Friday, August 14, 2026

DÂNG MẸ!

I. HT. THÍCH QUẢNG ĐỘ - MỘT BẬC CHÂN TU

HT. Thích Quảng Độ sanh năm 1928 tại Thái Bình, xuất gia từ thuở thiếu thời, và đã dành trọn cuộc đời mình cho con đường tu học, phiên dịch kinh điển và hoằng dương Phật Pháp.

Nhắc đến HT. Thích Quảng Độ, trước hết là nhắc đến một học giả uyên thâm, một dịch giả cần mẫn, người đã bỏ ra hàng chục năm trời để chuyển ngữ những bộ từ điển Phật học đồ sộ, những công trình nghiên cứu Phật giáo từ Hán văn sang tiếng Việt, mở ra một kho tàng tri thức quý báu cho các thế hệ tăng ni, Phật tử Việt Nam sau này.

Công việc của ngài đã tạo nền móng âm thầm cho việc học Phật của biết bao người. Lặng lẽ bên trang sách, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, ngài dịch từng chữ, chú từng nghĩa. Đây là hạnh nguyện của kẻ sĩ xuất trần mà rất hiếm người, đủ kiên nhẫn, đủ tâm lực để theo đuổi trọn vẹn như vậy.

Bên cạnh sự nghiệp trước tác và phiên dịch, ngài còn là một nhà thơ, một cây bút giàu cảm xúc. Ít ai ngờ rằng, đằng sau dáng vẻ nghiêm trang của một bậc cao tăng suốt đời gắn bó với kinh sách, lại ẩn chứa một tâm hồn thi sĩ mẫn cảm, biết rung động trước những điều bình dị của kiếp người. Bài thơ Dâng Mẹ mà chúng ta sẽ cùng đọc dưới đây, được viết vào mùa Vu Lan Quý Mão 1963, là một trong những minh chứng cảm động nhất cho điều mà tôi vừa đề cập.

Tôi có chủ ý không đi sâu vào những biến cố về sau trong cuộc đời ngài, mà chỉ xin dừng lại ở hình ảnh một vị tăng sĩ với tấm lòng hiếu đạo sâu nặng, với ngòi bút chan chứa ân tình, bởi chính tấm lòng ấy, ngòi bút ấy mới là điều mà bài thơ Dâng Mẹ muốn gửi gắm đến người đọc hôm nay.

Một bậc tu hành, dù đã lìa xa mái ấm gia đình để bước vào cửa Không, thì trong tâm khảm vẫn còn nguyên vẹn một người mẹ, một quê nhà, một nỗi nhớ không bao giờ nguôi. Chính điều đó làm cho hình ảnh HT. Thích Quảng Độ trở nên gần gũi và đáng kính, đáng trọng với chúng ta, những kẻ hậu bối của cõi nhân sinh hôm nay.

******
II. BÀI THƠ DÂNG MẸ

Bao năm rồi con lưu lạc ngàn phương
Con nhớ mẹ suốt canh trường khắc khoải
Ơn dưỡng dục, mẹ ôi, sao xiết kể
Công sinh thành con nghĩ, quặn lòng đau

Gốc mai già xơ xác đã từ lâu
Chơ vơ đứng giữa đường đời gió lộng
Dòng sông chảy, ấy đời con trong mộng
Lững lờ trôi, trôi mãi đến bao giờ

Có những đêm con thiêm thiếp trong mơ
Con mơ thấy hồn con về thăm mẹ
Được ấp ủ trong tình thương của mẹ
Mảnh hồn con ấm dịu biết bao nhiêu

Bốn phương trời con tìm kiếm đã nhiều
Nhưng không có một tình yêu của mẹ
Vu Lan đến cõi lòng con quạnh quẽ
Bóng người xưa như phảng phất đâu đây

Một chiều thu lạnh dâng bát cơm đầy
Tình nghĩa ấy, mẹ ôi, bao thấm thía
Phương trời này con ngậm ngùi rơi lệ
Đức cù lao muôn một trả chưa xong.
(Mùa Vu Lan Quý Mão 1963)

******
II.1. CÔNG SINH THÀNH CON NGHĨ, QUẶN LÒNG ĐAU

Bao năm rồi con lưu lạc ngàn phương
Con nhớ mẹ suốt canh trường khắc khoải
Ơn dưỡng dục, mẹ ôi, sao xiết kể
Công sinh thành con nghĩ, quặn lòng đau

Lưu là ở lại. Lạc là đi xa, trôi dạt, không ở đúng nơi mình sinh ra. Lưu lạc chỉ tình cảnh phải sống xa quê hương, xa gia đình, nay đây mai đó hoặc phiêu bạt ở nhiều nơi. Từ “lưu lạc” thường gợi cảm giác cô đơn, xa cách và nhớ quê.

“Bao năm rồi", gợi quãng thời gian đằng đẵng, có thể đo bằng cả tuổi trẻ, cả một đời tu hành xa xứ. “Ngàn phương", mở ra một không gian mênh mông, vô định, như chính con đường đạo mà hành giả đã chọn, rời bỏ mái nhà, dấn thân vào cõi vô thường để tìm cầu giải thoát.

Nhưng dấn thân vào con đường ấy không có nghĩa là cắt đứt cội nguồn - con nhớ mẹ suốt canh trường khắc khoải. “Canh trường" là khoảng thời gian ban đêm, trong đó, trường là dài, kéo dài, canh trường vì vậy, chỉ đêm dài, suốt một đêm dài đằng đẵng.

Khi vạn vật đã yên, chỉ còn lại vị hành giả ngồi đó, giữa tịch mịch, mà lòng vẫn không thôi khắc khoải nhớ về đấng sinh thành. Dù đã khoác áo cà sa, ngày ngày tụng kinh gõ mõ, thì trong những đêm khuya thanh vắng nhất, tâm thức người con vẫn quay về với hình bóng mẹ hiền.

Hai câu tiếp theo là lời than thở, tự trách - ơn dưỡng dục, mẹ ôi, sao xiết kể / công sinh thành con nghĩ quặn lòng đau. Công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, không thể lấy gì mà đền đáp cho vừa, cho đủ.

Ngữ "quặn lòng đau", là một cảm giác của thân thể. Nỗi đau như thắt lại trong ruột gan, khi nghĩ đến công lao trời biển mà mình chưa báo đáp được là bao.

******
II.2. LỮNG LỜ TRÔI, TRÔI MÃI ĐẾN BAO GIỜ

Gốc mai già xơ xác đã từ lâu
Chơ vơ đứng giữa đường đời gió lộng
Dòng sông chảy, ấy đời con trong mộng
Lững lờ trôi, trôi mãi đến bao giờ

Cảm xúc trực tiếp của khổ đầu, khi sang khổ thơ thứ hai này, đã được chuyển hóa thành hai hình ảnh biểu tượng - gốc mai già và dòng sông.

“Gốc mai già xơ xác” là hình ảnh ẩn dụ cho người mẹ đã già yếu, đang đứng "chơ vơ giữa đường đời gió lộng" - đơn độc và mong manh xiết bao giữa phong ba của cuộc sống, không có ai kề cận chở che.

“Gốc mai già xơ xác” này, cũng có thể hiểu theo một nghĩa khác, đó chính là hình ảnh của cuộc đời hành giả, giữa cô liêu, giữa phong trần mà vẫn kiên cường chịu được gió bão.

Dòng sông chảy, ấy đời con trong mộng - đời vị hành giả, nơi đất khách, được ví như một dòng sông - lững lờ trôi, trôi mãi đến bao giờ. Câu thơ chất chứa, không chỉ sự mơ hồ về tương lai mà còn là nỗi ngậm ngùi trước thế sự vô thường.

Hành giả thấu hiểu lẽ này hơn ai hết. Nhưng thấu hiểu bằng lý trí là một chuyện, còn cảm nhận bằng trái tim con người lại là một chuyện khác. Câu thơ vì vậy, vừa là suy niệm về dòng đời trôi nổi theo tinh thần nhà Phật, vừa là tiếng thở dài trước sự xa xôi, cách trở, nhớ nhung của con và mẹ, đến câu hẹn ngày về cũng không thể.

******
II.3. MẢNH HỒN CON ẤM DỊU BIẾT BAO NHIÊU

Có những đêm con thiêm thiếp trong mơ
Con mơ thấy hồn con về thăm mẹ
Được ấp ủ trong tình thương của mẹ
Mảnh hồn con ấm dịu biết bao nhiêu

Khi thực tại không cho phép con trở về thăm mẹ, thì giấc mơ trở thành cây cầu duy nhứt nối liền hai chốn cách xa - có những đêm con thiêm thiếp trong mơ. “Thiêm thiếp" là trạng thái ngủ rất nhẹ, lơ mơ, chập chờn, không sâu, nửa tỉnh nửa ngủ, để rồi khi vừa thiếp đi, hồn đã vội vã "về thăm mẹ".

Thân của hành giả có thể bị ràng buộc bởi hoàn cảnh, bởi đạo nghiệp, bởi khoảng cách địa lý, nhưng tâm hồn thì không biên giới nào ngăn được. Nơi giấc mơ ấy, hành giả lại - được ấp ủ trong tình thương của mẹ - như thuở còn thơ dại.

Câu thơ cuối - mảnh hồn con ấm dịu biết bao nhiêu - là một câu cảm thán đầy xúc động, khiến người đọc như cảm nhận được hơi ấm của tình mẫu tử, lan tỏa ngay trên trang giấy thơ thơm tho, hiền hòa, lai láng tình con và mẹ.

******
II.4. BÓNG NGƯỜI XƯA NHƯ PHẢNG PHẤT ĐÂU ĐÂY

Bốn phương trời con tìm kiếm đã nhiều
Nhưng không có một tình yêu của mẹ
Vu Lan đến cõi lòng con quạnh quẽ
Bóng người xưa như phảng phất đâu đây

Khắp bốn phương trời, con người có thể tìm được bạn hữu, tri kỷ, có thể tìm được danh vọng, tìm được đạo quả, nhưng tình yêu của mẹ thì không thể, bởi đó là thứ tình cảm chỉ có một lần, gắn với một người duy nhứt trong đời.

Mùa Vu Lan, mùa báo hiếu lại về. Nhưng thay vì mang đến niềm vui sum họp, thì mùa Vu Lan của vị hành giả lúc này lại khiến - cõi lòng con quạnh quẽ - hơn bao giờ hết. Trong ngày lễ tri ân cha mẹ này, người con xa xứ Thích Quảng Độ càng thấm thía nỗi trống vắng của sự chia lìa.

Bóng người xưa như phảng phất đâu đây - là một hình ảnh vừa hư vừa thực. Mẹ như đang hiện diện đâu đó trong không gian tưởng niệm, trong tâm tưởng người con.

Nỗi nhớ mẹ, giờ đây, đã trở nên khắc khoải hơn bao giờ hết, đến người đọc thơ như tôi, cũng cảm thấy nao lòng.

******
II.5. ĐỨC CÙ LAO MUÔN MỘT TRẢ CHƯA XONG

Một chiều thu lạnh dâng bát cơm đầy
Tình nghĩa ấy, mẹ ôi, bao thấm thía
Phương trời này con ngậm ngùi rơi lệ
Đức cù lao muôn một trả chưa xong.

Đẹp nhứt với tôi, lay động nhứt trong tôi, chính là câu thơ mở đầu trong khổ thơ cuối cùng này - một chiều thu lạnh dâng bát cơm đầy.

Bát cơm - thứ gắn liền với sự sống của con người, gắn liền với công ơn nuôi dưỡng trời bể của mẹ cha từ thuở lọt lòng. Trong cái lạnh của chiều thu nơi đất khách, bát cơm ấy, với vị tu sĩ, như gợi lại cả một trời kỷ niệm về bàn tay mẹ, về mái nhà xưa, khiến - tình nghĩa ấy, mẹ ôi, bao thấm thía.

Và rồi, giữa "phương trời này," người con không kìm được nữa mà "ngậm ngùi rơi lệ." Giọt nước mắt lăn ra, rồi rơi xuống, là sự trào dâng tự nhiên của một tấm lòng hiếu thảo đã dồn nén suốt bao tháng năm cách xa đằng đẵng.

Nên - đức cù lao muôn một trả chưa xong - đã trở thành lời hối lỗi của một người con luôn cảm thấy mình chưa làm tròn đạo hiếu, đạo của kẻ làm con. Công ơn cha mẹ, dù có báo đáp trọn đời, cũng khó lòng đền ơn trọn vẹn.

******
III. MỘT CHIỀU THU LẠNH DÂNG BÁT CƠM ĐẦY

Dâng Mẹ không chỉ là một bài thơ ghi lại tâm sự riêng của một vị tăng sĩ trong một mùa Vu Lan nhất định, mà Dâng Mẹ còn là mạch nguồn cảm xúc, mang tính phổ quát.

Trong truyền thống văn học Việt Nam, hình ảnh người mẹ và đạo hiếu luôn là một đề tài lớn, trở đi trở lại qua nhiều thế hệ thi nhân, từ câu ca dao "công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” cho đến những tác phẩm văn chương sau này như tuyệt phẩm Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu, hay Bông Hồng Cài Áo của ngài Thích Nhất Hạnh.

Dâng Mẹ của Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã tiếp nối mạch nguồn ấy trong một sắc thái riêng, đó là tiếng lòng của một người đã chọn con đường xuất thế, nhưng vẫn không rời bỏ cội rễ nhập thế sâu xa nhất - tình mẫu tử.

Theo tôi hiểu, Phật giáo Việt Nam không quan niệm, đi tu là dứt bỏ tình thân, mà là chuyển hóa tình thân ấy thành động lực tu tập, thành tâm nguyện hồi hướng công đức cho cha mẹ, cho chúng sinh.

Vu Lan là mùa lễ, bắt nguồn từ tích Bồ Tát Mục Kiền Liên cứu mẹ, được ghi lại trong kinh Vu Lan Bồn. Từ tích truyện ấy, đạo hiếu trong Phật giáo không dừng lại ở sự phụng dưỡng vật chất, mà còn được nâng lên thành sự báo hiếu bằng đời sống tu tập, bằng công đức hồi hướng.

Trong Dâng Mẹ, người con tuy không thể ở bên chăm sóc mẹ theo lẽ thường tình, nhưng cả đời tu hành, cả những dòng thơ chan chứa nước mắt, đều là một cách "dâng" lên mẹ những gì quý giá nhứt mà người con có được.

Dâng Mẹ cũng chạm đến chủ đề vô thường và nỗi cô đơn của kiếp người. Hình ảnh "dòng sông chảy" trôi mãi không ngừng, hình ảnh "gốc mai già xơ xác" đứng giữa “đường đời gió lộng”, đều gợi nhắc về tính chất mong manh, biến đổi không ngừng của cuộc sống - một chủ đề trung tâm trong tư tưởng nhà Phật.

Nhưng khác với nhiều áng thơ thiền mang tính chiêm nghiệm duy lý, Dâng Mẹ lại thấm đẫm hơi ấm của tình cảm con người. Dâng Mẹ cho ta thấy rằng, giác ngộ lẽ vô thường không đồng nghĩa với sự dửng dưng, lạnh nhạt mà trái lại, càng thấu hiểu vô thường, người ta càng nâng niu hơn bao giờ hết những giây phút được yêu thương, được gắn bó với những người thân yêu trong cõi tạm này.

Dâng Mẹ, vì vậy, không chỉ có giá trị với riêng Phật tử hay người mến mộ đạo Phật. Bất kỳ ai, dù theo tín ngưỡng nào, dù ở phương trời nào, từng có một lần xa nhà, từng có một đêm trằn trọc nhớ về quê cũ, đều có thể tìm thấy chính mình trong từng câu, từng chữ của bài thơ này.

Dâng Mẹ đã vượt qua ranh giới tôn giáo, ranh giới thời đại, để chạm đến một điều mà mọi trái tim đều chất chứa - lòng biết ơn và nỗi nhớ thương dành cho đấng sinh thành.

******
IV. PHƯƠNG TRỜI NÀY CON NGẬM NGÙI RƠI LỆ

Dâng Mẹ không mang đến cho chúng ta một triết lý cao siêu, mà mang đến cho chúng ta hình ảnh giản dị, chân thực của một người con. Dù đã khoác áo tu hành, dù đã bước những bước dài trên con đường giác ngộ, vị hành giả ấy vẫn không nguôi ngoai nỗi nhớ về người mẹ hiền nơi quê cũ.

Đạo hiếu - đạo lý căn bản và thiêng liêng nhất của con người, đã được thể hiện bởi một người, vừa ở vị trí xuất gia tu hành, vừa ở vị trí làm con, rất yêu thương và biết ơn mẹ.

Điều khiến tôi cảm động nhứt mỗi khi đọc lại bài thơ này, đó chính là hình ảnh của một bậc chân tu, người đã lìa xa những ràng buộc thế tục để tìm cầu chân lý, với những giọt nước mắt lã chã rơi xuống trong một chiều thu lạnh vì nhớ mẹ.

Tu hành không phải là chối bỏ tình cảm, mà là biết ơn sâu sắc gốc rễ đã sinh thành và nuôi dưỡng mình, để rồi mang tấm lòng hiếu đạo ấy mà chuyển hóa thành lòng từ bi rộng lớn hơn, dành cho tất cả chúng sinh - những người, xét cho cùng, ai cũng từng là con, từng có một người mẹ để thương, để nhớ.

Đã đúng sáu mươi ba năm trôi qua, kể từ mùa Vu Lan Quý Mão năm ấy, nhưng mỗi lần đọc lại Dâng Mẹ của Hòa Thượng Thích Quảng Độ, tôi tin, người đọc hôm nay vẫn cảm nhận được vẹn nguyên hơi ấm của một tấm lòng con thảo.

Dâng Mẹ không chỉ là một áng thơ hay để thưởng thức, mà còn là một nén tâm hương để mỗi người, dù đang ở phương trời nào, dù còn hay đã mất mẹ, cùng lặng lòng mà tưởng nhớ, mà tri ân đấng sinh thành, như chính người đã viết nên những dòng thơ thấm đẫm nước mắt ấy, giữa một chiều thu xa xứ, cách đây đã hơn nửa thế kỷ.

Sài Gòn 14.08.2026
Phạm Hiền Mây

No comments:

Post a Comment