Tuesday, November 3, 2026

Thuyền trưởng Ole

Năm 1988, khi đã ở Mỹ, tôi ngồi viết một lá thư. Gửi cho một người thuyền trưởng tên Ole. Người đã cứu tôi và 136 thuyền nhân khác giữa biển năm 1984.
Lá thư bị trả về. Người nhận đã chuyển đi.
Tới giờ, ở Mỹ, tôi vẫn chưa tìm lại được ông.

Ở phần 1, tôi đã kể tới lúc chiếc ghe 137 người bị hải tặc đập thủng, đang chìm. Thuyền trưởng tàu Panama đã từ chối cứu hai lần. Người ta khiêng tôi, một cô giáo Anh văn gần như bất tỉnh, lên thang dây…

Lên tới sàn tàu, bác sĩ với thủy thủ xúm lại cho tôi thở oxy, cho uống thuốc. Khoảng 15 phút sau tôi tỉnh lại. Tôi xin gặp thuyền trưởng.
Ông tên Ole.

Tôi kể hết bằng tiếng Anh. 137 người. 5 ngày trên biển. Một em bé chết khát. 5 cô gái bị bắt đi. Một chiếc ghe bị đập thủng đang chìm.
Ông buồn bã lắc đầu: "Tôi rất tiếc, tôi không thể cứu quý vị được."
Tôi nhìn xuống chiếc ghe. Tôi biết quay lại đó là đi vào chỗ chết.
Tôi nhìn thẳng vào mắt ông, nước mắt chảy ròng: "Nếu ông cương quyết từ chối, tôi xin thay mặt hơn 100 người kính chào vĩnh biệt. Giờ phút tôi trở về chiếc ghe đó, tất cả chúng tôi sẽ chết dưới lòng biển. Xin vĩnh biệt thuyền trưởng."
Ông đứng sững. Rồi ông hỏi trên ghe có bao nhiêu phụ nữ và trẻ em. Ông nói: "Chúng tôi chỉ cố gắng cứu phụ nữ và trẻ em. Còn đàn ông thanh niên xin tiếp tục lên đường."

Thủy thủ đưa được 50 phụ nữ và trẻ em lên tàu.
Dưới ghe, những người cha, người chồng đứng vẫy tay. "Ba ráng bảo trọng." "Tạm biệt anh." "Tạm biệt con."
Tôi đứng trên tàu nghe tiếng khóc mà không chịu nổi. 50 người chỉ chiếm một góc nhỏ xíu trên con tàu khổng lồ đó.
Tôi lại tới, quỳ xuống trước mặt ông: "Xin ông tha thứ cho tôi. Tôi đội ơn ông đã cứu mạng tôi. Nay xin ông cứu luôn những người còn lại. Chúng tôi không cần đồ ăn, không cần quần áo. Chúng tôi chỉ cần một chỗ để được sống. Chiếc tàu của ông là đất sống, chiếc ghe kia là cõi chết."
Ông lặng người. Rồi ông gật đầu.
Cả chiếc ghe vỡ òa. 137 người lần lượt leo lên thang dây. Thủy thủ lấy búa chặt đứt sợi dây buộc ghe.
Điểm danh vừa đủ 137 người. Vài phút sau, một cơn bão ập tới. Sóng tràn lên boong, thủy thủ phải cột chúng tôi vô cột tàu. Chiếc ghe trống chở chúng tôi suốt 5 ngày bị sóng nuốt mất, chìm luôn xuống biển.
Nếu chậm vài phút thôi…

Đêm đó tụi tôi được tắm, được phát quần áo, mền ấm, chén súp nóng. Đó là giấc ngủ yên nhất đời tôi.
Sáng hôm sau, thuyền trưởng Ole dẫn tôi lên boong. Trước ánh bình minh, ông quỳ xuống làm dấu thánh giá. Ông nói: "Cám ơn Thượng đế đã nhờ cô cho tôi cơ hội cứu được 137 người."
Ông chở thẳng chúng tôi về trại tị nạn. Trước khi chia tay, ông viết tay tên và địa chỉ đưa cho tôi.

Chiều 30 tháng 9 năm 1984, tôi bước chân trần lên bãi cát trắng đảo Pulau Bidong. Mã số tị nạn MB244.
Cái địa chỉ ông viết tay hôm đó, là địa chỉ tôi ghi lên lá thư năm 1988. Và lá thư đó đã bị trả về.
Mấy chục năm nay, các con tôi lên mạng tìm ông. .Vẫn chưa tìm được.
Tôi chỉ là một cô giáo dạy Anh văn. Nhưng có một buổi chiều năm 1984, mấy câu tiếng Anh của tôi đã đổi được 137 mạng người.
Còn tấm lòng của thuyền trưởng Ole, là món nợ cả đời tôi không trả hết.

No comments:

Post a Comment