Wednesday, July 22, 2026

HAI Ổ BÁNH MÌ

Có những cuộc gặp gỡ chỉ kéo dài vài giờ, nhưng ký ức lại theo ta suốt nhiều năm.

Tôi gặp anh vào một chiều oi bức trong chuyến về Việt Nam cách đây gần mười năm. Do tôi bị ngộ độc thực phẩm, nên mọi dự định phải dừng lại. Tôi được đưa đi cấp cứu tại một bệnh viện công ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Đã lâu lắm rồi tôi mới nằm lại trong một bệnh viện công ở Việt Nam. Khung cảnh trước mắt vừa quen vừa lạ. Quen vì nó rất Việt Nam trong ký ức. Lạ vì sau hơn bốn mươi năm sống ở Canada, tôi đã quen với những bệnh viện rộng rãi, yên tĩnh và ngăn nắp. Ở đây thì khác.

Hành lang đông kín người. Những chiếc băng ghế dài không còn chỗ ttrống. Người nhà bệnh nhân ngồi tựa lưng vào tường, có người trải tấm bìa carton nằm chợp mắt ngay dưới nền gạch. Tiếng loa gọi tên bệnh nhân vang lên rồi nhanh chóng bị nhấn chìm bởi tiếng xe đẩy lộc cộc, tiếng trẻ con khóc, tiếng người bán nước, tiếng hỏi han và cả tiếng thở dài của những người đã thức trắng nhiều đêm chăm bệnh.

Tôi nằm trên chiếc giường inox đã cũ, cánh tay cắm kim truyền nước. Khi cơn đau bụng dịu xuống, tôi bắt đầu quan sát những người chung quanh.

Ngay phía trước cửa phòng bệnh, có một người đàn ông ngồi lặng lẽ. Anh trạc ngoài sáu mươi, người gầy, nước da sạm nắng. Mái tóc bạc lốm đốm như phủ một lớp bụi thời gian. Chiếc áo sơ mi đã bạc màu được giặt sạch sẽ, cài kín những chiếc nút đã cũ. Đôi dép nhựa được đặt ngay ngắn dưới chân.

Anh không đọc báo, không xem điện thoại, cũng chẳng trò chuyện với ai. Cứ vài phút, anh lại đứng dậy, nhìn vào trong phòng, nơi một người phụ nữ đang nằm truyền thuốc. Nhìn chừng vài giây, như để chắc rằng chị vẫn ổn, rồi anh lại lặng lẽ ngồi xuống.
Việc ấy lặp đi lặp lại suốt buổi chiều.

Đến chiều muộn, khi phòng bệnh bớt đông, tôi khẽ gọi:
“Anh ở đây lâu chưa? Lại đây nói chuyện cho vui.”

Anh cười hiền, kéo chiếc ghế nhựa đến sát giường tôi. Chỉ vài câu chào hỏi, tôi đã nghe ngay cái chất miền Tây trong giọng nói của anh. Thứ giọng mềm, chậm và chân tình.

Anh kể quê ở Long Xuyên. Hai vợ chồng sống bằng đủ thứ nghề lao động tay chân. Khi còn khỏe, chị bán cá ngoài chợ, còn anh chạy xe ba gác, phụ hồ, bốc vác. Cuộc sống không khá giả nhưng cũng đủ bữa cơm, đủ nuôi con khôn lớn.

Rồi một ngày, vợ anh phát hiện bị ung thư vú. Từ đó, cuộc đời hai người chỉ còn tính bằng những lần nhập viện, những toa thuốc, những chuyến xe từ Long Xuyên lên Sài Gòn và những khoản tiền vay mượn.

Anh nói rất bình thản, như đang kể chuyện của một người quen chứ không phải của chính mình.

Tôi hỏi:
“Anh có khi nào thấy chịu hết nổi không?”

Anh im lặng vài giây rồi cười. Một nụ cười hiền đến nao lòng.
“Bả là vợ mình. Hồi khỏe mạnh bả chịu cực với mình. Giờ bả bệnh, mình phải ráng chứ sao.”

Tôi biết nhiều người đàn ông như anh. Ở quê tôi, họ không giỏi nói lời yêu thương. Thương thì để trong bụng, không nói ra. Có lẽ trên đời này, tình yêu không phải lúc nào cũng được nói bằng những lời hoa mỹ.

Tôi hỏi:
“Chắc mấy năm nay anh đi lên Sài Gòn nhiều lắm?”

Anh gật đầu.
“Riết rồi thuộc đường luôn anh. Xe đò nào chạy giờ nào cũng biết.”

Anh cười, nhưng ánh mắt không giấu được vẻ mệt mỏi.
Anh kể, những năm đầu còn bán được miếng đất nhỏ của gia đình để chữa bệnh. Đến khi đất hết, hai vợ chồng bắt đầu vay mượn. Người thân giúp được chừng nào hay chừng ấy. Sau này không muốn làm phiền ai nữa, anh nhận bất cứ việc gì có thể kiếm ra tiền.

Có hôm khuân hàng ở chợ đầu mối đến gần sáng. Ngủ chừng hai tiếng lại chở vợ lên bệnh viện. Anh nói như kể chuyện thời tiết. Tôi nghe mà thấy cổ họng mình nghẹn lại.

Trong lúc trò chuyện, anh bỗng nhìn tôi thật kỹ.
“Anh là Việt kiều?”

Tôi hơi bất ngờ vì mình ăn mặc rất đơn giản như người bình dân. Thì ra lúc nói chuyện tôi vô tình chêm vài chữ tiếng Anh theo thói quen.

“Dạ không anh, tôi dạy Anh văn dưới huyện. Mới về hưu nên còn sót vài chữ.”

Anh cười trừ:
“Tui cũng nghĩ vậy, Việt kiều đâu có vô đây trị, họ có tiền nên đi bệnh viện tư hết.”

Rồi anh hỏi:
“Anh quê Đồng Tháp hả?”

Tôi bật cười.
“Sao anh biết?”

“Nghe giọng là biết liền.”

Một câu nói đơn giản, nhưng không hiểu sao tim tôi chợt se lại. Đã hơn bốn mươi năm sống ở xứ người, giọng nói của tôi chắc cũng đã pha ít nhiều. Vậy mà chỉ vài câu chuyện vu vơ, anh vẫn nhận ra cái âm sắc miền Tây còn sót lại.

Tự nhiên tôi thấy khoảng cách giữa hai người biến mất. Không còn là hai bệnh nhân xa lạ. Không còn là người sống ở Canada với người lao động nghèo từ Long Xuyên. Chỉ còn hai người con của miền Tây đang ngồi giữa một bệnh viện đông đúc.

Chúng tôi bắt đầu nhắc chuyện quê. Chuyện mùa nước nổi. Chuyện bông điên điển, cá linh. Chuyện những chuyến phà ngày xưa. Có những ký ức tôi tưởng mình đã quên từ rất lâu, vậy mà chỉ cần nghe đúng chất giọng quê nhà là tất cả bỗng ùa về.

Nhìn anh, tôi chợt nghĩ đến tuổi của mình. Ở cái tuổi này, người ta dễ nói về bệnh hơn nói về ước mơ. Nhưng anh thì khác. Anh gần như không nhắc đến bản thân. Điều anh quan tâm chỉ là kết quả xét nghiệm của vợ, là bác sĩ hôm nay nói gì, là lần truyền thuốc này chị có đỡ đau hơn không.

Tôi hỏi:
“Còn anh? Sức khỏe anh sao?”

Anh cười xòa.
“Tui sao cũng được, miễn bả khỏe.”

Chỉ bảy chữ mà nghe nặng hơn biết bao lời thề non hẹn biển.
Tôi lặng lẽ lấy trong ví một ít tiền. Chỉ mong phụ anh được phần nào tiền thuốc. Tôi đưa sang. Anh xua tay ngay.

“Thôi anh.”

Anh cười hiền.
“Cảm ơn anh nhiều. Tui còn làm được. Còn sức thì tui còn lo cho bả. Tui không muốn mang ơn.”

Anh nói rất nhẹ, không hề có chút tự ái. Tôi không ép nữa. Nhưng trong lòng cứ day dứt.

Một lát sau, anh cầm chiếc bình thủy đi lấy nước sôi. Tôi nhìn theo cho đến khi bóng anh khuất cuối hành lang.

Người phụ nữ nằm trên giường bệnh khẽ quay sang nhìn tôi. Gương mặt chị xanh xao vì thuốc men. Mái tóc đã rụng gần hết vì hóa trị. Đôi mắt hõm sâu nhưng vẫn hiền.

Tôi bước lại gần, khẽ đặt số tiền vào tay chị. Chị giật mình muốn trả lại. Tôi chỉ khẽ lắc đầu.
“Chị giữ đi. Cho tui được san sẻ một ít, tui mới bán hai công ruộng.”

Đôi mắt chị đỏ hoe. Hai bàn tay gầy guộc run lên. Chị siết nhẹ tay tôi rồi khẽ gật đầu. Chị lặng lẽ cất số tiền vào chiếc túi vải nhỏ đặt dưới gối.

Khi anh trở về, chị chỉ nhìn chồng rồi mỉm cười rất nhẹ. Tôi cũng im lặng, coi như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Buổi chiều dần trôi về phía hoàng hôn. Ánh nắng cuối ngày len qua ô cửa kính mờ bụi, rơi thành những vệt vàng nhạt trên nền gạch đã cũ. Hành lang bệnh viện vẫn đông, nhưng tiếng nói chuyện đã nhỏ hơn. Sau một ngày mệt mỏi, ai cũng như đã cạn lời.

Người đàn ông lại đứng dậy nhìn vợ. Anh kéo nhẹ chiếc chăn lên ngang vai chị, vuốt lại góc gối rồi khẽ hỏi:
“Có lạnh không?”

Người vợ khẽ lắc đầu. Lấy tay ra hiệu anh đến. Chị thì thầm vào tai anh rồi nhìn tôi với nụ cười nhẹ. Anh gật đầu rồi cầm chiếc bình thủy bước ra ngoài. Tôi nghĩ anh đi lấy thêm nước nóng như lúc nãy.

Khoảng mười lăm phút sau, anh trở lại. Trên tay anh không chỉ có chiếc bình thủy, anh còn cầm một túi giấy dầu trong đó có hai ổ bánh mì baguette còn nóng hổi, đưa tôi:

“Anh ăn chút đi cho khỏe, bệnh phải ăn mới có sức.”

Giọng chân thành đến mức tôi không nỡ từ chối. Hai chúng tôi ngồi trên chiếc giường bệnh, lặng lẽ xé từng miếng bánh mì chấm nước tương. Không thịt. Không chả. Không pa tê. Chỉ có mùi thơm của bánh mới và vị mặn của nước tương.

Có lẽ anh đã biết tôi đưa tiền cho chị. Nhưng anh không nhắc đến, cũng không cảm ơn bằng lời, mà đáp lại tôi bằng một ổ bánh mì theo đúng cái tình của người miền Tây. Nhận một thì tìm cách trả một, tuy giá trị khác nhau nhưng cái tình thì không thể so sánh.

Ngay lúc ấy, tôi hiểu rằng hai vợ chồng này không nghèo như tôi vẫn nghĩ. Trong túi họ có thể không còn bao nhiêu tiền, nhưng họ vẫn còn một thứ quý giá hơn rất nhiều. Đó là lòng tự trọng.

Suốt hơn bốn mươi năm sống ở Canada, tôi đã ăn ở nhiều nhà hàng sang trọng, nhưng chưa bữa ăn nào khiến tôi xúc động và trân quý như buổi chiều hôm ấy. Không phải ai nghèo cũng giữ được phẩm giá và sự hào sảng. Còn người đàn ông ấy đã giữ được cả hai, một cách lặng lẽ.

Giữa một bệnh viện bình dân, trên chiếc giường inox cũ, hai người đàn ông tóc đã điểm bạc ngồi ăn chung một ổ bánh mì chấm nước tương. Một người vừa từ Canada trở về. Một người quanh năm mưu sinh bằng sức lao động. Hai cuộc đời khác nhau nhưng cùng hiểu một điều, có những giá trị không thể đo bằng tiền.

Gần mười năm đã trôi qua.
Tôi không còn nhớ mình nằm giường số mấy, cũng không còn nhớ tên người bác sĩ hôm ấy. Ngay cả tên bệnh viện, nếu không nhìn lại hồ sơ, có lẽ tôi cũng quên.

Nhưng tôi vẫn nhớ như in người đàn ông ngồi trước cửa phòng bệnh. Chiếc áo sơ mi đã bạc màu. Đôi dép nhựa đặt ngay ngắn dưới chân. Chiếc bình thủy cũ luôn ở bên cạnh. Và hai ổ bánh mì còn nóng được xé đôi giữa một buổi chiều đầy mùi thuốc sát trùng.

Mỗi lần trở về Việt Nam, ngang qua một bệnh viện công hay thoáng ngửi thấy mùi bánh mì mới nướng, tôi lại nhớ đến anh. Một người đàn ông bình thường bề ngoài nhưng không bình thường trong nhân cách đã dạy tôi rằng, có những con người không giàu tiền bạc, mà giàu đến lặng người về nhân phẩm.

Và chính họ làm cho quê hương trở thành nơi để nhớ, để thương và để muốn quay về.

Tim Nguyễn
Sài Gòn, 08/07/2007

No comments:

Post a Comment