Monday, July 20, 2026

Tại sao phim đề tài Miền Nam nhưng tâm lý và văn hóa không phải kiểu Nam Kỳ?

Tui đọc được bài "Cậu 3 Nam Kỳ lộn xào" lên tiếng vụ bộ phim truyền hình "T-iếng s-ét trong m-ưa" có nhân vật Cậu Ba do Cao Minh Đ-ạt thủ diễn thô lỗ, đánh hầu gái tàn tệ, cục súc vô giáo dục, bất nhơn thất đức.

Cậu Ba do Cao Minh Đ-ạt là con nhà điền chủ Miền Nam đang ăn, không vừa lòng một món nào đó lập tức cầm dĩa đồ ăn đ-ập thẳng vô đầu hầu gái trước mặt cha mẹ.

Dân nhà giàu Miền Nam đâu có mất dạy như vậy.

"T-iếng s-ét trong m-ưa" còn có cảnh trong nhà điền chủ Miền Nam thời Pháp của ông bà Hội Đồng mà có chuyện qu-ăng người xuống giếng rất thô thiển. Bà Hội Đồng chống nạnh chỉ đạo quăng người xuống giếng, bà la lên "Vất nó xuống giếng cho bà!"

Qu-ăng người xuống giếng là chôm của phim Tàu, còn "vất nó" là từ ngữ của Miền Bắc.

Miền Nam hịch hạp hào sảng nên muốn nhét gì vô cũng được hen?

"T-iếng sét trong m-ưa" là phim mình Ngô Đầu Sở, kịch bản của Tàu và bên kịch cùng đạo diễn ráng đem nhét nó vô bối cảnh Nam Kỳ thời Pháp, vậy là thành đâm bang xuồng bể, thành sọc dưa, coi phim cứ ôm bụng cười, trình độ văn hoá tệ hại đến thế là cùng.

Có một dòng phim "cung đấu" của đài Vĩnh Long ráng nói về xã hội Nam Kỳ thời Pháp nhưng cho ông điền chủ hay ông Hội Đồng có nhiều vợ bé vợ nhỏ ở chung nhà kiểu "Lồng đèn đỏ cao cao" của Tàu, rồi bà lớn nhỏ đấu đá nhau hàng ngày, ăn cơm cũng nguýt hái cũng đá xéo nhau, đi qua đi lại cũng hạ bệ nhau tàn bạo, thuốc độc hạ thủ thuốc nhau như giỡn chơi.

Ăn mặc thì áo quần xanh đỏ tím vàng, đàn ông đàn ang cứ ẹo qua ẹo lại áo quần như xiếc khỉ. Nhà cửa thì màu sắc đậm lét, thất nhơn hơn là Miền Nam có "bà cả" và "cậu cả" kiểu Bắc Kỳ!

Người ta coi thường văn hoá Miền Nam, coi thường người Miền Nam đến tận cùng, ham mê tố cáo xã hội và điền chủ Miền Nam theo xu hướng sau 1975 là phải "ác tận cùng" nhưng quên rằng lớp nhà giàu Tây học hồi đó học cái tánh ga lăng với đàn bà nên tôn trọng phụ nữ.

Thói quen quăng người xuống giếng không có trong xã hội Miền Nam, cũng không có cạo đầu bôi vôi, không thả rọ heo, không thả bè chuối trôi sông.

Miền Nam chỉ có bà hai và cậu hai và ông Hội Đồng thì không bao giờ có vợ bé ở trong nhà công khai vì luật pháp bấy giờ cấm.

Người đàn ông Miền Nam xuất thân điền chủ xưa không tàn ác và không đánh phụ nữ tàn tệ như trong phim mô tả cậu Ba. Lịch sự Âu Tây không lục bóp đàn bà, lịch sự Âu Tây không thô bạo với phụ nữ.

Người Miền Nam chúng ta vẫn được giáo dục về tánh ga lăng đàn bà, đi đâu đàn ông Nam Kỳ cũng lịch sự chủ động mở cửa, kéo ghế cho phụ nữ khi đi ăn, nhường ghế ngồi, hoặc che chắn khi đi đường đông.

Chẳng phải có giai thoại công tử Mỹ Tho dùng tiền đốt sáng cho người đẹp kiếm cây son đó sao?

Ga lăng là từ tiếng Pháp galant, dùng để chỉ người đàn ông phóng khoáng, lịch lãm, biết quan tâm và chiều chuộng phụ nữ khéo léo từ những hành động nhỏ nhặt nhứt.

Nam Kỳ có chữ nịnh đầm. Nịnh đầm là ga lăng phụ nữ đó!

Đàn ông Miền Nam Việt Nam nổi tiếng với tính cách này nhờ sự ảnh hưởng của lối sống phóng khoáng, trọng tình nghĩa, tôn trọng nhơn quyền, quyền tự do ngôn luận và coi trọng giao kết tình thâm trong giao tiếp của người Nam Kỳ.

Phim "Người đẹp Tây Đô" tả cảnh ông chồng con điền chủ cưới hoa khôi Tây Đô là cô nữ sinh Bạch Cúc con một ông đốc học về nhà và hành hạ đánh đập chửi rủa kinh khủng, cả gia đình từ cha mẹ ông bà tới chồng thô bạo với con dâu.

Đôi lúc người coi phim sẽ tự thắc mắc và đặt câu hỏi, mắc cái giống gì mà giàu có bỏ tiền cưới vợ đẹp về để đánh đá và hành hạ nó chi vậy? Ông chồng không có tâm thần để hành động kiểu đó.

Có nguyên nhân đó!
Phim "cách mạng" sẽ có mô típ, vì bên chồng giàu mà ác quá nên con dâu mới có động lực đi làm cách mạng, vô rừng vô bưng theo "các chú các anh" để học lý luận, để kết nạp, để giải phóng.

Quả thiệt, trong "Người đẹp Tây Đô" có thông điệp nặc mùi vô sản lý luận, Bạch Cúc tuyên bố xanh dờn trước mặt chồng "Đã đến lúc tôi giải phóng thân phận của tôi!"

"Người đẹp Tây Đô" là một truyện dài và lên một bộ phim, nhưng tất cả thể hiện sự bất ổn tâm lý, trái khuất logic của người viết ra nó.

Phim Đất Phương Nam dù có nhà văn Sơn Nam cố vấn nhưng vẫn không thoát khỏi định hướng tuyện truyền về giới điền chủ Miền Nam, bà hội đồng dẫn người đi giũ nồi vét ống th-ắt cổ m-ổ họng tá điền từng hột lúa, thì ông hội đồng mang súng xông vô nhà tá điền giữa ban ngày h-ãm hiếp gái mới lớn, dẫn người bức tử tá điền tr-eo c-ổ chết.

Không ai dám nói điền chủ Miền Nam ác như quỷ, kiểu Tiếng Hò Sông Hậu tố cáo để tạo tiền đề cho "CM" phải nổi lên. Nhưng điền chủ Miền Nam cũng làm nhiều việc có ích cho đời mà địa danh Nam Kỳ còn ghi.

Gò Công xưa có ao Hộ Mưu, đường Hộ Mưu do ông Bá Hộ Trương Văn Mưu làm cho dân đi cho dân gánh nước uống.

Mang Thít Vĩnh Long có con kinh đào mang tên Thầy Cai dài 2 km giữa những lò gạch đỏ.

Thầy Cai có công đài kinh, bỏ tiền và công sức ra vận động đào kinh là ông Cai tổng Huỳnh Đình Ngộ (1876-1946). Ông Ngộ là cai tổng dưới thời Pháp thuộc nhưng lại có tấm lòng, hay bỏ tiền ra bốc thuốc chữa bịnh cho dân chúng trong làng.

Tân An còn cầu Tổng Huẩn, đó là cây cầu ngày xưa do cai tổng Huẩn bắt qua con kinh cũng mang tên ông, con đường cũng do cai tổng Huẩn vận động đắp để nối Tân Trụ và Tân An.

Vẫn còn đó cầu Bà Phủ, cầu Ông Huyện. Còn vô số Kinh Hội Đồng ở khắp Miền Nam, tại Đồng Tháp còn đó Kinh Hội Đồng Tường và Cầu Kinh Hội Đồng Tường.

Cái định hướng tuyên truyền sau 1975 như dây trói định kiến, hễ điền chủ Nam Kỳ là phải ác, phải là thứ bốc lột và tàn bạo, vì ác quá nên dân mới nổi lên, mới có "cách anh các chú" bà ba đen khoát khăn rằn xuất hiện như thánh thần cứu tinh, như đại ân nhân làm chuyện "giải phóng" con người.

Căn bịnh trầm kha của những cái đầu luôn tự ti về xuất thân thấp kém của họ.

Nhà chép sử Tạ Chí Đại Trường gọi những thứ sau 1975 trong văn hóa là thói tự ti của người xuất thân h-èn mọn.

Đời Cô Lựu là một tuồng cải lương giải trí vô thưởng vô phạt trước 1975 cho người bình dân coi cho vui, ai ngờ sau 1975 nó gánh nhiệm vụ "kết án" giới nhà giàu điền chủ Nam Kỳ.

Truy tìm lịch sử Miền Nam sẽ không bao giờ có trường hợp nào điền chủ lấy vợ tá điền, không có bà hội đồng nào gốc tá điền như cô Lựu.

Cũng không có trường hợp nào hội đồng lấy vợ tá điền với cách thức cải lương của ông Trần Hữu Trang viết ra.

Vợ tá điền đẹp cỡ nào mà hội đồng Thăng phải thủ đoạn như vậy? Nó chỉ là một tuồng cải lương tự suy diễn, tự nghĩ ra, coi cho vui.

Nhưng chúng ta vẫn ghi nhận vài câu thoại rất Nam Kỳ trong Đời Cô Lựu, thí dụ "Lịch sự Âu Tây không lục bóp đàn bà!", "Con tao có giấy khai sanh, vợ tao có hôn thú".

Điều này chứng tỏ cái gì? là xã hội thời Pháp vẫn có luật pháp.

Xã hội không phải kiểu luật rừng như người cộng sản mô tả trong những tuồng những phim tuyên truyền của họ.

Trong Vụ Án Đồng Nọc Nạn trạng sư tranh cãi giữa toà án mà anh em Mười Chức trắng án và được trả tự do mà!

Vào thời điểm đó, báo La Tribune Indochinoise, báo Đông Pháp thời báo đã vào cuộc mạnh mẽ, điều tra và phanh phui sự bất công này. Sự lên tiếng của dư luận và báo giới đã tạo ra làn sóng ủng hộ mạnh mẽ cho những người nông dân.

Báo chí nhựt trình thời Pháp cũng khá nhiều, ông hội đồng nào giữa ban ngày đi dí gái, bức tử người tá điền như trong Đất Phương Nam mà nhựt trình ky' giả biết là ông khỏi còn đường sống.

Hỏi, sau 1975 có vụ án nào luật sư tranh cãi thẳng mà tòa trả tự do giữa phiên tòa chưa?

Hơn ai hết giới điền chủ, hội đồng Nam Kỳ xưa phải tuân theo pháp luật trước tiên, họ không dám làm những thứ bại hoại đạo lý như phim ảnh đã tả.
Hội đồng quản hạt Nam Kỳ hay Hội đồng nghị viện Bắc Kỳ phải tuân thủ luật pháp.

Chúng ta coi truyện và phim Chị Dậu có thắc mắc không?
Chị Dậu bị bần cùng vì sưu thuế phải đem đứa con gái đầu lòng và cả ổ chó bán cho Nghị Quế chỉ được trả với giá rẻ mạt là hai đồng bạc.

Nghị Quế là chức gì? Ông Quế từ lý trưởng lên ghế nghị viên hội đồng Bắc Kỳ, dạng như ông Hội Đồng trong Nam Kỳ.

Thực tế, Nghị Quế sẽ không dám mua con gái chị Dậu.
Vì sao? Hình luật canh cải Bắc Kỳ cấm mua bán con người. Con người có tư cách pháp lý độc lập. Mọi hợp đồng, văn tự có nội dung mua bán, cầm cố, hoặc hoán đổi trẻ em (dù dưới danh nghĩa làm con nuôi, người hầu) đều bị coi là bất hợp pháp và vô hiệu ngay từ thời điểm lập ra.

Bộ dân luật Bắc Kỳ cũng cấm mua bán người. Điều thứ 9:
"Người và của là không xâm phạm được và thuộc quyền pháp luật bảo hộ. Tục nô lệ là nghiêm cấm. Không ai có quyền được dịch sử nhân thân kẻ khác trái với luật pháp."

Người Pháp xóa bỏ các tập tục mua bán nô tì. Thậm chí người Pháp còn cấm tiệt cái thói quen xá lạy người còn sống của dân Việt thời đó.

Thiệt rầu khi truyện, phim là tác phẩm văn học sau thời "cách mạng vô sản" làm ngược mọi thứ xã hội chỉ để phục vụ mưu đồ chánh trị.

Thành ra những "Chị Dậu" hay "Câu 3 Nam Kỳ lộn xào", "Bà Hội Đồng Nam Kỳ" quăng người xuống giếng" như phim Tàu cùng người đẹp Tây Đô sanh ra để chồng...đánh vẫn cứ xà quần nhỡn nhơ giữa xã hội này làm người ta thắc mắc cho vui.

"T-iếng s-ét trong mưa" là bộ phim cải biên phóng tác từ văn hoá Tàu, nhưng biên kịch và đạo diễn non tay, thành ra áp vô Nam Kỳ bị chênh bị niễng.

Nhớ nhà văn Phan Khôi từng viết rằng: “Ta mà còn đê hèn vậy, mong gì ai trọng ta!”

Truong Nhan Viet

No comments:

Post a Comment