôi viết những dòng này không phải để mời ai theo một tôn giáo nào. Tôi viết vì tôi tin có những con người, bất kể thuộc về truyền thống tâm linh nào, đã sống một cuộc đời đủ trọn vẹn để chạm đến phần thiêng liêng nhất trong mỗi chúng ta, phần vẫn còn biết rung động trước một người sẵn sàng đặt mạng sống mình xuống cho người khác mà không hề toan tính.

Linh mục Trương Bửu Diệp đã chọn ở lại, khi mọi lý lẽ đều bảo ngài nên rời đi.

Có lẽ đó là lý do, gần một thế kỷ sau, người ta vẫn còn tìm đến nơi ngài đã ngã xuống. Không phải để hỏi xin một phép lạ. Mà để được đứng gần, dù chỉ một chút, với một người đã sống đúng như những gì mình tin cho đến giây phút cuối cùng.

Nguồn:  Nguyễn Cảnh Thi