Wednesday, February 25, 2026


Hồi đó, tôi ở đợ cho ông Năm Được ngoài vàm Cái Sắn. Nhà ổng có mấy công ruộng sát mé rừng tràm, nước nổi lên là trắng xóa một vùng. Ổng nói mướn tôi không phải để làm cho nhiều, mà để “cho có hơi người”.

“Đất có người ở thì nó ấm,” ổng nói vậy.

Công việc của tôi cũng nhẹ. Sáng chèo xuồng thăm lưới, trưa vá bờ, chiều dắt trâu về chuồng. Tối đến, tôi ngủ ngoài chái bếp, cạnh cái bàn gỗ cũ và cây đèn dầu khói đen thui cái nóc lá.

Ông Năm góa vợ lâu rồi. Có một đứa con gái tên Lài. Nó ít nói, hay cười mím chi. Mỗi lần tôi xách nước vô lu, nó hay đứng nép bên cửa nhìn, hỏi mấy câu lặt vặt:
“Anh Hai mệt hông?”

Chỉ vậy thôi mà tôi nghe ấm trong lòng.

Mùa nước năm đó lớn lắm. Lúa vừa chín thì mưa dầm, nước dâng lên gần ngập bờ. Ông Năm bị cảm nặng, nằm ho sù sụ trên bộ ván. Tôi với Lài thay nhau nấu cháo, sắc thuốc.

Đêm nọ, gió lớn, mái lá bị tốc một mảng. Tôi leo lên chằng lại, trượt chân té xuống, trúng ngay cái thùng nước mưa. Lài chạy ra, mặt tái mét. Nó quỳ xuống, tay run run đỡ tôi dậy.

Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc.

Từ bữa đó, giữa tôi với nó có cái gì đó khác đi. Không ai nói ra, nhưng mỗi khi tôi ra ruộng, nó hay đem cơm theo. Mỗi khi tôi sửa lưới, nó ngồi bên cạnh, im lặng gỡ từng cọng rong.

Một buổi chiều, tôi đánh bạo hỏi:
“Sau này… nếu anh ra riêng, Lài có chịu đi theo anh không?”

Nó cúi đầu, tay bứt cọng cỏ may.
“Má mất sớm… em hổng muốn bỏ tía.”

Tôi nghe tim mình chùng xuống. Nhưng rồi nó nói thêm, rất nhỏ:
“Nếu tía bằng lòng… thì em tính sao cũng được.”

Chỉ nhiêu đó thôi mà tôi thao thức cả đêm.

Tối đó, tôi lau sạch cây đèn dầu ngoài chái bếp. Tôi nghĩ, mai mốt nếu tụi tôi có cái nhà riêng, tôi sẽ mua cái đèn mới, sáng hơn, không khói. Nhưng cây đèn cũ này tôi sẽ mang theo, để nhớ những ngày còn nghèo mà thương nhau thiệt lòng.

Rồi chuyện đổi thay đến bất ngờ.

Một sáng, người ta về xã đọc danh sách thanh niên phải đi trình diện. Tên tôi đứng thứ ba.

Ông Năm chạy vạy mấy bữa không được. Ổng già rồi, quen ruộng đồng chớ đâu quen cửa quyền. Lài không khóc trước mặt tôi, nhưng tôi thấy mắt nó sưng.

Đêm trước khi đi, tôi ngồi ngoài chái bếp. Lài đem ra cho tôi gói cơm nếp với mấy con cá khô.

Nó đặt thêm trước mặt tôi… cây đèn dầu.
“Anh mang theo đi. Ở đâu cũng phải có chút ánh sáng.”

Tôi cầm cây đèn mà cổ họng nghẹn cứng.
“Chờ anh nghen.”

Nó không trả lời. Chỉ gật đầu.

Mấy năm sau, tôi không về lại vàm Cái Sắn nữa.

Đời xô tôi trôi tuốt lên thành phố, rồi qua tận xứ người. Tôi làm phụ hồ, rửa chén, bất cứ việc gì có tiền. Cây đèn dầu tôi vẫn giữ. Có lần nhớ quá, tôi thắp thử. Khói bay lên, cay mắt.

Tôi có gởi thư về quê. Không hồi âm.

Mãi nhiều năm sau, gặp một người đồng hương, tôi mới biết ông Năm mất trong mùa nước lớn. Lài lấy chồng - một người đàn ông góa vợ có hai đứa con nhỏ. Người ta nói nó chịu vậy để có người đỡ đần ruộng đất.
Tôi nghe xong, im lặng rất lâu.

Đêm đó, tôi đem cây đèn dầu ra, lau lại một lần nữa. Tay run run.
Tôi hiểu, không phải Lài quên tôi. Chỉ là ở quê mình, người ta sống bằng bổn phận nhiều hơn bằng lời hứa.

Bây giờ tóc tôi đã lấm tấm bạc.
Mỗi lần mất điện, tôi lại lấy cây đèn dầu năm xưa ra thắp. Ánh sáng vàng vọt, yếu ớt, nhưng đủ soi một góc phòng.
Tôi hay ngồi nhìn ngọn lửa mà nghĩ:
Có những mối tình không thành vợ thành chồng, nhưng nó làm mình sống tử tế hơn suốt cả đời.

Và tôi vẫn tin, ở một miền quê nào đó, có người đàn bà mỗi khi thấy ánh đèn chập chờn trong đêm mưa, cũng từng nhớ đến một chái bếp nghèo… và một người đã hứa sẽ quay về.

No comments:

Post a Comment